tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28871338
Tiểu thuyết
08.03.2013
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

Sau Paris, Luân Đôn cho tôi cảm giác rằng vào một ngày nóng như thiêu đột nhiên tôi đi vào bóng râm - ngay lúc đầu tiên ta bất giác rùng mình, nhưng mắt và giác quan làm quen rất nhanh. Tôi tự đặt cho mình có thể gọi là một nhiệm vụ sống hai hay ba tháng ở nước Anh - bởi cuối cùng, làm thế nào hiểu được thế giới của chúng ta và định giá những sức mạnh của nó mà không biết cái xứ sở từ nhiều thế kỷ nay làm cho thế giới này bon chen theo quỹ đạo? Tôi cũng hi vọng bằng những cuộc trao đổi thường xuyên và một đời sống xã hội rất năng động mang lại một chút trơn tru cho tiếng Anh rỉ của tôi (rốt cuộc nó không bao giờ thực sự trở nên trôi chảy); thật bất hạnh, không được gì cả. Như những người khác ở lục địa, tôi ít có bạn bè văn học ở bờ bên kia biển Manche, và trong cái ký túc nhỏ nơi tôi xuống, những trò chuyện trong breakfast( ) và những small talks( ) về cung đình, về các cuộc đua ngựa và về cái ván bài làm cho tôi thấy mình bất tài một cách thảm hại. Khi họ tranh luận về chính trị, tôi không thể theo họ được, bởi vì họ nói về Joe và tôi không hiểu rằng họ nói về Chamberlain, và tương tự như vậy, họ gọi tất cả các Sirs( ) bằng tên tục của người ta; còn về cockney (giọng nói khu đông bắc Luân Đôn) của những người đánh xe ngựa, tai tôi rất lâu cứ thấy như bị trám bằng sáp. Vậy là tôi không tiến bộ nhanh chóng như mình dự liệu. Tôi rất hy vọng học một chút ít về cách nói đúng cạnh những người thuyết giáo trong các nhà thờ, hai hoặc ba lần tôi chầu rìa tại các cuộc thảo luận ở các tòa án, tôi đến nhà hát để nghe một thứ tiếng Anh chuẩn mực, - nhưng bao giờ tôi cũng phải tìm kiếm rất khó khăn những gì mà Paris dâng hiến cho anh khắp nơi, và làm cho anh ngợp: sự giao tiếp, tình bè bạn và sự vui tươi. Tôi không tìm được ai để tranh luận những điều quan trọng nhất đối với tôi; còn đối với những người Anh có thiện ý hình như họ coi tôi là một bạn đồng hành còn thô kệch, chỉ làm phiền họ với sự dửng dưng không lường được của tôi đối với thể thao, trò chơi, chính trị và nói chung đối với tất cả những gì mà họ quan tâm. Tôi không đạt được sự kết giao thân tình với bất cứ một giới nào, một nhóm nào; chính vì vậy mà ở Luân Đôn chín phần mười thời gian của tôi là làm việc trong phòng của tôi hoặc ở Bảo tàng Anh quốc.


Lúc đầu tôi thử một cách trung thực những cuộc dạo chơi. Suốt tám ngày đi khắp Luân Đôn đến nỗi gan bàn chân của tôi bỏng rát. Tôi đi thăm như một sinh viên làm bổn phận của mình, tất cả những thứ quý hiếm được nêu lên trong Baedeker, từ Bà Tussaud cho đến Nghị viện, tôi học uống rượu bia Anh và thay thuốc lá Paris bằng ống điếu quốc nội, tôi ráng sức bằng nghìn nét đặc thù để thích nghi; nhưng tôi không thể thiết lập sự tiếp cận cả với xã hội, cả với giới văn chương, và ai chỉ nhìn nước Anh từ bề ngoài không nắm bắt được cái chủ yếu - cũng như người ta có thể đi cạnh những công ty giàu bạc triệu của City mà không nhận thấy gì hết ngoài cái biển bằng đồng thau thật nhẵn và in bằng bản đúc. Nếu tôi được giới thiệu vào một câu lạc bộ, tôi không biết làm gì ở đó; cái vẻ ngoài của những ghế ngồi sâu bằng da thuộc cũng như toàn bộ bầu không khí đã gây trong tôi một thứ trạng thái lì xì về trí tuệ; bởi vì tôi không xứng đáng, như những người khác, hưởng sự thư giãn khôn ngoan sau một hoạt động căng thẳng hoặc sau khi thực hành thể thao. Cái thành phố này loại trừ một cách kiên quyết như một cơ thể lạ, người ăn không ngồi rồi, người quan sát đơn thuần, vì anh ta không thể nhờ số tiền hàng triệu của mình, nâng cao sự giải trí của mình lên tới mức một nghệ thuật cao và đầy tính xã giao, trong khi Paris để cho anh ta bình yên đi đây đi đó và bắt vào sự vận động nhiệt tình hơn của nó. Mãi về sau tôi mới nhận thấy thiếu sót của mình: lẽ ra tôi phải kiếm một việc làm nào đó trong suốt hai tháng sống ở Luân Đôn, ví dụ như làm người tình nguyện trong một nhà hàng thương mại hoặc thư ký trong một ban biên tập, lúc đó ít nhất tôi sẽ đi sâu thêm một chút vào đời sống người Anh. Hạn chế ở việc quan sát từ bên ngoài, tôi thu được ít kinh nghiệm và chỉ mãi nhiều năm về sau này, trong chiến tranh, tôi mới bắt đầu hiểu nước Anh thực sự là như thế nào.


Trong số những nhà văn Anh, tôi chỉ gặp Arthur Symons. Bản thân ông giành được cho tôi một lời mời của W.B.Yeats mà tôi rất yêu những bài thơ và tôi đã dịch chơi một phần của vở kịch thơ có một cảm hứng rất tinh tế The Shadowy Waters (Những dòng sông rợp bóng). Tôi không biết rằng đó phải là một tối đọc thơ văn, một nhóm nhỏ chọn lọc đã được mời đến, và chúng tôi hơi chen chúc trong một căn phòng không rộng lắm, một số ngồi cả trên ghế đẩu hoặc trên sàn. Cuối cùng, Yeats bắt đầu, sau khi thắp hai cây nến thờ khổng lồ ở hai bên của một cái bàn cao đen (hoặc phủ đen) mà ông đứng trước đó. Tất cả những ánh sáng khác trong những món tóc xoăn đen in hình nổi bật trong ánh sáng những cây nến. Yeats đọc thong thả, với một giọng du dương và vang, nhưng không hề rơi vào sự ngân nga, mỗi câu thơ mang tất cả sức nặng kim khí của nó. Thật đẹp, thật trọng thể một cách thực sự. Điều duy nhất khiến tôi khó chịu, đó là sự dàn dựng hơi quá kiểu cách, y phục đen làm người ta nghĩ tới chiếc áo dài hẹp tà và làm cho Yeats có vẻ gì tăng lữ, sự cháy chậm của những cây nến lớn bằng sáp làm lan tỏa, tôi tin vậy, một mùi hương liệu nhẹ nhàng; từ đó thú vui văn học - và điều đó với tôi có một sức hấp dẫn kiểu mới - trở thành một cuộc hành lễ xưng tụng những vần thơ hơn là một cuộc đọc thơ hồn nhiên. Và điều đó khiến tôi bất giác nhớ lại, do tương phản, cách verhaeren đọc thơ của mình: mặc sơ mi trần, để nhấn mạnh tốt hơn nhịp điệu bằng cánh tay gân guốc không khoa trương và không dàn dựng, hoặc cách đọc của Rilke, giản dị, trong sáng và khiêm nhường phục vụ cho Lời Chúa khi gặp dịp, ông đọc vài câu thơ trong một cuốn sách. Đây là buổi học đầu tiên của thi sĩ với sự "dàn dựng" mà tôi được tham dự, và nếu như mặc dù niềm yêu thích của tôi đối với tác phẩm của ông, tôi không thể ngăn cản bản thân mình có một sự nghi kỵ nào đó đối với nghi lễ văn hóa ấy, tuy nhiên buổi tối hôm đó, Yeats có một người khách biết ơn.


Nhưng việc khám phá thực sự một thi sĩ mà tôi thực hiện ở Luân Đôn không phải với một người đang sống, mà là với một nghệ sĩ ở thời kỳ còn bị lãng quên: William Blake, thiên tài cô đơn và còn bị tranh cãi này ngày nay còn mê hoặc tôi ở sự hòa trộn cái vụng về và sự hoàn thiện tuyệt vời. Một người bạn đã khuyên tôi đề nghị cho được xem trong print room( ) của Bảo tàng Anh quốc mà Lawrenie Binyon lúc đó là người bảo quản những tác phẩm có tranh màu minh họa, châu Âu, châu Mỹ, Le livre de Job( ) (quyển sách của Job) nay trở thành những cổ vật hết sức hiếm, và tôi thực sự mê ly. Tôi nhận thấy ở đây lần đầu tiên một trong những bản tính thần diệu không nhìn rõ đường song được mang đi bởi linh giác của chúng như bởi những đôi cánh thiên thần qua tất cả những không gian trinh bạch của trí tưởng tượng; nhiều ngày và nhiều tuần lễ tôi tập trung đi sâu hơn vào mê đạo của tâm hồn chất phác ấy thế mà bị quỷ ám, và chuyển sang tiếng Đức vài bài thơ của ông. Tôi nuôi khát vọng háo hức có được một trang bút tích của ông. Nhưng lúc đầu tôi nghĩ không bao giờ thỏa mãn được điều đó ngoại trừ trong mộng. Cho đến một hôm, bạn tôi Archibald G.B. Russel, lúc đó đã là người am hiểu nhất về Blake, cho tôi biết rằng tại cuộc triển lãm do ông tổ chức, một trong những Vision ary portraits( ) được bán: Theo ý ông ấy (và ý tôi) đó là bức vẽ chì đẹp nhất của bậc thầy, bức King John "Anh sẽ không bao giờ biết chán về nó nữa" ông hứa với tôi, và ông ta đã có lý. Trong tất cả sách và tranh của tôi, cái tờ đó đi theo tôi hơn ba chục năm, và biết bao lần cái nhìn sáng suốt như có ma thuật của ông vua điên đó nhằm vào tôi từ trên vách; trong tất cả của cải mà tôi đã mất hoặc ở xa tôi, chính là bức vẽ đó mà tôi tiếc nhất trong những cuộc viễn du của tôi. Tinh anh của nước Anh mà tôi đã nỗ lực nắm bắt một cách vô vọng trong những đường phố và những thành phố bỗng nhiên được tiết lộ cho tôi trong khuôn mặt thực sự là sao chiếu mệnh của Blake. Và về tất cả những lý do khiến tôi yêu mến loài người, tôi thêm vào đó một lý do mới.


 


 


 


 


NHỮNG KHÚC QUANH TRÊN CON ĐƯỜNG


ĐEM TÔI VỀ LẠI VỚI TÔI


 


Paris, nước Anh, Italia, Tây Ban Nha, Bỉ, Hà Lan, tất cả những cuộc viễn du hiếu kỳ ấy của cuộc đời du cư của tôi tự bản thân chúng là vui thích và bổ ích về nhiều mặt. Nhưng cuối cùng tôi cảm thấy sự cần thiết của một bến cảng gắn bó vững chắc để từ đó ra đi và trở về đó - tôi chưa bao giờ cảm thấy hơn bây giờ, rằng những cuộc du lịch của tôi không còn là tự nguyện, mà là một cuộc chạy trốn của con người bị vây dồn - Tôi đã xây dựng một thư viện nhỏ từ những năm học trung học với những bức tranh và những kỷ vật; những bản thảo bắt đầu chồng chất thành bó dày và người ta không thể thường xuyên tha đi trong những chiếc hòm vòng quanh thế giới cái gánh nặng vả chăng rất gắn bó ấy. Chính vì vậy tôi thuê một căn hộ nhỏ ở Vienne; chẳng phải là một chốn thực sự để nghỉ ngơi, mà chỉ là đặt một chân xuống đất như người Pháp nói rất đúng. Bởi cảm giác tạm bợ chi phối một cách bí hiểm cuộc đời tôi cho đến thế chiến. Nhân dịp tất cả những gì tôi đã thực hiện, bản thân tôi tin chắc rằng chưa có một chút gì thực chất, chút gì quyết định các công trình của tôi - tôi chỉ coi chúng như những thử nghiệm dò dẫm trong thực tế, và cũng giống như vậy, những người đàn bà mà tôi đã kết bạn với họ. Theo cách đó tôi tạo cho tuổi trẻ của mình cảm giác không hề dồn tất cả trách nhiệm của mình và cũng đồng thời tạo cho nó thú vui được nếm, thử và hưởng. Tới độ tuổi mà những người khác đã cưới vợ từ lâu, đã có con và những địa vị nổi bật và phải nỗ lực rút ra cái tối đa từ họ bằng cách căng tất cả mọi nghị lực của họ ra, tôi vẫn tự coi mình như một người trẻ tuổi, một người mới vào nghề, một người bắt đầu lại hãy còn vô hạn thời gian trước mặt, và tôi do dự trói buộc mình bằng bất cứ ý nghĩa nào với những gì dứt khoát. Và vì tôi chỉ quan niệm những công trình của mình như những sự chuẩn bị cho tác phẩm thực sự của tôi, vì tấm danh thiếp của tôi, bó hẹp ở chỗ thông báo sự tồn tại của tôi trong văn chương, chỗ ở của tôi, ít nhất là tạm thời, không phải là gì hết ngoài một địa chỉ. Tôi cố ý chọn chỗ ở nhỏ bé trong vùng ngoại ô để nó không đè nặng lên tự do của tôi bởi một sự bảo quản đắt tiền. Tôi không sắm những đồ gỗ loại hảo hạng vì tôi không muốn "giữ gìn" chúng, như đã thấy cha mẹ tôi làm: mỗi ghế fô-tơi có vải bao ghế mà người ta chỉ lấy đi những ngày có khách. Tôi cố ý tránh ở hẳn tại Vienne, và như vậy là tránh gắn bó tôi bằng tình cảm với một sự xác định. Đã lâu sự giao du mà tôi tự tạo cho mình và nó giữ tôi trong sự tạm bợ, đối với tôi hình như là một lầm lỗi, nhưng về sau này, khi tôi buổi phải rời bỏ không ngừng chỗ ở mà tôi đã bố trí cho mình và tôi nhìn thấy sụp đổ quanh tôi tất cả những gì đã được xây dựng nên, cái bản năng bí ẩn này, nó ngăn cản tôi gắn bó, đã cứu tôi. Được phát triển từ rất sớm nó làm cho những mất mát và những cuộc ra đi của tôi trở thành nhẹ nhàng.


Tôi còn chưa xếp nhiều vật quý trong nơi ở đầu tiên đó, nhưng bức vẽ chì của Blake mà tôi đã tậu được ở Luân Đôn đã trang hoàng trên vách cũng như một trong những bài thơ hay nhất của Goethe viết bằng bàn tay tự do và táo bạo của ông - tạo nên phần chủ yếu của bộ sưu tập bút tích mà tôi đã khởi sự từ hồi trung học. Với cùng một đầu óc hợp quần hồi đó chỉ đạo sáng tác của tất cả nhóm văn học chúng tôi, chúng tôi đã đi săn chữ ký của những thi sĩ, những diễn viên, những ca sĩ; vả lại, phần lớn chúng tôi, đã từ bỏ trò thể thao này cũng như từ bỏ thi ca khi rời trường trung học, trong khi ở tôi niềm đam mê đối với những cái bóng trần gian của những nhân vật thiên tài chỉ có tăng lên và sâu thêm cùng một lúc mà thôi. Tôi rất dửng dưng với những chữ ký trần trụi cũng như sự đánh giá mà một người có được trên thị trường các giá trị và những tiếng tăm quốc tế không làm tôi quan tâm; điều mà tôi tìm kiếm chính là những bản thảo gốc hoặc những bản thảo dự thảo của các bài thơ hay các bài văn, bởi vì vấn đề của sự phát sinh một tác phẩm nghệ thuật dưới dạng tiểu sử học của nó cũng như tâm lý học của nó khiến tôi quan tâm hơn tất cả những gì còn lại. Cái giây phút quá độ bí hiểm khi một câu thơ, một điệu nhạc xuất hiện từ cõi vô hình, từ cái nhìn và trực giác của một thiên tài đi vào thế giới của những thực tế trần gian bởi sự định hình bằng chữ viết, liệu có thể chụp lấy và quan sát nó ở đâu, nếu không trong những bản nháp của các bậc thầy, trong những trang bản thảo đầu tiên được sinh ra trong cuộc chiến đấu hay trong lửa của cảm hứng như trong một trạng thái nhập đồng? Tôi không biết gì nhiều về một nghệ sĩ khi dưới mắt tôi chỉ có tác phẩm đã hoàn chỉnh của họ và tôi tán thành lời nói của Goethe rằng để hiểu đầy đủ những sáng tác lớn, nhìn thấy chúng trong trạng thái hoàn chỉnh là chưa đủ, mà cần phải chộp được chúng trong quá trình hình thành. Đó cũng là một hiệu quả thuần túy thị giác mà bản phác thảo đầu tiên của Beethoven gây ra cho tôi, với những nét gạch hăng và nôn nóng, sự lộn xộn mơ hồ của nhạc tố được phác ra bị chối bỏ, với sự mãnh liệt sáng tạo cô đọng nơi đây bằng vài nhát bút chì - của cái bản tính đầy ắp một sự dư thừa bị quỷ ám, nó đưa tôi vào một thứ xao xuyến thể xác, bởi vì dáng vẻ của nó kích thích tâm trí tôi quá chừng. Tôi có thể ngắm nhìn một trong những trang bôi nhăng nhít những chữ khó đọc với sự say đắm của tình nhân, cũng như những người khác ngắm nhìn một bức tranh hoàn hảo. Một trang in thử của Balzac, trong đó hầu như mỗi câu bị ngắt quãng bằng những vết rách dài, mỗi dòng như bị cái cày đào xới, những lề trắng bị nhấm hết bởi những gạch đen, những ký hiệu, những từ, khiến tôi cảm thấy sự phun trào của một Vésuve( ) người; và nhìn thấy lần đầu tiên một bài thơ mà tôi yêu mến trong nhiều năm kích thích nơi tôi một tình cảm tôn kính mang tính chất tôn giáo, tôi hầu như không dám sờ vào nó. Cùng với lòng tự hào có được một vài trong số những trang đó, còn kết hợp sự hấp dẫn mang ít nhiều tính thể thao trong việc tậu chúng, săn đuổi chúng trong những cuộc bán công khai hoặc trong những catalô, biết bao nhiêu ngẫu nhiên gây hồi hộp! Chỗ này ta đến chậm một ngày, chỗ kia một bản ta khao khát bị phát hiện là giả; rồi xảy ra một phép lạ: người ta có một bản thảo nhỏ của Mozart, nhưng niềm vui không trọn vẹn, bởi vì một dải nhạc bị cắt xén. Rồi bỗng nhiên cái dải đó, bị mất cắp năm mươi hoặc một trăm năm trước bởi vì một kẻ phá hoại văn vật bị mê hoặc bởi thần tượng của Mozart, được thấy bán ở Stockholn và người ta có thể khôi phục lại hoàn toàn, hệt như Mozart để nó lại cách đây một trăm lăm mươi năm. Trong thời kỳ đó thu nhập do những tác phẩm của tôi còn chưa cho phép những cuộc mua quy mô lớn, nhưng tất cả những người sưu tập biết rằng một bản hiếm có mang lại niềm vui tăng lên biết bao nhiêu một khi muốn đạt được nó đã phải từ bỏ một thú vui khác. Vả lại tôi khai thác sự đóng góp của các bạn bè văn chương của tôi, Rolland cho tôi một bộ Jean Christophie của ông, Rilke tác phẩm nổi tiếng của ông Không khí của Tình yêu và của cái Chết, Claudel quyển Dấu báo hiệu cho Marie, Gorki một phác thảo quan trọng, Freud một trong những luận văn của ông; họ đều biết rằng không có một viện bảo tàng nào bảo quản những bút tích của họ với nhiều tình yêu hơn. Biết bao nhiêu những thứ đó bây giờ bị tan tác theo tất cả các hướng gió, với những niềm vui khác nhỏ bé hơn!


*


Mãi về sau này tình cờ tôi mới phát hiện thấy rằng vật bảo tàng độc đáo nhất và quý giá nhất thực ra không phải được ẩn giấu trong tủ của tôi mà thực ra trong cùng nhà ở ngoại ô. Một bà già tóc đã hoa râm làm cô giáo hướng dẫn pianô ở bên trên phòng tôi; một hôm cô ngỏ lời với tôi trong cầu thang một cách thật đáng mến: cô lấy làm tiếc rằng trong khi làm việc tôi bị buộc phải làm thính giả không tự nguyện những bài dạy nhạc của cô, và cô hy vọng rằng những bài thực hành có nhiều khiếm khuyết của học trò cô không quấy rầy tôi quá nhiều. Trong câu chuyện trao đổi lúc bấy giờ tôi biết rằng mẹ cô sống với cô, rằng gần như mù cụ không bao giờ ra khỏi phòng và bà cụ tám mươi tuổi đó chính là con gái người thầy thuốc thường ngày của Goethe, bác sĩ Vogel, và năm 1830 cụ đã bế Ottilie Von Goethe trên vại nước rửa tội trước mặt Goethe. Tôi hơi bị chóng mặt - năm 1910 hãy còn một con người trên đời mà Goethe đã nhìn với cái nhìn thánh thiện. Bởi bao giờ tôi cũng nuôi một ý thức đặc biệt của lòng sùng kính đối với tất cả những biểu hiện trần gian của thiên tài, và ngoài những trang bản thảo đó, tôi cũng tập hợp tất cả những di vật mà tôi có thể đặt bàn tay tới; một căn phòng của ngôi nhà tôi trở thành, trong một thời kỳ đã muộn - trong cuộc "đời thứ nhì" của tôi - một thứ nơi tôn thờ, nếu tôi có thể diễn đạt như vậy. Ở đó có cái bàn làm việc của Beethoven và cái tráp nhỏ của ông, chỗ mà từ đáy giường ông và bằng một bàn tay run rẩy mà cái chết đã ngó tới, ông đã lấy ra những món tiền nhỏ đưa cho người hầu gái; ở đó có một tờ của sách làm bếp của ông và một lọn tóc của ông đã đốm bạc. Tôi đã bảo quản lâu dài dưới mặt kính một bút lông ngỗng của Goethe để gìn giữ cho tôi khỏi cái ý định cầm lấy nó với một bàn tay không xứng đáng. Nhưng so sánh thế nào được những đồ vật vô tri đó với một con người còn đang sống và đang thở mà con mắt đen tròn của Goethe đã ngắm với ý thức đầy đủ và với sự trìu mến, - một sợi dây mảnh mai cuối cùng được giữ lại nó có thể tan vỡ bất cứ lúc nào, nối lại nhờ trung gian của con người trần thế mảnh dẻ này cái thế giới uy nghiêm của Weimar với căn nhà ngoại ô thuộc phố Koch 8 này, nơi tôi ngẫu nhiên được đến ở. Tôi xin phép được tới thăm bà Demelius; bà cụ sẵn lòng tiếp tôi và biểu lộ với tôi lòng nhân từ, và tôi lại thấy trong phòng bà nhiều đồ dùng trong nhà thuộc sở hữu của con người bất tử, mà người cháu gái của Goethe bạn hồi còn trẻ của bà đã cho bà một đôi cây nến ở trên bàn của Goethe và những thứ hiếu kỳ tương tự của nhà "Frauenplan" ở Wiemar. Nhưng bản thân bà phải chăng là phép lạ thực sự với cuộc sống của mình, bà cụ già ấy, mang một chiếc mũ lỗi thời trên tóc bạc trắng đã lưa thưa của mình, và cái miệng nhăn nhúm sẵn sàng kể về mười lăm năm đầu thời trẻ của bà đã sống trong cái nhà ấy ở Frauenplan, căn nhà còn chưa phải là một viện bảo tàng như ngày nay nhưng đã gìn giữ những đồ vật của ông không ai đụng đến, từ lúc mà người thi sĩ Đức lớn nhất đi khỏi nhà mình và cái thế gian này? Vì các cụ già bao giờ cũng thế, bà luôn có trong tâm trí cái thời ấy của tuổi trẻ mình, tôi xúc động nghe bà bộc lộ sự phẫn nộ về việc Hội Goethe đã phạm một điều hớ hênh thô thiển khi in "ngay từ bây giờ" những bức thư tình yêu của người bạn gái thiếu thời Ottilie Von Goethe - "ngay từ bây giờ!" - Than ôi! Bà đã quên rằng Ottilie đã chết từ nửa thế kỷ nay! Đối với bà, người bạn gái bé nhỏ của Goethe hãy còn đó, nàng hãy còn trẻ; đối với bà, những sự việc từ lâu đối với chúng ta đã là quá khứ và truyền thuyết, vẫn là những thực tế hiện tại! Tôi luôn cảm thấy ở sự có mặt của bà như là một không khí ma quái. Người ta ở trong căn nhà bằng đá này, người ta gọi điện thoại, người ta thắp đèn điện, người ta đọc những bức thư cho một cô thư ký đánh máy, và hai mươi hai bậc phía trên kia người ta chuyển sang một thế giới khác và người ta ở trong cái bóng thiêng của thế giới nơi Goethe đã sống.


Về sau tôi đã gặp nhiều lần liên tiếp những người đàn bà, với những dải bịt mắt trắng của họ, chìm vào một thế giới anh hùng và uy nghi, Cosima Wagner, con gái của Liszt, cứng rắn, nghiêm khắc nhưng oai vệ với những cử chỉ thống thiết, Elisabeth Fưrster bà chị của Nietzsche, duyên dáng, nhỏ nhắn, đỏm dáng, Olga Monod, con gái Alexandre Hertzen mà, lúc nhỏ, Tolstoi luôn ẵm trên đầu gối ông; tôi đã nghe Georges Brandes trong tuổi già của mình nói về những cuộc gặp gỡ với Walt Whitman, Flaubert và Dickens, hoặc Richard Strauss kể về cuộc gặp cuối cùng của mình với Richard Wagner. Nhưng không có gì làm tôi xúc động như bộ mặt của bà cụ tổ này, người cuối cùng trong số những người còn sống mà Goethe đã để mắt tới. Và phải chăng có lẽ ngày nay bản thân tôi là người cuối cùng có thể nói: tôi biết một con người mà đầu người ấy đã được bàn tay của Goethe âu yếm đặt lên một lúc.


*


Những quãng thời gian giữa các cuộc du lịch, thế là tôi cũng tìm được một trạm nghỉ. Nhưng điều quan trọng nhất đối với tôi, chính là một nơi trú ngụ khác mà tôi tìm được đồng thời, là nhà xuất bản suốt ba mươi năm đã gìn giữ và đã tạo thành công cho tất cả các tác phẩm của tôi. Một sự lựa chọn như thế là quyết định trong đời của một tác giả và tôi không thể làm gì sung sướng hơn thế nữa. Vài năm trước đó một thi sĩ tài tử thuộc loại có học thức nhất đã dự kiến kế hoạch không dùng tiền của mình để để nuôi một chuồng ngựa mà dành tiền cho một công trình phục vụ cho những giá trị tinh thần. Alfred Walter Heymel, một thi sĩ không lấy gì làm nổi tiếng, quyết định thành lập ở nước Đức, nơi sự xuất bản chính yếu đặt trên nền thương mại, một nhà xuất bản, không kể đến lời lãi vật chất và chuẩn bị chịu cả những thua lỗ thường xuyên, lấy làm nguyên tắc quyết định là xuất bản một tác phẩm không phải vì cơ may bán chạy mà vì giá trị đích thực của nó. Những sách đọc thuần túy giải trí, dẫu có thể sinh lợi đến đâu cũng phải được loại trừ, ngược lại người ta tiếp nhận những tác phẩm tinh tế nhất và khó hiểu nhất. Chỉ xuất bản những tác phẩm chứng thực được cái ý chí nghệ thuật thuần khiết nhất trong một hình thức hoàn hảo, chính đó là khẩu hiệu của nhà xuất bản rất cố chấp chỉ nhằm trước hết đạt được công chúng hạn chế ở những người thực sự hiểu biết; trong ý chí hãnh diện về sự cô độc của nó, thoạt tiên tên nó là Die Insel và sau này là Inselverlag. Chỉ in ở đó những tác phẩm theo đúng với những nguyên tắc nghề nghiệp hiện hành, nhưng mỗi tác phẩm phải chấp nhận một sự trình bày bề ngoài đáp ứng với sự tuyệt vời của nội dung của nó. Như vậy mỗi cuốn với sự trình bày tên sách của nó, cách sắp xếp kỹ thuật in của nó, việc chọn chữ in, giấy in cho nó, tạo nên trong tính cá thể của nó một vấn đề thường xuyên mới; ngay cả những tờ quảng cáo sách và văn thư giao dịch cũng là thứ được chăm sóc say mê trong cái nhà xuất bản có nhiều tham vọng này. Tôi không nhớ đã phát hiện trong ba mươi năm chỉ một lỗi in ở một trong những cuốn sách của tôi, hoặc trong một bức thư của nhà xuất bản có một dòng sửa chữa; tất cả, kể cả những chi tiết nhỏ nhất, có tham vọng trở nên mẫu mực.


Những tác phẩm trữ tình của Hofmannsthal và của Rilke đều được in ở nhà xuất bản "Hòn đảo" và, bởi sự hiện diện của chúng, chất lượng cao nhất của một tác phẩm tức khắc được làm nổi bật như là giá trị duy nhất. Người ta có thể hình dung niềm vui và niềm tự hào của tôi được vinh dự năm hai mươi sáu tuổi có cái quyền được xuất bản tại đó biểu hiện về bề ngoài sự tiến lên một hàng cao hơn trong thang thứ bậc văn chương, nhưng đồng thời nó bắt buộc anh về mặt tinh thần phải tỏ ra nghiêm khắc hơn với bản thân mình. Ai vào được trong nhóm chọn lọc đó phải tự gò mình vào một kỷ luật và một sự giữ gìn hoàn toàn mới, không được tự cho phép mình một chút cẩu thả nào, một chút vội vã mang tính chất báo chí nào, bởi huy hiệu xuất bản của "Hòn đảo" bảo đảm tức khắc đối với hàng nghìn và sau này đối với hàng trăm nghìn độc giả của mình chất lượng nội tại của tác phẩm, cũng như là sự hoàn hảo mẫu mực của việc in ấn.


Mà môt tác giả không thể mong ước điều gì sung sướng hơn là còn trẻ tuổi đã được vào nhà xuất bản trẻ và được nhìn thấy ảnh hưởng của nó cùng lớn lên với ảnh hưởng của mình; riêng một sự phát triển cùng nhau như thế mới tạo nên một mối dây hữu cơ và sống động giữa anh, tác phẩm của anh và cuộc đời. Một tình cảm thân thiết nhất sớm nối liền tôi với ông giám đốc nhà xuất bản "Hòn đảo", giáo sư Kippenberg, và nó còn gắn bó chặt chẽ hơn bởi mối thông cảm lẫn nhau của chúng tôi qua những say mê của người sưu tập, bởi bộ sưu tập về Goethe của Kippengerg phát triển một cách song song với sự làm cho phong phú thêm bộ sưu tập của tôi về những bút tích, đến mức trở nên trong ba mươi năm, bộ sưu tập đồ sộ nhất mà một cá nhân có thể làm được. Tôi nhận được ở ông những lời khuyên quý báu và cả những lời cảnh cáo có giá trị để tránh, và tôi, từ phía tôi, nhờ cái nhìn tổng quát của tôi về văn học nước ngoài, tôi có thể giúp ông những gợi ý bổ ích; nhờ vậy mà Hiệu sách Hòn đảo (Inselbcherei) - với hàng triệu đầu sách đã xây dựng một loại thành phố địa cầu xung quanh "tháp ngà" và đã làm cho "Hòn đảo" trở thành nhà xuất bản Đức tiêu biểu nhất - được khai sinh theo lời đề nghị của tôi. Sau ba mươi năm chúng tôi ở trong một hoàn cảnh khác hẳn với lúc ban đầu: cái xí nghiệp nhỏ bé đã trở thành một trong những nhà xuất bản to lớn, và tác giả, lúc đầu chỉ đạt nhóm độc giả rất hạn chế, đã là một trong số người được đọc nhiều nhất ở nước Đức. Và thực sự phải có một tai họa toàn thế giới và sức mạnh của một cái luật bạo tàn để kết thúc một sự hòa hợp mĩ mãn đến thế và tự nhiên đến thế đối với người nọ cũng như người kia. Tôi phải thú nhận rằng, đối với tôi rời bỏ tổ ấm và Tổ quốc còn dễ dàng hơn là không còn nhìn thấy biểu trưng thân yêu ấy trên sách của tôi.


*


Con đường đã mở ra cho tôi. Tôi bắt đầu xuất bản hầu như quá sớm, thế nhưng tôi vẫn tâm niệm rằng cho đến năm hai sáu tuổi, tôi chưa làm được những tác phẩm chân chính. Thu hoạch tốt đẹp của những năm trẻ tuổi của tôi, sự giao du và tình bạn của những người sáng tạo ưu việt nhất của thời đại tác động khá đặc biệt lên sản phẩm của tôi như một cái hãm nguy hiểm. Tôi đã học quá kỹ để hiểu biết những giá trị đích thực, điều đó làm tôi ngập ngừng. Bởi thiếu can đảm, tất cả những gì tôi đã xuất bản cho tới lúc đó, ngoài những bản dịch, tự hạn chế trong sự dè sẻn thận trọng của tôi ở những tác phẩm ít chiều rộng, như những truyện ngắn và những bài thơ; trong thời gian khá lâu tôi không đủ can đảm thực hiện một cuốn tiểu thuyết (tình trạng này phải kéo dài tới gần ba chục năm). Lần đầu tiên tôi đánh liều một sáng tác rộng hơn, đó là trong nghệ thuật sân khấu, và ngay từ cuộc thử đầu tiên đó, tôi trở thành nạn nhân của một mưu toan mạnh mẽ mà tất cả những dấu hiệu thuận lợi đều giục tôi phải nhượng bộ. Tôi đã viết vào năm 1905 hoặc 1906, suốt mùa hè, một vở theo văn phong thời chúng toi, và đương nhiên là một vở kịch bằng thơ loại cổ điển. Vở đó tên là Thersites, tôi không cần nói ngày nay tôi nghĩ gì về vở đó, nó chỉ có giá trị về mặt hình thức, khi mọi người biết rằng tôi đã không tái bản vở đó bao giờ - vả chăng cũng giống như hầu hết các sách của tôi viết trước năm tôi ba mươi hai tuổi. Dẫu sao thì vở kịch đó đã chứng tỏ một nét cốt yếu của những thiên hướng sâu kín của tôi, chúng không bao giờ ở về phía những "anh hùng" mạo xưng, nhưng luôn nhìn thấy sự bi thảm duy nhất ở kẻ bại trận. Trong những truyện ngắn của tôi, bao giờ cũng chính là người gục ngã trước số phận hấp dẫn tôi, trong những tiểu sử, nhân vật không biết đến thắng lợi trong thực tế của không gian cảm nhận được,mà chỉ có quyền đạt thắng lợi theo ý nghĩa tinh thần, Erasme chứ không phải Luther, Marie Stuart mà không phải Elizabeth, Castellion mà không phải Calvin; chính vì vậy mà lúc đó tôi không lấy Achille làm nhân vật anh hùng trung tâm, mà người không tên tuổi nhất trong những kẻ thù của ông ta, Thersite, con người đau khổ, thay vì cái người với sức mạnh và sự tự tin của mình, bắt người khác chịu đau khổ. Tôi tránh giới thiệu vở kịch hoàn chỉnh của tôi cho một diễn viên, ngay cả trong số bè bạn tôi; tôi đã có đủ kinh nghiệm để biết rằng một vở kịch bằng thơ tự do và y phục Hy Lạp dù của Sophocle hay của Shakespeare xuất hiện trên sân khấu thực không phải dành để "thu lãi". Chỉ là lấy lệ mà tôi gửi vài bản cho các nhà hát lớn; rồi tôi hoàn toàn quên đi sự việc đó.


Nỗi ngạc nhiên của tôi không sao tả được khi sau vừa tròn ba tháng, tôi nhận được một bức thư mà phong bì mang ký hiệu "Nhà hát Hoàng gia Berlin". Nhà hát của Nhà nước Phổ có thể muốn ở tôi điều gì đây? Tôi tự hỏi. Trước nỗi ngạc nhiên lớn của tôi, ông giám đốc Louis Barnay đã từng là một trong những diễn viên danh tiếng của Đức, thông báo với tôi rằng vở kịch đã gây cho ông xúc động mạnh, và rằng nó đến đúng lúc, bởi vì rút cuộc nhân vật Achille tạo cho Adalbert Matkovsky cái vai được tìm kiếm từ lâu cho ông ta; vậy là ông xin tôi phó thác cho Nhà hát Hoàng gia Berlin việc dựng vở kịch đó.


Niềm vui của tôi gần như nỗi kinh hoàng. Lúc ấy quốc gia Đức có hai diễn viên danh tiếng, Adalbert Matkovsky và Joseph Kainz. - Người thứ nhất, một người Đức phía Bắc không ai sánh kịp trong sự hăng hái sơ đẳng của bản tính ông, trong sự đam mê không cưỡng nổi của ông; người thứ nhì, dân thành phố Vienne, Joseph Kainz của chúng tôi, quyến rũ bởi vẻ duyên dáng trí tuệ của ông, nghệ thuật nói không bao giờ vượt qua của ông, sự làm chủ lời nói hoặc bay bổng hoặc vang dội của ông. Và thế là Matkovsky sắp làm sống dậy nhân vật của tôi, sắp nói những câu thơ của tôi, nhà hát danh tiếng nhất của thủ đô Đế quốc Đức sắp phát những ngự chỉ về vở kịch của tôi, - một con đường công danh không có gì sánh kịp dường như mở ra trước mặt tôi mà tôi không bao giờ tìm kiếm.


Nhưng tôi học được từ dạo ấy là đừng có vui mừng về một buổi trình diễn trước khi tấm màn được thực sự kéo lên. Sự thực là các buổi diễn bắt đầu và tiếp tục, và những người bạn đoán chắc với tôi rằng Matkovsky chưa bao giờ oai vệ và hùng tráng hơn. Tôi đã đăng ký chỗ giường nằm đi Berlin, khi một bức điện làm tôi sửng sốt vào giờ chót: Hoãn vì Matkovsky ốm. Tôi cho rằng đó là một trong những cái cớ mà người ta sẵn sàng đưa ra khi người ta không thể giữ được thời hạn hay một cam kết. Nhưng một tuần sau báo chí đưa tin về cái chết của Matkovsky. Những câu thơ của tôi là những câu cuối cùng mà ông đã đọc từ cặp môi hùng biện tuyệt diệu của ông.


Công việc thế là kết thúc, tôi tự nhủ. Thực ra thì hai Nhà hát khác thuộc cỡ rất khá, Draede và Cassel, muốn giữ vững vở của tôi. Nhưng trong tôi nguồn hào hứng đã nguội lạnh. Sau Matkovsky tôi không còn có thể hình dung cho mình một Achille khác. Và thế là một tin còn đáng ngạc nhiên hơn đến với tôi: một trong số các bạn tôi một buổi sáng đánh thức tôi dậy, nói với tôi rằng anh ta được Joseph Kainz phái đến, ông này ngẫu nhiên rơi vào vở kịch dó và nhận thấy ở đấy một vai cho ông, không phải vai Achille mà Matkovsky đã muốn làm sống dậy, mà cái vai của Thersite bi thảm và đối lập. Ông ta liên hệ ngay với Nhà hát Thành phố. Ông Giám đốc Schlenther mới từ Berlin trở về với tư cách người mở đường của chủ nghĩa hiện thực lúc bấy giờ đang thắng thế, và (giữa sự bực mình to lớn của dân chúng Vienne) ông lãnh đạo Nhà hát của triều đình với tư cách nhà theo chủ nghĩa tự nhiên tự tin; ông viết ngay cho tôi rằng ông rất coi trọng những gì thú vị trong vở kịch của tôi, nhưng đáng tiếc là ông không nhìn thấy khả năng thành công được giữ vững sau lần diễn đầu.


Kết thúc thôi, tôi tự nhủ một lần nữa, bao giờ tôi cũng bi quan như thế đối với bản thân mình và đối với tác phẩm văn chương của mình. Kainz, ngược lại, tức giận. Ông mời ngay tôi đến nhà ông, lần đầu tiên tôi thấy trước mặt tôi vị thần của thời đầu tuổi trẻ của tôi, con người mà bọn học sinh trung học chúng tôi sẵn sàng hôn tay, hôn chân; thân thể ông hãy còn sự mềm dẻo của chiếc lò xo, và con mắt đen tuyệt vời của ông còn làm sinh động cho khuôn mặt ông ở tuổi năm mươi. Thật là khoái trá được nghe ông nói. Mỗi một từ nổi rõ với đường viền chính xác của nó, ngay cả trong câu chuyện riêng, mỗi phụ âm có sức kết dính sâu sắc nhất, mỗi nguyên âm rung lên đầy và trong; cho tới ngày nay tôi không thể đọc được vài bài thơ tôi đã được nghe ông đọc mà không nhận thấy âm vang của giọng ông, với sức mạnh ngắt nhịp, nhịp điệu trọn vẹn, sự bay bổng hùng tráng của nó; kể từ đó, không còn bao giờ tôi cảm thấy một niềm vui thú như thế khi nghe tiếng Đức. Thế mà cái con người tôi sùng kính như một vị thần ấy tự đến xin lỗi một người trẻ tuổi là đã không thể đi đến kết quả làm chấp nhận vở kịch. Nhưng ông đoán chắc với tôi rằng chúng tôi không còn quên lãng nhau nữa. Vả lại ông có một lời thỉnh cầu đưa ra với tôi - tôi sắp mỉm cười: Kainz có một thỉnh cầu với tôi! - lúc này ông lưu diễn nhiều, và ông có hai vở một hồi. Ông thiếu một vở thứ ba, và cái ông có trong óc là một vở nhỏ, nếu có thể thì bằng thơ, và thích hơn là với một trong số những trường thoại trữ tình mà ông là người duy nhất trên sân khấu Đức, nhờ ở kỹ thuật đọc kỳ diệu của mình, có thể cuộn trôi chúng đi theo một tia duy nhất trong như pha lê và không phải ngừng lại lấy hơi, trong khi quần chúng lắng nghe ông lặng đi, hơi thở như ngừng lại. Liệu tôi có thể soạn cho ông một vở một hồi loại đó?


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 19.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »