tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30445410
Tiểu thuyết
19.02.2013
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

Năm 1864.


            Tại dinh Soái phủ quân viễn chinh Pháp ở Sài Gòn. Bornard đứng bên tấm bản đồ lớn treo trên tường. Hắn lấy gậy chỉ vào vùng Gò Công nói với đại úy Bernard phụ trách tình báo:


            Hiện nay chỉ có đám tàn quân của Trương Định là còn gây khó khăn cho ta trong việc bình định xứ này. Cái gai nhọn quỷ quái này cần phải nhổ bỏ bằng bất cứ giá nào thì công việc bình định mới phát triển tốt được. Đại úy hiểu chớ? Thưa tướng quân, tôi hiểu – Viên đại úy đứng nghiêm trả lời. Hiện nay tình hình ở đó ra sao rồi? – Thưa tướng quân, sau khi bị quân ta vây đánh ở Lý Nhơn, Trương Định đã rút về cố thủ khu vực Đám lá tối trời ở vùng ven biển Gò Công. Trương Định có bí mật đi lên Gia Định và Bến Tre để chiêu mộ thêm quân và kiếm đồ tiếp tế, nhưng không có kết quả theo ý muốn. Tại sao vậy? – Vì địa hình cách trở, đi lại khó khăn. Các trục giao thông thủy bộ quan trọng đều bị quân ta kiểm soát chặt chẽ. Thêm nữa, từ khi ký Hoà ước 1862, Nguyễn Trung Trực, tên chỉ huy tài giỏi nhất của phiến quân bị triều đình Huế điều động ra Bình Thuận, thì hầu như không còn trận đánh lớn nào đáng kể như trận đốt chiếc Espérance năm 1861, khiến cho tinh thần dân chúng hoang mang dao động, không còn hăng hái gia nhập phiến quân như trước. Đó là hai trong nhiều nguyên nhân khiến Trương Định không thực hiện được ý đồ mở rộng địa bàn hoạt động của hắn, thưa tướng quân. – Nhưng Trương Định có uy tín lớn trong dân chúng – Bornard nói – Còn hắn ngày nào, ta không yên tâm ngày đó. Như đại úy biết, mục tiêu của chúng ta đâu chỉ có ba tỉnh miền Đông mà là toàn xứ Nam Kỳ này. Vậy mà chỉ có một tên giặc cỏ không diệt nổi thì làm sao bình định nổi cả xứ Nam Kỳ rộng lớn này được? Nét mặt Bornard nói mấy câu cuối cùng có vẻ khó chịu. Thưa tướng quân. Xin ngài yên tâm. Tôi đã tổ chức được nội gián rất quan trọng nằm ngay trong hành dinh chỉ huy, nếu có thể gọi như vậy, của Trương Định. Đến thời điểm quyết định, chính tên nội gián này sẽ kết thúc mạng sống viên tướng ngang bướng bất trị đó, thưa tướng quân. Nếu được như vậy thì tên đó sẽ được trọng thưởng. Đại úy về chuẩn bị ngay trình Bộ tham mưu kế hoạch tấn công vào dinh luỹ của Trương Định. Không được chậm trễ! Xin tuân lệnh!


            Bernard rập chân đứng nghiêm chào rồi quay ra nhanh.


            Đêm. Tiếng gió thổi rít lên từng hồi trong khu rừng lá tối trời nơi Trương Định đóng quân, tạo thành một âm thanh rì rào không dứt. Trương Định ngồi gian nhà mới dựng toàn bằng tre và lá dừa nước. Trên chiếc bàn gỗ có để bình trà bằng đất nung. Một cây đèn cầy lớn như loại bạch lạp ngọn lửa lấp loáng đủ soi rõ nét mặt ông ngồi suy nghĩ, có vẻ mệt mỏi căng thẳng vì mấy hôm nay giặc Pháp bao vây chặn đường tiếp tế khiến nghĩa quân bị thiếu lương thực trầm trọng. Nghe tiếng động ở phía ngoài, ông ngẩng đầu lên nói:


            Ai đó? Vô đi! Có tiếng “Dạ” rồi Mận xuất hiện ở cửa liếp. Bẩm đại nhân cho gọi cháu? – Mận lễ phép nói. – Phải. Cháu ngồi xuống đi – Trương Định chỉ vào khúc gỗ dài đặt bên chiếc bàn dùng làm chỗ ngồi tạm. Mận khép nép ngồi xuống nét mặt có vẻ lo lắng, không hiểu Trương Định có chuyện gì mà cho gọi lên gặp. Mấy bữa trước Huỳnh Tấn có xin phép đi dự đám tang người chú ở Sài Gòn rồi về ngay. Đến nay quá phép hai ngày rồi, ta rất băn khoăn không hiểu tại sao… – Trương Định nhìn Mận bằng ánh mắt tin cậy – Khi đi, nó có nói gì với cháu không? Dạ bẩm đại nhân. Khi ta còn đóng quân ở Lý Nhơn, cháu bắt gặp nhiều lúc ảnh ngồi thừ người suy nghĩ như có cái gì đó vướng mắc…


            Huỳnh Tấn ngồi ở gốc cây bần nhìn lũ cá bống sao lắc mình rượt đuổi nhau trên bãi bùn đám dừa nước, nét mặt đăm chiêu dường như có vướng mắc điều gì trong lòng chưa giải quyết được thì Mận đi tới. Thấy Tấn, Mận vui vẻ hỏi: Anh ngồi ở đây báo hại em đi kiếm muốn chết! – Có chuyện gì vậy Mận? Tấn nhìn Mận với ánh mắt thăm dò. Có bà Tám ở xóm trên cho người xuống mời anh với em đi dự đám hỏi con gái út của bả vào trưa mai. Anh có đi được không? – Chắc là đi không được Mận à! Huỳnh Tấn lắc đầu, sắc mặt không vui. – Sao vậy? – Mận ngạc nhiên trước thái độ của Tấn. – Anh còn nhiều việc phải làm mà thời giờ không có… Ngày mai anh phải lên Sài Gòn gặp ông chú, ổng nhắn tin gấp lắm, không biết có chuyện gì. Mận ngồi xuống bên cạnh Tấn. Nét mặt Mận chợt buồn khi nhìn Tấn: – Từ hôm chúng ta theo Trương đại nhân xuống vùng này, chúng ta ít có dịp gặp nhau như hồi còn ở Tân An… Em cảm thấy anh đang có gì thay đổi, hình như anh không muốn gặp riêng em, phải vậy không anh? – Không phải vậy đâu! – Tấn lắc đầu quầy quậy – Công việc của anh lúc này Trương đại nhân giao nhiều lắm… Phần thì chú ruột anh cũng đang gặp nhiều chuyện rắc rối cần có sự giúp đỡ của anh… Do đó mà anh không còn thì giờ nghĩ đến chuyện chúng mình. Em tin anh đi…


            Tấn ra sức thanh minh sự lạnh nhạt của anh ta với Mận, vì Tấn nghĩ hay gần gũi nhau dễ lộ bí mật, sợ bị Mận phát hiện hắn làm nội gián cho địch. Hơn nữa gần đây Tấn cảm thấy gắn bó hơn với Liễu, cháu gái của lão biện Chín, mà Tấn đã trót làm tay sai cho hắn để vươn tới mục đích có danh lợi với đời, dù phạm vào tội phản bội.


            Em lúc nào cũng tin anh như tin vào tình cảm của chúng ta – Mận nói và nhìn Tấn – Nhưng… gần đây được Trương đại nhân sai đi dọ thám tình hình, em thấy bọn giặc hình như đang chuẩn bị muốn tấn công vô đây… Em lo cho Trương đại nhân quá! – Không có chuyện đó đâu. – Tấn nói cho Mận yên tâm – Mà nếu có thì bọn giặc cũng không làm gì được với Trương đại nhân có đám lá tối trời dày đặc bảo vệ. Theo anh nghĩ, chúng nó còn lo bình định phía trên Sài Gòn, Biên Hoà để giữ yên ổn cơ quan đầu não và còn lo giao thương buôn bán với nước ngoài nữa. Trước mắt Trương đại nhân không có gì phải lo ngại trước tin đồn giặc sẽ tấn công vào đây. – Nghe anh nói, em cũng tạm yên tâm – Mận nói nhưng đôi mắt có vẻ buồn – Nhưng em có linh cảm sẽ có những điều không may sẽ xảy ra với Trương đại nhân và cả chúng ta nữa. Để xoa dịu nỗi lo của Mận, Tấn xoay người ôm chặt Mận vào lòng, vuốt mái tóc mai loà xoà trước trán, lúc này đôi má Mận ửng hồng, đặt nụ hôn nồng cháy. Không có gì đâu, em đừng lo! – Tấn nói qua hơi thở gấp gáp của một kẻ phản bội vờ đóng vai trung thành để lừa bịp cô gái chân thật, dễ thương…


            Tiếp tục câu chuyện với Trương Định.


            Tuy ảnh đối với cháu nồng nàn như vậy, nhưng sau đó nghĩ lại, cháu vẫn thấy có cái gì đó không thật tình với cháu, cũng như có cái gì vướng mắc mà ảnh không nói ra được. Đại nhân có thấy như vậy không? – Mận nhìn Trương Định với nét mặt lo lắng thật sự. – Ta cũng có ý nghĩ như cháu – Trương Định gật đầu xác nhận – Thời gian gần đây, sau khi ký hoà ước thì bọn Phú-lang-sa coi ba tỉnh miền Đông này là của chúng, nên chúng ra sức hành quân để tiêu diệt những người yêu nước, mà chúng gọi là bọn phiến loạn, một mặt chúng mua chuộc những kẻ hám lợi cầu danh sẵn sàng bán nước làm tay sai cho giặc, lập bộ máy cai trị đàn áp dân chúng – Ngừng một lúc, Trương Định nhìn Mận bằng ánh mắt thông cảm – Ta biết tình cảm của cháu với Huỳnh Tấn, cháu nên lựa lời khuyên nhủ nó, chính lúc này là lúc thử thách lòng trung cang nghĩa khí của người dân Việt phương Nam ta đó: “Gia bần tri hiếu tử; Quốc loạn thức trung thần”. Ông bà ta xưa đã nói như vậy. – Dạ, thưa đại nhân cháu hiểu – Mận khẽ gật đầu – Nhưng cháu thấy khó quá. Lòng người quả khó dò lắm, đại nhân à!


            Trong lúc Trương Định nói chuyện với Mận thì bên ngoài trên con đường mòn ấp Rạch Già, một toán lính Pháp và mã tà, ma ní lăm lăm tay súng tiến theo sự hướng dẫn của Huỳnh Tấn. Gần đến một vọng gác của nghĩa quân, Huỳnh Tấn khoát tay ra hiệu cho bọn Pháp dừng lại dạt sang hai bên rồi hắn lặng lẽ tiến tới… – Ai đó? – tiếng quát lớn của anh lính nghĩa quân cầm khẩu súng núp sau ụ đất hỏi. – Tôi đây mà! – Huỳnh Tấn đây! – Tấn lên tiếng. – Sao đi đâu khuya thế này, anh Tấn? Người nghĩa quân vừa nói vừa xách khẩu súng bước ra khỏi ụ đất. Hự!Lưỡi dao găm của Tấn nhanh như chớp đã đâm trúng ngực anh. Trước khi ngã xuống, anh lính nghĩa quân với sức trai mới lớn, cố hét to báo động: – Giặc tới! – Tiếng hét của anh nghĩa quân vang lên trong rừng lá đêm khuya, khiến Sáu Bảnh vội với tay chụp thanh kiếm để ở sau đầu sạp ngủ rồi nhảy ra khỏi gian nhà mới cất ẩn sau đám lá gần đó. Một số nghĩa quân đang ngủ cũng choàng dậy.


            – Anh em theo tôi! – Sáu Bảnh hét lớn rồi vung kiếm chạy trước hướng về phía vọng gác. Anh em vội chạy theo sau. Huỳnh Tấn hạ được người nghĩa quân gác, cúi xuống định lấy khẩu súng thì bất ngờ một nghĩa quân xuất hiện phía sau hắn giơ mã tấu toan chém. Nhưng không kịp. Tên sĩ quan Pháp đi sau đã kịp nổ súng, anh nghĩa quân trúng đạn ngã vật ra phía sau. Lúc này Sáu Bảnh và đội nghĩa quân ở trong rừng lá đã chạy tới. Một trận xáp lá cà diễn ra. Tên Huỳnh Tấn nhanh chân chạy vô bụi lá ẩn nấp, giương mắt nhìn cảnh xáp chiến dữ dội giữa những người nghĩa quân cảm tử và bọn lính giặc. Tên sĩ quan bị một lưỡi kiếm của Sáu Bảnh lia ngang cổ. Đầu hắn văng lông lốc như trái dừa khô rụng. Cả thân hình đồ sộ của hắn cũng đổ xuống như cây chuối bị phạt gốc. Cuộc tấn công của nghĩa quân quá nhanh khiến bọn lính giặc không kịp trở tay. Có tên chỉ kịp bắn một phát súng thì đã gục xuống bởi một nhát mã tấu chém ngang hông của một nghĩa quân lao tới. Một toán lính giặc còn đi ở phía sau do một sĩ quan Pháp cao lêu nghêu, mặt dài như mặt ngựa chỉ huy, nghe tiếng súng phía trước, biết toán đi đầu đã đụng trận nên viên sĩ quan rút khẩu súng lục bắn lên trời một phát, hô lớn: “Xung phong!” rồi hắn khom mình chạy lên trước. Cả bọn lính hò reo chạy theo sau rầm rập. Ở một hướng khác, một toán giặc cũng nổ súng vào phía rừng hình thành thế bao vây khu căn cứ Trương Định. Trên sông lớn, hai chiếc tàu chiến Pháp cũng nã đạn đại bác vào khu rừng lá yểm trợ cho đám bộ binh tấn công. Những chớp lửa bùng lên trong rừng kèm theo tiếng nổ vang dội.


            Trở lại trận chiến của Sáu Bảnh và anh em nghĩa quân đánh nhau xáp lá cà với toán giặc đi đầu. Sáu Bảnh tả xông hữu đột, lưỡi kiếm loang loáng đâm ngang chém dọc khiến lũ giặc kinh hồn bạt vía, đứa chết đứa bị thương kêu la inh ỏi. Sự dũng cảm của Sáu Bảnh đã động viên anh em nghĩa quân rất nhiều. Họ hò hét lăn xả vào lính giặc khiến chúng hốt hoảng chạy rạt về phía sau chờ viện binh tiếp cứu. Trương Định cùng nửa tiểu đội cận vệ và cả Mận cũng đã đến trận địa bìa rừng. Nhìn thấy máu ở cánh tay của Sáu Bảnh, Mận kêu lên:


            Anh Sáu! Tay anh máu nhiều quá kìa! Để em băng lại cho! – Mận xé toạc ngay chiếc khăn đội trên đầu đến băng lại cho Sáu Bảnh. Đến lúc này, Sáu Bảnh mới biết mình bị thương, vì trong lúc hăng máu chém giết lũ giặc, anh bị thương lúc nào không biết. Anh nói với Trương Định, giọng cương quyết: Đại nhân rút xuống ngay mé rạch dùng xuồng vượt sông đi, tôi ở lại cản hậu cho. Không kịp nữa rồi chú Sáu à! – Trương Định nghiến răng nói – Chắc chắn có đứa phản bội nên bọn giặc mới tấn công bất ngờ chúng ta đêm nay. Chú nghe coi, bốn phía đều có tiếng súng giặc. Đúng như lời Trương Định nói, tiếng súng bỗng nổ rộn lên khắp chung quanh nơi họ đứng. Nhưng bằng mọi giá đại nhân phải thoát khỏi trận này. Rút ngay đi đại nhân!


            Nói vừa dứt câu, Sáu Bảnh bỗng giật nẩy người lên rồi khuỵu xuống. Anh đã bị một viên đạn địch không biết ở đâu quật ngã. Trương Định quỳ xuống đỡ Sáu Bảnh, nước mắt ông đầm đìa. Sáu Bảnh cố gượng nhìn Trương Định bằng đôi mắt đã dại, nói thều thào: Đại nhân… chạy… ngay đi! – Nói xong anh lịm đi, đầu ngoẹo sang một bên. Trương Định nâng đầu Sáu Bảnh lên, ông nói giọng lạc hẳn: Chú Sáu! “Sanh vi tướng, tử vi thần”. Chú đi trước đi! Anh em ta còn gặp nhau mà! Ông vuốt mắt Sáu Bảnh rồi cởi tấm áo choàng đắp lên người anh, xong ông đứng lên tuốt kiếm hô lớn: Anh em theo tôi!


            Bọn giặc phía sau đã chạy đến kịp ứng cứu đám giặc bị Sáu Bảnh và nghĩa quân đánh lui vừa rồi. Chúng hò reo xông lên. Tên sĩ quan cao lêu nghêu mặt ngựa dẫn đầu hàng quân, hắn giắt khẩu súng lục đã hết đạn vào bao súng ở thắt lưng, tuốt lưỡi kiếm khỏi vỏ nhảy tới chém Trương Định lúc này cũng vừa xông tới. Hai lưỡi kiếm chạm vào nhau toé lửa. Nhưng Trương Định nổi tiếng là người giỏi võ nghệ từ lúc còn trẻ, đã nhanh chóng đánh bật thanh kiếm của tên sĩ quan Pháp và hắn chỉ kịp “hự” một tiếng lớn rồi gục xuống khi lưỡi kiếm Trương Định thọc đúng yết hầu của hắn. Máu cổ hắn toé ra như heo bị chọc tiết. Rồi như mãnh hổ giữa bầy sói, ông xoay người đá bay khẩu súng của tên ma ní đang chĩa vào ông và hắn cũng chỉ kêu “ối” một tiếng khi lưỡi kiếm của ông chém mạnh vào vai hắn.


            Thấy chủ tướng xông vào giặc như dũng mãnh như xông vào chỗ không người, anh em nghĩa quân reo hò lao vào lũ giặc đâm chém không tiếc tay. Lúc bấy giờ lại có toán quân Pháp kéo đến tiếp viện. Trong đám quân này có mặt tên Huỳnh Tấn, không biết từ chỗ ẩn nấp hắn chui ra lúc nào mà có mặt trong toán lính giặc này. Hắn chỉ cho tên sĩ quan Pháp: Đó, Trương Định đó, ngài chỉ huy. Tên sĩ quan giơ khẩu súng lên. Một tiếng nổ giòn vang lên. Trương Định bỗng ôm cánh tay trái lảo đảo. Và lúc này tên Huỳnh Tấn nhô ra cất cao giọng nói lớn: Trương Định. Ông đã bị vây kín hết rồi… Không đường thoát đâu! Hãy đầu hàng đi. Người Phú-lang-sa sẽ tha mạng và trọng dụng ông Hắn nói mà mặt hắn đanh lại vì sực nhớ đến món tiền thưởng và cái chức lãnh binh ở trong tầm tay hắn rồi. Nhưng ngộ nhỡ người Phú-lang-sa không giữ lời hứa thì sao?


            Bỗng từ sau, Mận chạy lại đỡ tay Trương Định: Để cháu băng vết thương cho đại nhân. Ôi, máu nhiều quá. Không cần đâu – Trương Định nói với Mận – Cháu chạy đi! Rồi ông bước tới một bước, vung lưỡi kiếm chỉ vào mặt Huỳnh Tấn: Đến bây giờ mi mới lộ mặt là tên phản bội hèn mạt. Ta tiếc là đã dùng lầm mi, và để mi trốn thoát làm tay sai cho lũ Tây dương! Dân chúng sẽ đời đời nguyền rủa mi về cái tội phản bội xấu xa này! Hãy nhớ lấy! Nói xong, ông quay lưỡi kiếm đâm vào bụng rồi gục xuống. Mận nhào lại ôm ông kêu khóc thảm thiết: Đại nhân! Đại nhân! Trời ơi! Rồi chụp lấy lưỡi gươm của Trương Định, Mận nhìn Tấn bằng đôi mắt như dại đi vì căm giận, thét lớn: Tao sẽ giết mày để trả thù cho đại nhân! Đồ phản bội! Nhưng Mận chưa kịp xông lại thì một tiếng súng nổ vang lên. Một tên giặc đứng gần Tấn đã nhanh tay hơn Mận. Mận lảo đảo buông rơi thanh kiếm gục xuống. Máu ướt đẫm cả ngực áo bà ba đen người con gái dũng cảm của nghĩa quân. Đó là ngày 26-3-1864, ngày lịch sử bi thảm ghi lại sự hy sinh oanh liệt của người anh hùng dân tộc Trương Định để lại cho hậu thế tấm gương yêu nước sáng chói muôn đời.


            Ở Bình Thuận, thời gian sau đó, Nguyễn Trung Trực đầu quấn khăn tang trắng cùng với số quân do chàng cai quản cúi lạy trước bàn thờ đặt bài vị Trương Định, khói nhang nghi ngút. Lần đầu tiên, trên nét mặt cương nghị rắn rỏi của Trực, hai hàng nước mắt chảy dài. Chàng lấy khăn chậm nước mắt rồi nói với quân sĩ đang quỳ trước bàn thờ:


            – Quan lãnh binh, không, quan Bình Tây đại nguyên soái Trương Công đã chiến đấu dũng cảm đến giọt máu cuối cùng, quyết không đội trời chung với lũ giặc Tây dương. Trước vong linh của Người, chúng ta thề sẽ noi gương hy sinh oanh liệt vì dân vì nước của Người, quyết tiêu diệt lũ Tây dương và bọn bán nước để trả thù cho Người và dân chúng bị giặc giết hại, bảo vệ bờ cõi nước Nam ta. Xin thề! – Xin thề! – Tất cả binh sĩ cùng giơ cao cánh tay hô vang theo người chỉ huy thân thiết của họ, đầu đang quấn khăn tang với khuôn mặt còn đầm đìa nước mắt trong buổi cử hành lễ tang Trương Định. Đó là một ngày đau thương nhất của Nguyễn Trung Trực đối với Trương Định – người thầy, người chỉ huy dũng cảm và nhân hậu, đã dìu dắt chàng đi vào con đường cứu dân cứu nước.


            Ở huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre, nơi tị địa của cụ Đồ Chiểu. Trong gian nhà lá đơn sơ trên bàn thờ có đặt bài vị Trương Định với bốn chữ “Vị quốc vong thân” khói hương nghi ngút. Cụ Đồ cúi lạy rồi ngâm thơ, giọng trầm trầm đau xót:


Trong Nam tên họ nổi như cồn,


Mấy trận Gò Công nức tiếng đồn.


Dấu đạn hỡi rêm tàu bạch quỷ,


Hơi gươm thêm rạng thể hoàng môn.


Ngọn cờ ứng nghĩa trời chưa bẻ,


Cái ấn Bình Tây đất vội chôn.


Nỡ khiến anh hùng rơi giọt lụy,


Lâm râm ba chữ điếu linh hồn


            Tiếng ngâm thơ đang lẫn gương mặt cụ Đồ đầm đìa nước mắt, với hình ảnh Trương Định xông pha giết giặc chiến trường Sài Gòn, Gò Công; hình ảnh ông dự buổi mừng công đốt tàu Espérance của Nguyễn Trung Trực; hình ảnh ông chĩa lưỡi gươm mắng tên phản bội Huỳnh Tấn rồi đâm vào bụng tự sát… Đó là những hình ảnh bất tử của người anh hùng với ngọn cờ Bình Tây đại nguyên soái trong bước đầu chống bọn thực dân đế quốc Pháp nước ta nửa sau thế kỷ XIX.


CHƯƠNG BẢY










 




Nhà bà Hai ở vùng Đầm Dơi U Minh. Đó là gian nhà lá bày biện khá đơn sơ. Trên bàn thờ khói hương nghi ngút, có bức họa truyền thần của ông Nguyễn Văn Phụng, cha Trực, không biết ông mất năm nào… Thuở ấy, vùng Đầm Dơi chỉ có ít nhà dân ở rải rác dọc ven sông, ngoài ra là màu xanh bạt ngàn của rừng U Minh trải dài ra tận biển.


            Trời chiều.


            Bà Hai đang lui cui dưới bếp lo nấu nồi cám heo thì nghe con Út la lớn giọng mừng rỡ: – “Má ơi! Chị Hai về! Má ơi!”. Bà Hai mừng quýnh vội đẩy khúc củi lớn vào cho lửa cháy bùng lên rồi tất tả bước ra phía cửa. Dưới bến sông, Nghĩa đã bước lên bờ, xoa đầu con Út cười: – “Em bây giờ lớn quá rồi nghe Út”. Tâm cũng buộc xuồng xong bước theo lên bờ. Nét mặt cậu còn lấm tấm những giọt mồ hôi. – “Má!”. Nghĩa kêu lên tiếng “Má” rồi nghẹn lại. Hai dòng nước mắt chảy dài trên khuôn mặt rám nắng vì lặn lội con đường dài từ Phú Yên về đây. – “Dữ hôn! Bữa nay con mới về đó hả Nghĩa?” – Bà nói lớn nhưng đôi mắt bà cũng rưng rưng. Từ lúc ở Nhựt Tảo ra đi đến nay cũng đã mấy năm rồi chớ đâu có ít. Thấy Nghĩa bà lại nhớ đến Trực. Nghĩa chạy lại ôm lấy bà, giọng nghẹn ngào: – “Má ơi! Con nhớ má lắm. Cả anh Hai cũng vậy. Về đây thấy má mạnh giỏi như vầy con mừng lắm má à!”. – “Má cũng nhớ hai con lắm, nhưng biết làm thế nào… Má ngày đêm cầu nguyện Trời Phật ủng hộ hai con mạnh giỏi mà lo việc nước – Bà Hai xúc động vuốt mái tóc Nghĩa – Con bữa nay về được là má mừng lắm rồi… Thôi vô nhà đi con. Út ơi, con bắt con gà nấu cháo mau đi, kẻo trời tối đến nơi rồi đó”. Con Út “Dạ” một tiếng rồi chạy biến ra sau nhà. Chợt nhìn thấy Tâm, bà Hai vui vẻ nói: – “Vô nhà đi cháu. Lâu không gặp, cháu lớn quá rồi bác nhìn không ra”. Tâm “Dạ” rồi theo Nghĩa và bà Hai vào nhà. Nghĩa mở túi lấy gói quế và cao hổ cốt trao cho bà Hai: – “Đây là quà của anh Hai gởi má. Mấy thứ này rất cần cho người lớn tuổi, má à”. Bà Hai cầm lấy món quà Nghĩa trao, bồi hồi xúc động. Giây lâu bà mới nói: – “Nó có nói chừng nào nó về không con?”. – “Dạ, ảnh nói đã gởi sớ tâu xin Hoàng thượng cho ảnh về Nam đánh giặc, chớ ở ngoài đó nghe tin bọn Phú-lang-sa trong này đàn áp dân mình, ảnh tức không chịu được, má à!” – Nghĩa nói với giọng buồn buồn. – “Má với mấy em lánh nạn về ở dưới này cũng tạm yên rồi, nhưng nghe tin trên Tân An, Sài Gòn bọn Phú-lang-sa đang chiêu mộ thêm lính mã tà, không biết nó còn định làm gì nữa đây?”. Bà Hai thở dài rồi nói tiếp: – “Có con về, biết tin thằng Lịch mạnh giỏi là má mừng rồi. Mấy năm nay mấy đứa em thằng Lịch má gả chồng hết cũng ở quanh vùng này, chỉ còn con Út nó ở nhà với má. Được cái bà con lối xóm đây thấy hoàn cảnh má như vậy, họ thường tới lui giúp đỡ luôn, nên má cũng thấy bớt hiu quạnh…”. – “Thế nào rồi anh Hai cũng sẽ về. Hôm con đi ảnh cứ dặn đi dặn lại là nói với má cứ yên tâm, đừng lo lắng gì cho ảnh” – Nghĩa nói. – “Có người mẹ nào mà không lo cho con đâu Nghĩa? – Bà Hai nói – Con chưa làm mẹ, con chưa hiểu tấm lòng người mẹ đối với con, nhứt là đứa con đó đang xông pha nơi làn tên mũi đạn diệt lũ Tây dương cướp nước mình. – Rồi bà nhìn Nghĩa – Còn con đến bao giờ cho má đứa cháu nội để má bồng ẵm vui lúc tuổi già đây?” – “Con cũng chưa biết nữa má à! – Nghĩa trả lời nhưng đôi má ửng hồng vì xấu hổ”. – “Má nói vậy thôi, chớ thời buổi nhiễu nhương này sanh đứa con nó khổ cực lắm! – Bà Hai nói – Thấy người ta gánh con chạy giặc, má thương và tội nghiệp cho họ quá!”. Có tiếng người gọi ở mé sông: – Bà Hai ơi! Có ở nhà không đó? – giọng bà Năm ở dưới xóm – Bà Hai nói – Thôi con thu xếp đi ngủ sớm đi, kẻo đi đường xa về đây chắc con cũng mệt rồi. Để má ra coi bả nói gì. Bà Hai đi ra nhìn xuống sông: – Chị Năm đó hả, đi đâu mà về tối vậy? Ngoài bến, bà Năm buộc xuồng rồi bước lên bờ. Thấy bà Hai ra, bà nói luôn: – Tui vừa mới ở Cà Mau về. Ngoài đó người ta đồn ầm chuyện lũ Tây dương ở Sài Gòn sẽ kéo xuống chiếm luôn ba tỉnh miền Tây của mình nữa đó bà! – Thiệt vậy sao bà? – Bà Hai lo lắng hỏi. – Hồi sớm tui còn ngoài chợ Cà Mau thấy mấy ông thương hồ ở Sài Gòn xuống ăn hàng nói vậy. Nghe nói cái lũ Tây dương này ác lắm, đi tới đâu đều đốt nhà cướp của, hãm hiếp đàn bà con gái tới đó. Tui sợ lắm không biết tính sao đây? – Còn tính gì nữa bà? Mình ở đây là chốn thâm sơn cùng cốc rồi. Có gì thì mình chạy vô rừng. Cha nó kiếm mình cũng không được. – Bà nói cũng phải – Bà Năm gật đầu tán thành – Tui còn nghe cái lũ Tây dương này đầu gối nó cứng đơ lội sình không được. Mình chạy vô rừng, nó có biết cũng không dám lội vô. Vậy là tui yên tâm rồi. Thôi tui về nghe bà, kẻo sắp nhỏ ở nhà nó trông. Nói rồi bà Năm quày quả trở xuống xuồng, mở dây rồi bơi đi. Bà Hai đứng yên lặng một lúc rồi lững thững bước vô nhà, nét mặt bà đầy vẻ suy tư lo lắng trước cái tin không vui này.


Năm 1867.


            Đô đốc La Grandière thay đô đốc Bonard làm Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Việt Nam.


            Buổi sáng ở Soái phủ Pháp đóng tại Sài Gòn. La Grandière đang hội ý với đô đốc Ohier, Phó tư lệnh về bức chỉ dụ của hoàng đế Napoléon đệ tam thúc giục việc mau đánh chiếm ba tỉnh miền Tây Nam Kỳ. Ohier sau khi đọc xong chỉ dụ của vua Pháp, hỏi La Grandière: “Bây giờ ngài tính sao việc thi hành mệnh lệnh của Hoàng thượng?”. La Grandière mỉm cười vẻ đắc ý: – Triều đình Huế đã giao việc cai quản ba tỉnh miền Tây cho Phan Thanh Giản, một viên đại thần từng thay mặt triều đình ký Hoà ước Nhâm Tuất 1862, rồi sau đó lại làm trưởng phái bộ sang nước ta điều đình xin chuộc ba tỉnh miền Đông. Chuyện thật đáng nực cười. Và cũng nực cười hơn là giao cho viên quan văn nổi tiếng giỏi chữ, đi giữ ba tỉnh miền Tây khi trong tay ông ta không có một tấc sắt nào ra hồn, thì thử hỏi ông ta làm được trò trống gì với lực lượng quân sự hùng mạnh của hoàng đế Đại Pháp chúng ta? – Nhưng thưa ngài, đâu phải chỉ có Phan Thanh Giản, còn có các tướng lĩnh của ông ta nữa chứ? – Ohier nhìn La Grandière thăm dò. La Grandière cười lớn: – Tướng lĩnh của họ ư? Theo bản chức thì từ khi chúng ta đánh chiếm Sài Gòn đến nay chỉ có ba người xứng đáng là đối thủ của quân đội viễn chinh Pháp. Đó là Nguyễn Tri Phương, Trương Định và Nguyễn Trung Trực. Chính viên tướng còn rất trẻ này đã đốt cháy chiếc Espérance bằng một lối đánh táo bạo, bất ngờ đầy mưu lược, chứng tỏ bản lĩnh quân sự rất giỏi của ông ta. Đó mới chính là một địch thủ đáng gờm nhất trong cuộc chiến này. Ngoài ba viên tướng kể trên, số còn lại của triều đình Huế có mặt ở đất Nam Kỳ này không có ai đáng gọi là đối thủ của chúng ta, có phải vậy không ngài đô đốc? – Cả ba viên tướng mà ngài vừa nêu trên – Ohier nói chậm rãi – hiện nay đều không có mặt ở chiến trường. Nguyễn Tri Phương đang chữa bệnh ở Huế, Trương Định đã chết, còn Nguyễn Trung Trực thì đang ở Bình Thuận, ngoài miền Trung… Có lẽ đây là thời cơ thuận lợi cho cuộc tiến đánh ba tỉnh còn lại ở miền Tây Nam Kỳ chăng, thưa ngài? – Đúng vậy! – La Grandière gật đầu… – Nhưng có lẽ để tránh những thương vong không cần thiết, ta khuyến dụ Phan Thanh Giản nên hạ vũ khí đầu hàng, bởi hơn ai hết, ông ta đã tận mắt nhìn thấy nền văn minh của nước Pháp với quân lực hùng mạnh vô địch của Hoàng đế Đại Pháp, khi ông ta cầm đầu phái bộ sang Pháp mấy năm trước đây. Bản chức tin là ông ta sẽ có sự lựa chọn khôn ngoan để tránh một cuộc đổ máu vô ích cho cả hai phía mà rồi kết cục ông ta cũng không giữ nổi phần đất ông ta cai quản. Có phải vậy không ngài đô đốc? – Ngài nói rất đúng! – Ohier gật đầu – Đúng là trong tình thế hiện nay ông ta không có sự lựa chọn nào khác thật!


 


            Tư dinh Phan Thanh Giản ở trấn Long Hồ. Đó là căn nhà lá ba gian ở ngoại ô Vĩnh Long, bài trí đơn sơ.


            Phan Thanh Giản mặc phẩm phục đại thần đang nói chuyện với Tổng trấn Vĩnh Long Trương Văn Uyển mặc võ phục. Bên ngoài có hai người lính cầm giáo đứng gác.


            Ông Đức, người hầu già lâu năm của cụ Phan bưng khay trà ra rót đầy hai chén sứ nhỏ rồi lặng lẽ lui vào trong. – “Mời ông”. – “Cám ơn đại nhân”. Trương Văn Uyển đón lấy chén trà của Phan Thanh Giản với sự cung kính của cấp dưới. – “Ta mời ông đến để bàn một việc hệ trọng…” – “Dạ, xin đại nhân cứ chỉ dạy. Hạ quan xin nghe” – Trương Văn Uyển lễ phép nói. – “Soái phủ quân Phú-lang-sa ở Sài Gòn vừa gởi cho ta bức thơ này. Ông xem đi”. Phan Thanh Giản trao cho Trương Văn Uyển bức tối hậu thư. Trương Văn Uyển đưa hai tay đỡ lấy rồi chăm chú đọc. Nét mặt lúc tái lúc đỏ thể hiện tâm trạng bức xúc của một võ quan cao cấp triều đình khi đọc những lời lẽ ngạo mạn và hăm dọa của kẻ thù viết trong thư. – “Thưa đại nhân – Trương Văn Uyển trả lại thư cho cụ Phan – Theo thiển ý của hạ quan thì bọn Tây dương này khinh miệt chúng ta quá lắm, không thể chấp nhận được”. – “Nhưng ông tính đối phó bằng cách nào?” – “Hạ quan sẽ cho xây dựng phòng tuyến kiên cố, mặt khác sẽ động viên binh sĩ ta quyết tâm tử chiến khi bọn Phú-lang-sa kéo xuống đây!” – Trương Văn Uyển nói với giọng rắn rỏi kiên quyết. – “Liệu ông có xây được phòng tuyến kiên cố như đại đồn Chí Hoà của quan Tổng thống quân vụ Nguyễn Tri Phương không? Đại đồn đó xây dựng hằng mấy năm trời, vậy mà không giữ nổi quá bốn ngày trước sự công phá của súng thần công quân Phú-lang-sa khi họ đánh chiếm Sài Gòn – Gia Định mấy năm trước. – Phan Thanh Giản buồn rầu nói tiếp – Nước Nam ta nhiều năm đóng cửa không giao tiếp với bên ngoài nên không biết rõ nền văn minh phương Tây như các nước Y-pha-nho, Anh-cát-lợi, Phú-lang-sa… đã phát triển đến mức độ nào. Ngay như bên Tàu, nhà Thanh cũng không đương cự nổi người Anh-cát-lợi trong chiến tranh nha phiến, chỉ vì bọn Hồng mao đó có khí giới tối tân, còn tướng Lâm Tắc Từ lòng dũng cảm tận trung báo quốc có thừa, nhưng súng ống nghèo nàn cũ kỹ làm sao không bại trận được?” – “Nhưng thưa đại nhân, chẳng lẽ ta lại xếp giáo quy hàng bọn Tây dương này sao?” – Trương Văn Uyển nói có vẻ bực tức. – “Điều này ta đang cân nhắc – Phan Thanh Giản chậm rãi trả lời, giọng buồn buồn – Lãnh trọng trách kinh lược sứ của Hoàng thượng giữ ba tỉnh miền Tây. Sứ mệnh đó thiệt là quá sức gánh vác của một quan văn suốt đời chưa cầm đến thanh gươm ngọn giáo, trói gà không chặt như ta. Nhưng vì ơn vua lộc nước, lại thấy dân trong cơn lầm than lửa đỏ ta không thể từ chối chỉ dụ của Hoàng thượng được. Nhưng giữ làm sao đây? Mấy hôm nay ta gần như suốt đêm không ngủ, nỗi lo cứ canh cánh bên lòng. “Quốc gia hưng vong, thất phu hữu trách”. Nước nhà còn hay mất, đứa không ra gì còn có trách nhiệm huống chi ta là một đại thần phò tá ba triều vua, lẽ nào lại “bàng quan tọa thị” không có trách nhiệm gì hay sao? Đây không phải là chuyên sống chết của một con người mà là sống chết của một dân tộc. Cứ nhớ đến cảnh dân ba tỉnh miền Đông bồng bế nhau chạy giặc, trong khi nhà cửa bị đốt, của cải bị cướp phá, xác người phơi trên chợ, dưới sông không biết bao nhiêu mà kể, lòng ta lại thấy đau như dao cắt. Ta vời ông đến đây để xem với tư cách một võ tướng ông có cao kiến gì giúp ta hay không?” – “Dạ thưa đại nhân. Là con nhà võ thì hạ quan nghĩ: “ninh thọ tử bất ninh thọ nhục!”. Đời Trần trước thế mạnh của quân Nguyên Mông đã bỏ thành Thăng Long rút lui để bảo toàn lực lượng, rồi sau đó phản công diệt địch lập nên chiến tích Bạch Đằng giang “tự cổ huyết do hồng” sống mãi muôn đời. Theo hạ quan nghĩ, ta bỏ thị thành rút vô bưng biền chờ thời cơ diệt địch như đời Trần vậy, đại nhân nghĩ sao?”. Trương Văn Uyển nói và quan sát thái độ Phan Thanh Giản. – “Muộn rồi ông Trương ạ! – Phan Thanh Giản lắc đầu buồn bã – Nhà Trần có một thời gian dài để chuẩn bị chống bọn xâm lược còn ta thì không. Nay theo ý ông ta rút bỏ thành thị thì cảnh đầu rơi máu đổ chắc chắn sẽ xảy ra cho dân chúng, ai chịu trách nhiệm về tai hoạ đó? Mà quân Phú-lang-sa lại là bọn mặt người dạ thú giết người không gớm tay, không có tội ác nào bọn đó không dám làm. Chúng ta ở quá xa triều đình, giao thông thủy bộ đều không thuận lợi, quân sĩ trang bị lại quá thô sơ và yếu kém ngay so với quân của ông Tổng thống quân vụ ở đại đồn Chí Hoà cũng không bằng. Đại đồn quân đông tướng giỏi như vậy mà còn không giữ được thì ở đây làm sao giữ nổi! Ông nghĩ lại coi”. – “Dạ thưa đại nhân – Trương Văn Uyển nói dè dặt – Liệu ta dùng kế hoãn binh hưu chiến với họ một thời gian có được không?” – “Ông đã đọc tối hậu thơ của họ rồi đó, có khoản thời gian nào cho sự hoãn binh đâu! – Phan Thanh Giản thở dài – Thôi ông về đi. Ta sẽ suy nghĩ kỹ rồi quyết định hoà hay chiến sẽ báo cho ông biết sau. Ta muốn thỉnh thị Hoàng thượng, nhưng ngựa lưu tinh đi về cũng mất cả tháng làm sao kịp được?”. Biết không thể nào lay chuyển ý định quan kinh lược sứ mà Trương Văn Uyển lờ mờ đoán được nên ông đành xốc gươm đứng dậy cúi chào Phan Thanh Giản: – “Xin cáo từ và chờ lệnh của đại nhân”. – “Được, ông về”. Phan Thanh Giản chỉ đưa tay ra hiệu tiễn, chớ không rời chỗ ngồi, nét mặt ông buồn ràu ràu vì viên võ quan này cũng chẳng hiến được một kế nào hầu gỡ rối cho ông trong hoàn cảnh nước sôi lửa bỏng này. – “Thưa cha…”. Nghe tiếng nói phía sau, Phan Thanh Giản quay lại: – “Con mới về đó à?” – “Dạ” – Phan Tôn, con trai Phan Thanh Giản có nét mặt hao hao giống cha – “Con về tự nãy giờ nghe hết chuyện cha nói với ông Uyển. Bây giờ cha tính sao đó cha?” – “Khó lắm con à!” – Phan Thanh Giản lắc đầu – “Giữ đất thì không giữ được, mà hàng thì nhục quá. Cha như đứng giữa ngã ba đường”. – “Sao lại đứng giữa ngã ba đường?” – Phan Tôn nói, vẻ mặt căng thẳng – “Cha phụng mệnh triều đình giữ ba tỉnh miền Tây. Đó là sứ mệnh lịch sử. Có chết cũng phải làm tròn sứ mệnh đó cha”. – “Đối với bản thân cha sống hay chết cha coi nhẹ tựa lông hồng, không có nghĩa lý gì hết. Nhưng cha còn có trách nhiệm việc sống chết của người dân ở mảnh đất này. Khi ra làm quan, cha đã tâm niệm lời dạy của thánh hiền là “dân vi quý, xã tắc thứ chi…” nếu dân chết chóc đói khổ thì trách nhiệm trước hết thuộc về quan cai trị…” – “Thưa cha, con hiểu điều cha nói rồi – Phan Tôn nói – Nhưng nếu cha nộp ba tỉnh miền Tây này cho lũ Tây dương, cha có bảo đảm rằng người dân sẽ không bị chúng nó tàn sát không?” – “Đó chính là điều cha suy nghĩ để đặt điều kiện tiên quyết cho họ”. – “Nếu họ không chấp nhận thì sao?” – “Cha nghĩ rằng họ sẽ chấp nhận. Bởi vì họ cũng biết rằng không nên đẩy ta vào bước đường cùng. Ta tuy không có lực lượng quân sự bằng họ, nhưng nếu không chấp nhận điều kiện tiên quyết của cha là không được tàn sát giết hại dân chúng thì họ có chiếm được đất này họ cũng sẽ phải trả một cái giá rất đắt”. – “Tại sao cha không phát lệnh tử chiến với lũ Tây dương? Con tin rằng dân chúng ở đây sẵn sàng sống mái với kẻ thù như những nghĩa quân của ông Trương Định, ông Nguyễn Trung Trực đã lập nên chiến công lẫy lừng như vụ đốt chiếc tàu ở Nhựt Tảo… Con xin cha hãy nghĩ lại, bởi việc cha làm hiện nay hậu thế sẽ còn lưu truyền và phán xử… Thà làm “ngọc vỡ hơn làm ngói lành” đó cha!” – “Đó là suy nghĩ của con. Còn cha, công tội hãy để lịch sử phán xét, nhưng trước hết cha không muốn bá tánh phải đổ máu thêm nữa. Âu đó cũng là mệnh trời. Riêng con, nay con đã khôn lớn trưởng thành, con có quyền quyết định việc con làm cha không ngăn cản, nếu con thấy việc con làm đó quang minh chính đại. Còn cha, cha cũng sẽ tự xử phận mình khi không làm tròn sứ mệnh của triều đình giao phó. Đó là chút khí tiết cuối cùng của kẻ sĩ”. – Phan Thanh Giản nói mấy câu cuối giọng rắn lại đầy kiên quyết. – “Vậy thì con xin nhận tội trước cha. Con sẽ đi theo chí hướng của con. Nếu cha nộp đất này cho giặc con thề sẽ giành lại đất. – Phan Tôn sụp xuống quỳ lạy – Xin cha tha tội bất hiếu”. Lần đầu tiên cụ Phan nhìn rõ con trai mình. Nó không còn là chàng trai ít nói thật thà và hơi nhút nhát. Nhìn con, ông xúc động nghẹn ngào: – “Phan Tôn con!”.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info


           

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »