tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24334747
Tiểu thuyết
26.12.2012
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

Ngọn lửa ở đồn chính bốc cao sáng rực cả một góc chợ. Nhân dân ùa ra khỏi nhà đón chào những anh em nghĩa quân. Chiếc tàu giặc ngoài sông bắn mấy phát đại bác rồi vội kéo neo rút chạy. Chúng sợ sẽ thành ngọn lửa như chiếc Espérance ở vàm Nhựt Tảo mấy tháng trước.


            Anh em nghĩa quân đã giải tên cai tổng Hảo đến trước Nguyễn Trung Trực, lúc này đang đứng trước cổng đồn chính. Sau lưng anh là ngọn lửa bốc lên cao với tiếng nổ của những viên đạn còn sót lại. Bà con kéo đến vây quanh Trực rất đông. Trong số này có các người dân bị giam vừa được cứu thoát. Ông Bảy Vẹn bước ra chỉ vào mặt cai tổng Hảo đang quỳ ở giữa sân, mặt tái mét run cầm cập: – Mầy bây giờ đã biết tội mầy chưa? Làm chó săn cho bọn Phú-lang-sa, mầy đã gây bao nhiêu tội ác với dân chúng ở đây? Đốt bao nhiêu nhà, giết bao nhiêu người, hả? Xử tử thằng Việt gian đó đi! Chém đầu nó đi!


            Nhiều tiếng người la ó bên ngoài. Ông Bảy Vẹn quay lại Trực. Ông chắp tay xá anh: – Xin ông Hai cho giết tên Việt gian này để trả thù cho dân bị nó hãm hại quá nhiều! Tiếng la đòi xử tử tên cai tổng Hảo lại tiếp tục vang lên ồn ào như chợ vỡ. Trực nói lớn: – Xin bà con cho tôi nói đôi lời… Tiếng ồn ào bỗng im bặt, Trực mỉm cười nói tiếp, giọng nhỏ lại – Thưa bà con, nhờ sự giúp đỡ của bà con mà anh em nghĩa quân mới phá tan đồn giặc ở Thủ Thừa này. Tôi thay mặt anh em nghĩa quân tỏ lòng biết ơn sự giúp đỡ đó. Bọn Phú-lang-sa vẫn còn đang xâm lược nước ta, tôi kêu gọi bà con hãy tiếp tục giúp đỡ nghĩa quân bằng cách cung cấp tin tức, tiếp tế lương thực, cho con em mình tham gia nghĩa quân để tiêu diệt quân cướp nước. Còn tên Hảo này, xin bà con để cho dân lập toà án xét xử nó cho công bằng minh bạch, làm cho mọi người thấy con đường làm tay sai cho giặc chỉ có kết quả là cái chết nhục nhã, để lại tiếng xấu muôn đời. Bây giờ bà con hãy về lo phòng bị, có thể bọn giặc còn kéo đến để trả thù. Mình lo trước vẫn tốt hơn, phải không bà con? Nhiều tiếng người hưởng ứng; – Ông Hai nói phải lắm! Thôi, ta về nhà đi bà con ơi.


            Mọi người ồn ào cười nói râm ran trên đường trở về nhà. Ánh lửa đồn chính vẫn chiếu sáng chập chờn trên những khuôn mặt phấn khởi của họ.


            Trực quay lại nói với Tư Hội: – Anh cho anh em đưa thằng nầy giam lại chờ xét xử sau! Tên Hảo quỳ lại như tế sao: – Đội ơn ông Hai! Đội ơn… Một nghĩa quân đến bên hắn lôi dậy: – Đứng lên, đi theo tao!


            Những cái võng khiêng nghĩa quân bị thương chạy về các gian nhà cuối xóm chưa bị đốt.


            Trong số bị thương có đội trưởng Hòa. Anh nằm thiêm thiếp như ngủ, trong lúc võng đong đưa theo bước chân của hai người nông dân theo giúp nghĩa quân. Khi Hòa mở mắt thì thấy Út Hiền đang khóc. Bên cạnh là ông Bảy Vẹn. Bây giờ thì ông đã biết chuyện tình cảm của Hòa với Út Hiền. Nghe tin Hòa bị thương, ông cùng con gái vô thăm. Tay ông rờ trán Hòa: Không sao đâu. Trán mát rồi. Rồi ông nhìn con gái: Con nói chuyện với nó đi. Tía ra ngoài một chút. Nói xong, ông đi ra ngoài để cho hai đứa trò chuyện, mà trong thâm tâm ông rất có cảm tình với Hòa, muốn anh trở thành người thân trong gia đình.
Chương Sáu- Huỳnh Tấn bí mật về Sài Gòn gặp lão biện Chín ở tại nhà riêng của lão ở ven sông Thị Nghè – Gia Định. Đó là ngôi nhà lợp ngói, vách ván nằm ẩn trong khu vườn cây trái xum xuê như trước đây. Trong nhà bày biện tươm tất hơn: hoành phi, câu đối, ghế tràng kỷ… trông sang trọng hơn trước. Một cô hầu gái bưng khay trà tầu ra, rót đầy chén bốc khói thơm phức rồi cúi đầu lui vào. Lão biện Chín giơ tay mời Tấn: – Mời cháu. Trà Ô Long này uống được lắm đó! – Dạ Tấn đỡ lấy chén trà, nhấp một ngụm rồi đặt xuống, nhìn lão biện Chín. – Trà thơm quá! – Loại trà này chỉ có bên Tầu đưa qua, chớ ở đây ta chưa trồng được. À, bữa nay cháu về chắc có tin gì quan trọng? Lão biện nhìn Tấn hỏi. – Dạ, Trương Định kháng chỉ triều đình không đi An Giang, sau khi nghe triều đình ký Hoà ước chịu mất ba tỉnh miền Đông cho người Phú-lang-sa… – Tấn nói. – Vậy thì Trương Định làm gì? – Lão biện hỏi. – Dạ khi rút quân về đóng ở Tân Hoà thì dân chúng ùn ùn kéo tới và một chuyện động trời đã xảy ra…


            Trương Định mặc võ phục đứng trên lễ đài được dựng đơn sơ bằng gỗ và tre trước sân đình làng. Lá cờ ngũ bái năm sắc phất phơ trước gió.


            Một bàn hương án được bày trước chỗ ông đứng.


            Chung quanh sân đình ngoài đội dân binh của ông gươm giáo súng ống oai nghiêm đứng hai hàng trước lễ đài, còn thì dân chúng gồm già trẻ, gái trai đứng chen nhau đông nghịt trong ngoài, trong đó có một số vị bô lão, hương chức ăn mặc khăn đóng áo dài tề chỉnh.


            Ai nấy đều im lặng lắng nghe từng lời rành rọt sang sảng của vị lãnh binh mà họ hết sức yêu mến kính trọng.


          Trong số thuộc hạ đứng sau Trương Định dưới lễ đài có mặt Huỳnh Tấn. – Thưa tất cả bà con dân chúng Gò Công. Hôm nay tôi mời bà con tụ hội về Tân Hoà đây, là cốt để nói mấy lời từ biệt… Tiếng xì xào trong đám dân nổi lên át cả tiếng của Trương Định – Sao ông lãnh binh lại nói vậy? – Bộ ổng tính không đánh giặc sao hả bà con? – Ông lãnh binh đi rồi dân chúng ở đây sống ra sao? – Lũ Tây dương sẽ kéo tới đốt phá bắn giết dân mình, biết lấy ai chống cự chúng nó? – Bà con im lặng để nghe ông lãnh binh nói chớ! Tiếng một chức sắc nói lớn khiến mọi người im bặt.


           – Chắc dân làng đều biết – giọng Trương Định sang sảng cất lên – Triều đình đã sai đại thần Phan Thanh Giản ký hoà ước Nhâm Tuất giao cho quân Phú-lang-sa ba tỉnh miền Đông… Có tiếng kêu “trời” trong đám dân. – Vậy là mất đất miền Đông rồi. Cố nén cơn xúc động bất ngờ tràn ngập, mãi một lúc Trương Định mới nói tiếp được – Như vậy tỉnh Định Tường bao gồm cả Gò Công này sẽ thuộc quyền cai trị của Phú-lang-sa. Còn phần Trương Định tôi, có lẽ triều đình thấy để tôi ở đây sẽ bất lợi cho công việc hoà ước nên đã xuống lệnh điều động tôi đi An Giang trấn nhậm vùng biên ải. Trước đây khi quân Phú-lang-sa tiến đánh Mỹ Tho, tôi cũng được lệnh điều ra Phú Yên, tôi đã kháng lệnh không đi, ở lại cùng bà con đánh giặc. Nay triều đình xuống lệnh lần nữa, nếu tôi không chấp hành thì đạo thần tử tôi làm sao tránh được tội khi quân phạm thượng? Cho nên hôm nay tôi mời bà con tụ tập về đây là để tôi tỏ lòng biết ơn bấy lâu này bà con hết sức chở che đùm bọc, giúp đỡ nghĩa quân và tôi cũng xin có lời từ biệt bà con trước khi lên đường đi An Giang trấn nhậm.


            Trương Định vừa nói dứt lời thì trong đám đông tiếng khóc, tiếng than của đồng bào nổi lên như một đám tang. – Vậy là chết dân hết rồi! – Trương công ơi! Xin ông đừng đi mà bỏ dân cho giặc! Dân đâu có bỏ ông, mà ông đành bỏ dân hay sao?


            Không khí cuộc họp nhuốm màu tang tóc. Cả đến khuôn mặt của tên phản bội Huỳnh Tấn cũng ngớ ra, hắn không ngờ lòng dân quý mến và tin tưởng Trương Định đến như vậy. Hắn liếc nhìn Trương Định. Và lần này hắn cũng ngạc nhiên khi nhìn thấy con người lãnh binh can trường dũng cảm từng xông lên vung gươm giết giặc ở trận đánh đại đồn Chí Hoà, nay nước mắt ròng ròng ướt đẫm đôi má đã hóp sạm đi chỉ trong một thời gian rất ngắn. Hắn cũng chợt thấy Mận đứng lẫn sau lễ đài cùng với những người phụ nữ, già có trẻ có, cũng không kềm được những giọt nước mắt sụt sùi đau đớn.


            Bỗng từ đám đông, một bà mẹ tuổi khoảng ngoài năm mươi, dắt một cô gái còn trẻ, khoảng trên dưới ba mươi bồng theo một đứa nhỏ, cả ba đều quấn khăn tang, rẽ mọi người đến bên lễ đài chỗ Trương Định đứng. Trương lãnh binh chưa kịp hỏi, thì bà mẹ cất lên tiếng nói mạnh mẽ nhưng đầy bi thương xúc động:


            – Bẩm đại nhân, xin đại nhân cho phép tôi được nói vài lời với đại nhân. – Được, bà cứ nói, không sao! – Trương Định nhìn bà mẹ bằng ánh mắt thông cảm. – Bẩm đại nhân – giọng bà mẹ trở nên thống thiết – tôi tên là Nguyễn Thị Lành, cư ngụ tại Tân Hoà này. Chồng tui đã theo đại nhân đi đánh giặc ở Chí Hoà – Sài Gòn mấy năm trước, rồi cũng chết trận tại đó. Tiếp đến là thằng con tui, nó tên là thằng Nhân, đi theo làm nghĩa quân ông Hai Lịch đánh giặc chết trận ở Thủ Thừa rồi. Còn đây là vợ con nó – bà chỉ vào thiếu phụ bồng con nhỏ quấn khăn tang – nay mai thằng cháu nội này lớn lên, tôi cũng cho nó đi đánh giặc Phú-lang-sa để trả thù cho ông cha nó. Đại nhân ơi! Lâu nay dân Nam mình sống bình yên lo côi cút làm ăn nào có chọc ghẹo ai đâu, mà tại sao bọn quỷ Phú-lang-sa ở cái xứ nào kéo tới đây cướp nước mình, gây biết bao tội ác đốt nhà, cướp của giết hại dân mình. Tại sao triều đình không đánh chết nó đi, mà lại đi hòa với nó, rồi giao đất này cho nó! – Bà mẹ ngước mắt nhìn Trương Định với đôi mắt đẫm lệ – Còn đại nhân là bậc anh hùng cái thế dám đương đầu chống giặc bảo vệ xóm làng. Nay đại nhân phải bỏ đất này mà đi theo lệnh triều đình thì xin đại nhân xuống tay giết mấy mẹ con tôi đi. Thà chết dưới lưỡi gươm của đại nhân còn hơn là chết dưới tay lũ giặc Tây dương tàn bạo!


            Nói xong, bà mẹ cùng cô quỳ trước Trương Định. Chung quanh tiếng ồn ào bỗng im bặt. Họ hoàn toàn bất ngờ trước hành động của bà mẹ. Trương Định cũng hết sức bối rối xúc động. Ông cúi xuống đỡ bà: – Bà và cháu đứng dậy đi. Sao làm vậy, khiến tôi khó xử quá! Giọng bà mẹ bỗng sôi nổi, cương quyết: – Nếu đại nhân quyết ra đi thì mẹ con tôi xin chết trước đại nhân, chớ sống làm chi mà chịu nhục trước quân cướp nước sau này! Nhiều tiếng la ồn ào nổi lên: – Xin đại nhân giết hết chúng tôi rồi hãy đi!


            Trương Định ngẩng lên nhìn. Trước mắt ông toàn thể dân chúng đều quỳ xuống. Những đôi mắt họ, từ già đến trẻ, từ đàn ông đến đàn bà, đều nhìn ông với cái nhìn khẩn cầu tha thiết. Ông vô cùng bối rối trước cảnh tượng này. Ông không ngờ tình cảm nhân dân ở đây dành cho ông sâu nặng đến như vậy. Rồi bỗng dưng hai dòng nước mắt trào ra, ông nói giọng nghẹn ngào nhưng đầy cương quyết:


            – Thôi mời bà con đứng lên đi! Trương Định tôi thà chết trên mảnh đất này chớ không đi đâu hết!


            Tiếng hoan hô bỗng nổi lên như sấm dậy. Một ông lão râu tóc bạc phơ, áo dài khăn đóng chỉnh tề bước lên lễ đài đến bên Trương Định chắp tay cúi đầu, nói giọng kính cẩn:


            – Kính thưa đại nhân, xin đại nhân cho phép lão già này được thay mặt dân chúng ở đây, tỏ lời cám ơn quyết định ở lại Gò Công của đại nhân vừa rồi. Nước Nam ta từ khi có các đời Hùng Vương nối nhau dựng nước đến nay hơn bốn ngàn năm, trải qua bao nhiêu nỗi thăng trầm, lúc thịnh lúc suy, nhưng thời nào cũng có những bậc anh hùng hào kiệt ra tay cứu dân cứu nước, xây dựng cơ đồ. Nay trong lúc bọn giặc Tây dương ỷ có tàu to súng lớn, từ xa tới đây cướp nước ta. Triều đình nhu nhược không dám đánh, để mất dân mất đất, thì nỗi nhục này không có nước sông nào rửa sạch được! Nay đại nhân là người có dũng, có nhân, dám kháng lệnh triều đình ở lại đây cùng chúng dân đánh giặc cứu nước, thì cái đức của đại nhân như biển rộng non cao. – Giọng ông lão xúc động nghẹn ngào – Xin đại nhân nhận lấy một lạy này của lão, gọi là chút lòng tri ân của dân làng Tân Hoà này đối với đại nhân – nói xong, ông lão sụp xuống lạy Trương Định. Cũng quá bất ngờ trước hành động thi lễ của ông già, Trương Định vội cúi xuống đỡ ông, nói:


            Xin cụ đừng làm vậy, Trương Định tôi tổn thọ mất! Cụ đứng lên đi!


          – Cám ơn đại nhân!


            Ông già đứng dậy quay ra nói lớn trước dân làng:


            – Bà con ơi! Nay quan lãnh binh đã quyết định kháng lệnh triều đình mà ở lại cùng bà con Gò Công ta đánh giặc. Ông bà ta xưa có nói: “Danh có chính thì ngôn mới thuận”. Quan lãnh binh đã không nhận lệnh của triều đình thì lấy danh nghĩa gì mà chiêu binh mãi mã để xông ra trận tiền giết giặc cứu nước? – Ông đưa mắt nhìn mọi người rồi nói tiếp. – Bà con mình có đồng ý suy tôn Trương đại nhân làm chức “Bình Tây Đại Nguyên Soái” để đánh lũ Tây dương cướp nước không?


            Tiếng hoan hô nổi lên dậy trời và không biết ai đã chuẩn bị từ trước, một anh thanh niên nông dân giương cao lá cờ đại bái ở giữa có thêu chữ “Bình Tây Đại Nguyên Soái” bằng chữ Hán, rẽ đám đông chạy lên lễ đài trong tiếng hoan hô rầm rộ của dân làng. Ông già tiếp nhận lá cờ rồi quỳ xuống, giơ hai tay trao cho Trương Định, trong khi tiếng trống bỗng nổi lên dồn dập. Rồi cũng không biết từ đâu bỗng hiện ra con lân râu bạc múa chào mừng lễ tấn phong trong tiếng trống, tiếng pháo dồn dập.


            Các thanh niên trai tráng chạy lên lễ đài vẫy cờ, công kênh Trương Định chạy vòng quanh khắp sân đình trong tiếng hoan hô không ngớt của dân làng.


            Tấn nói tiếp: – Sau khi được dân làng tấn phong chức “Bình Tây Đại Nguyên Soái”, Trương Định đã ra thông cáo chiêu mộ thêm quân. Đích thân Trương Định đi thị sát vùng Lý Nhơn và Gia Hội để xây dựng căn cứ sau này. – Hắn mộ được bao nhiêu quân? Biện Chín cau mày hỏi. – Ngay hôm sau lễ tấn phong đã có gần hai trăm trai tráng đến nhập ngũ. –Tấn đáp – Nếu kể tất cả lính cũ và mới thì Trương Định ông ta đã có trong tay trên dưới ngàn quân rồi! – Ăn thua gì. Chỉ là trò “châu chấu đá xe”! – Biện Chín nói giọng giễu cợt – Nay mai quân Phú-lang-sa sẽ hành quân triệt phá vùng đó thì đám tàn quân ô hợp của Trương Định có “chạy đàng trời”! Cơ hội cho cháu lập công sắp đến rồi đó nghe! – Lão biện Chín cười lớn có vẻ thích chí. Tấn cũng cười phụ họa theo. Đột nhiên lão biện Chín ngừng lại nhìn Tấn hỏi với vẻ lo lắng:


            – Còn tình hình tên Trực thế nào rồi? Đó là tên giặc cỏ nguy hiểm nhứt hiện nay đó! – Dạ thưa bác, theo như chỗ cháu biết thì bây giờ Trực không đáng lo ngại nữa. – Sao vậy – Lão biện Chín ngạc nhiên hỏi. – Dạ, theo tin tức cháu vừa nhận được thì gần đây, sau khi ký Hoà ước Nhâm Tuất, triều đình thấy để Trực ở lại trong Nam sẽ gây rắc rối cho việc thực thi hoà ước, nên phong cho Trực chức quản cơ và điều ra trấn thủ ở Bình Thuận. – Nhưng liệu hắn có kháng lệnh không đi như Trương Định không? – Lão biện Chín nhìn Tấn hỏi với ánh mắt tỏ vẻ nghi ngại. – Dạ, theo cháu biết thì Trực không dám hành động như Trương Định đâu! – Căn cứ vào đâu mà cháu nói như vậy? – Dạ trước đây cháu từng học chung với Trực, rồi ở đội nông binh với nhau khá lâu, nên cháu rất hiểu tính cách của anh ta. Huỳnh Tấn nói có vẻ tự tin. – Tính cách hắn thế nào? – Dạ, tuy xuất thân là dân chài lưới nhưng Trực cũng võ vẽ biết dăm ba chữ của thánh hiền, nên chắc anh ta cũng phải hiểu thế nào là luật vua, phép nước. Vả lại tánh tình Trực rất bộc trực khí khái, tuy ít tuổi nhưng sống có khuôn phép, lễ nghĩa, chớ không ngang tàng bướng bỉnh như loại chỉ huy nông binh vô học kia. Cháu nghĩ rằng, ít ra lúc này, Trực không dám kháng lệnh triều đình để mắc tội khi quân đâu! –Huỳnh Tấn mỉm cười khi nói câu cuối cùng. – Nhưng dầu sao thì cháu cũng phải tiếp tục theo dõi mọi hành động của Trực, bởi việc đốt cháy chiếc tàu Espérance vừa qua, trong con mắt của người Phú-lang-sa, Trực vẫn là tên giặc nguy hiểm số một ở trong Nam này đó. – Dạ cháu hiểu. – Bây giờ cháu có thể về được rồi. Bác dặn cháu phải luôn luôn chú ý đừng để cho Trương Định nghi ngờ mà hỏng việc lớn. – Lão biện Chín đưa túi bạc cho Tấn – Phải hết sức cẩn thận nghe! – Dạ cháu nhớ.


            Tấn cầm túi bạc giắt vào người rồi chào lão biện Chín ra về.


            Trực tập họp anh em nghĩa quân ở khu vườn ngoại vi thị trấn Thủ Thừa. Những người lính nghĩa quân còn rất trẻ, nước da nâu bóng hoặc đen sạm vì hầu hết đều là nông dân cày sâu cuốc bẫm, vì lòng yêu nước và mến nghĩa mà tình nguyện gia nhập đội nghĩa quân. Trang bị của họ chỉ là gươm giáo, mã tấu, tầm vông vạt nhọn và một ít khẩu súng cướp được của giặc. Tất cả độ vài trăm người đứng xếp hàng theo đội hình trung đội. Đứng trước mỗi đội là các chỉ huy của họ như Sáu Bảnh, Hai Nhượng, Tư Hội và một vài người khác mà ta đã từng quen mặt khi đánh trận Thủ Thừa vừa rồi như đội trưởng Hoà. Trực hôm nay mặc võ phục, đội khăn xếp đứng trước hàng quân trông oai nghiêm như một vị tướng. Anh đưa mắt nhìn những người lính nghĩa quân đã từng cùng anh xông pha chiến trận, trong lòng xốn xang bùi ngùi khi nghĩ đến lúc anh phải chia tay họ để ra Bình Thuận theo lệnh triều đình.


            – Các anh em – Trực phải cố gắng nén cảm xúc trong lòng mới nói được – Bữa nay tôi mời anh em mình tập họp ở đây để nói vài lời tâm huyết với anh em, trước khi chúng ta chia tay nhau theo lnh của triều đình… Những nét mặt nghĩa quân thảng thốt nhìn nhau. họ không ngờ sự việc lại xảy ra nhanh quá sức tưởng tượng của họ. – Như các anh em đều biết bọn giặc Tây dương sang chiếm nước Nam, gây ra biết bao nhiêu tội ác với dân ta, nên anh em đã vì nghĩa lớn mà cùng tôi xông pha trận mạc, không quản gian khổ, không sợ hy sinh làm tròn bổn phận nam nhi trong lúc nước nhà ly loạn… – giọng Trực càng lúc càng ngậm ngùi – Một số anh em đã đền nợ nước, một số anh em bị thương tật suốt đời, nhưng chúng ta cũng đã làm cho lũ giặc Tây dương phải bạt vía kinh hồn, tàu bị đốt cháy, đồn luỹ bị phá tan, một số tên giặc và bọn tay sai phản quốc bị trừng trị, đền tội. Đó là luật trời “ác giả ác báo, hại nhân thì nhân hại”. Âu đó cũng là lẽ công bằng ở đời. Nhưng nay triều đình đã ký hoà ước Nhâm Tuất, chịu cho quân Phú-lang-sa chiếm ba tỉnh miền Đông, trong số này có cả mảnh đất Tân An yêu quý của chúng ta… Nhiều tiếng xì xào trong nghĩa quân. Vậy thì nhục quá! Triều đình ở xa đâu hiểu nỗi khổ của dân! Giết hết lũ Tây dương mới trả được thù này… Để nghe anh Hai nói hết coi! – Một nghĩa quân có tuổi nói.


            Các anh em – giọng Trực vẫn còn đầy xúc động – Mấy hôm trước sứ giả của triều đình có vô đây gặp tôi với mấy anh Hai Nhượng, Tư Hội, Sáu Bảnh tuyên đọc Chiếu chỉ của Hoàng thượng khen thưởng công lao của anh em nghĩa quân ta, nhứt là chiến công đốt cháy tàu chiến giặc ở vàm Nhựt Tảo Vàm Cỏ năm ngoái. Như vậy, tuy ở xa, triều đình cũng biết rõ chiến công của anh em ta trong này và có ban thưởng cho anh em lập công diệt giặc. Nhưng – giọng Trực nghẹn ngào – có điều đáng buồn là triều đình lại bổ nhậm tôi ra Bình Thuận lo việc quân cơ ngoài đó. Mà cũng chỉ một mình tôi phải đi thôi, còn các anh em khác như các anh Hai Nhượng, Tư Hội, Sáu Bảnh thì tùy, nếu muốn đi Vĩnh Long, An Giang gia nhập quân triều cũng được, hoặc giả trở về quê quán làm ăn sinh sống như mọi người dân khác. Còn các anh em binh sĩ thì “tuỳ nghi di tản” triều đình không ép buộc, có thể theo anh Hai, anh Tư, anh Sáu xuống Vĩnh Long, An Giang hoặc giả trở về quê quán cũng được. Tôi hết sức đau lòng khi phải xa anh em, nhưng là đạo quân thần tôi không thể nào không vâng lịnh được, anh em hãy hiểu cho tôi Trực nói mấy câu sau cùng trong nước mắt, khiến trong số nghĩa quân đứng trong hàng ngũ cũng sụt sịt khóc theo. Rõ ràng tình cảm của họ đối với người thủ lĩnh trẻ tuổi sâu sắc biết chừng nào.


            Sáu Bảnh lên tiếng trước, anh nói giọng nghẹn ngào: Thưa anh Hai, thưa các anh em! Tôi vốn là người nghèo khổ phải đi ở đợ chăn trâu. Vô ý làm mất trâu bị chủ đánh đập rồi tù đày. Ra tù chỉ còn con đường đi ăn cướp chớ ai dám thuê mướn mình nữa. Tôi rủ anh em cùng hoàn cảnh như tôi lập thành đảng cướp lấy của nhà giàu chia cho dân nghèo chớ tôi không hưởng một mình. Đến khi bọn giặc Phú-lang-sa đánh đồn Kỳ Hoà, tôi theo anh Hai đi đánh giặc cùng vào sanh ra tử với anh em. Chính anh Hai đã làm thay đổi cuộc đời tôi. Nay triều đình ký hoà ước, rồi lại đưa anh Hai ra Bình Thuận, còn anh em mình lại cho “tuỳ nghi di tản” muốn đi đâu cũng được. Tôi nói thiệt, triều đình đối xử như vậy tôi buồn hết chỗ nói. Trở về quê hương không có mảnh đất cắm dùi, lấy gì mà sống? Không lẽ tôi trở lại cuộc đời ăn cướp như trước sao? – giọng Sáu Bảnh có phần phẫn uất chua chát – Không đâu anh em à! Ngày nào còn thằng giặc Phú-lang-sa ở đất Nam này thì thằng Sáu Bảnh còn đánh nó tới cùng, tới chết thì thôi. Thưa với anh Hai – Sáu Bảnh nhìn Trực bằng đôi mắt ướt lệ tình anh em giữa anh với tôi, tôi thề có trời đất làm chứng, không bao giờ tôi quên anh, bởi vì anh dắt tôi đi vào con đường ngay lẽ phải, có ích cho dân cho nước, có thể nói anh vớt tôi ra khỏi đống bùn nhơ hôi thúi, trở lại làm người lương thiện, hơn nữa còn là một nghĩa quân chiến đấu dưới lá cờ đại nghĩa của anh. Ngày nay anh đi xa, xin anh nhận tôi một lạy vì tấm lòng anh đối với tôi cũng như với tất cả anh em. Nói xong Sáu Bảnh sụp xuống lạy khiến Trực hốt hoảng đỡ Sáu Bảnh. Đừng! Đừng làm vậy. Anh Sáu! Mình là anh em với nhau, ơn nghĩa gì.


            Sáu Bảnh ôm lấy Trực khóc, khiến cho cả nghĩa quân cũng mủi lòng khóc theo. Các anh em – Sáu Bảnh gạt nước mắt nói – Ngày hôm kia tôi được tin ở dưới Gò Công, dân chúng đã suy tôn phong cho ông Lãnh binh Trương Định làm Bình Tây Đại Nguyên Soái! Ổng đang chiêu mộ binh sĩ, xây thành đắp luỹ để chống giặc. Tôi sẽ đi theo ổng. Anh em nào có đi với tôi thì đi! Nhiều tiếng nói trong đơn vị của Bảnh vang lên: Anh Sáu đi đâu, anh em tụi tôi theo đó. Cám ơn anh em có lòng tin tưởng ở tôi! Sáu Bảnh cảm động nói. Đến lượt Hai Nhường bước ra.


            Thưa các anh em. Tôi không ngờ anh em mình lại có ngày “tan đàn xẻ nghé” như vầy. Thôi cũng là ý trời, mình đâu có cãi lại được. Anh Sáu Bảnh thì đi Gò Công theo ông lãnh binh, tôi sẽ vô Đồng Tháp Mười theo ông Thiên Hộ Dương chớ tôi cũng không xuống Vĩnh Long, An Giang làm gì. Anh em nào có đi với tôi thì đi, tôi không dám ép. Trong đám nghĩa quân thuộc đơn vị Hai Nhượng nhiều tiếng la lớn: Anh Hai đi đâu, anh em tụi tôi theo đó. Anh em tụi mình sống chết có nhau! Anh em nói vậy tôi rất vui lòng. Anh Hai – Hai Nhường quay lại nói với Trực giọng xúc động – Thiệt tình tôi không biết nói với anh Hai cái gì bây giờ, bởi vì từ ngày cùng anh theo ông lãnh binh đánh giặc ở Chí Hoà đến giờ, anh em mình có nhiều kỷ niệm quá. Tôi chỉ mong anh ra Bình Thuận một thời gian rồi trở lại trong này, anh em mình sẽ có dịp gặp lại nhau. Tôi cũng mong như vậy – Trực nói giọng buồn bã.


            Đến lượt Tư Hội bước ra: Các anh em. Tự nãy giờ các anh nói, anh em mình nghe rõ hết rồi chớ? Tôi cũng không có gì nói thêm. Anh em mình biết nhau quá rồi phải không? – Tư Hội cười buồn – Chỉ có điều tiếc là anh em mình chia tay nhau quá sớm. Giặc Phú-lang-sa thì còn đó, mà anh em mình mỗi người mỗi ngả. Anh Hai đi theo lịnh triều đình, nói xin lỗi anh Hai nghen – anh bây giờ là ông quản cơ rồi, anh không đi cũng không được. Chỉ mong anh Hai đừng quên anh em. Còn tôi, tôi sẽ đi theo ông Đốc binh Kiều, thề đánh giặc đến chết thì thôi! Anh em mình đi nhiều hướng, nhưng cùng chung một con đường đánh giặc thì nhứt định chúng mình sẽ gặp nhau phải không anh em? Nhiều tiếng nổi lên trong nghĩa quân: – Anh Tư nói phải lắm. – Chỉ có làm tay sai cho giặc thì mới không gặp nhau thôi!


            Tư Hội nhìn Trực mỉm cười:


            – Mình phải có bữa nhậu rồi mới chia tay. Được không anh Hai? – Được quá đi chớ. Tối nay chúng ta phải uống thiệt say với nhau, để rồi sáng mai đi sớm. Các anh em có đồng ý như vậy không? – Đồng ý! Tiếng hô của nghĩa quân vang cả khu rừng rực ánh nắng mặt trời.


            Trực đi về chỗ ở của anh. Đó là gian nhà của một nông dân bị đốt vừa dựng tạm lại.


            Nghĩa đang ở sau bếp thấy Trực về chạy ra đón. Chợt thấy vẻ mặt Trực không vui, Nghĩa lo lắng hỏi: – Có chuyện gì mà trông anh có vẻ buồn vậy anh Hai? Trực thở dài: – Anh em mỗi người mỗi ngả vui sao được em? – Họ định về đâu vậy anh? – Nghĩa rót nước đưa cho Trực, hỏi. – Sáu Bảnh sẽ xuống Gò Công với Trương đại nhân. Còn Hai Nhượng sẽ vô Đồng Tháp Mười với ông Thiên Hộ Dương, Tư Hội sẽ đi với ông Đốc binh Kiều. Anh em đều theo mấy ổng đánh giặc, không ai chịu về quê hết… Thấy tình cảnh vậy, thiệt tình anh không muốn ra Bình Thuận chút nào. Mấy năm đánh giặc vào sanh ra tử có nhau, bây giờ tứ tán như gà mất ổ, anh không cầm lòng được em à! – Trực nói giọng xúc động. – Em không hiểu sao triều đình đưa anh ra Bình Thuận mà không cho đem theo quân sĩ của mình. Vậy là họ có ý gì? – Nghĩa nói có vẻ bực. – Đâu có gì khó hiểu hả em? Triều đình không muốn anh ở lại trong Nam, chẳng qua họ ngại anh sẽ làm khó khăn cho việc thực thi hoà ước mà họ vừa ký với bọn Phú-lang-sa. Đây cũng là kế “điệu hổ ly sơn”, một công đôi việc ấy mà! – Trực nói với giọng buồn. – Hay là anh thảo sớ tâu với Hoàng thượng xin ở lại? – Hôm tiếp sứ giả triều đình anh đã nói ý này rồi, nhưng hình như họ đã lường trước chuyện này, nên khi anh vừa tỏ phân ý định của mình thì sứ giả đã gạt đi, nói rằng đây là chiếu chỉ của Hoàng thượng, anh cần ra Bình Thuận để chấn chỉnh quân cơ, lo việc bố phòng ngoài đó, đồng thời họ cũng nói rằng anh đã đánh giặc gian khổ nhiều cần có thời gian tịnh dưỡng cho lại sức. Đây cũng là ân sủng của Hoàng thượng không ai từ chối được. – Trực lắc đầu chán nản. – Hay là anh… Nghĩa ngập ngừng nhìn Trực rồi im lặng. Rõ ràng Nghĩa định nói điều gì đó, nhưng cô ngại. – Em cứ nói đi… Không sao đâu – Trực nhìn Nghĩa – Giữa anh và em có chuyện gì mà em không nói được. – Anh Hai à… – Nghĩa cố mãi mới nói được – Hay là anh trả quách cái chức quản cơ cho triều đình, ta vô Đồng Tháp Mười theo ông Thiên Hộ hay xuống Gò Công theo ông Trương lãnh binh mà đánh giặc. Như vậy có được không anh?


            Trực lắc đầu chán nản:


            – Không được đâu Nghĩa à! Em tưởng mấy hôm nay lòng anh yên ổn lắm sao? Dẫu gì mình cũng là con dân một nước, mà nước thì có vua đứng đầu trăm họ, có kỷ cương phép nước ai ai cũng phải tuân theo. Vả lại mình ở đây như “ếch ngồi đáy giếng” có biết việc trời đất thế nào đâu. Nhưng anh tin rằng thế nào rồi anh cũng sẽ trở vô Nam đánh giặc, vì bọn Phú-lang-sa lòng tham không đáy, nó không chiếm ba tỉnh miền Đông rồi thôi đâu. Còn ba tỉnh miền Tây nữa chớ. Chừng đó triều đình sẽ mở mắt ra và anh còn có cơ hội trở về. Em tin anh đi. Bây giờ em lo chuẩn bị cho buổi nhậu tối nay với tất cả anh em, rồi sáng ngày mốt ta lên đường sớm. Biểu thằng Tâm chuẩn bị đi theo chúng mình.  – Dạ anh Hai nghỉ đi. Mọi việc em sẽ lo. Nghĩa quay xuống bếp, nhưng nét mặt cô buồn ràu ràu không vui.


            Trương Định đi tới đi lui trong gian nhà lá của một nông dân ở Tân Hoà suy nghĩ rồi dừng lại nói với Tấn:


            Chú lấy giấy rồi thảo bức thơ cho Pù Cầm Pô nói đại ý thế này: Hiện nay bọn Phú-lang-sa là kẻ thù chung của hai dân tộc Việt – Khơme cho nên cả hai chúng ta nên chung sức chung lòng cùng với nhau chống giặc. Một cây đũa có thể bẻ gãy, chớ một bó đũa không thể bẻ được. Ta muốn gặp ổng để trao đổi việc phối hợp hoạt động. Chú viết xong đưa ta ký.


            Trương Định nói xong đi ra ngoài. Trong gian nhà chỉ còn một mình Tấn. Hắn cau mày suy nghĩ rồi cầm bút lông chấm nghiên mực tàu viết rất nhanh theo ý Trương Định. Hắn viết chữ khá đẹp. Xong thư, Trương Định ở ngoài vào. Tấn đưa trình thư. Trương Định liếc đọc rất nhanh rồi cầm bút ký tên, đoạn nói với Tấn: – Chú ra gọi thằng Quyền vào gặp ta. – Dạ. – Tấn bước nhanh ra ngoài.


            Một lát sau Trương Quyền vào. Đó là chàng trai khỏe mạnh, mặt chữ điền, mày đậm mắt sáng, trông khá giống Trương Định. – Cha gọi con có việc gì vậy cha? – Tất nhiên là có chuyện rồi – Trương Định mỉm cười – Con ngồi xuống đi. Cha đã viết xong thơ gởi cho ông Pù Cầm Pô, lãnh tụ nghĩa quân Khơme hoạt động mạnh ở Đông Nam Cao Miên giáp với Tây Ninh nước ta. Lúc đầu cha định giao cho Huỳnh Tấn mang thơ này đi, nhưng cha suy nghĩ lại – Trương Định nhìn vào mắt Trương Quyền – việc này con đi tốt hơn, bởi sau này có thể ta rút lên Tây Ninh dựa lưng vào núi Bà Đen đánh giặc. Lúc đó, con đã quen biết với Pù Cầm Pô rồi, sự phối hợp hoạt động sẽ thuận tiện hơn. – Con hiểu ý cha rồi.– Vậy bao giờ con đi? – Con thu xếp rồi mai đi sớm. Cha chỉ dặn con điều này: Khi lên đất Miên phải nhớ theo phong tục tập quán của người ta. Con nên nhớ “rừng nào cọp nấy”. Mình có tôn trọng người ta thì người ta mới tôn trọng mình – Trương Định nói – Đi đường phải cải trang cẩn thận, không được lộ tông tích. Bây giờ không hiếm bọn tay sai lũ giặc Phú-lang-sa trà trộn để theo dõi hoạt động của ta. – Dạ con nhớ. – Này – Trương Định tháo chiếc dao găm cán cẩn xà cừ rất đẹp mà ông luôn mang bên mình, bao bằng da cọp, đưa cho Trương Quyền rồi nói. – Đây là quà tặng cho thủ lĩnh Pù Cầm Pô, con nhớ giữ cẩn thận để trao cho ổng. Con lấy thằng Tám đi theo, nó biết tiếng Miên khá, và cũng là người tin cậy được. Thôi, con về thu xếp đi. Nhớ không được nói với ai chuyện này, nghe chưa? – Cha yên tâm. – Trương Quyền nói – Con hứa sẽ làm tròn phận sự cha giao. – Cha cũng tin như vậy.


            Ông vỗ vai con trai mỉm cười, tin tưởng. Trương Quyền cúi chào rồi quay ra. Vừa lúc ấy, một nghĩa quân gác ở ngoài vào báo: – Bẩm đại nhân, có ông Sáu Bảnh muốn ra mắt đại nhân. – Cho vô ngay đi! Trương Định nói. Ông có vẻ vui khi nghe tin Sáu Bảnh đến, vì người nghĩa quân xuất thân từ tướng cướp này ông đã từng gặp trong trận ông dẫn quân đồn điền tham dự trận đánh Chí Hoà mấy năm trước. Sáu Bảnh ở ngoài bước vào đứng nghiêm chào Trương Định: – Kính chào đại nhân. – Miễn lễ. Mời chú ngồi. Trương Định vui vẻ nhìn Sáu Bảnh nói tiếp: – Chú vừa ở chỗ Hai Trực đến đây à? Sao, chú Trực với mấy anh em mạnh giỏi cả chớ? – Dạ bẩm đại nhân, tất cả đều khoẻ. Họ nhờ tôi chuyển lời kính thăm đại nhân. – Cám ơn anh em – Trương Định nói tiếp – Nghe nói triều đình có cử sứ giả vô gặp Hai Trực và mấy anh em trên đó phong quan chức và tiền thưởng cho quân sĩ đã lập công trận đốt tàu chiến giặc ở vàm Nhựt Tảo và trận đánh Thủ Thừa vừa rồi phải không? Bây giờ tình hình trên đó thế nào? – Dạ bẩm đại nhân – Sáu Bảnh nói giọng buồn buồn – Anh em hết sức thắc mắc và bất mãn với việc triều đình ký hoà ước Nhâm Tuất với bọn giặc Phú-lang-sa chịu mất ba tỉnh miền Đông vào tay lũ Tây dương. Tại sao triều đình lại làm như vậy? Bọn Tây dương từ xa đến đây đốt nhà, cướp của, giết người sao không đánh đuổi nó ra mà lại ký hoà ước giao đất của tổ tiên mình cho nó? Thiệt tình anh em mình không ai chịu nổi. Cho nên khi sứ giả phong cho anh Hai Trực chức quản cơ rồi đưa ra Bình Thuận trấn nhậm thì anh em tứ tán hết. Trương Định cau mày gặng hỏi: – Anh em đi đâu chú biết không? – Dạ bẩm đại nhân, anh Hai Nhường dẫn một số anh em vô Đồng Tháp Mười theo ông Thiên Hộ Dương. Anh Tư Hội cũng dẫn số anh em đi theo ông Đốc binh Kiều. Còn tôi, tôi quyết xuống đây theo đại nhân đánh giặc. – Có ai theo chú không? – Trương Định hỏi. – Dạ tất cả đội do tôi chỉ huy đều đồng lòng theo xuống đây nguyện chiến đấu dưới cờ “Bình Tây Đại Nguyên soái” của đại nhân. Mong được đại nhân thâu nạp. – Vậy thì tốt quá rồi – Trương Định vui vẻ nói – Ta cám ơn tất cả anh em đã vì nghĩa lớn mà về cùng ta đánh giặc. Ta bất đắc dĩ phải kháng lệnh triều đình, bởi ta không thể bỏ dân chúng ở đây chịu cảnh đàn áp cai trị của lũ Tây dương. Tấm lòng của ta có hai vầng nhựt nguyệt chứng minh, ta chống lệnh triều đình là vì dân vì nước, ta không thể khoanh tay nhìn lũ Tây dương xâm chiếm nước mình, giết hại dân mình. Ta thà chết vinh hơn sống nhục! – Bẩm đại nhân, chính vì đức độ cao dày của đại nhân đối với dân với nước như vậy nên anh em nghĩa binh nguyện về tụ họp dưới trướng của đại nhân để đại nhân sai bảo, dẫu phải nhảy vào nước sôi lửa bỏng cũng không quản ngại, chỉ mong diệt được lũ Tây dương, trả thù cho dân cho nước là mãn nguyện lắm rồi. – Ta cám ơn những lời nói chí tình chí nghĩa của chú. Bây giờ chú cho anh em tạm phân tán sống nhờ nhà dân rồi sẽ tính sau. Có lẽ chúng ta sẽ cho một số anh em vào rừng xây dựng căn cứ chống giặc lâu dài. Trương Định nhìn Sáu Bảnh bằng ánh mắt trìu mến và tin tưởng.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info


           

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cõi mê - Triệu Xuân 18.10.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 18.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 13.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »