tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29839758
Tiểu thuyết
04.12.2012
Lê Văn Thảo
Cơn giông

“Mày chưa khi nào kêu tao bằng cha cả, con à”, ông già bỗng đổi giọng, như không thể dừng được. “Nhớ lúc tao vớt mày lên, mày giãy giụa trơn tuột như con lươn, tao nói cha đây con à, con không còn ai nữa cha cũng vậy, cha con mình sống với nhau, mày nhìn tao gườm gườm, từ đó tới giờ mày vẫn nhìn tao như vậy. Có phải người cùng cảnh thường hay cắn mổ nhau không? Suốt bao nhiêu năm hai cha con mình không khi nào chung giường chung chiếu, cặp kè nhau lúc xa lúc gần, có dịp là mày thoát khỏi tay tao, hoặc tao bỏ mày, thỉnh thoảng gặp nhau ngoài đường la gọi nhau í ới. Suốt bao nhiêu năm như vậy, cho tới giờ mày đang ở tù, tao nằm chờ chết không biết chỗ nào như thế này?”.


“Sống sao ra vậy thôi”, Bằng nghĩ bụng. Anh muốn bỏ đi nhưng không nhấc nổi mình lên. Anh đâu giận gì ông già, cũng không tiếc đời mình, chuyện cũ qua rồi anh quên hết rồi. Anh về đây sống cuộc đời khác, ra tù sẽ trồng rau, nuôi tôm không thiếu chuyện để làm, dây dưa với chuyện cũ làm gì.


Nhưng cũng đau xót lắm khi nghe gợi lại như thế này.


“Giấy tờ trong thùng sắt kìa”, lão già nói. “Tội lỗi chất đầy trong đó, mày coi qua chút không?”.


“Không”.


“Coi đi, đem về trại có khi người ta giảm án cho mày. Mà thôi, chuyện qua rồi, phải chi không sắp chết tao theo mày đi trồng rừng, mình trở lại làm cha con với nhau, cùng lái ghe rong ruổi. Bươn chải với tiền bạc làm gì, nên cơ sự gì. Mày không lấy chiếc thùng sắt hả?”.


“Không”.


“Vậy thảy xuống sông đi. Rồi đi đi. Tao chết một mình ở đây được rồi. Cáo quay đầu về núi, đây cũng là quê tao, lâu lâu mày ghé đốt cây nhang kêu “cha” một tiếng cho hương hồn tao được yên...”.


Bằng vẫn ngồi yên, không một ý nghĩ trong đầu, nghe lao xao bên ngoài có cơn gió lớn đang thổi tới. Bà mập đã bỏ đi từ hồi nào. Bằng vẫn ngồi, cảm thấy có cái gì đó thật nặng nề. Từ lâu số phận hai người gắn chặt vào nhau, giờ ông già chết phần còn lại anh phải gánh chịu.


Anh thấy cần nói câu gì:


“Tôi phải về trại, không ở lại với ông được”.


“Biết rồi, mày đi đi”, ông già nói. “Đừng giận tao, không thương thì thôi ghét bỏ làm gì, đáng gì đâu”.


“Tôi để lại ông ít tiền nghen?”.


“Tiền chôn tao hả? Không cần đâu, có thằng thua bài nhận chôn tao rồi. Tao về đây còn kịp đánh vài ván bài, lần đầu tiên tao được ăn bài”.


“Thôi tôi đi...”.


“Ừ đi đi...”.


Bằng ra ngoài, người đàn ông bồng con nhỏ đi theo hỏi:


“Anh đi luôn hả?”.


“Tôi gởi anh ít tiền nghen?”.


“Tiền chôn cất hả? Khỏi”, người đàn ông khoát tay nói. “Có người thua bài nhận chôn, mua chiếc hòm để sẵn trong kia, không có đất tụi tôi chỉ còn làm chiếc giàn thôi”.


“Anh là bà con với ông già sao vậy?”.


“Bà con gì đâu, ông già chỉ ghé qua thôi, lệ ở đây cứ gặp người chết là chôn”.


Bà mập chờ sẵn dưới ghe:


“Đi thôi, đi thôi”.


“Không có vàng bạc gì hết, chán quá hả?”, Bằng bước xuống nói.


“On dịch ông già nuôi của ông”, bà mập rủa.


Họ trở về chỗ cũ trời đã tối, Bằng ăn cơm ngủ ngay, giữa khuya cơn giông nổi lên...


***


Một cú giật hất tung Bằng lên cùng tiếng kêu thất thanh của Thủy, một lúc sau anh mới hiểu ra. Hai chiếc ghe vẫn dính nhau một cách kỳ lạ đang cố bứt tung ra, lộn một vòng trên không trung rớt chúi xuống trong tiếng ầm ào khủng khiếp của nước, của gió, của những tiếng va đập kinh hồn. Cửa cabin vẫn cài chặt, Bằng lộn nhào mấy vòng cùng với đồ đạc khua lổn cổn, đầu óc quay cuồng, vẫn còn kịp nghĩ không biết Thủy như thế nào. Hình như anh có kêu gào, đưa tay quờ quạng tìm kiếm nhưng không bám được vào đâu, không biết lâu mau như thế nào, cho đến lúc cú giật tiếp theo Thủy từ đâu té nhào vào lòng anh, hai người ôm chặt lấy nhau. “Yên, yên”, anh nói, hay tưởng mình nói như thế, đầu óc điếc đặc, tiếng nói chỉ vang lên trong đầu. Hai chiếc ghe bắt đầu trôi đi, quay ngang ngửa tiếp tục cuộc va đập, xô đụng vào các bụi bờ, anh áp chặt vào người Thủy nghe cô thở hào hển, biết cô vẫn còn sống. “Yên, yên, giông bão thôi mà!”, anh hét vào tai cô, quờ quạng níu được một chỗ nào đó, tay kia đè chặt Thủy xuống sàn. Một lúc rồi cơn giông cũng dịu đi, nghe tiếng la hét của bà mập. Thủy vẫn mềm nhũn trong tay. Bằng nghe người đau buốt, hình như có máu chảy, chưa kịp biết như thế nào cơn giông đã lại nổi lên. Hai chiếc ghe tiếp tục trôi đi. Bên ngoài trời như đã rạng sáng, lòng ghe ngập nước, không hiểu sao vẫn chưa chìm.


Đột nhiên cơn giông dứt lặng, hai chiếc ghe lủi vào một khóm cây, nghe xào xạc hai bên, rồi dừng lại hẳn. “Thôi yên rồi...”, Bằng nói, buông Thủy ra đứng dậy mở cửa cabin bước ra ngoài, chỉ thấy tối tăm mù mịt. Và rồi tiếng ầm ào lại nổi lên, một lực đẩy vô hình đẩy hai chiếc ghe càn qua khóm cây, Bằng bị bắn ra phía trước, quờ quạng lăn lóc giữa khoang ghe ngập nước. Hai chiếc ghe tiếp tục va đập trong những nỗ lực cuối cùng rồi bứt tung ra, Bằng bám lên được be ghe nhìn thấy chiếc ghe bà mập trôi vút đi, nghiêng ngã mất hút trên mặt đầm tối đen. Cánh cửa cabin sút chốt, bật mở như một cánh quạt, Bằng cố trườn đến đóng lại mấy lần đều bị đánh bật trở lại. Cuối cùng cũng bám vào được, vừa lúc Thủy thò đầu ra tóc tai rũ rượi gào lên gì đó. Anh đẩy cô vào, lao vào theo gài chốt cửa cabin, cảm thấy yên được một chút.


Nhưng phải tìm cách ra phía sau. Không lèo lái gì được trong trời nước như thế này nhưng cũng không thể ngồi yên không làm gì. Chiếc ghe bắt đầu xoay vòng, không biết gió xoáy kiểu nào. Anh lấy hết sức đẩy mở cánh cửa sau, bám lên gờ mui ghe chỉ nhìn thấy trời đất đảo lộn. Chiếc nhà tắm đã bay mất, tay lái cũng không còn. Còn một thanh tay lái dự phòng dưới mui cabin, nhưng chiếc mui bị chèo kéo không rút ra được, anh lựa thế chiếc ghe đảo vòng cố rút ra, kêu Thủy cùng giúp sức, cảm thấy chiếc tay lái giờ đây quyết định tất cả, anh phải làm chủ được chiếc ghe của mình. Anh hò hét quát tháo, Thủy hốt hoảng quờ quạng tìm kiếm, mấy lần hai người xuýt văng xuống nước, cuối cùng lấy được thanh tay lái gắn vào, anh tì cả người lên đó, cảm thấy cơn giông yên đi được phần nào.


Nhưng cơn giông vẫn thả sức tung hoành, trời đất đảo lộn, không còn chút ý niệm nào về thời gian, không gian. Bằng bám lấy tay lái, chiếc ghe tiếp tục lao đi vòng vèo đảo liệng, xô đụng liên hồi vào các bụi bờ. Một cây đước không hiểu sao còn đứng trơ trọi giữa đầm, chiếc ghe xô vào xoay quanh như muốn níu lại, một đoạn dây đứt ra từ chiếc ghe bà mập lòng thòng cạnh bên. Bằng vội chụp lấy sợi dây quấn vào. Chiếc ghe vẫn xoay vòng, anh tiếp tục quấn, sợi dây vướng vào chân chiếc ghe trôi đi anh bị hất tung lên không còn biết gì nữa...


Anh ngất đi không lâu, chỉ trong mấy giây, tỉnh ra còn thấy chiếc ghe trôi ra xa nghiêng ngã, trên vùng nước tung bọt trắng xóa. Anh bị vướng lại một cách kỳ lạ trên một đám cành lá như một tổ chim khổng lồ. Sợi dây vẫn còn quấn ở chân, bên dưới nước đang chảy tràn qua những chang đước.


Không bị thương tích gì, không một vết trầy suể, rờ rẫm xương cốt vẫn còn nguyên. Vừa lúc đó cơn giông dịu hẳn.


Từ trên cao có thể nhìn bao quát cả một vùng rộng. Đầm nước trơ ra trong cảnh tàn phá. Cơn giông như có luồng lạch của nó, từng dải dài rừng đước bị ngã rạp, những thân cây trốc gốc gãy đổ, mặt đầm phẳng lặng trở lại, chỉ hơi chút phập phồng sau cơn vật vã. Bằng kêu hú lên gọi Thủy, hoặc bất cứ ai đó, nhìn quanh một lượt nữa để để định hướng rồi gỡ đám dây nhợ tuột xuống nước. Phải đi thôi, không biết Thủy như thế nào, chiếc ghe ra sao, anh ngất đi không lâu nó không thể đi xa. Nhưng không còn biết phương hướng gì nữa. Không thể ở một chỗ, anh lội đại theo một hướng, cặp theo một ven cây. Nước lạnh ngắt, sâu tới bụng, tới ngực, đầy rong rêu vướng víu. Ven cây bị đứt giữa chừng, anh lội băng qua một lạch nước sâu, bám vào ven cây kế tiếp, cứ thế bập bềnh trên nước. Anh không thấy đói khát, như bụng dạ không còn đâu nữa. Mặt nước hết phập phồng, phẳng lặng trở lại, những lá sen, lá súng nhàu nát, rong rêu trôi nổi dật dờ, lục bình bị thảy lên ngọn đước đang rỏ nước, bông vẫn nở tím rung rinh dưới gió. Có vẻ đã quá trưa, trời nước cùng một màu đục nhờ. Bằng vẫn lội đi kêu Thủy ơi, Thủy ơi, tiếng vang rền lan đi trên mặt nước.


Không biết bao nhiêu thời gian trôi qua, bỗng nhiên thấy chiếc ghe bà mập ngay trước mặt, như nãy giờ anh không lội đi bao xa.


Một rẻo đất nổi lên như không phải của tự nhiên. Chiếc ghe bà mập đâm chúi vào lật nghiêng, chìm một nửa trong nước, nửa sau cỡi lên đống cây đốn trộm. Khoang trước ghe bị bể nát, chiếc mui cũng bể. Quang cảnh nghe im lìm vắng lặng. Bằng cất tiếng gọi, lâu lắm thấy gã con trai thò đầu ra, không hiểu sao vẫn còn lập bập điếu thuốc nói không ra hơi. Bà mập không biết bị thương như thế nào nằm rên la trong đó, ông ròm văng đâu mất, chắc chết rồi. Anh ta cùng đám con trai đang ngủ trên nhà không hay gì cả, nghe rầm rầm, nhảy loạn xạ không biết ai còn ai mất.


“Anh có bị sao không?”, gã hỏi lại Bằng.


“Bị treo lên cây thôi”, Bằng đáp.


Bằng leo vào ghe. Bà mập nằm co ro run rẩy một góc, Bằng chưa đụng tới bà la chỏi lỏi lên, nhìn Bằng trừng trừng mặt tái xanh không còn hồn vía. Bằng quay ra nhìn gã con trai:


“Mày còn thuốc hút à?”.


“Thuốc ướt, ngậm chơi vậy thôi”, gã nói, nhả điếu thuốc xuống nước. “Mấy thằng kia chắc chết hết rồi. Anh tìm được chiếc ghe ghé rước tụi này, không cứu giúp người bị nạn bị tù đó”.


“Mày nói nhiều quá”.


“Ông Sáu Thiên có gởi anh lá thư hôm qua tôi quên đưa”.


Gã lục tìm lá thư giắt dưới mui ghe bọc ni lông còn khô nguyên, ông già như biết trước có cơn giông. Bằng cất thư vào túi, nhảy ra khỏi ghe đi dọc theo rẻo đất, rải rác những căn nhà sàn cũ nát sụp lở, đước mọc tràn, những chang đước phủ trùm lên trên. Không thấy có người đâu cả, như có một cuộc di dân, hoặc một trận dịch bịnh tràn qua.


Hay chính làng xóm của anh ngày xưa, mọi người đều đã bỏ đi?


Rẻo đất như kéo dài vô tận, đi mãi vẫn không thấy gì ngoài cảnh hoang tàn xơ xác. Đầm nước đục ngầu phẳng lặng. Có một căn nhà khá lớn, sàn gỗ đước nhẵn thín. Bằng ngồi nghỉ một chút, buồn ngủ ríu mắt, trong cơn mơ màng nghe có gì quen thuộc gợi nhớ, ngẩng lên chợt thấy có vệt khói bên kia đầm. Chỉ có thể là Thủy và chiếc ghe. Anh mừng như được sống lại, không chậm trễ, mắt không rời vệt khói, nhào xuống nước lội băng qua, cả tiếng đồng hồ bì bõm kêu hú. Chiếc ghe kia rồi, như trong mơ, chúi mũi vào một doi đất, Thủy thò đầu ra mỉm cười rồi bưng mặt khóc.


***


Chiếc ghe bị bể mấy chỗ, khoang trước ngập bùn nước, cabin bị dập nát, chiếc máy thật may vẫn còn nguyên. Thủy đang nấu cơm. Cô thôi khóc kể chuyện nói nhìn thấy Bằng bị sợi dây quấn chân văng lên khóm cây, chiếc ghe trôi đi tiếp tục cuộc nhào lộn điên cuồng, xô đụng liên hồi, cô bám riết trong cabin, không biết bao nhiêu lần ngất đi tỉnh lại. Cuối cùng cơn giông cũng qua, cô lội loanh quanh kêu hú, không dám lội xa sợ lạc mất chiếc ghe.


Chiếc ghe hư không trầm trọng lắm, Bằng có đủ dụng cụ vá tạm, chiếc máy chạy được không còn gì phải lo. Nhưng còn bà mập, không thể bỏ, phải gấp rút đưa bà ta đi bịnh viện. Nghe chuyện bà mập, ông già ròm Thủy có vẻ đăm chiêu buồn bã. Cơm dọn ra, Bằng ăn mau, lo vá chiếc ghe coi lại chiếc máy, không mong gì tìm ghe quá giang, cũng không thể đi bè trên đầm nước mênh mông như thế này. Sực nhớ đứa con gái mù bên bờ sông không biết ra sao anh nghe đau thắt ruột gan.


Trời đã tối từ lâu Bằng vào cabin ngủ một chút, giữa khuya thức dậy kêu Thủy nấu cơm. Anh bắt tay vào việc cưa đục, thùng dụng cụ còn nguyên, chỉ cần vài tấm ván sàn vá mấy chỗ bể. Nhưng việc đóng đinh bắt vít không dễ. Suốt mấy tiếng đồng hồ, từ sáng sớm đến nắng lên anh chỉ vá được chỗ bể bên hông ghe. Cơm chín, ăn xong Thủy phụ anh làm tiếp, xế chiều xong tất cả. Nhưng cũng không biết như thế nào, chờ triều lên đẩy ghe xuống coi thử. Anh coi sang chiếc máy, không thấy bị va đập chỗ nào, xăng nhớt còn đầy không hiểu sao giật mãi không nổ, hì hục mãi tới tối, lùa vội tô cơm, đốt đèn làm tiếp, loay hoay tới giữa khuya chiếc máy vẫn lặng thinh. Chán nản anh xô qua một bên ra sau ngồi uống trà, nhớ đến đứa con gái mù lại nhào vô làm tiếp. Trời rạng sáng, một đàn chim bay túa lên từ một khóm cây. Mặt đầm trở lại sáng trong, những đám rong rêu lượn lờ lẫn trong những bóng mây. Bằng thấy lòng yên tĩnh. Có tiếng xối nước bên cạnh. Thủy đang tắm, đầu tóc nhấp nhô sau chiếc khăn treo ngang trên thanh tay lái làm buồng tắm, vẫn có thể nhìn thấy cô gái đang khỏa thân. Bằng ngạc nhiên trông cô trắng trẻo trinh nguyên, không thể hình dung được cuộc đời chìm nổi mà cô vẫn còn được như vậy.


Sực nhớ lá thư ông Sáu Thiên, Bằng lấy ra đọc:


... Mày khoan đâm thằng già ròm. Nó là bạn chiến đấu cũ của tao, tao vừa mới biết nhưng không ngạc nhiên, hồi xưa nó cũng đã hư rồi. Hai đứa cùng đại đội, hồi đó nó cũng ốm ròm, mấy năm chiến đấu không có chuyện gì, cần cù chăm chỉ, có lần tao bị thương nó cõng tao suốt hai ngày đêm băng qua cả khu rừng đước về tới cứ. Vậy rồi một hôm nó bỏ trốn. Chiêu hồi, phản bội, hồi đó là bắn bỏ. Nghĩ tình cũ tao xin đi rượt bắt nó, thật sự là muốn tìm cách kêu nó lại. Hoặc tự tay tao bắn chết nó. Tao lên đường ngay, cũng trên con đường ngày trước nó cõng tao, theo chiều ngược lại, từ sáng sớm theo sát dấu, bạn chiến đấu nết đi rừng hai đứa giống nhau. Tao đi không nghỉ, nó cũng vậy, nhai gạo rang uống nước lã cầm hơi, một cuộc rượt đuổi hai thằng bạn cũng là hai kẻ thù, từ sáng đến giữa đêm tao gặp được nó nổ súng liền. Nó bắn trả, trời tối không nhìn thấy gì nó bỏ chạy, tao lại rượt đuổi. Ròng rả như vậy suốt mấy ngày đêm. Một buổi sáng tao dừng lại bên này con rạch nổi lửa nấu cơm, nhìn sang bên kia thấy nó cũng đang làm y như vậy. Lại nổ súng, lại rượt đuổi. Trời tối, tao mò vào một xóm định kiếm cơm ăn, hóa ra là một ấp chiến lược lính tráng đầy đường, tao phải chôn súng giả người đi rừng, vào một nhà lại đụng mặt nó. Nó cũng chôn súng giả làm người đi rừng như tao, nhìn tao cười nói mày đâu làm được gì, hai đứa còn phải nương tựa vào nhau. Suốt mấy ngày nó theo sát tao không rời một bước, tao cũng không dám bỏ đi, có bữa hai đứa ngồi ăn cơm chung nó cười nói thơn thớt với chủ nhà, tối đến ngủ chung với tao tỉ tê: “Mày giết tao làm gì, có đáng gì đâu, coi như tao biến mất không có trên đời được không?”. Sau đó nó biến mất thật, sáng ra thức dậy không thấy nó đâu. Và rồi suốt mấy mươi năm không nghe ai gặp nó, không hiểu sao giờ hiện ra ngồi thu lu dưới chân bà mập như vậy...


Bằng không đọc hết thư ông Sáu Thiên, xếp cất kỹ, uống thêm chập trà lên giường nằm dặn Thủy canh chừng triều lên đẩy chiếc ghe xuống. Nhưng anh không thể ngủ được, vừa chợp mắt nghe vang dội tiếng gầm gào rú rít của gió, của sóng, cơn giông theo vào giấc ngủ, trở dậy đầu vẫn còn ong ong, chiếc ghe vẫn nằm chúc đầu trên gò đất. Đến gần sáng nghe tiếng nước óc ách, trở dậy thấy triều đang lên, nước ngập nửa thân ghe, lòng ghe cũng đầy nước, anh vội lay Thủy dậy cùng hì hục tát nước, ráng sức xô chiếc ghe xuống nhưng nó không nhúc nhích. Mũi ghe cắm quá sâu xuống bùn. Trời sáng dần, Bằng tìm mô đất ngồi thở ra ngao ngán. Thủy nói:


“Hay mình lặn móc bùn hả anh?”.


Sao anh không nghĩ ra! Hai người vội lặn móc bùn, nước được dẫn vào dưới lườn ghe, công việc thật dễ dàng, chiếc ghe từ từ trôi tuột xuống như có người đẩy. Nhưng nước lại chảy xối xả vào các chỗ vá. Bằng kêu Thủy tát cầm chừng, tiếp tục công việc đục xảm, nước chảy vào chỗ nào xảm chỗ đó, nước gần hết chảy, quay ra với chiếc máy. Trời trưa rồi xế chiều Bằng vẫn hì hục, Thủy đang nấu cơm bỗng nghe tiếng máy nổ vang, mừng kêu rú lên quăng cả đôi đũa trên tay.


Năm bảy lần như vậy máy mới chạy đều, Bằng vặn nhỏ, ra sau cùng Thủy ăn cơm. Lát sau gã con trai chỗ bà mập nghe máy nổ lội tới, leo lên ghe tự lấy chén đũa cùng ăn cơm.


Chiếc ghe vẫn còn rỉ nước, nghiêng hẳn một bên, nhưng vẫn có thể chạy được. Bằng kêu gã con trai chỉ đường chạy tới chỗ bà mập. Ghe bà mập vẫn chúi đầu chổng ngược trong bùn. Bằng cặp ghe vào cùng gã con trai leo qua, Thủy đang tát nước ngước nhìn Bằng rồi leo qua theo. Bà mập nằm nhăn nhó rên rỉ, không biết phải cáng khiêng khối thịt này như thế nào. Gã con trai tìm được thanh gỗ đước kêu Bằng cùng kê vai, Thủy phụ đỡ bà ta vịn vào đi sang ghe.


“Đưa bà ta đi bịnh viện rồi giao cho công an”, Bằng nói. “Chỉ tội đốn cây trộm cũng tù mục xương rồi!”.


“Thôi mà, thôi mà”, Thủy nói.


Bà mập ngoan ngoãn bám vịn vào thanh gỗ đi lần từng bước, vừa đi vừa không ngớt rên rỉ. Ba người dìu bà mập vào ngồi trong cabin đặt nép vào một góc. Bà mập nhìn mọi người với cặp mắt vô hồn. Gã con trai ngồi ở mũi ghe chỉ đường, Bằng lái ghe chạy thật chậm, len lỏi qua các kinh rạch, hết ngày đêm sáng ra tới sông lớn.


Vết tích cơn giông vẫn còn trên mặt sông, một dòng chảy khổng lồ những rác rưởi, lá tấm, phên ván, lục bình dập nát, cành lá, can nhựa, thúng mủng, tất cả những gì có thể nổi trên mặt nước. Và cả những thứ không nổi, một cây đước còn nguyên cả gốc rễ không hiểu sao vẫn phập phều trôi đi băng băng. Một chiếc ghe nghiêng một nửa trôi xuôi, lá cờ quạt lật phật. Mặt sông phẳng lặng, nước chảy mạnh. Xác một con trâu trương phềnh cặp sừng cong vút chĩa thẳng, một nửa căn nhà trôi nghiêng, từng chập xoay vòng như muốn dừng níu lại. Bằng lái ghe cặp sát bờ, lòng ghe ngập nước óc ách, Thủy tát cầm chừng, gã con trai phụ giúp, bà mập thôi không rên rỉ nữa. Giữa trưa họ về đến chợ xã.


Cả khu chợ tan hoang. Quán Hai Chất bị tốc mái, khách khứa vẫn tấp nập. Bằng lên quán uống cà phê, mặc Thủy và gã con trai tìm người phụ cáng đưa bà mập đi bịnh viện. Hai Chất vẫn yên vị trên chiếc ghế mây, như không hề có cơn giông, báo tin ông Sáu Thiên đã đưa đứa con gái mù ra chợ Cà Mau gặp tay người Mỹ, tránh được cơn giông, kêu Bằng ra đó có chuyện cần bàn. Rồi lại báo tin trại cải tạo cho người đi tìm Bằng.


“Họ có nói tôi bỏ trốn không?”, Bằng hỏi.


“Sao lại nói với tôi?”, Hai Chất đáp.


Thủy về báo bà mập vào bịnh viện la lối chói lói một lúc ngồi nép vào một góc giường run rẩy, như người mất hồn. Bằng làm thinh. Thủy lại nói cô phải trở về trại tôm, nóng ruột lắm rồi. Bằng nói anh đi ra chợ Cà Mau sửa chiếc ghe, coi đứa con gái mù như thế nào. Rồi về trại, hết giông rồi anh thành tù trốn trại.


“Em đi chợ Cà Mau với anh”, Thủy nói.


Họ ăn cơm mau rồi nổ máy ghe đi ngay. Bằng cho ghe chạy thật chậm. Thủy canh chừng tát nước, không có nguy cơ các chỗ vá bị bục ra, nhưng đinh ốc bị lỏng dần nước chảy vào ngày càng nhiều. Mấy lần Bằng dừng lại đục xảm. Hai người đi suốt đêm, tới sáng ra đến chợ tỉnh.


Bến sông chợ tỉnh xuồng ghe tấp nập ồn ào lạ lẫm. Bằng vất vả chen vào được bên trong, vừa cột xích thấy ông Sáu Thiên đứng đón trên bờ. Ông nói có nhìn thấy ghe Bằng trên sông, đang quá giang chiếc ghe chở người bịnh không dừng lại được. Đứa con gái mù ở với tay người Mỹ đằng khách sạn, không gấp gì, Bằng lo sửa chiếc ghe. Chợ tỉnh không hư hao gì nhiều, cơn giông chỉ lướt qua, vài nhà sụp đổ, đường sá vương vãi đồ đạc, rác rến. Nhưng chuyện bàn tán về cơn giông lại kéo dài, thêm thắt nhiều chuyện kỳ lạ. Một nhà bị tốc mái chỉ còn trơ cột, chiếc bàn thờ vẫn còn nguyên. Một chuồng heo bị bốc lên thảy ra ngoài giữa ruộng, bầy heo con chạy lon ton trở vào không thiếu con nào. Chó mèo biết trước cơn giông chun trốn dưới gầm giường, gà vịt túm tụm lại một góc sân, nhìn xa như một đám lông cuộn tròn.


“Lúc đó ông ở đâu?”, Bằng hỏi ông Sáu Thiên.


“Ở giữa sông”, ông Sáu Thiên đáp. “Tụi này đi ăn cưới, ghe chở đầy người băng qua khúc sông rộng, không ai sao cả. Trời thương người đang vui”.


Ông Sáu Thiên dẫn họ đi tìm thợ vá chiếc ghe, chào hỏi người đi đường, vào quán ăn cơm bắt tay các bàn lân cận. Họ ăn cơm mau như sắp có cơn giông tiếp theo. Ông Sáu Thiên trả tiền cơm, nói còn giữ ít tiền cho mướn ghe, chuyện vãn dây dưa với người chủ quán rồi trở ra nói có việc phải đi.


“Đi đâu?”, Bằng hỏi.


“Tao rảnh như mày hả?”, ông Sáu Thiên đáp.


Bằng đi đến khách sạn chỗ đứa con gái mù, Thủy theo sau nói gặp người quen báo tin trại tôm tan hoang cả. Thủy khóc. Họ đến khách sạn thấy ông Sáu Thiên ở đó, đang tán chuyện với người tiếp tân. Bằng lên phòng đứa con gái.


Đứa con gái ngồi im phắc trên giường, như nó vẫn ngồi ở căn nhà bên bờ sông. Bà già không thấy đâu. Ông người Mỹ ở phòng bên cạnh với người phiên dịch, một thanh niên thuê ở công ty du lịch. Bằng ngồi xuống kế bên đứa con gái, Thủy ngồi giường bên kia một lúc cũng sang ngồi cạnh Bằng. “Chú đây con!”, Bằng gọi. Đứa nhỏ vẫn ngồi yên. Bằng lại gọi tiếp. Nó lên tiếng: “Chú đi đâu lâu quá vậy? Giông bão rầm trời chú đi đâu?”. “ Chú đi công chuyện”, Bằng nói. Rồi kể chuyện cơn giông, vào trong đầm bị treo trên ngọn cây, chiếc ghe bị bể, có căn nhà trơ cột còn nguyên chiếc bàn thờ, bầy heo bị thảy ra đồng... “Chủ nhà” phòng bên đưa ông người Mỹ sang. Ông ta cao lòng khòng, mặt đầy nếp nhăn, trông âu sầu lặng lẽ. Người phiên dịch tóc chải mượt, đỏm dáng, giới thiệu mọi người với nhau. Ông Sáu Thiên đi vào cùng với bà già. Phòng đầy người, ngồi chen trên hai chiếc giường. Người phiên dịch trình bày sự việc, ông người Mỹ biết chút tiếng Việt gật gù phụ họa theo. Họ đang làm giấy tờ đằng ủy ban về việc mổ mắt đứa nhỏ, sau khi được biết Bằng thay mặt gia đình đồng ý. Đúng ra thông qua ông Sáu Thiên, người bạn gần gũi của Bằng. Ông người Mỹ sang đây du lịch, thăm lại chiến trường xưa, mướn ghe Bằng, tình cờ biết được đứa con gái mù từ hồi mới đẻ, không thể do nguyên do nào khác ngoài ảnh hưởng chất độc màu da cam, những người lính Mỹ như ông có trách nhiệm phải cứu chữa. Ông không giàu, sống bằng tiền trợ cấp, không vợ con để dành được ít tiền, vận động thêm đám bạn bè cựu binh. Đây là lần thứ hai ông sang đây, đã có đủ tiền có thể đưa đứa nhỏ về Mỹ mổ mắt, nếu được mổ ở Việt Nam còn có thể dư ra. Ông là cựu binh sang Việt Nam từ năm 66 đến năm 69, lính thủy quân lục chiến, suốt bốn năm đóng quân vùng này, thông thuộc mọi đường ngang ngõ tắt, hết hạn lính không bị thương cũng không được thăng cấp trở về Mỹ. Những ngày đầu giải phóng ông đã tìm cách sang đây với ý định xin đứa con nuôi. Nhưng đó là chuyện khác, không phải với đứa nhỏ này, nó có cha là Bằng, ông sẽ xin đứa khác trong các trại mồ côi, đó là nguyện vọng duy nhứt cuối đời, ông muốn làm điều gì khác với việc ông đã làm trước đây trên vùng đất này.


“Cho những đứa trẻ...”, ông nói tiếp bằng tiếng Việt. “Xin được nhiệt tình giúp đỡ...”.


“Mổ mắt ở đây thôi”, ông Sáu Thiên nói.


“Chịu không con?”, Bằng hỏi đứa nhỏ, không nghe tiếng đáp lại.


Đứa nhỏ đi theo ông người Mỹ sẽ như thế nào? Khoa học kỹ thuật làm gì được với nọc kiến? Hay không phải nọc kiến? Nước Mỹ là đâu, nó sáng mắt ra thấy được gì bên đó?


Ông người Mỹ nói tiếp, qua người phiên dịch. Suốt mấy ngày ông và người phiên dịch đến không sót các ban ngành nào, vùng đất dân cư thưa thớt nhưng cơ quan hành chính dày đặc, chỗ nào ông cũng bị vặn hỏi, lôi ông vào với chính phủ Mỹ. Nhưng ông đâu còn dính líu gì với chính phủ Mỹ. Thôi cũng gần xong rồi, chỉ còn vài tờ giấy nữa thôi, Bằng ký vào ông sẽ đưa ngay đứa nhỏ lên thành phố.


Bằng lại hỏi đứa nhỏ:


“Giấy tờ gần xong rồi, con sắp đi rồi... Con chịu không?”.


“Con không biết...”, đứa nhỏ đáp.


“Con lên thành phố rồi đi Mỹ”, Bằng nói tiếp. “Người ta có lòng chữa trị cho con, con sáng mắt rồi đi học, đọc sách, chơi đùa với chúng bạn...”.


“Chú cho con đi không?”.


“Chú không biết... Chú không hiểu gì cả... Chú không muốn xa con, nhưng mong con được sáng mắt...”, Bằng quay sang ông người Mỹ: “Được rồi, ông lo giấy tờ tôi ký cho”.


 Ông người Mỹ hiểu câu tiếng Việt đáp luôn:


“Tôi mừng lắm, mừng lắm!”.


Bà già lục soạn mãi chiếc túi xách nhỏ xíu của đứa nhỏ, luôn miệng ca cẩm, rằng nước Mỹ ở đâu, đi qua đó bằng gì, rồi giận dỗi đứng dậy bỏ đi không nhìn ai. Ông Sáu Thiên trố mắt nhìn mọi người, đôi môi mỏng mấp máy chực nói xen vào.


Gần xong rồi, chỉ còn chờ thêm vài giấy tờ. Nhưng phải đợi bao lâu? Bằng không thích thú gì cảnh ăn không ngồi rồi như thế này, chưa kể có thể gặp ai đó nghĩ anh là tù trốn trại. Nhưng anh lại muốn được ở lâu bên đứa nhỏ. Nó đi xa, anh về trại không biết chừng nào gặp lại.


Họ mướn thêm một căn phòng cho Bằng và ông Sáu Thiên. Thủy ở với đứa nhỏ và bà già. Ông Sáu Thiên đi suốt ngày, Bằng ở một mình trong phòng lạnh ngắt, thỉnh thoảng Thủy chạy qua kể chuyện cô và đứa nhỏ, động viên nó đi mổ mắt, nói cho nó biết người sáng mắt thấy được nhiều điều như thế nào.


“Nó biết như thế nào”, Bằng nói.


“Em nói cho nó biết, em có mù đâu”, Thủy nói. “Em tả cảnh sông nước, rừng đước, rừng mắm, nhiều chuyện nó còn biết hơn em, nước ròng, nước lớn, gió đổi chiều, con chim thằng chài(1) đâm sầm xuống mặt nước. Mấy hôm rày ngồi trong phòng nó nhận biết tiếng chân anh từ xa, tiếng ông Sáu Thiên láp giáp ở chân cầu thang. Nó có vẻ vui, hỏi em sao không lấy chồng, chừng sáng mắt sẽ theo em học nghề nuôi tôm”.


Một bữa Thủy vào phòng Bằng ngồi ghé sát, ngập ngừng mãi, mắt long lanh, rồi nói:


“Con nhỏ... thành con gái rồi anh à!”.


“Nó mấy tuổi rồi?”, Bằng hỏi.


“Mười ba, hơi sớm… Mau mổ mắt cho nó thôi anh ơi...”.


Họ ăn ngày ba bữa tại nhà hàng khách sạn, không phải cao lương mỹ vị gì, nhưng cũng tươm tất, lâu rồi Bằng mới được ăn ngon như thế. Thỉnh thoảng ông người Mỹ đãi bia hoặc rượu mạnh Bằng không hề từ chối, nhưng cũng thấy chua xót, như bán đứa con gái, ông người Mỹ giành nó đổi lại chuyện ăn ở sang trọng như thế này. Sau đó vài ngày, Bằng đi thăm chiếc ghe, chỗ trước kia anh đã mướn đóng. Đám thợ quen miệt mài cưa đục, nói sẽ sửa lại y như cũ. Phần lớn thời gian anh ở trong phòng, lôi báo ra đọc, ngạc nhiên thấy có bao nhiêu chuyện đã xảy ra, như lâu nay anh sống một thế giới khác. Ông Sáu Thiên không ăn cơm khách sạn, nói không quen, sáng sớm bỏ đi, gần trưa trở về kể đủ thứ chuyện, bao nhiêu thư từ nhờ vả đã đến với ông, thường xuyên đến gặp tay thư ký mang kiếng tranh luận, cự cãi. Đang có mấy tờ đơn xin chứng nhận thương binh liệt sĩ nằm đó, ông nghĩ cách tiếp cận khác, phải làm tay thư ý mang kiếng rối tinh rối mù lên bằng chính mớ công văn giấy tờ của nó. Ông không ưa tay phiên dịch, anh này cũng vậy, không thấy hai người nói chuyện với nhau, gặp nhau ngoài hành lang lánh sang hướng khác. Bằng bàng quang hết mọi chuyện, chỉ thấy nửa nóng ruột mấy thứ giấy tờ mong xong mau để ra về, nửa lại muốn kéo dài để được gần đứa con gái.


Đã tuần lễ trôi qua, Bằng bắt đầu thấy tay chân thừa thải, ăn ở sang trọng mãi cũng chán, ban ngày ngủ dật dựa, tối chờ ông Sáu Thiên đến tán chuyện. Anh vốn không quen ở khách sạn, chưa ở hồi nào, hồi ở thành phố chỉ đến khách sạn thăm bạn bè nhậu nhẹt, chưa từng biết cảnh ở lẩn quẩn một mình trong phòng nhỏ xíu kín mít như thế này. Thủy nhanh chóng gắn bó với đứa con gái, không thấy nhắc đến trại tôm nữa, ngày nào cũng dẫn nó đi mua sắm, mấy người bán hàng thấy nó linh lợi không biết nó bị mù.


Một bữa ông Sáu Thiên đưa Bằng lá thư của đứa con gái trên thành phố. Thư viết:


... Hè tới con tính xuống thăm ba nhưng má không chịu đi, con đi một mình được không? Má nói ba đã cưới vợ, có con nuôi về làm chi. Hai thằng sinh đôi còn ở nhà ba không? Con chó thế nào? Con sắp thi chuyển cấp, lo lắm nhưng không biết làm sao. Gần đây con học văn khá hơn, nhưng toán lại kém, lý hóa cũng vậy, môn sử, địa con cứ lẫn lộn ngày, tháng sông nước, con nhớ làm chi những chuyện đó? Má nói con đi học nấu ăn còn hơn. Con học nấu ăn khóa ba tháng, không giỏi gì nhưng nấu ăn cũng được. Thường buổi trưa hai má con đi ăn tiệm, chiều con vào bếp má đọc báo rồi ngồi vào ăn. Ông ngoại lẩn thẩn rồi ba à, suốt ngày bò dưới sàn nhà tìm bắt kiến, làm những chiếc bẫy nhỏ xíu bắt thằn lằn. Ngoại không nói chuyện với má, chỉ nói chuyện với con, má cũng không thích, thường biểu con dọn cơm cho ngoại ăn riêng. Không thấy ngoại nhắc tới ba, con kể chuyện về dưới gặp ba ngoại không ừ hử gì ráo. Có mấy ông già thỉnh thoảng tới thăm ngoại nói chuyện đá gà, cá ngựa, ngoại ngồi nghe quên cả ăn cơm. Hè sắp tới rồi, vậy mà con chưa tính được chuyện đi thăm ba. Nhứt định con sẽ đi, nhắn với hai thằng sinh đôi con sẽ lội thi với chúng...


... Ba ơi, má cứ nhậu say hoài, đời con rồi sẽ ra sao? Ba viết thư ngăn má được không?…


Ông Sáu Thiên báo nhà anh ở sông Ông Trang bị sập, cha con thằng sinh đôi đang dựng lại, cô út Mười Hai đi tu bị bịnh đang nằm ở đây, tại chợ tỉnh này, anh nên ghé thăm. Rồi nói sang chuyện mụ mập:


“Thằng ròm chết mất xác, mụ mập bị khùng, sống sao ra vậy thôi”.


“Tôi sẽ báo công an chuyện đốn cây trong đầm”.


“Cơm tù đâu nuôi ngữ ấy, coi như chúng chết rồi, lo cho người sống còn hơn. Thôi tao đi đây! Mình còn gặp nhau nữa không?”.


“Gặp làm chi?”.


“Đúng ra tao không muốn gặp mày”, ông Sáu Thiên nói, hơi chút cay đắng. “Chừng ra tù, mày chạy ghe rung chuông để tao tránh từ xa. Tao không danh giá gì, nhưng mày không thể sánh với tao. Vậy tốt nhứt đường ai nấy đi”.


Nhưng ông Sáu Thiên vẫn chưa chịu đi, cứ day trở ho lẹc khẹc. Bằng bỏ đi qua phòng bên. Đứa nhỏ ngồi một mình lặng lờ, quần áo đồ đạc sắp xếp gọn gàng trong các túi xách. Bằng nói lầm rầm như tự nói với mình:


“Chú không biết con lên thành phố, đi nước ngoài như thế nào. Chuyện mổ mắt của con ba con lo cho con không xong, chú cũng không lo được, phải nhờ ông người Mỹ nào như thế này. Nhưng chú không mong gì hơn con được sáng mắt, cảnh tối tăm buồn thảm lắm con ơi, không biết được trời tối sáng cá tôm chim chóc, rừng đước, rừng mắm, sông nước, đầm lầy, truông trấp...”.


Thủy vào dắt đứa nhỏ, kêu Bằng đi ăn cơm.


Ông Sáu Thiên biến mất, không thấy nhắn gởi gì. Đã tuần lễ trôi qua Bằng thấy ngán ngẩm đến không chịu nổi. Một buổi trưa trong bữa cơm người phiên dịch báo giấy tờ coi như xong, chỉ còn chờ vị quan chức nào đó coi lại lần cuối cùng.


Bằng nhìn đứa con gái, người Mỹ cũng nhìn theo. Vậy là sắp giao con cho người ta, nó lên thành phố, anh trở về trại tù. Ăn xong, Bằng theo nó về phòng, lát sau Thủy cũng về ngồi xuống kế bên. Bà già đi tới lui ca cẩm, nói bà sẽ trở về căn nhà bên bờ sông ở một mình rồi chết luôn ở đó.


Thủy hỏi Bằng bức thư trên thành phố. Anh đáp:


“Thư đứa con gái, nó đòi xuống đây chơi”.


Thủy vừa được tin trại tôm, thật ra không hư hao gì nhiều, đã nhờ người sửa sang, có thể ở đây lâu cũng được. Rồi ngập ngừng định nói gì, nhưng rồi quay đi.


Tối ăn cơm xong ông Sáu Thiên về tới báo không có quan chức nào ngâm giấy tờ của đứa nhỏ, chính gã thư ký “đối thủ” bày ra chuyện đó.


“Nó muốn gì?”, Bằng hỏi.


“Không muốn gì cả”, ông Sáu Thiên nói. “Nó là giống sâu ăn lá, thấy giấy tờ là ngoạm vậy thôi.


Người phiên dịch kêu Bằng cùng đi, giấy tờ xong ký luôn. Cơ quan đang bận rộn chuyện cứu trợ, người đông ồn ào, người phiên dịch chen vào người Mỹ bám sát theo sau, chưa nói được gì đã bị dòng người đẩy ra ngoài. Cả một đám người mướt mồ hôi ngồi chờ ở ghế băng, người Mỹ đã quen việc bình thản cam chịu. Phía sân sau chất đầy xuồng ba lá, chăn màn, mì tôm, quần áo cũ, vô số những thùng giấy đủ cỡ không biết đựng gì, chuối xanh chất một đống lớn, chắc “thu hoạch” từ cơn giông. Lau mồ hôi mặt, người phiên dịch lại xông vào, chợt thấy ông Sáu Thiên xuất hiện bám theo sau. Gã thư ký nhìn ông Sáu Thiên gườm gườm, cúi xuống lục lọi giấy tờ.


“Chúng tôi giải quyết cho đứa nhỏ lên thành phố thôi”, gã thư ký nói, nhẩn nha như nhai giấy. “Đi nước ngoài không thuộc thẩm quyền của chúng tôi”.


Anh phiên dịch nói lại với người Mỹ, ông này quay nhìn Bằng, anh như không nghe thấy quay đi. Người phiên dịch quay vào nói gì nữa. Gã thư ký ngồi lưng thẳng đơ không nhúc nhích, lặp lại chuyện không đủ thẩm quyền... Bỗng gã ngẩng nhìn Bằng:


“Tôi gặp anh ở đâu... thấy quen quen… Có phải ở trại… Tôi thường đưa tù tới đó…”.


Bằng bước lùi ra sau, lủi vào đám đông. Ông Sáu Thiên bước tới che chắn. Có tiếng gọi:


“Ai là cha đứa nhỏ vô ký đi”.


Bằng thò tay vào ký, úp mặt sau lưng ông Sáu Thiên.


Mọi người ra ngoài. Người phiên dịch cầm mớ tờ giấy trên tay mặt mày rạng rỡ. Người Mỹ cũng vui. Mọi người đứng nép qua một bên cho hai người khiêng chiếc xuồng đi qua. Thủy dẫn đứa nhỏ đi tới. Bằng chỉ tay vào Thủy nói với người Mỹ:


“Tôi bận việc, cô này đi theo đứa nhỏ”.


Họ về khách sạn, đứng lại ở phòng khách. Người Mỹ lau mồ hôi mỉm cười nói “tốt lắm, tốt lắm”, nụ cười trông âu sầu buồn bã.


Thủy đứng sát vào Bằng:


“Em đi hả anh?”.


“Ừ em đi đi”, Bằng nói. “Đi với con lên thành phố chữa bịnh rồi đưa nó về, tôi không giao con cho ai hết, cũng không đi nước ngoài nào hết”.


Thủy có vẻ vui mừng nói:


“Chừng em với con về gặp anh ở đâu?”.


“Anh sẽ tìm gặp, anh không chết đi đâu”.


Thủy nói cô còn ít tiền định đưa anh nhưng thôi để cô đem theo, mổ mắt xong cô đưa con nhỏ về trại tôm, anh cũng nên về đó, còn đi đâu nữa.


Bằng về phòng thấy ông Sáu Thiên đang đứng chờ trước cửa.


“Ông chưa đi à?”.


“Tao đi liền bây giờ”, ông Sáu Thiên theo Bằng vào ngồi lên giường, có vẻ chưa định đi đâu cả. “Mổ mắt như thế nào hả mày? Thọc dao kéo vô à? Ôi ghê quá đi! Tao chưa từng biết bịnh viện như thế nào. Tao cũng chưa lên thành phố. Có chuyện gì đâu mà đi. Thôi đừng buồn mày à, tay người Mỹ sám hối kiểu gì kệ nó, con nhỏ sáng mắt là được rồi”.


Ông Sáu Thiên huyên thuyên một lúc thấy gần tới giờ cơm biến đi, chút sau hiện ra ba hoa một chập nữa, rủ Bằng “đi loanh quanh một chút”. Bằng cũng đang muốn thư giãn. Đang buổi trưa, người phiên dịch đặt xe sáng mai lên đường, còn nửa ngày không biết làm gì. Bằng chưa muốn nói chuyện với đứa nhỏ. Anh đang nhớ về trại tù, Già Tư chết rồi, Long Cụt cũng chết, nhưng cũng còn nhiều người khác trò chuyện vui đùa. Thôi vậy là xong chuyện đứa nhỏ, anh sẽ về trại trồng rừng, lái ghe, ngày làm việc tối về chuyện vãn rồi ngủ, rồi thức dậy làm việc.


Hai người lặng lẽ rời khách sạn đi băng qua khu chợ, ra vùng ngoại ô. Sau cơn giông thời tiết oi bức ngột ngạt. Con đường đất chạy dài, hai bên nhà sàn mái lá, nhiều nhà bị tốc mái cây cối gãy đổ, đàn ông đang dựng lại cột kèo, đàn bà chầm lá, con nít chạy giỡn. Một nhà đang có nhang đèn đám ma, một nhà khác lại có đám cưới, cô dâu, chú rể đi vào tươi cười rạng rỡ. Hai người đi quanh co mãi, con đường đâm thẳng ra ven lá dừa nước, sông Cà Mau hiện ra lấp lóa ánh nắng. Ông Sáu Thiên đi thoăn thoắt. Bằng đi rảo theo. Họ đi cặp theo bờ sông, ghé vào một nhà thấy chủ quán bước ra đón tiếp.


Cô em út Mười Hai của ông ta nằm dưỡng bịnh ở đây, đang nằm trong buồng.


Thì ra là như vậy!


“Cô Út có sao không?”, ông Sáu Thiên ngồi vào bàn lên tiếng.


“Không sao”, chủ quán đáp. “Khám kỹ không thấy bịnh gì, chỉ có âu sầu buồn bã, bỏ cơm nước, đám chị dâu chẳng chịu bỏ công, tôi là đàn ông phải đi nuôi bịnh như thế này”.


“Cô Út buồn phiền làm chi, chuyện gì rồi cũng qua thôi”, ông Sáu Thiên nói.


“Út à”, chủ quán gọi.


Thấp thoáng màu đen của tóc, của quần áo ở cửa buồng, đôi mắt đen khuôn mặt tái xanh ló ra một chút rồi lui khuất vào trong. Nhưng cô gái vẫn đứng đó, Bằng biết thế, lặng câm sau tấm mành trúc lao xao. Sóng vỗ lách chách dưới sàn nhà, dòng sông trôi xuôi trong ánh chiều mờ mịt.


Ông Sáu Thiên tiếp tục đẩy đưa:


“Chuyện đâu còn đó… Cô Út hãy bình tâm dưỡng bịnh, chú em tôi có chiếc ghe tốt khi nào bớt bịnh đưa cô Út đi đây đó khuây khỏa. Xứ mình nhiều sông nước chẳng thiếu đường đi, như tôi đây có dạo cả năm trời chân không hề chạm đất. Mấy ngày qua trời đất nổi cơn giận dữ, sông nước cuộn trào, chỉ là chuyện trong phút chốc. Ông nội tôi kể trận bão năm Thìn nước ngập lút cả, cây rừng chỉ thấy ngọn, dân tình lên hết trên ghe điêu linh cả tháng trời...”.


“Út à, không ra chào khách sao?”, chủ quán lại gọi.


“Dạ...”.


Tiếng nói cất lên, nhưng vẫn không thấy người. Bằng đứng dậy, ông Sáu Thiên cũng đứng dậy theo. Chủ quán tiễn khách ra cửa. Hai người ra về, chia tay nhau ở cổng khách sạn, ông Sáu Thiên nói ngày mai bận việc không đến tiễn đứa nhỏ được.


Bằng lên thẳng phòng đứa nhỏ. Nó đang ngồi trước ly sữa. Thủy ngồi một bên. Một lúc lại thấy ông Sáu Thiên vào ngồi lên giường tiếp tục huyên thuyên:


“Cháu tôi ngày mai đi mổ mắt, lên thành phố sáng mắt thấy được tiệm quán, xe cộ. Cô Thủy có tiền mua quần áo mới cho cháu không? Biết sở thú dẫn cháu đi chơi không? Đi đường cẩn thận, giông bão dưới này không bằng xe hông đa lạng lách trên thành phố... Thôi cháu đi đi, người ta đã có lòng. Đi rồi trở về, chú Bằng có ghe tốt chở cháu đi chơi nhìn ngắm cây đước cây mắm xứ mình”.


Gần tới giờ cơm chiều ông Sáu Thiên lại biến đi. Bữa cơm cuối cùng, Bằng lặng thinh cắm cúi ăn, Thủy cũng không nói gì. Người phiên dịch hỏi địa chỉ Bằng để liên hệ. Bà già càu nhàu, nói có chuyến ghe quá giang đi liền, không cần ai liên hệ nhắn tin, đứa nhỏ có phải máu mủ ruột thịt gì đâu. Người Mỹ cười cười nói “tốt, tốt”. Bằng ăn xong về phòng, lại thấy ông Sáu Thiên mở cửa vào ngồi xếp bằng trên giường bắt đầu kho chuyện vô tận của ông:


“Sau giải phóng tưởng xong việc hết rồi, có thể đi chu du nhìn ngắm, không vướng mắc chuyện gì. Nhưng rồi gặp một căn nhà nằm cheo leo bên bờ sông, trên bờ không có đường dưới bến không có xuồng ghe, quanh năm suốt tháng mò cua bắt ốc đón xuồng ghe qua lại đổi chác sống qua ngày, nói phải ở đó đón chờ người chánh quyền giao một quyển vở. Quyển vở gì? Nói lâu lắm rồi hồi chiến tranh, có người đến giao quyển vở, chiếc đồng hồ bảo đếm tàu Mỹ qua lại ghi ngày tháng giờ giấc, sẽ có người đến lấy. Nhưng không có ai đến lấy cả, hết chiến tranh cũng không thấy ai. Tệ như vậy đó. Tao nói thôi đưa đây, chẳng lẽ để cả nhà chờ hoài. Chiếc đồng hồ chết cứng từ hồi nào, tao cầm lấy đến đưa tay thư ký làm tờ giấy chứng nhận, đến nay tờ giấy vẫn còn đó...”.


“Đồng hồ chết mà chứng nhận cái gì?”, Bằng nói.


“Đồng hồ chết nhưng người còn sống”, ông Sáu Thiên nói. “Còn nguyên cả tập vở ghi giờ giấc tàu Mỹ qua lại, đâu thể qua bên Mỹ kiểm chứng chuyện đó”.


(còn tiếp)


Nguồn: Cơn giông. Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. Rút từ Tuyển tập Lê Văn Thảo. Nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 







(1) Chim thng chài: Còn gi là chim bói cá.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »