tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24940108
Tiểu thuyết
03.12.2012
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

Trong gian nhà lão biện Chín ở Gia Định. Chung quanh nhà có vườn cây trái có vườn cây trái, cửa cổng chắc chắn.


            Phòng khách của biện Chín bày biện theo phong cách Tàu. Lão biện ngồi trên ghế tràng kỷ nói chuyện với Huỳnh Tấn. Có lẽ câu chuyện đến hồi gay gắt hay sao mà giọng nói của lão biện không ngọt ngào như trước đây lúc gặp Tấn ở nhà ông chú họ ở gần chợ Cầu Muối. Cháu biết không, mấy hôm nay, bác bị đại úy Bécna xỉ vả thậm tệ về chuyện chiếc tàu Espérance bị tên Trực đốt cháy ở vàm Nhựt Tảo mà Bộ tham mưu ở Sài Gòn không biết gì về âm mưu chuẩn bị tấn công của tên Trực cả. Phần này cũng có trách nhiệm của cháu đó. Sao cháu lại có trách nhiệm? – Tấn hỏi có vẻ lo lắng. Bởi vì cháu đang hoạt động trong hàng ngũ nghĩa quân! Người Phú-lang-sa họ không dễ dàng chi tiền trả thưởng cho những tin tức vô bổ! – Lão biện Chín nói với giọng khó chịu bực bội. Nhưng cháu đã báo cho bác biết rồi, cháu đang theo cánh quân của Trương Định ở Gò Công, nên mọi hoạt động của Trực ở vùng Tân An, Thủ Thừa cháu làm sao biết được? – Huỳnh Tấn cố chống chế. Nhưng giữa các đội nghĩa quân đều có liên lạc với nhau chặt chẽ. Lẽ nào một trận đánh lớn như vậy, Trực không báo cho Trương Định biết, để hỗ trợ cho nhau hay sao? Lão biện nói mà đôi mắt vẫn soi mói thái độ của Tấn. Trận đánh này Trực hoàn toàn giữ bí mật, chủ động không báo cho ai biết, kể cả Trương Định. – Tấn nói thành thật – Cháu luôn ở sát Trương Định mọi nhất cử nhứt động của ổng, cháu đều biết hết. Riêng việc này thì không. Chỉ sau khi đánh xong, Trương Định có sang chúc mừng, hết lời ngợi khen Trực dũng cảm, mưu trí. Có vậy thôi, bác à! Bécna từng mắng chúng ta là một lũ ăn hại. Chuyện động trời vậy mà không một ai biết hết! Lão biện Chín vẫn nói với giọng bực tức. Cháu có biết quan Thống soái Bôna vừa treo giá cái đầu của Trương Định với Nguyễn Trung Trực bao nhiêu không? Mười tám ngàn quan! Tương đương năm ngàn lượng vàng với cái chức lãnh binh phong ngay lập tức đó! Lão biện Chín quan sát thấy đôi mắt Tấn sáng lên đầy vẻ thèm muốn với món thưởng quá lớn và hậu hĩnh đó, hắn nói tiếp: Người Phú-lang-sa với binh hùng tướng dũng lại được có võ khí tối tân, họ sẽ chiếm cả xứ Nam Kỳ này chớ không phải chỉ có ba tỉnh Gia Định, Đồng Nai, Định Tường mà thôi đâu. Nhưng trở ngại lớn nhứt trên đường chinh phục của họ không phải là quân triều đình, mà chính là các đội quân ứng nghĩa do Trương Định, Nguyễn Trung Trực, phủ Cậu, quản Tu chỉ huy. Nhiệm vụ của chúng ta là giúp cho quân viễn chinh Phú-lang-sa diệt trừ những quân phiến loạn đó. Cháu hiểu chớ? Dạ cháu hiểu. – Huỳnh Tấn gật đầu đồng ý. – Vậy là… lão biện Chín nói tiếp – Từ nay không để xảy ra như vụ đốt tàu của tên Trực vừa rồi mà chúng ta mù tịt không báo cho người Phú-lang-sa biết trước âm mưu tấn công đó. Cháu hiểu chớ? Dạ cháu hiểu – Tấn lại gật đầu.


            Lão biện Chín lấy túi bạc đặt trước mặt Huỳnh Tấn: – Đây là tiền thưởng cho cháu của đại úy Bécna gởi khi nhận được tin báo của cháu về hoạt động của Trương Định ở Gò Công. Cháu cầm lấy! – Dạ cám ơn bác Huỳnh Tấn nói giọng cảm động. – Bây giờ cháu có thể về được rồi. Nhớ không được để lộ chút có thể bị nghi ngờ, dễ mất mạng như chơi đó. Cháu hiểu chớ? – Cái đó thì bác yên tâm. Trương Định hiện nay vẫn coi cháu vào hàng tử đệ tâm phúc của hắn. Bác cũng mong cháu có dịp lấy được thủ cấp của Trương Định hay của Nguyễn Trung Trực, thì năm ngàn lượng vàng và cái chức lãnh binh coi như ở trong tay của cháu rồi đó! Cháu hiểu chớ? Dạ cháu hiểu. Xin phép bác, cháu về. Huỳnh Tấn lấy túi bạc cúi chào lão biện Chín rồi đi nhanh ra ngoài.


            Biện Chín nhìn theo lẩm bẩm: Thằng này sẽ đủ thủ đoạn để làm nên chuyện đại sự đây!


 


 


            Năm 1862.


            Trong dinh Soái phủ quân viễn chinh Pháp ở Sài Gòn. Những ngày đầu năm. Thời tiết mùa xuân mát dịu nhưng nét mặt Bonard căng thẳng bực bội ngồi nghe báo cáo của gã đại úy Bernard – một tên Pháp có một bộ mặt dài như mặt ngựa, râu quai nón được xén tỉa rất khéo, phụ trách tình báo của đội quân viễn chinh. Thưa tướng quân – nét mặt Bernard nghiêm chỉnh nhìn Bonard – Theo tin tức của cơ sở do thám được bố trí trong vùng bọn phiến loạn nông binh kiểm soát, cũng như phối kiểm qua các báo cáo của các viên chức người Nam trong bộ máy cai trị, thì hiện nay tên thủ lĩnh Nguyễn Trung Trực đang đóng quân ở vùng Thủ Thừa. Bọn này được dân chúng tiếp tế lương thực đầy đủ. Bản doanh của thủ lĩnh Trực đóng tại thị trấn. Một số quân khác đóng ở nhà dân… – Chúng nó có bao nhiêu quân? – Bonard cau mày hỏi. Thưa tướng quân, quân số chỉ độ trên dưới ba trăm tên. –Chúng nó tổ chức phòng thủ ra sao? Được trang bị vũ khí thế nào? Thưa tướng quân, gần như chẳng có công sự phòng thủ nào đáng kể, chỉ có những trạm gác có ụ đất bao quanh. – Béc-na nói tiếp, vẻ tự tin – Trang bị thì vẫn như trước đây ta đã biết giáo mác, gậy gộc, đao kiếm, cung tên… Ngoài ra có ít súng hoả mai, vài súng trường lấy được khi đốt chiếc Espérance. Đại úy có bảo đảm những tin tức đó chính xác không? Bonard hỏi, đôi mắt xanh của hắn nhìn thẳng vào viên đại úy tình báo chờ câu trả lời. Thưa tướng quân, tôi xin lấy danh dự một sĩ quan quân đội hoàng gia nước Pháp bảo đảm những tin tức báo cáo với tướng quân. Bernard rập chân đứng nghiêm nói giọng cứng cỏi. Sau đó hắn rút trong cặp ra tấm sơ đồ vẽ vị trí đóng quân của Nguyễn Trung Trực ở Thủ Thừa đưa hai tay cho Bonard, nói tiếp:


            Thưa tướng quân. Đây là tấm sơ đồ đóng quân của thủ lĩnh Trực, do một điềm chỉ viên của hạ quan cài bí mật ở Thủ Thừa gởi về. Hắn đưa hai tay tấm bản đồ cho Bonard xem. Liếc qua tấm sơ đồ, nét mặt Bonard bớt căng thẳng, dịu giọng nói với gã đại úy Bernard. Được rồi. Ta tin đại úy. Nhưng ta cũng nhắc đại úy nhớ điều này: bọn thủ lĩnh phiến loạn như tên Trực hay những tên khác, có rất nhiều thủ đoạn xảo quyệt và rất giỏi nghi binh. Ngay việc đánh chiếc Espérance vừa rồi hoàn toàn bất ngờ đã chứng minh điều ấy... Đại úy phải hết sức đề phòng chúng tung tin giả để lừa quân ta vào chỗ chết đó. Ở xứ Nam Kỳ này không dễ dàng như chinh phục đất châu Phi đâu! Rồi Bonard nghiêm giọng nhấn mạnh: Bằng mọi giá ta phải diệt được tên Trực để trả thù việc hắn đốt chiếc Espérance làm nhục quân đội viễn chinh nước Pháp. Lần này thì tên Trực không thể thoát được. Đại úy có thể về chuẩn bị để tham gia trận đánh.


            Bernard vội rập chân đứng nghiêm chào rồi tất tả đi nhanh ra. Trong khi Bonard lặng lẽ đứng nhìn tấm bản đồ quân sự treo trên tường có đánh dấu những vùng nghĩa quân đang hoạt động, suy tính kế hoạch tấn công


            Ở thị trấn Thủ Thừa.


            Thời đó nhà cửa dân cư thưa thớt nhưng không khí mùa xuân những ngày sau Tết Nguyên đán vẫn còn, qua những cây nêu chưa hạ xuống và xác pháo hãy còn vương vãi trên những lối đi. Vài tiếng sáo diều nghe văng vẳng, vì bầu trời mùa xuân phương Nam thường trong xanh ngăn ngắt với gió chướng thổi mạnh, là mùa thả diều lý tưởng của trẻ con đồng quê, nơi những thửa ruộng đã gặt hái xong khô nứt nẻ… Trong bản doanh của nghĩa quân – gọi là bản doanh nghe có vẻ quân sự chớ thật là đóng ở nhà dân – Trực đang tiếp Minh, con trai tri huyện Cường. Tía tôi nói có nhiều tin tức cho hay, bọn Phú- lang-sa sẽ tấn công Thủ Thừa để trả thù vụ ông Hai đốt chiếc tàu của chúng ở vàm Nhựt Tảo mấy tháng trước… Mới hôm qua thôi, tía tôi được gọi lên Tân An, bọn Phú-lang-sa bảo phải mộ lính mã tà với tiền thưởng rất lớn để chuẩn bị đi chiếm đóng Thủ Thừa, khi quân tấn công rút đi. Tía tôi vội sai tôi qua đây báo cho ông Hai hay để đề phòng… Cám ơn ông già với cậu Hai đã cho biết tin quan trọng này – Trực cười nói. Tiện đây tôi muốn hỏi ý kiến ông Hai về một chuyện của tôi – Minh ngập ngừng nói. Chuyện gì cậu Hai cứ nói. Cậu cứ coi tôi là anh em huynh đệ với cậu. Cái gì tôi giúp được, tôi sẽ giúp. Chúng nó muốn cử tôi làm hương quản hay xã trưởng, tùy tôi chọn. Mà tôi thì chỉ muốn theo ông Hai đánh giặc như đã có lần tôi nói với ông Hai hồi trước. Chuyện này thì tùy cậu. Nhưng cậu Hai đã hỏi thì tôi suy nghĩ như thế này: Có lẽ cậu nên nhận một chức gì đó để làm tấm bình phong che mắt địch hầu giúp đỡ nghĩa quân thì tốt hơn. Trong hoàn cảnh hiện nay nghĩa quân rất cần sự giúp đỡ ngầm của những người yêu nước nằm trong vùng giặc kiểm soát. Như cái tin mà ông già cho biết vừa rồi là rất quý. Lòng ta có hai vầng nhựt nguyệt soi sáng thì sợ gì miệng lưỡi của thế gian. Tôi nghĩ như vậy, cậu thấy thế nào? – Từ khi nghe danh ông Hai trong lòng tôi đã coi – xin lỗi ông Hai – như một người anh và là thủ lãnh của tôi. Ông Hai biểu sao tôi nghe vậy, dầu phải nhảy vào chỗ nước sôi lửa bỏng cũng không tiếc thân mình. – Minh nói, giọng xúc động.


            Cám ơn cậu Hai đã coi tôi như vậy. Nước Nam ta như đang bị cơn bão lớn, mọi người phải họp nhau chung sức chung lòng mới mong chống đỡ nổi. Một chiếc đũa có thể bị bẻ gãy, nhưng cả bó đũa thì thông thể bẻ được. Cậu Hai cứ yên tâm nhận việc của chúng giao cho, thì cậu còn có cơ hội giúp đỡ cho anh em nghĩa quân nhiều lắm. Trực cười vui sau câu nói làm cho Minh cũng cười theo. Vừa lúc ấy Nghĩa ở ngoài vào. Cô ăn mặc như người đi chợ về. Thấy Minh, cô khẽ cúi đầu chào rồi nói với Trực: – Em vừa ở Sài Gòn về. Có thơ một người gởi cho anh đây.


            Cô trao cho Trực bức thư đã được dán kín. Trực xé phong bì ấy thư ra đọc. Xong, anh hỏi Nghĩa: – Họ có nhắn gì thêm nữa không? Thấy Nghĩa có ý ngần ngại, Minh hiểu ý đứng dậy cáo từ: – Xin phép ông Hai, tôi về. Trực đưa ra thềm nhà nói: – Cho tôi gởi lời thăm ông già. Còn cậu Hai suy nghĩ thêm những điều tôi nói. Có gì mới cậu liên lạc cho tôi biết nghe. – Dạ, vâng. Minh cúi đầu chào Trực lần nữa rồi đi thẳng ra bến sông xuống chiếc tam bản đã có người chờ sẵn đưa về. Trực nhìn theo đến khi Hai Minh đi khuất mới trở vô nhà.


            Anh Hai à. Bọn Phú-lang-sa ở Sài Gòn có vẻ đang chuẩn bị hành quân tấn công ta đó. Bọn lính đã lộ tin này cho người thân chúng biết. Em vội về báo cho anh hay. Dọc đường gặp ông giáo viết thơ gởi anh, em cầm về luôn đó. Ổng có dặn em nói với anh phải hết sức coi chừng bọn thương hồ vì có thể có những tên gián điệp trà trộn theo để dò la tin tức chúng ta bán cho giặc lãnh thưởng đó. Nghĩa nói, nét mặt có vẻ lo lắng. – Em yên tâm – Trực cười – Mọi việc anh đã tính kỹ rồi. Mình đánh nó đau thì nó sẽ trả thù. Bữa nay đã có nhiều nguồn tin báo cho biết, chúng sẽ đánh chúng ta trong vòng vài hôm nữa thôi. Anh đã cho mời anh em đến họp để phân việc phải làm khẩn trương mới kịp. Còn em, nghỉ ngơi cho khoẻ rồi chiều nay đi vô Đồng Tháp, gặp ông Thiên Hộ đưa thơ anh báo cho ổng biết tình hình và nhờ ổng hỗ trợ cho anh em mình. Biểu thằng Tâm đi với em. Nó chèo chống giỏi lắm đó! Trực vừa nói xong đã nghe tiếng nói lao xao ngoài sân. Đã thấy Hai Nhượng, Sáu Bảnh, Tư Hội và số anh em chỉ huy khác đến gần như đông đủ. Trực nhìn ra rồi nói với Nghĩa: – Em vô trong nghỉ đi. Anh em họ đến rồi đó. Nghĩa dạ rồi đi vào trong nhà.


            Sao anh Hai? Có chuyện gì mà anh Hai kêu anh em lên gặp anh gấp vậy? Sáu Bảnh vừa đi vô vừa nói. Có chớ! Không có việc kêu mấy anh làm chi! Chờ cho mọi người ngồi vào ghế đông đủ, Trực nhìn mọi người nói:


            Theo những tin tức mà tôi nhận được thì bọn Phú-lang-sa sẽ tập trung binh lực tấn công ta trong vài ngày sắp tới để trả thù vụ ta đốt tàu chiến nó vừa rồi. – Nó vô thì mình đánh, ngán gì anh Hai – Sáu Bảnh vui vẻ nói. – Ngán thì mình không ngán rồi. Nhưng lực lượng mình còn mỏng quá. Đưa hết ra chơi với nó, e rằng giống như đánh cờ bạc, dốc hết hầu bao ra đặt một ván, theo tôi là không nên, vì mình còn định đánh lâu dài với nó mà. Tôi nói vậy anh em thấy sao? – Anh Hai nói phải lắm – Hai Nhường gật đầu đồng ý. Mấy người khác trong cuộc họp cũng tán thành ý kiến Hai Nhường: – Chúng tôi hoàn toàn nhứt trí với Hai Nhường. Tùy anh Hai định liệu! – Vậy mình rút lui à? – Sáu Bảnh nói giọng phẫn nộ – Còn dân chúng ở đây bỏ cho giặc giết hay sao? – Điều Sáu Bảnh nói tôi đã tính đến rồi. – Trực nhìn mọi người nói Bây giờ tôi định thế này, Sáu Bảnh sẽ dẫn một số anh em bơi lặn giỏi đi xuống sông Tra, nơi có chiến thuyền của giặc đâu ở đó, tấn công nó vừa diệt giặc vừa nghi binh, đánh lạc hướng địch. Đánh xong, rút luôn về Đồng Tháp. Hai Nhường chỉ huy số anh em rút lui vô Đồng Tháp. Tôi sẽ liên lạc với ông Thiên Hộ Dương hỗ trợ cho anh em mình chỗ đóng quân, lương thực. Còn Tư Hội lo việc tổ chức đưa dân chúng tản cư theo anh em mình vô Đồng Tháp. Lo chỗ ăn ở đồng bào cho chu đáo để đồng bào yên tâm tránh giặc đỡ một thời gian. Còn tôi, tôi sẽ ở lại với số anh em đánh nó ngay tại Thủ Thừa này rồi sẽ rút theo anh em sau. Tôi tính vậy đó. Anh em thấy được chưa?


            Tôi thấy anh Hai nên để tôi ở lại chiến đấu với anh em, anh cũng nên rút với anh em đi Đồng Tháp, vì anh là chủ tướng không thể để anh mạo hiểm khi tình thế chưa đến nỗi bắt buộc phải làm vậy. Không có anh, anh em như rắn mất đầu, kẹt lắm anh Hai! Hai Nhường nói vẻ khẩn thiết nhìn Trực với đôi mắt như van lơn Trực nên giao nhiệm vụ ở lại chiến đấu cho anh. Cả Tư Hội cũng nói vun theo ý Hai Nhường: – Tôi nghĩ anh Hai nên giao nhiệm vụ ở lại cho tôi với Hai Nhường. Còn anh nên chỉ huy anh em rút vô Đồng Tháp trước. Vô đó anh gặp ông Thiên Hộ để bàn việc hỗ trợ cho anh em mình thuận lợi hơn chúng tôi. Phần tôi như xong rồi – Sáu Bảnh gật đầu nhìn Trực – tôi cũng nghĩ như anh Hai Nhượng, anh Hai nên rút trước với anh em tốt hơn.


            Tôi rất cám ơn ý kiến của các anh – Trực nói giọng xúc động – Nhưng đây là một trận đánh trả thù của bọn Phú-lang-sa, chắc chắn chúng sẽ huy động một lực lượng lớn, và trận đánh sẽ rất ác liệt. Chúng ta không thể khinh địch. Tôi thông thạo địa hình ở đây, sẽ tùy cơ ứng biến. Thuận thì đánh, không thuận thì rút có sao đâu! Vả lại, anh em phòng thủ ở đây biết có mặt tôi, anh em sẽ yên tâm hơn. Thôi coi như đã định nhiệm vụ rồi. Các anh về chuẩn bị thực hiện đi. Thời gian gấp lắm rồi đó! Biết không thể làm thay đổi ý định của Trực nên tất cả chỉ huy nghĩa quân đành đứng dậy ra về.


            Trời chưa sáng hẳn. Sương mù còn trắng trên khắp cánh đồng. Từng đoàn xuồng tam bản chở nghĩa quân và đồng bào rời Thủ Thừa đi vào Đồng Tháp Mười. Họ chở theo những thứ cần thiết cho nhà nông: nồi, niêu, thúng rổ, cày cuốc… theo những con rạch nhỏ vào vùng Đồng Tháp Mười mênh mông bạt ngàn đưng, sậy, cỏ lác… Nhường chạy lại nắm tay Trực đang đứng trên bờ rạch nhìn theo đoàn xuồng nói giọng xúc động: Anh Hai ở lại cố gắng bảo trọng. Tôi vô trong đó đợi anh. Dứt khoát chúng ta sẽ gặp lại nhau mà. Trực cười, nói với ánh mắt vui vẻ tự tin. Bỗng có tiếng đại bác nổ ùng oàng từ xa. Nó bắt đầu rồi đó! – Trực nói tiếp – Anh đi mau đi! Tạm biệt!


            Hai Nhường vội chạy xuống chiếc xuồng có anh nghĩa quân chờ sẵn. Họ ra sức bơi nhanh theo đoàn xuồng đã đi khá xa, khuất sau đám lau sậy khỏi đầu người. Trực cũng xốc lại gươm rồi chạy về phía vị trí gác của nghĩa quân ngoài thị trấn. Một đoàn tàu giặc sáu chiếc vượt theo sông hướng về Thủ Thừa. Trên mỗi tàu lố nhố đủ mọi sắc lính, lá cờ tam tài phấp phới trên cột buồm trong nắng sớm.


            Bọn lính trong tay lăm lăm khẩu súng chờ đổ bộ, nét mặt tên nào cũng đầy vẻ căng thẳng. Đứng bên cạnh viên thuyền trưởng mang quân hàm đại úy hải quân của chiếc tàu chỉ huy, Bonard mặc quân phục cấp tướng dã chiến đang giơ ống nhòm quan sát hai bên bờ sông.


            Đến gần thị trấn Thủ Thừa, Bonard ra lệnh cho viên sĩ quan cấp úy hầu cận: – Dừng lại! Cho pháo bắn dọn đường đổ bộ! Viên sĩ quan hầu cận vội chạy đến nhắc tên lính đánh cờ hiệu truyền lệnh của tổng chỉ huy cuộc hành quân. Lập tức tên lính vung cờ hiệu ra lệnh nổ pháo. Từ các tàu chiến lần lượt các khẩu đại bác gầm lên nối nhau nhả đạn. Tiếng nổ như sấm rền. Khói trắng mù mịt trên sàn tàu, che khuất các pháo thủ đang hối hả lao đạn vào đuôi nòng pháo. Tất cả bọn lính gồm Pháp, mã tà, ma ní cũng lập tức nai nịt gọn gàng chờ lệnh đổ bộ, nét mặt tên nào cũng căng thẳng, nhất là bọn ma ní, mã tà… Xóm làng xung quanh thị trấn Thủ Thừa lâu nay vốn sống yên lành như bao vùng quê khác vùng châu thổ sông Cửu Long. Nhưng sáng nay được các nghĩa quân thông báo địch sẽ tấn công càn quét để trả thù vụ nghĩa quân đốt cháy chiếc tàu Espérance ở vàm Nhựt Tảo sông Vàm Cỏ, khiến nhiều gia đình lo sợ hoảng hốt. Họ cũng đã nghe bọn giặc cướp phá, đốt nhà, hãm hiếp phụ nữ ở Sài Gòn, Gia Định, Đồng Nai… và gần đây là vụ tấn công chợ Trường Bình, huyện Cần Giuộc gây ra nhiều tội ác đẫm máu với nhân dân ta, nay đến lượt Thủ Thừa sẽ bị địch tấn công hòng tiêu diệt nghĩa quân của Nguyễn Trung Trực. Nhà ông Bảy Vẹn ở gần ven sông. Đó là gian nhà của một trung nông có vườn cây ăn trái xum xuê bao quanh. Sáng qua, ông Bảy tiếp một nghĩa quân còn trẻ đến nhà. Anh ta trạc ngoài hai mươi, mặt mũi trông dễ thương. Thấy ông Bảy, anh ta cúi đầu lễ phép nói: Thưa bác, cháu là lính của anh Hai Trực ở ngoài chợ. Sáng nay anh hai sai cháu đi báo cho bà con mình xung quanh đây biết bọn giặc sắp tấn công Thủ Thừa, nên bà con mình nên chuẩn bị để khi có lệnh thì tản cư ngay vô Đồng Tháp Mười tránh giặc. Cháu quê ở đâu? Theo ông Trực lâu chưa? Ông Bảy Vẹn nhìn anh lính trẻ với ánh mắt cảm tình. Dạ, cháu quê ở Bến Lức – anh lính Hòa vui vẻ nói – Cháu theo anh Hai Trực đánh giặc ở đại đồn Chí Hòa rồi đó bác. Dữ hôn! – ông Bảy tròn mắt ngạc nhiên không ngờ anh lính còn non choẹt thế kia mà đã từng tham gia đánh giặc ở Sài Gòn Gia Định. Bọn Tây dương nó ra làm sao? Bác nghe nói chớ chưa gặp bao giờ! Bọn Tây dương nó khác người Nam mình lắm. Nó cao lớn, da trắng, mắt xanh, mũi lõ, đa số đều có râu quai nón trông thiệt dị hợm! – anh lính trẻ Hòa cười – Lúc đầu nghe bà con mình nói, cháu cũng hơi sợ, nhưng khi xáp trận rồi cháu coi nó như không có, nhào vô chém nó như chém chuối. Mà cũng lạ thiệt bác, – anh lính Hòa lại cười – bọn Tây dương này lúc bị thương nó la dữ lắm, như bò rống không bằng! Cái lũ giặc này không ai chọc ghẹo nó, mà tự nhiên nó tới chiếm đất mình, đốt nhà cướp của, giết dân mình. Vậy quân triều đình ở đâu mà để nó hoành hành như chỗ không người vậy? – ông Bảy Vẹn nói với vẻ mặt tức tối giận dữ. Quân triều cũng có đánh giặc chớ bác! – anh lính Hòa nói vui vẻ – Nhưng súng mình bắn không bằng súng bọn nó, nên đánh, quân triều chỉ có thua. Ở trận Chí Hòa chỉ có quân anh Hai Trực là đánh giặc ngon lành nhứt đó bác. Cái hôm ông Hai Trực đánh đốt chiếc tàu giặc ở vàm Nhựt Tảo cháu có tham gia không? Ông Bảy Vẹn hỏi. Dạ không – anh lính Hòa trả lời – bởi những người đi theo giả làm hai họ rước dâu đám cưới, anh Hai chọn kỹ lắm, phải võ nghệ cùng mình mới “chơi” tụi giặc được. Mà cháu thì võ nghệ còn lèn quèn lắm, anh Hai đâu có chọn! Nhưng mà– anh lính Hòa nói – cháu lại tham gia trận đánh bọn đóng đồn trên bờ do anh Tư Hội chỉ huy. Thằng quan một trong đồn bị anh Tư dụ ra ngoài, nó bị lọt hầm chông, anh em ta đào sẵn. Rồi bọn lính chạy tản ra thì lọt vô trận phục kích của bọn cháu. Cháu cũng giết được một thằng ma ní đó bác. Ờ, nghe nói tụi lính ma ní theo Tây dương hung ác lắm, mà bác cũng chưa biết người ngợm nó ra làm sao hả cháu? Ông Bảy Vẹn thật thà hỏi. Dạ, nó cũng thâm thấp như người Nam mình, nhưng da nó ngăm đen hơn. Có thằng tóc quăn dớn như ổ quạ. – anh lính Hòa lại cười – Nhưng khi đụng trận với quân anh Hai Trực thì chúng cũng chẳng hơn gì bọn lính Tây dương lúc bị thương, cũng kêu la như heo bị chọc tiết đó bác! Ờ như vậy thì đâu có ghê gớm gì mà phải sợ nó như người ta đồn đại – ông Bảy Vẹn nói. Đúng vậy đó bác! – anh lính trẻ khẳng định với nụ cười cởi mở – Nó ở xa đến mình ở đây, nó là khách, mình là chủ. Khách lẽ ra phải sợ chủ, tại sao mình làm ngược lại là mình sợ nó? Đánh thấy mẹ nó cho nó biết ai là chủ ở đất nầy phải không bác? Cháu nói vậy là quá đúng. – ông Bảy Vẹn gật đầu xác nhận – Người dân Nam Kỳ mình chỉ sợ Trời, Phật, thánh thần, ông bà cha mẹ chớ không sợ kẻ thù, nhứt là bọn ăn cướp nước người ta! Đối với bọn này, đánh cho chúng dập đầu để cho nó tởn tới già không dám tới đây cướp nước mình nữa! Chợt như nghĩ ra, ông vui vẻ bảo với anh lính Hòa: Hay là cháu ở lại chút xíu nhậu với bác vài ly rồi có đi đâu thì đi! Dạ, cám ơn bác – anh lính Hòa vui vẻ từ chối – Cháu còn phải đi báo cho bà con xóm dưới, kẻo không kịp. Ờ vậy thì sau trận giặc này cháu lại đây nhậu một trận cho vui. Cháu nhớ chưa? Dạ nhớ! Xin phép bác cho cháu đi.


            Anh lính trẻ chào ông Bảy Vẹn rồi phóng nhanh ra cửa, ông Bảy nhìn theo cười một mình: Lính ông Hai Trực đứa nào cũng như thằng cháu trẻ này thì bọn Tây dương làm sao ăn cướp nước Nam được! Nhưng ông Bảy Vẹn đâu biết đứa con gái út của ông – Út Hiền – trong giờ này đang ngồi với anh lính nghĩa quân Hòa bên gốc trâm bầu gần mé sông, trong khi ông ra ngoài gọi con: Út ơi! Đi đâu về lo đi vô Đồng Tháp Mười cho sớm nghe con! Đáp lại lời kêu gọi của ông Bảy chỉ có tiếng gió thổi lào xào trong vườn cây ăn trái của ông.


            Út Hiền nhìn Hòa: Tía em kêu vô lo đi rồi đó! Ừ, thì đi. Ở lại không được đâu! – Hòa mỉm cười nhìn Út Hiền. – Vậy anh có đi không? – Út Hiền hỏi có vẻ quan tâm. Anh phải ở lại với anh Hai “quánh” tụi nó chớ đi sao được? – Hòa cười trả lời. Vậy thì em cũng ở lại với anh! – Út Hiền như đã quyết định. – Ý chết, sao được Út? Hòa nhìn Út Hiền ngạc nhiên không hiểu ý định táo bạo của cô gái, anh nói tiếp: Tía em kêu đi tránh giặc. Út ở lại sao được? Nhưng em đi không yên tâm. Trận giặc này lớn lắm, như anh nói, trong khi các anh có ít người làm sao chống nổi? – Út Hiền nhìn Hòa bằng ánh mắt lo lắng thật sự. Nhưng chắc không lớn bằng trận đại đồn Chí Hòa năm trước đâu. Trận đó anh mới dự lần đầu mà không sao thì bây giờ cũng vậy. Tụi mình sẽ gặp lại chớ có mất đâu mà sợ. Hòa vừa nói vừa kéo Út Hiền sát mình, hôn lên má Hiền một cái hôn nồng cháy của anh lính tuổi hai mươi, thì thầm nói nhỏ: Anh thương Út lắm, Út biết không? Biết, nên mới ngồi đây với anh – Út Hiền ửng đỏ đôi má nhìn Hòa, cô cũng nói nhỏ Tan giặc rồi mình làm đám cưới nghen anh. Ừa. Thôi em về đi, kẻo tía đợi. – Hòa nhắc nhở. Một lần nữa, Hòa lại ôm chặt Út Hiền đặt cái hôn nồng cháy trên môi nàng thơm mọng mùi lúa chín.


 


 


            Vọng gác của nghĩa quân được bố trí sau lùm cây che kín nhưng rất dễ quan sát. Trực đứng trong vọng gác quan sát mọi động tĩnh của địch. Tiếng rít xé gió của đạn đại bác bay ngang vọng gác của Trực đang đứng rơi trúng vào khu dân cư. Tiếng rít đại bác đối với Trực là quá quen thuộc. Những cột khói đen bao trùm lên các nhà dân phần lớn lợp bằng lá dừa nước rất dễ bốc cháy. Lửa bắt đầu cháy từ gian nhà đầu sau tiếng đạn nổ. Sau đó lửa lan sang nhà kế bên rồi dãy nhà gần đó tạo thành một khối lửa cuồn cuộn dâng cao lên khỏi ngọn cây cùng với tiếng nổ của vật liệu tre nứa trong các nhà. Đến lúc này Trực mới nhìn thấy rõ. Trừ một số lớn đồng bào nghe lời thông báo của nghĩa quân đã tản cư vô Đồng Tháp Mười, còn một số ít nấn ná lại chưa chịu đi. Đến khi nghe súng đại bác trên tàu chiến giặc bắn lên, họ hốt hoảng bỏ nhà chạy ra ngoài, nằm núp sau mô đất đường mương. Nhưng khi thấy nhà trúng đạn cháy, tiếc của còn để lại chưa kịp mang đi, họ lại chạy vào vác số đồ đạc chạy ra. Nhưng có người vừa chạy ra khỏi nhà thì bất ngờ môt quả đạn lại rơi đúng ngay chỗ họ. Một vầng khói lửa đen trùm lên họ sau tiếng nổ lớn chát chúa, để lại ngoài đường xác người không còn nguyên vẹn với quần áo, đồ đạc vung vãi khắp nơi.


            Bọn giặc bắt đầu đổ bộ. Chúng dàn hàng ngang vừa đi vừa bắn tiến vào thị trấn. Tiếng súng nổ với tiếng đạn rít vèo vèo bay qua trên đầu các anh em nghĩa quân do Trực chỉ huy đang phục sau các mô đất, gò mương; một số có súng cướp được của giặc ở tàu Espérance cùng chĩa vào bọn giặc đang cướp phá số nhà dân đã tản cư phía bên kia đường, chờ lệnh của Trực sẽ nổ súng. Nét mặt của họ đầy căng thẳng, căm hờn. Trực nói với anh lính Hòa – lúc này được giao làm tiểu đội trưởng – ngồi núp sau mô đất với khẩu súng lăm lăm trong tay, mắt căng thẳng theo dõi địch: Chú dẫn một số anh em vòng ra phía bên kia vườn phục ở đó. Khi đây nổ súng, bọn địch sẽ tạt ra phía đó thì chú chớp thời cơ đánh vào sườn chúng, diệt một số rồi rút ra cuối xóm, để cùng anh em ở đây rút lui về Đồng Tháp Mười. Nhớ chưa? Dạ, nhớ! – Hòa gật đầu – Còn anh Hai? Tôi sẽ có cách. Chú đi mau đi.


            Hòa vội lách mình ra khỏi chỗ núp gọi với số nghĩa quân thuộc quyền chỉ huy của Hòa đang núp sau các mô đất: “Anh em theo tôi”. Tất cả chạy theo Hòa dưới bờ rào tre cao khỏi đầu tiến về khu vườn mà Trực đã chỉ, sau đó họ tản ra phục kích dưới những lùm cây rậm chờ địch.


            Tên trung úy Pháp vung vẩy khẩu súng lục thời Napoléon đệ nhất hò hét dẫn đầu tốp lính tiến về chỗ Trực phục kích, sau khi chúng cướp được ít đồ đạc của dân, đeo giắt lỉnh kỉnh, súng lăm lăm trong tay, đi như chạy theo gã trung úy. Nét mặt tên trung úy ửng đỏ như mào gà chọi rõ dần trong mắt Trực. Nó cũng đi nhanh như chạy về phía nhà dân chỗ Trực đang đứng quan sát. Nét mặt các nghĩa quân cũng rất căng thẳng luôn nhìn Trực chờ lệnh. Những tên lính Pháp, ma ní, mã tà chạy sau tên trung úy cách họ chừng hơn một trăm mét… rồi năm chục mét… Họ nhìn Trực thấy anh khoát tay ra hiệu cho họ hãy nằm im chờ lệnh. Một số nghĩa quân mồ hôi vả ra ướt đẫm trán họ… Tay họ đã lần vào cò súng…


            Gã trung úy đi đầu chỉ còn cách Trực chừng ba mươi mét… rồi hai mươi mét… Trực nhìn rõ những giọt mồ hôi trên trán đỏ gà chọi và cả những nút đồng trên bộ áo sĩ quan hắn mặc. Ngón tay Trực đặt vào cò súng… Khi tên trung úy còn cách anh khoảng mười mét, ngón tay Trực siết mạnh cò. Một tiếng nổ đanh khô vang lên, gã sĩ quan đang chạy tới bỗng khựng lại, chới với, rồi ngã vật ra phía sau. Cùng lúc ấy nhiều tiếng súng bên phía nghĩa quân nổ đồng loạt, hạ gục những tên lính chạy theo sau gã trung úy. Trực đưa cây súng cho một nghĩa quân còn trẻ nằm bên cạnh anh, rồi rút gươm ra hô lớn: Sát!


            Nhiều tiếng hô tiếp theo rồi các nghĩa quân lập tức vọt chạy theo Trực đánh giáp lá cà với bọn lính ma ní, mã tà từ các thê đội địch phía sau chạy lên ứng cứu. Lưỡi gươm của Trực vung lên loang loáng ánh mặt trời chém ngang, đâm dọc vào lũ giặc vừa ào tới. Một thằng lính ma ní vừa cất mũi súng lên định bắn Trực, nhưng anh đã nhanh hơn lách né qua, xỉa luôn mũi kiếm vào bụng nó. Nó hét lên một tiếng lớn rồi gục xuống, buông cây súng lăn lóc trên mặt đất. Một nghĩa quân nhảy tới nhặt luôn khẩu súng và dùng nó quật tên lính mã tà cũng vừa chạy tới. Một số lính giặc bị nghĩa quân chém bằng đao, kiếm, mã tấu nằm la liệt, rên la thảm thiết. Tốp lính giặc phía sau thấy tốp đi trước bị đánh thảm hại đã hò reo chạy theo tên thiếu úy Pháp dẫn đầu xông vào trận chiến. Đạn giặc bắn ào ào như trấu vãi. Một anh lính nghĩa quân vừa xông lên phía trước bị trúng đạn. Anh lảo đảo gục xuống. Thanh mã tấu trong tay anh rơi ra. Tiếp theo, một, hai nghĩa quân nữa cũng trúng đạn. Chính lúc đó cánh quân đội trưởng Hòa chỉ huy đã kịp thời nổ súng đánh xuyên hông. Bọn lính ma ní, mã tà lớp chết lớp bị thương sau loạt súng bất ngờ đó. Số còn lại hốt hoảng chạy dạt ra hai bên, phục xuống bắn trả và chờ bọn tiếp viện chạy đến ứng cứu.


            Đại bác địch dưới các tàu chiến bắn lên dồn dập hỗ trợ cho cánh quân bộ đang bị chặn đánh thất bại nặng nề. Từng quả đạn nổ tung trong vườn, trong thị trấn kèm theo tiếng nổ ùng oàng như xé toang bầu không khí yên tĩnh ở thị trấn nhỏ Thủ Thừa.


 


            Quan sát thấy tình hình giặc củng cố hàng ngũ tấn công đợt sau khá đông, Trực vung kiếm ra lệnh: Anh em theo tôi! Tất cả vội chạy theo Trực men theo khu vườn ra bờ rạch, nơi có mấy chiếc xuồng đậu chờ sẵn. Đồng thời cánh quân đánh xuyên hông do đội trưởng Hòa chỉ huy cũng đã kịp thời rút về tập hợp lại ở bờ rạch.


            Chiếc xuồng chở Trực có anh nghĩa quân mình trần, da ngâm đen, dùng sào dài chống lướt đi trước rất nhanh lẫn khuất sau lớp đưng lác dày đặc tiến vào Đồng Tháp Mười.


            Đội trưởng Hòa cùng tiểu đội nhảy xuống hai chiếc xuồng chống sào vọt theo mặc cho tiếng súng đại bác nổ rền khắp cánh đồng với những cột khói trắng dựng lên đột ngột trên nền đưng lác, lau sậy xanh ngắt bạt ngàn. Trận đánh kết thúc với chiến lợi phẩm nghĩa quân lấy được bốn khẩu súng trường, một số bao đạn và khẩu súng lục của tên trung úy bị Trực bắn chết khi hắn dẫn đầu đám lính đổ bộ tiến vào thị trấn Thủ Thừa.


            Bọn giặc quyết định chiếm đóng Thủ Thừa.


            Hàng ngày chúng bắt dân phu đào đất, khiêng cây với gạch xây dựng một đồn chính kiên cố, và một số vọng gác quanh thị trấn. Công việc huy động bắt dân phu xây dựng đồn ở thị trấn Thủ Thừa được giao cho tên xã Hảo, bây giờ được phong chức cai tổng. Buổi sáng hôm nay cũng như mọi buổi sáng khác, tên cai tổng Hảo áo dài khăn đóng, tay cầm roi mây, có hai tên lính mã tà theo hộ vệ đi dọc theo đường hào do dân phu bị bắt đào để chúng rắc chông trở thành chiến hào bảo vệ đồn chính ở giữa. Thấy một dân phu nghỉ tay lấy bầu nước uống, hắn vụt luôn một roi lên lưng trần anh dân phu với câu chửi: Đ. mẹ! Làm đi, mau lên! Bị một roi đau điếng, anh dân phu căm tức nhìn lên tên Việt gian khăn đóng áo dài thong dong như đang đi dạo mát, trong khi dân phu phải làm hùng hục với mình mẩy mồ hôi ướt đẫm, anh phun bãi nước bọt với câu nói lầm bầm: Đồ Việt gian làm phách!


            Bọn lính Pháp căng lều bạt ở chợ đã bị đốt trụi. Hàng ngày chúng tỏa ra lùng sục vào các nhà dân tản cư tìm bắt gà vịt mà khi tản cư vội vả người dân không kịp mang theo. Sáng nay cũng như mọi khi, hai tên lính Pháp mò vào một gian nhà khá rộng kiểu ba gian hai chái, chung quanh có vườn ao, cây trái xum xuê. Trông quang cảnh như vậy, tên lính Robert nói với thằng cùng đi: – Ê Jean! Nhà này có vẻ giàu có, chắc không thiếu gà vịt đâu! Ừ, cũng có thể – Tên lính Jean gật đầu đồng tình. Tên Jean theo tên Robert đi vào nhà trước rồi đi thẳng ra phía sau. Nó không ngờ, trong nhà sau có hai cô gái. Đó là Út Hiền và Út Hoa. Họ vừa từ nơi tản cư trở về nhà Út Hoa để tìm những thứ mà khi tản cư theo gia đình, họ không kịp mang theo. Nghe tiếng lính Pháp nói trước nhà, hai cô lẳng lặng núp sau bồ lúa trong nhà, vẻ mặt căng thẳng. Bất chợt tên Robert nhìn thấy chiếc khăn rằn đội đầu của Út Hoa khi hắn vòng qua bồ lúa tìm trứng gà. Nó gần như reo lên thứ tiếng Việt lơ lớ mới học: Ê. Con ngái tốt lắm! rồi thò tay kéo Út Hoa đứng lên. Bất ngờ, nó bị Út Hoa tung một cú đá khiến nó không kịp đỡ, té nhào. Đồng thời, nghe tiếng động ở bồ lúa, tên Jean chạy vào thì bị Út Hiền cầm con dao phay đâm mạnh vào ngực. Nó chỉ kịp “hự” lên một tiếng rồi ngã vật ra. Thấy cây súng mang trên vai của thằng Robert, sau cú đá của Út Hoa, văng ra nằm sát vách, bản thân thằng lính bị cú đá quá mạnh té nhào bất tỉnh, Út Hoa lượm khẩu súng lên, rồi hỏi Út Hiền: Tính thằng này luôn chớ! Ừa, tha sao được! Út Hiền vung mạnh lưỡi dao phay. Mấy tia lớn máu bắn lên ướt cả vách gần bồ lúa. cả hai cô gái vọt nhanh ra sau vườn với chiến lợi phẩm là khẩu súng trường của tên lính Pháp bị Út Hoa đá bên bồ lúa. Ra đến con rạch sau vườn, hai cô nhảy xuống chiếc xuồng giấu trong bụi dừa nước. Út Hiền cầm lấy sào ra sức chống lướt nhanh vô hướng Đồng Tháp với nét mặt hân hoan đầy những giọt mồ hôi ướt lòa xòa mái tóc trước trán, trông Hiền đẹp rực rỡ.


 


            Hai bên con rạch nhỏ trong Đồng Tháp có nhà cửa dân cư thưa thớt. Thuở ấy, Đồng Tháp còn rất hoang vu, đầy lau sậy, đưng lác. Dân cư chỉ khai phá một ít đủ ăn, còn lại là màu xanh đến tận chân trời. Nghĩa quân của Trực chia nhau đóng tạm nhà dân. Rỗi rảnh họ cùng vác cuốc vác phảng ra đồng sản xuất với dân hoặc hoặc giã bàng, đương đệm, nóp… Không khí lúc nào cũng vui nhộn bởi đa số là lính trẻ.


            Đêm trăng sáng. Trên sân nhà anh em đóng quân, họ giã gạo chày ba với các cô gái con chủ nhà, với các cô gái hàng xóm. Tiếng “cụp cùm cum” cùng với động tác nhịp nhàng của ba người giã – một chàng nghĩa quân với hai cô gái – cùng với những tiếng cười trong trẻo vui vẻ của họ đã làm cho không khí vốn trầm lắng của miền đất còn hoang vu bỗng trở nên sôi động hẳn lên. Đôi lúc họ dừng tay để xúc gạo đã giã trắng ra, cho gạo lức vào giã tiếp và để tránh cho họ quá mệt, những chàng nghĩa quân và các cô gái khác vào thay. Tiếng chày ba tiếp tục khua vang trong ánh trăng sáng vằng vặc mênh mông, soi rõ mặt người. Tiếng một cô gái trong trẻo: Mấy anh đi đánh giặc mà giã gạo cũng hay quá hén? Cũng là dân làm ruộng cả thôi, đâu có giỏi gì. Không biết giã gạo có ai thèm lấy! Tiếng anh nghĩa quân làm mọi người cười vang. Đúng lúc ấy, Trực bước vô sân vui vẻ: Giã gạo vui quá há? Ơ kìa, anh Hai! Anh lính nghĩa quân kêu lên ngạc nhiên, vui sướng. – Nè, cho tui giã thử coi có được không nghe? – Trực cười nói.


            Dạ, đây nè anh Hai. Anh lính trẻ đưa cái chày cho Trực. Hai cô gái cùng giã với anh nghĩa quân nhìn Trực có vẻ ngạc nhiên. Họ không biết Trực là ai mà thấy mấy nghĩa quân chung quanh có vẻ nể trọng. – Ta bắt đầu giã được rồi chớ, hai cô? – Trực vui vẻ nhìn hai cô gái cầm chày. – Dạ, được. Trực nhịp chày trước. Tiếng chày hai cô gái nhịp nhàng giã theo sau. Cứ thế nhịp chày ba vang dội, đều đều, trước những đôi mắt lính nghĩa quân kính phục thủ lĩnh của mình, hóa ra không phải chỉ biết nghề chài lưới, mà Trực còn là một nông dân chánh hiệu, giã gạo chày ba ngon lành không thua kém ai.


            Bọn lính chiếm đóng Thủ Thừa cũng đã mấy tháng. Hàng ngày chúng đều tổ chức lùng sục để kiếm lương thực lúa gạo, gà vịt, heo cúi mà dân không kịp chở theo lúc tản cư. Thỉnh thoảng vẫn có tiếng súng nổ khi chúng bắt gặp những người dân lén lút trở về tìm kiếm đồ đạc còn bỏ lại. Nhưng thường thì họ kịp chạy thoát. Bởi bao giờ họ cũng đi hai người, cha con, anh em, chú cháu… để một người canh chừng, một người lục tìm đồ. Nhưng cũng có khi chỉ về có một người. Đó là trường hợp ông Bảy Vẹn. Ông vừa bước vô nhà thì sau cánh cửa mở, một mũi súng chĩa vào ông với tiếng hô: Giơ tay lên! Quá bất ngờ, ông Bảy không kịp đối phó. Ông đành giơ tay theo lệnh thằng mã tà núp sau cánh cửa. Nó hùng hổ bước ra theo sau cũng là một thằng lính mã tà khác, nhỏ tuổi hơn. – Trói thúc ké thằng cha già này lại! Lệnh miệng của thằng lính mã tà có vết sẹo gò má trái, không biết do tai nạn hay nhậu nhẹt, đâm chém nhau để lại, được thằng lính trẻ thực hiện ngay lập tức. Một sợi dây luộc còn mới – không biết chúng chuẩn bị trước từ bao giờ – được thằng lính trẻ móc đeo lòng thòng bên hông làm kiểu dây thòng lọng quấn vào cổ ông, sau khi nó bẻ gập hai tay ông ra sau lưng, dùng ngay chiếc khăn rằn của ông đội trên đầu trói thúc ké lại. Rồi chúng thét: Đi!


            Thế là thằng đi trước cầm đầu dây, còn thằng đi sau cùng giữ mối dây khiến ông Bảy không sao cựa quậy được, cứ phải ngay cổ đi theo chúng nó, lòng đầy căm thù những thằng tay sai cho giặc miệng còn hôi sữa. Thi thoảng, tên mã tà đi sau còn thúc báng súng vào lưng ông, miệng giục: “Đi mau lên!” khiến ông Bảy giận nóng ran cả mặt.


 


            Tên cai tổng Hảo ở tạm trong căn nhà chưa bị đốt còn sót lại trong thị trấn Thủ Thừa.


            Trời đã gần trưa nhưng lão vẫn còn ôm ấp một cô gái trẻ đáng tuổi con gái lão với lời nói giọng kẻ cả:


            Qua hứa với bậu là sau khi bắt được thằng Hai Lịch rồi, Thủ Thừa này sẽ có căn nhà mới, đó là món quà qua tặng cho bậu. Vậy được chưa? Không một lời đáp, cô gái ôm hôn chùn chụt vào má lão như thay lời cám ơn. Sướng quá vì cử chỉ nhiệt tình của cô gái, lão lại vật ngửa cô ta ra định chồng đè người lên thì có tiếng tên lính gác bảo vệ bên ngoài chạy vào báo: Bẩm thầy cai, có khách!


            Nghe tiếng, lão tiếc rẻ cuộc vui bị phá ngang, lão chỉnh sửa lại quần áo, nói với cô gái: Bậu cứ nằm nghỉ, chút nữa xong việc quan, qua sẽ vô! Lão mở cửa buồng bước ra ngoài rồi quay đóng sập cửa lại. Và bây giờ trước mặt lão cai tổng Hảo ở phòng khách là hai tên lính mã tà và ông Bảy Vẹn còn bị trói thúc ké. – Bẩm thầy cai, tụi tui bắt được lão già này trong nhà lão ở khu vườn bên xóm trái chợ, nghi là do thám của bọn phiến loạn… Tên lính mã tà báo cáo. – Được! – Lão cai tổng gật đầu – Mở trói cho nó. Sau khi được tên lính trẻ cởi trói, ông Bảy vươn vai ngáp mấy cái cho đỡ mỏi, mắt nhìn cai tổng Hảo xem thằng Việt gian này muốn làm gì mình. – Nè, lão già kia! – Tên cai tổng hỏi, giọng ra vẻ hách dịch, oai vệ – Nghe ta hỏi: Lão có biết Nguyễn Trung Trực bây giờ ở đâu không? Tui không biết! – Ông Bảy Vẹn lắc đầu. Không biết hay biết mà không nói, hả? – Tên Hảo gằn giọng hỏi. Ông cai làm việc nhà nước trong tay binh lính rần rần mà còn không biết, thì tụi tui là dân đen làm sao biết được. – Ông Bảy cố giữ giọng bình tĩnh trả lời, chớ trong mắt ông, thằng Việt gian làm cai tổng cho bọn Phú-lang-sa nầy trông không giống ai mà lại làm phách. Vậy lão ở đâu mò về đây? Ở trong Đồng Tháp Mười ấy! – Ông Bảy đáp. Sao không ở đây, vô trỏng làm gì? – Tên cai tổng bắt đầu thấy nóng mặt, gằn giọng hỏi. Hồi mấy ông Phú-lang-sa bắn phá Thủ Thừa, quánh nhau với quân ông Hai Trực thì dân chúng làm sao dám ở. Đành phải dắt vợ con chạy vô Đồng Tháp Mười để tránh tên bay, đạn lạc. Con chó, con mèo cũng còn muốn sống huống chi là tui! – Ông Bảy trả lời. – Nói nghe được quá há! Nè, không nói lôi thôi với lão nữa! – Tên Hảo nhìn ông Bảy với đôi mắt gian xảo, gằn giọng– Nghe ta hỏi, có phải lão về đây để dọ thám cho bọn phiến loạn Nguyễn Trung Trực không hả? Mấy ông đóng đồn ở đây cướp bóc dân chúng, thiên hạ gần xa đều biết, cần gì ông Trực dọ thám cho mất công! – Ông Bảy tức quá không kềm được nữa. – A, lão già này bướng! – Tên Hảo cũng không chịu nổi thái độ cứng cỏi bất khuất của ông Bảy, hắn bước lại đấm vào mặt ông cú đấm như trời giáng. Máu mũi ộc ra ướt cả chòm râu lốm đốm của ông Bảy. Tên Hảo hét lớn: Bay đâu! Lôi lão già này ra đánh hai chục hèo, coi lão có chịu khai không?


            Hai tên lính mã tà bắt ông Bảy khi nãy, vội nhào tới đè ông xuống vụt roi tới tấp. Ông Bảy cắn răng chịu đựng, không kêu rên một tiếng cho đến khi ngất xỉu. – Bẩm ông cai, lão chết giấc rồi! Tên lính mã tà có vết sẹo nói. Đổ nước cho nó tỉnh dậy! Đánh tiếp! Tên Hảo ra lệnh, mắt hắn đỏ ngầu.


            Một thùng nước xối vào mặt ông Bảy. Ông tỉnh dậy mở mắt mệt mỏi nhìn. Bỗng một lính mã tà chạy vào chắp tay xá tên Hảo: Bẩm ông cai, quan lớn Phú-lang-sa trên đồn đang cho người tìm mời ông lên đồn có việc. Được! – Tên Hảo quay lại nói với hai tên mã tà đang tra khảo ông Bảy – Đem giam lão già này lại. Chờ tao về tra tiếp!



            Nói xong hắn bỏ ra ngoài theo tên lính chờ sẵn đi lên cái đồn vừa mới xây dựng xong có mấy vòng rào tre còn mới.


Từ hôm bọn giặc Phú-lang-sa chiếm Thủ Thừa đến nay, chúng đã gây nhiều tội ác với một số đồng bào ta tản cư trở về làm ăn sanh sốngTrực nhìn các chỉ huy đang ngồi chung quanh lắng nghe – Bọn giặc chủ quan cho rằng nghĩa quân ta đã đi hoạt động nơi khác không dám trở lại Thủ Thừa… Tên cai tổng Hảo tác oai tác quái, gây nhiều tội ác để tâng công với giặc. Mới đây tên Việt gian đó bắt ông Bảy Vẹn đánh chết đi sống lại nhiều lần để mong khai thác tin tức hoạt động của anh em mình. Nhưng ông Bảy Vẹn đã biểu lộ khí tiết của người dân yêu nước, thà chết chớ không khai báo. Ngoài ông Bảy Vẹn ra còn một số bà con khác nữa cũng chịu cảnh bắt bớ tra khảo như vậy. Tội ác của tên Hảo và lũ tay sai khác cam tâm bán nước cho lũ Tây dương “trời không dung, đất không tha”. Nghĩa quân chúng ta phải cương quyết trừng trị chúng để làm gương cho những kẻ rắp tâm theo giặc coi đó mà răn mình. Tôi muốn hỏi anh em: có quyết tâm tấn công Thủ Thừa để trả thù cho đồng bào mình không? – Trực nhấn mạnh mấy câu cuối cùng với đôi mặt rực lửa căm thù. Anh Hai còn hỏi anh em làm chi nữa! – Hai Nhường nói – Từ ngày theo anh Hai đến nay có ai không tuân lịnh của anh Hai đâu!


 Sáu Bảnh, Tư Hội và số chỉ huy khác cũng tỏ ý tán thành câu nói của Hai Nhường: – Xin anh Hai cứ ra lịnh cho anh em, một cái đồn Thủ Thừa, chớ mười cái cũng diệt luôn! – Sáu Bảnh nói giọng vui vẻ. – Nếu anh em đồng tâm nhứt trí như vậy thì tôi phân nhiệm vụ như thế này – Trực mỉm cười nhìn mọi người: Hai Nhường dẫn một số anh em diệt mấy vọng gác của bọn mã tà, ma ní ở vòng ngoài chợ huyện. Tư Hội dẫn anh em bắt bọn tay sai, thằng nào chống cự diệt luôn, nhứt là thằng cai tổng Hảo. Đồng thời phá ngục giải cứu đồng bào bị chúng giam giữ. Bọn phản nước, hại dân này phải bắt để dân trị tội. Sáu Bảnh dẫn anh em theo tôi tấn công vô đồn chánh đóng ở trung tâm chợ huyện. Các anh em về chuẩn bị. Phải giữ bí mật tuyệt đối, không để dân chúng biết. Thủ Thừa thì các anh rành cả rồi, không cần người dẫn đường.


Chừng nào tấn công? Hai Nhượng hỏi. – Khuya mai. Khi thấy nổi lửa ở đồn chánh coi như hiệu lệnh tấn công. Các mũi đã phân công rồi. Anh em nhớ chưa? –Trực nói giọng kiên quyết rắn rỏi.


   Đêm tháng tư…

            Những trận mưa đầu mùa làm cho lũ ếch nhái cất tiếng gọi bạn nghe càng buồn ở vùng quê. Tên lính Pháp đứng gác đi tới đi lui mãi cũng chán. Hắn dừng lại, tựa lưng vào tường ngủ gà ngủ gật. Trong đồn, do trời mưa mát nên bọn lính đã ngủ say như chết. Thỉnh thoảng có tiếng mõ canh của bọn lính ma ní mã tà ở các vọng gác nhỏ rải rác ở vòng ngoài thị trấn, vang lên rồi im bặt. Trời tối đen như mực, lất phất mưa. Những hạt mưa rơi ướt áo các nghĩa quân từ ngoài đồng cỏ tiến vào theo các chỉ huy dẫn đầu đã phân công, những bước chân đi nhẹ nhàng không một tiếng động. Đoàn nghĩa quân lặng lẽ như con rắn khổng lồ toả ra các điểm tấn công mặc cho trời mưa mỗi lúc một nặng hạt, lạnh run cầm cập…


            Tên lính Pháp vẫn đứng ngủ gà ngủ gật, bỗng nghe tiếng động nhỏ, hắn giật mình ngẩng lên nhìn xem cái gì. Hắn chưa định thần thì lưỡi gươm của Trực đã nhanh chóng lia ngang cổ khiến hắn đổ xuống không kịp kêu một tiếng. Trực khoát tay ra hiệu. Tất cả nghĩa quân, trong số này có đội trưởng Hòa, vung mã tấu hò reo tràn vào đồn theo chân người thủ lĩnh. Bọn lính Pháp ngủ say trong đồn giật mình choàng dậy, quơ lấy vũ khí. Tên đồn trưởng quơ vội khẩu súng lục trên giường chưa kịp bắn thì Trực đã xông tới đá văng khẩu súng, và lưỡi gươm của anh đã kết thúc đời nó.


            Trận giáp lá cà diễn ra trong đồn. Tiếng la hét kinh hoàng của bọn lính khi thấy đồng bọn gục ngã dưới những thanh mã tấu sáng loáng của anh em nghĩa quân… Một tên lính Pháp tông cửa định chạy ra phía sau, nhưng Sáu Bảnh đã nhanh hơn nó. Tên Pháp chỉ “hự” một tiếng rồi gục xuống. Lưỡi gươm của Sáu Bảnh đã cắm ngập vào cái lưng to bè của tên giặc toan trốn khỏi sự trừng trị của nghĩa quân.


            Ở một cánh nghĩa quân khác do Tư Hội dẫn đầu xông vào nhà tên cai tổng Hảo. Nghe tiếng la hét ở đồn chính, tên cai tổng giật mình choàng dậy, bỏ mặc cô vợ bé nằm cạnh, hắn phóng ra cửa nhà sau với chiếc quần đùi. Nhưng cũng không kịp nữa rồi. Một nghĩa quân đã chờ sẵn ở phía ngoài. Hắn vừa vọt ra đã bị ngay cú đá ngã lộn nhào. Hắn lồm cồm bò dậy lạy rối rít: – Xin các ông tha mạng! Xin các ông tha mạng! – Trói nó lại! Tiếng Tư Hội quát lớn. Lập tức, tên cai tổng bị trói giật cánh khuỷu, người hắn run bần bật như lên cơn sốt.


            Ở phía trại giam.


            Tên lính gác chỉ kịp bắn phát súng báo động khi thấy toán nghĩa quân hò reo tiến về trại giam, và biết mình có chống cự cũng vô ích nên anh ta vác súng chạy trốn biệt. Một số lính bên trong nghe tiếng súng chạy ra thì gặp ngay toán nghĩa quân xông đến. Một trận xáp lá cà diễn ra nhanh chóng, mấy tên ma ní bị chém chết tại chỗ. Số mã tà còn lại, sợ quá buông vũ khí giơ tay đầu hàng. Cánh cửa trại giam mở toang. Hàng chục người dân bị giam vui mừng chạy ra. Có người khóc vì sung sướng. Ông già Bảy Vẹn cũng có mặt trong số đó. Ông ôm chầm lấy một anh nghĩa quân, giọng nghẹn ngào xúc động: – Cám ơn các chú. Hết sức cám ơn các chú đã tới kịp thời không thì bà con ở đây sẽ bị chúng giết hết!


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 06.12.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 06.12.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 05.12.2018
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.12.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 28.11.2018
Số đỏ - Vũ Trọng Phụng 28.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 02.11.2018
xem thêm »