tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27665343
Tiểu thuyết
29.11.2012
Ngọc Giao
Cầu sương

III. Tiếng chim từ quy hót đâu đây khiến Hạnh bừng mở mắt. Nàng còn bỡ ngỡ, định thần nhìn quanh: đây không phải là quân y viện mà mình đang nằm tại nhà mình.


- Thật là một giấc chiêm bao!


- Thưa bà, con pha sữa bà cố xơi một chút.


Cái Oanh lùa ngón tay vuốt gọn những sợi tóc xòa xuống cặp má héo hon nữ chủ.


- Cảm ơn, tôi chán sữa lắm rồi.


- Ông dặn con đúng giờ này pha sữa bà xơi. Chốc nữa ông sẽ về tiêm thuốc.


- Cảm ơn, tôi không tiêm thuốc, cũng không uống sữa.


- Tính bà tha thiết cái gì thì tha thiết lắm mà chán chường thì cũng chán chường ngay.


- Chị Oanh!


Hạnh ngước mắt nhìn người tớ gái. Nàng rợn mình nhớ chồng nàng đã nói với mình câu ấy tối vừa rồi khi Hạnh đòi theo anh vào giúp việc ở quân y viện hay trại giam tội phạm. Nàng thầm thì trong tâm trạng hãi hùng: “Có lẽ nó là cái ma cái quái theo mình để báo oán gì đây. Thế là nghĩa làm sao? Thỉnh thoảng, nó lại nhắc đúng những lời Trâm nói với mình buổi chiều nọ ở tòa nhà Cửa Bắc. Đôi mắt nó, trời ơi, đôi mắt nó lúc nào cũng mơ hồ phảng phất một bóng hình quái dị tự kiếp nào… Chung quanh mình toàn những oan cừu khủng khiếp, mình biết sống với ai, nương tựa vào ai…


- Thưa bà, ông dặn con xin bà nên cố giữ tinh thần, chớ vẩn vơ suy nghĩ nhiều về những cái ma quái… e rằng bất lợi khi sinh nở.


- Trời!


Nàng càng sợ hãi, thốt kêu, vô tình nàng kéo mớ tóc buông bên cổ, ấn vào hàm răng, “Thật là cái ma cái quái, sao nó đọc được hết ý nghĩ mình?”.


- Thưa bà con trộm nghĩ lấy chồng cốt cầu có đứa con làm lãi. Còn thì thiên tứ đỉnh chung cũng chẳng là gì khi tuổi xuân đã xế, ái ân đã nhạt dần ở lòng kẻ đàn ông. Vậy mà bà đã tính toán lầm, suýt nữa oan nghiệt thắt mãi vào oan nghiệt, mà con thì không có em ẵm bế. Cảnh bà buồn con cũng buồn lây, chỉ còn mong có chú bé làm bầu bạn cho khuây khỏa. Xin bà nên bảo trọng, kẻo cái thai đang yếu…


- Chị nghĩ thế nào mà bảo tôi tính toán lầm?


- Ông Lâm nhất định cho rằng ngựa lao xuống dốc, bà buột tay cương, nên bị ngã. Ông con thì chỉ gật đầu cười nhạt, không ngỏ ý kiến gì. Con thì lạy bà tha thứ và hiểu cho tấm lòng chung thủy của người tớ gái - con nghĩ bà đã liều mình đọa thai, hoặc là tự vẫn!


- Tàn nhẫn thế, chị Oanh!


“Chém kẻ bạc tình! Chém kẻ bạc tình!” vừa lúc đó, chiếc chim mình đỏ đuôi dài bay đến đậu cành cây gần cửa sổ hót lên mấy tiếng, lại vút bay đi.


Hạnh đưa tay lên cổ bóp chặt và rít to một tiếng. Nước mắt trào ra, hai bàn tay buông xuôi xuống bụng. Diềm mi nàng khép lại, và qua màng lệ hình bóng Hải cùng bóng nàng trên dòng suối rừng già, và tiếng hót loài chim oan nghiệt đó lại vang vọng trong tâm trí nàng.


Hai bàn tay nàng vẫn đặt trên bụng. Người mẹ tội lỗi xót cái bào thai vô tội còn nằm trong đó, đang nở dần như một nụ hoa, đang hấp dưỡng sinh lực mẹ, để rồi đợi ra đời hứng chịu tất cả khinh bỉ, rẻ rúng mà cuộc đời vẫn quen trút vào đầu những đứa con hoang.


Cái Oanh bưng cốc sữa vào. Qua nước mắt, nàng vẫn thấy gương mặt người tớ gái bàng bạc, xa xôi, ma chướng như vừa hiển hiện ngoài khung kính đêm mưa.


- Thưa bà, thực là loài dị điểu, con ném đất ba lần đuổi, nó mới bay cho. Bây giờ, bà xơi sữa cho tỉnh táo. Ông con sắp về.


Hạnh xoay mình, tránh người tớ gái:


- Chị mở cửa sổ, tôi muốn nhìn ra bên ngoài một lát. Dễ thường đã lâu chưa thấy màu xanh cây cỏ.


- Thưa bà, mới có chín hôm nay, một ngày nơi xó núi thật là dằng dặc.


Giọng cái Oanh bàng bạc, xa xôi tưởng rằng nghe một cô gái khuê các, chẳng là giọng kẻ nô tì. Nàng càng ớn rợn thịt da ngỡ mình đang sống chung nhà với một con hồ ly mà mẩu đuôi còn giấu trong xiêm áo mỏng. Nàng quay mặt ra cửa sổ, nhìn đám mây xám đang tãi mỏng lướt bay như trải một tấm sa lên chòm núi thấp.


- Tôi tưởng khi bị nạn, ông Lâm mang tôi vào quân y viện rồi điều trị ở đấy, sao bây giờ lại nằm đây nhỉ?


- Thưa bà, ông Lâm mang bà vào bệnh viện, may sao ông đang làm việc, kịp tiêm giữ cái thai khỏi băng ra. Rồi không muốn để bà nằm trong ấy, ông bảo người cáng bà về.


Người tớ gái đặt cốc sữa vào tay nữ chủ, nàng cố uống ba phần cốc. Oanh bưng cốc quay ra, nhẹ lướt như gió thoảng.


Nàng nhìn mây bay, mỏi mắt, chợp thiếp đi một lát thì mơ hồ nghe tiếng “rô ta!” văng vẳng từ rừng xa đưa lại. Nàng mở mắt. Tiếng “rô ta” mỗi lúc thêm gần. Hạnh vụt nhớ tên một người tù mà ông Lâm bảo rằng biết Hạnh. Tiếng cây đổ, tiếng hò reo vọng đến tận cửa sổ. Nàng ngồi dậy, hất mái tóc ra sau lưng, xốc lại chiếc áo len, khoác chiếc măng tô nỉ tím rồi nàng vịn thành giường, loạng choạng đứng tì vào cửa sổ. Trời đổ mưa, thấm thêm lạnh vào trời đất. Đoàn người tù tội vẫn lật bật ngả kéo cây gỗ ngàn. Lòng Hạnh đau nhói một tình thương những kiếp người khổ não.


Trên đường núi xa, ai như ông già Lâm đang nhấp nhô trên lưng ngựa. Đến chỗ đoàn tội nhân làm việc, ông Lâm gò dây cương, tiếng ông the thé:


- Anh em, có quà đây! Ngừng tay nghỉ đã!


Dứt lời, ông ta phân phát cho mỗi bàn tay giơ lên và xúm xít quanh con ngựa già một gói thuốc lào, một túm ngô nếp luộc còn nóng khói. Tiếng cười nói vang lên:


- Anh cả cho anh em đánh chén thịt cầy một bữa. Đã lâu không có rượu, những cây thịt sống sót này sắp quy hàng nước độc đến nơi rồi. Anh Cả cho uống rượu! Anh Cả cho uống rượu!


Họ thét lên như một cuộc biểu tình quanh con ngựa bám đỏ bụi đường xa. Ông Lâm hứa hẹn, thúc ngựa xuống dốc rồi lại leo dốc vượt lên sườn đồi đất là dinh Tri Châu trước kia và ngày nay là dịch sá của vợ chồng bác sĩ Cung.


Ông sắp xuống ngựa đã thấy Hạnh trong cửa sổ vui mừng giơ tay khẽ vẫy. Ông rảo chân vào nhà, nheo con mắt đen lóng lánh bảo nàng:


- Bà đã bình an, chúng ta nên cảm ơn Thượng Đế. Tôi không ngờ gây nên một việc đáng buồn, tôi ân hận lắm, nhất là đối với đứa trẻ sắp ra đời.


Hạnh bối rối, không biết trả lời ra sao. Trong khi ông ta châm thuốc lá, nàng lảng tránh câu chuyện đó:


- Thế nào? Tối nọ, cách đây đã khá lâu, ông xuống trại giam tìm người chính trị phạm, ông ấy đã khỏi chưa?


Ông Lâm khoa tay làm tan vòng khói thuốc thở rộn một hơi dài:


- A! Cái anh chàng Tuấn? Xong rồi, bà Hạnh ạ.


Ông buông lửng, mắt lim dim đùa với vòng khói trắng cuộn lên rồi tan biến vào cơn gió vừa lùa qua cửa sổ đem theo cái lạnh heo hút của rừng.


- Ông nói sao? Người ấy… Chết rồi! Vô lý quá. Sao cái kiếp người lại có thể tắt dễ như thế được.


Đoạn, ông ta lại cười rộ lên một tiếng:


- Mà chẳng phải là vô lý. Vòng khói thuốc biến tan đi, có phải là mất hẳn đâu nó vẫn tồn tại ở không gian. Cũng thế, xương thịt con người có phải mất hẳn đâu, nó vẫn còn ký gửi trong lòng đất tức là trong cõi tuần hoàn. Cho nên, hôm ấy nghĩ đến con cháu Trâm và trước sự liều lĩnh thảm khốc của bà nước mắt tôi tự nhiên rơi xuống, nhưng nhìn cái chết của người kia tôi không những thản nhiên mà còn vui là khác nữa. Bà trông đấy, những người đồng phạm với Tuấn vẫn làm cái công việc thường xuyên của họ. Họ vẫn hò reo, họ vẫn vui vẻ đón ở tay tôi một gói thuốc lào, vẫn hồn nhiên chiến đấu cùng cái chết, như cả một đời chiến đấu với những bất công, độc ác, vì lý tưởng, vì một Ông trời mà họ hình dung trong lòng họ, trên mặt đất.


Ông ta ngừng bặt, con mắt hấp hay nhìn Hạnh như người anh cả thương sót đứa em thơ:


- Ồ, tôi nói dài dòng quá, khiến bà sẽ có cảm tưởng ngồi bên một giáo sĩ già. Tôi lại làm cho bà khóc rồi kìa!


Nàng lau nước mắt:


- Thật là tội nghiệp, tôi tiếc chưa biết mặt người văn nhân anh hùng đó. Từ ngày lên đây, tôi vẫn có ý muốn được gần gụi họ để an ủi, săn sóc họ, nhưng mỗi lần ngỏ ý đó ra thì nhà tôi lại gạt đi, bảo rằng đàn bà không nên bước vào cái chỗ đầy tội lỗi và bệnh tật ghê gớm ấy. Có biết đâu rằng chính ngay ở cái nhà đổ nát này đây cũng đã ghê gớm quá những nhà giam mà tôi là một tội nhân chẳng có kỳ hạn nào thoát xích.


Ông bạn già cúi đầu im lặng, bóp cái tẩu nóng trong bàn tay khẽ run vì cảm xúc. Một lát, nàng ngoảnh nhìn ông Lâm:


- Ông có kịp chứng kiến giây phút hấp hối của anh Tuấn không?


- Tôi đến thì anh ấy còn tỉnh táo nắm tay tôi, và cũng kịp để tôi đổ hết ly rượu nhỏ vào cuống họng. Rồi đó, anh ta cố mỉm cười nói với các bạn xúm quanh ổ cỏ: “Tôi chết đi, không thù ai cả, chỉ oán cái sức tôi tồi tệ quá, chưa làm được công chuyện. Các anh còn có mặt ở trần gian, chớ coi thể xác làm quá trọng. Cái đáng trọng là tinh thần chúng ta, nó còn thẳng tiến, nó còn chiến đấu. Các anh còn có mặt trên mặt đất! Đừng ai rỏ nước mắt xuống xác tôi. Tôi muốn nghe những lời hùng ca muôn thuở. Tôi rất bất mãn nếu biết rằng các anh cho là tôi đã chết. Đời tôi chưa chấm hết. Trời sinh tôi để cho sống trọn một trăm năm. Nếu xác tôi tạm xa các anh, ấy là linh hồn tôi thêm sức sống trong mạch máu nóng các anh còn ở lại” - Ông Lâm nói một mạch, giọng đều đều. Rồi nghiêng nghiêng cái trán hói về phía Hạnh, ông ta thấp giọng:


- Sau cùng, Tuấn kéo đầu tôi xuống, ghé tai tôi: “Anh Cả làm ơn cho tôi gửi lời chào em Hạnh, bảo rằng Tuấn ngày xưa, trong thời kỳ là một học sinh bồng bột, tinh nghịch nhất trường Bảo Hộ, đã chót gởi ba lá thư cho Hạnh, và Hạnh đã trả lời, kèm theo một chiếc kim thoa hình con bướm. Đã bao lần tù tội, tôi vẫn còn giấu kỷ vật ngày xưa đó trong mình. Nay trời run rủi, tôi nhắm mắt vừa lúc thoáng trông thấy người xưa. Vậy anh Cả hãy trao lại giùm tôi chiếc kim thoa này cho cô ấy”. Anh ta thu hết sức tàn moi áo lót đưa tôi di vật này đây, rồi nhắm mắt, miệng cười như những khi vui chuyện về chính trị, văn chương cùng bạn hữu.


Hạnh đón chiếc kim thoa, khẽ nấc lên.


Ngoài mưa, tiếng búa ngả cây rừng đều đều không nghỉ. Hạnh vẫn khóc trên cánh tay gày. Bỗng con “Lệ điểu” mình xanh, mỏ biếc, chân vàng, từ đâu bay lại cong đuôi hót: “Yêu nhau đến chết! Yêu nhau đến chết!”.


Ông bạn già đứng dậy, nhẹ gót đi ra, buồn rầu lên yên ngựa.


Người tớ gái vội chạy ra phía sau cửa sổ, nhặt đất ném đuổi con chim xanh. Con chim đã bay vút về ngàn mà cái Oanh còn lẩm nhẩm rủa mấy lời độc.


 


IV. Đã mấy hôm nay gió bấc dịu dần đem nắng ấm về rừng núi. Ông Lâm cỡi ngựa, đến đồi dịch xá từ sáng sớm, đang đùa nghịch với đôi bạn nhỏ chó, mèo. Để chó đứng trên vai, mèo ngồi sau cổ, ông già hồn nhiên không tuổi tác, vô tư lự ấy miệng ngậm chiếc tẩu khét mùi thuốc lào xứ Mường, vừa co chân nhảy nhót trên thềm nắng vừa the thé nói tiếng kim.


- Đôi cậu ấm cô chiêu này thế mà lớn mau như nấm. Anh chó vàng, xin đặt tên nó là Tôm, là giống lai Kinh Thổ, có mẽ khỏe lắm đây. Mai kia chúng ta luyện cho nó thành chó săn rừng, tha hồ bắn chim muông đánh chén. Còn cô ả mèo đen này thì coi bộ dịu dàng uyển chuyển như hoàng hậu, xin đặt tên là Mic, tôi tin rằng nó chẳng rời bà nửa bước, nó sẽ là người bạn trung thành.


Rồi ông chuyển sang tiếng Thổ:


- Tính ra thì ông Đốc đi vắng đã năm ngày đêm rồi đấy nhỉ. Chóng ghê!


Ông ta bỗng chăm chú ngắm Hạnh đang mải miết cầm chiếc cuốc nhỏ vun lại luống đất xốp phơi màu đỏ dưới nắng. Gió phơ phất thổi làm bay mấy sợi tóc vờn cặp má ửng. Bóng nàng in chếch xuống luống đất đồi vừa được ngả thành nương. Mấy con chim sẻ lách tách nhảy bay chung quanh nàng, rúc mỏ vào đất xốp tìm sâu bọ.


Hạnh ngừng tay cuốc, ngẩng lên:


- Ông Lâm thử đoán xem lúc này nhà tôi đã đến đâu rồi? Con đường ấy ông quen lắm.


Ông đặt chó mèo xuống đất, cởi chiếc áo va rơi nỉ treo lên mấu cột tre rồi bước xuống thềm:


- Đã đi qua ải sáng hôm nay, và hiện giờ chắc chắn là đang thui thủi một mình trên đất khách.


Nàng lại khẽ đưa nhanh mũi cuốc:


- Nhà tôi cứ tự đọa đày thể xác linh hồn như thế mãi, tôi lo sợ lắm. Có ai bắt đi mà cứ thích đi, để rồi mỗi lần về mặt mũi lại xanh xao hốc hác già mau mười tuổi nữa, và tâm tính thì lại biến đổi hơn nhiều, nghĩa là lại thêm lầm lì, bí mật.


Nàng chậm tay cuốc và thấp giọng:


- Nhà tôi hợp tính ông, sao ông chẳng lựa lời khuyên nhủ nhà tôi. Ở đây, chúng tôi chỉ có ông làm bầu bạn.


Nước mắt nàng ứa ra, rỏ xuống luống đất tươi màu mỡ. Ông Lâm gõ tẩu vào đế giầy cho tàn rơi hết, rồi bỏ nó vào túi áo len, hấp him con mắt nhìn về phía cái Oanh cũng đang đập đất ở mấy luống xa, mặt người tớ gái phảng phất một vẻ buồn rầu, u uất.


- Thôi, bà tạm nghỉ tay. Đất đập nhỏ và luống đánh thẳng băng thế này là giỏi lắm rồi. Mai kia ông Đốc về, sẽ kinh ngạc mà dừng gót lãng du, ngắm cái nương rau, dưa, ngô, đỗ xanh um, và cái vườn hoa tươi tốt. Ông nhà ta thích đi xa, nếu tôi đoán không nhầm thì chính bởi ông buồn phiền chán nản một điều gì. Ông chỉ có thể lấy lại sự bình tĩnh tâm hồn những khi một thân lẽo đẽo trong mưa nắng. Những lúc đó, tôi tin rằng ông nhớ thương bà lắm, nhớ cả tình lẫn tội, thương cả trước lẫn sau. Hình như ông cố ý tránh xa bà để cố gìn giữ lòng yêu đương đang thương tổn. Ấy là tôi đoán vậy, bà tha thứ cho nếu tôi quá lạm dụng tình bạn mà nói năng sàm sỡ.


Hạnh đưa cốc cho ông Lâm, vuốt gọn làn tóc, ngực khẽ rộn thở.


- Tôi cũng nghĩ như ông, và do thế tôi càng sót xa nhiều lắm mỗi lần thấy nhà tôi đang nửa đêm vùng trở dậy khoác vội áo mũ, mặc gió mưa rét mướt, vội đi vào bệnh viện hay xuống trại giam tù. Tôi biết nhà tôi không muốn gần gũi tôi, không muốn nghe tôi khóc, nhưng chính là xa xôi, nhà tôi đã âm thầm đau khổ một mình.


Nàng cúi nhặt chiếc cào, cào cỏ úa, thu gọn vào một đống, trong khi ông Lâm đứng soạc chân, dang hai cánh tay gày còm nhưng cứng rắn để hạ những nhát cuốc chắc mạnh xuống đất cằn, khai luống khác. Ông cười nhạt:


- Bà Hạnh ạ, tôi cho rằng nếu không có duyên cớ gì u ẩn thì chẳng khi nào ông đem bà lên miền Bắc Mục gớm ghiếc này, vì đây đâu có phải là đất lành nước dịu cho người xinh đẹp như bà dưỡng sức. Có lẽ bà cố tình theo ông lên đây vì một cuộc thách thức gì nhau chắc.


Đưa mắt nhìn vẻ mặt hóm hỉnh nhưng chứa đọng một nét trang nghiêm thương sót của ông bạn già chí thiết, Hạnh cúi đầu xuống nửa như thú nhận:


- Tôi tưởng theo chồng vốn dĩ là bổn phận người đàn bà. Nhưng ông đoán vậy cũng chẳng sai quá lắm đâu.


Những mũi cuốc vẫn từ từ xé đất, lòng Hạnh nhói đau theo lời nói của bạn già…


- Ít ngày nay, tôi nhận ra giữa ông bà đang có cơn giông tố, mà cơn giông ấy nổi lên đã từ lâu. Trước kia bà đã không yêu ông, chắc chắn bà đã sợ ông như một cái gì là định mệnh.


Nàng lấy mũi cào gỡ sợi cỏ dài quấn vào chân, chặc lưỡi:


- Ông cứ nói…


Ông bạn già để mũi cuốc cắm sâu lòng đất, ngừng tay rút mùi soa, lau vầng trán hói sọ dừa:


- Ông bà lên đây bốn tháng nay, tôi đã có vinh dự làm quen ngay tự hôm đầu, và ngày ngày được đến đây bầu bạn, giúp đỡ ông bà. Tôi cứ ước mong được thấy ông bà một lúc đối diện nhau. Nhưng tôi rất buồn vì thấy ông cố ý tránh khuôn mặt héo hắt của bà và giọng nói ông hình như không ở một tấm lòng rung động mà ra…


Ông ta nhấc mũi cuốc lên, hạ liên tiếp những nhát mạnh xuống đất. Hạnh thờ thẫn nói:


- Vâng, tôi muốn nghe ông nói về chúng tôi một chút. Trong khi mình sợ lòng mình, mà có một người bạn nói hết ra, âu đó cũng là một điều thú vị, dẫu hơi đau đớn.


Nhát cuốc theo cánh tay gày chuyển mạnh bập trúng hòn đá chìm dưới cỏ.


Giọng ông già sắc lạnh:


- Tôi thấy ông bà đem nhau lên đây để cùng nhau tự vẫn!


Nàng bàng hoàng, tựa hồ nghe tiếng chim lợn giữa đêm trường. Nàng suýt buông rơi chiếc cào xuống bàn chân:


- Ông Lâm! Ông nói thế nào?


- Ông bà đã thi nhau tự tử bằng cách không tiêm thuốc phòng bệnh sốt rừng mà giường ông bà trong kia, tôi chả bao giờ thấy chăng màn, vẩy thuốc trừ muỗi độc. Ăn uống thì quả xanh, nước suối, gió giao mùa thì phong phanh áo mỏng. Tôi thấy mà chết khiếp, mặc dầu tôi vốn là một kẻ bất cần đời, nhưng rất sợ ông thần chết. Nếu cần phải chết thì nên chết theo lối khác. Liều sinh mệnh với mấy con trùng bệnh, - xin bà bỏ lỗi - thế là hèn yếu lắm.


Ông ta nghỉ tay chống cuốc, ngửa mặt lên trời:


- Ai lại thách thức rỡn đùa với cái chết một cách liều lĩnh quá, mà tại sao lại như thế nhỉ? Câu ấy ám ảnh tôi không dứt. Thật là một chuyện đau lòng, nếu không nói là một chuyện khôi hài.


Ông bạn già đưa mắt nhìn về phía người tớ gái đang xách nước tưới những luống ngô, cải bắp, và đậu đỗ đang nhú ngọn, và những cây cảnh do ông đã đem chẳng biết từ đâu đến trồng mấy ngày nay. Ông lẩm bẩm:


- Cũng lạ! Tại sao cái Oanh kia không thưa với bà về cái hại ghê gớm đó. Nó là người hầu tâm phúc của bà thì phải. Có lẽ nào nó cũng muốn tự sát như ông bà để thành một bộ ba bất đắc kỳ tử, làm cho cái vùng trời đất đã thê lương này càng thêm bi thảm nữa.


Và tiếng thầm thì của ông lẫn vào tiếng cuốc:


- Không có lẽ! Tôi chắc rằng nó đã nói với riêng bà về vấn đề tự tử này. Chỉ tại bà không coi là quan trọng đó thôi.


- Cảm ơn ông đã săn sóc chúng tôi nhiều. Cái Oanh đã một lần nói như ông về câu chuyện ấy. Thực ra, có quái gì là quan trọng.


- Nếu bà cho phép tôi được làm bạn thân của ông bà thì tôi xin khuyên bà không nên coi nhẹ đời mình như vậy. Bà nên cố gần ông, săn sóc ông một chút. Tôi nghĩ rằng trên đời ít có một người đẹp như bà, cũng rất hiếm một ông thày thuốc tận tâm như ông Đốc nhà ta.


Ông bạn già ngừng tay nghỉ, lau mồ hôi lấm chấm trên vầng trán hói, cười nheo mắt, lấy tẩu thuốc lá ra đánh diêm châm:


- Công việc phá đồi, ngả nương sáng nay thế là tạm đủ. Bà Hạnh không mệt vì việc làm nương mà đã mệt nhiều về câu chuyện vơ vẩn của tôi.


Dứt lời, ông Lâm vác cuốc và cào lên vai, cùng nàng vào sân. Đôi chó mèo đang vờn rỡn nắng và đùa quanh những gốc hoa mới được rào kín bằng cành gai sắc.


Ông Lâm cùng nàng ra thăm lại chuồng lợn, chuồng gà vịt, cũng do ông Lâm đã tận lực hạ cây, cưa ván, đóng cọc, lợp cỏ gianh để biến đổi xá dịch quạnh hiu này thành một trại có nương khoai đỗ, có vườn hoa, có chuồng nuôi gia súc. Hạnh vỗ vai ông bạn già chí thiết, giọng vui mừng:


- Đôi lợn giống kia chả mấy ngày lớn lên như thổi. Được cái Oanh chăm chỉ, cho ăn đúng giờ đúng giấc. Mai kia, chúng đẻ ra đàn lợn con thì đẹp quá.


Ông bạn già cười vang cả trại:


- Rồi thì lợn đầy chuồng, gà vịt sinh nở đầy sân, ngày ấy một công tử ra đời, chạy nghịch trên sân lúc đó đã ngào ngạt hương hoa thơm quí. Tôi chắc rằng ông bà chủ trại sẽ chiều chiều dắt tay con dạo chơi giữa bày gia súc, cỏ hoa, mà tôi thì bất cứ lúc nào cỡi ngựa nhong nhong đến cũng có rượu và món ăn ngon đánh chén cho bí tỉ. Mặc kệ loạn lạc ở chung quanh. Chúng ta sống ở đây như sống riêng nơi hoang đảo, bom đạn không thể nào nhòm ngó đến cái sơn động hẻo lánh của chúng mình.


Mắt ông ta hấp him nhìn qua những vòng khói thuốc đàn gà lợn nhốt trong chuồng, trên bộ mặt xạm giang hồ hiện bao nhiêu hình bóng êm ả của ngày mai tươi sáng. Lòng nàng cũng nao nao nghĩ đến viễn cảnh của cuộc đời mình mà nàng thấy rằng thực là giản dị, chỉ cần ở nhau một chút độ lượng để quên chuyện cũ, một chút lòng cao cả sót thương nhau để an phận vui cùng hiện tại. Và giữa lúc này, nàng càng nhận rõ rệt rằng sự sống chết của mình hoàn toàn gởi cả vào bàn tay sắt đá của chồng. Hạnh đã cam đành khuất chịu. Nàng chỉ còn là một kẻ cầu xin. Nàng chỉ còn là một thân cây héo hắt mong chờ cơn mưa gió giải nồng. Vậy mà càng ngày, người chồng càng xa lánh nàng, chưa một dấu hiệu nào tỏ ra anh đã dằn lòng tha thứ. Sự hờ hững kia càng tăng gấp bội, sau khi nàng cố tình ngã ngựa để diệt hủy bào thai. Thái độ chán chường đã hầu đổi ra ghét bỏ. Trong những ngày nàng nằm dưỡng bệnh, anh chỉ về đúng giờ tiêm, xem mạch, nghe thai, dặn cái Oanh cho ăn uống, rồi lại lạnh lẽo vào bệnh viện hay xuống trại giam ngủ với tù và thức với bệnh nhân rên xiết vì chân cưa, ruột vá. Cung quen máu chảy, thịt loét của người bệnh hơn là phải nhìn nước mắt sa trên gò má xinh tươi của vợ.


“Thực là tủi nhục!”. Thốt nhiên, Hạnh nói ra cái câu nàng vẫn thường kêu thảm thiết mỗi khi nghĩ đến tình cảnh giận hờn oan trái giữa vợ chồng mình.


Ông Lâm quay lại, giọng hiền từ, khiến nàng có cảm tưởng sống lại những ngày xưa, mình đi học về ngả mái tóc tơ vào đôi cánh tay che chở của cha già:


- Hãy nguôi sầu quên tủi đi. Thời gian là thần dược. Tôi sẽ gắng sức đứng trung gian hòa giải để ông nhà trở lại với bà. Mùa xuân sắp đến rồi kia, bà bạn ạ!


Ông bạn già nâng cánh tay Hạnh bước qua sân. Nàng lao đao bước. Bóng nàng ngả dài bên cái bóng loắt choắt thấp lùn của ông bạn vong niên trên sân nắng, khiến cặp chó mèo tinh nghịch đuổi theo vờn mãi bóng, sủa gào ầm ỹ giữa trưa rừng.


Người tớ gái đã dọn bàn ăn.


Ông Lâm rót rượu mời nàng nhắp một chút, rồi ông uống liền ba cốc lớn, xoa tay hoan hỉ:


- Làm đã ấm người lên, uống rượu vào càng thêm mạnh xương nóng máu. Những lúc thế này, mình thấy ham sống, yêu đời, thương tất cả. Cho nên tôi coi sự uống rượu cần như đọc kinh.


Bỗng ông ta thõng tay dằn cốc xuống, rượu sóng cả ra bàn. Cặp mắt hấp him nhìn qua cửa sổ: ngoài kia một bọn tám người đang khiêng một bọc chiếu quấn tử thi, lừ lừ đi khuất sau các lùm cây.


Ông Lâm đứng dậy cúi đầu, không làm dấu Chúa mà chỉ rên một câu buồn thảm:


- Thế là xong! Trong trại giam lại một vong hồn giải thoát.


Hạnh không còn sức đứng lên cầu niệm cho một oan hồn. Nàng nao nao trạnh nghĩ phận mình, phận chồng, biết đâu rồi chẳng có một ngày tự thanh toán cuộc thử thách gay go này bằng cách cuộn tròn xác lạnh vào manh chiếu rách, theo sau có ông Lâm, và một đàn gà, lợn, chó, mèo.


Ý nghĩ bi đát, mai mỉa ấy khiến Hạnh ứa nước mắt và bật cười to. Ông bạn già ngồi xuống cạn cốc rượu, khà một tiếng, xoa trán, vẻ mặt lại bình thản một cách rất khôi hài:


- Bình tĩnh trước cái chết đã khá rồi, lại cười được trước một tử thi, thế là khá lắm. Kẻ bất hạnh kia là em ruột Tuấn. Hai giọt máu cùng được chôn vì nghĩa cả. Sinh thời, anh em Tuấn vẫn thường không ưa những ai điếu lâm ly. Duy có điều cho ta thương tiếc là sao những con người như anh em Tuấn lại chết mau đến thế. Và còn có điều cho ta giận sao những con quỷ ác như cái hạng Hoàng Văn Hải thì cứ sống nhăn nhở mãi.


Hạnh giật mình buông rơi đũa:


- Ông biết Hoàng Văn Hải?


Ông cúi đầu phì nhổ cái cặn lắng trong cốc rượu, và cười:


- Trước kia ở Hà Nội còn có ai lạ hắn, và bây giờ loạn lạc, con trùng ấy lại theo cơn gió độc thổi lên đây để cho người ta tởm khiếp. Thịnh thời, hắn lên xe xuống ngựa, tậu hết nhà ở tỉnh lớn lại lập đồn điền mua trại ở tỉnh xép, vùng quê. Tiền của ấy đều do những mưu kế lọc lừa mang lại cho hắn. Thế rồi mấy tháng nay ở miền này hắn lại chui được đầu vào cơ quan Hợp tác xã để xoay thò lò ám mặt, nghe đâu nhờ vàng bạc cuỗm được của một gái nào.


Lời nói tàn bạo như một bản cáo trạng vô tình. Nàng vờ cúi nhặt chiếc đũa rơi để giấu sắc mặt tái xanh và một tiếng kêu nén trong cuống họng. Một lát, nàng ngẩng nhìn ông Lâm, cố giữ nét mặt tự nhiên:


- Ông hiểu rõ ông ta đến thế kia?


Ông bạn già cạn cốc, khà một tiếng:


- Tôi đã chạm trán hắn nhiều lần ở thủ đô. Thật là quân tốt mẽ rẻ cùi. Hắn có thuật chài bả mọi người, đàn ông lẫn đàn bà, nếu hắn đã có đủ năm phút để chuyện trò, phỉnh hót. Bao giờ hắn cũng tỏ ra hào hiệp làm ơn cho người khác nhưng cần nhất cái ơn ấy không làm cho hắn tốn kém gì. Hắn niềm nở hứa hẹn ba hoa để người ta tin rằng hắn sẽ tận tâm giúp đỡ, nhưng rồi thì hắn lại thản nhiên làm như chưa từng bắt tay người ấy.


Hạnh gượng cười:


- Đó cũng là cái duyên của ông ta.


Làn môi bìu bịu của ông Lâm càng ngụ ý khôi hài đặc biệt:


- Cái duyên xảo trá ấy khiến người ta lợm giọng. Tôi biết Hải từ bao nhiêu năm nay rồi, ở Tàu, ở Pháp. Nhiều khi bắt chợt được bộ mặt thực của hắn, thật tức cười.


- Người ta thường ca tụng ông ấy có biệt tài. Học thức, giỏi trai, giao thiệp giỏi.


- Tôi đã bảo rằng cái mã bề ngoài của hắn, ít ai ăn đứt và ai cũng bị lừa. Nhưng chính hắn là con người ngu độn. Cứ tỏ ra giỏi giang lắm đấy, nhưng vào việc thì không hơn thằng mọi. Hắn chỉ có tài che đậy cái kém cỏi của mình bằng bộ mặt ta đây, bộ mặt ấy lại bài trí bằng cặp kính trắng gọng vàng nữa, càng thêm vẻ thông minh lắm.


- Ông Lâm hình như ghét ông ta?


Một tiếng cười rộ cất lên:


- Nào có ghét. Tôi ghê tởm.


Nàng cũng gượng cười theo:


- Ông Lâm quả là khắc nghiệt. Này, hình như vợ chồng ông ta tương đắc lắm phải không?


- Hắn quý vợ đến mậc tôn thờ. Ấy là hắn đóng trò làm ra thế để dễ đường tẩu thoát mỗi khi có gái nào phải bả mà ép hắn nhạt tình với vợ. Ồ, hắn có một nghìn lẻ nhân tình, nhưng chỉ là câu chuyện bướm hoa. Bướm đậu rồi bướm lại bay ấy mà.


- Ông Lâm, ông sâu sắc tinh quái lắm!


- Hắn cũng quá láu lỉnh, chẳng dại gì mà kéo dài những cuộc tình duyên, thêm phiền lụy. Hắn làm mặt si mê, thực thì hắn không hề muốn gặp quá ba lần những gái đã nông nổi ngã vào tay hắn.


Mắt nàng não nùng nhắm lại, hình dáng Hải hiện ra, quay cuồng nhào lộn như chiếc chong chóng quay trước gió. Nàng rợn mình choáng váng, đưa hai bàn tay lên chống má và khẽ vuốt cặp thái dương nóng buốt.


Ông bạn già không ngừng rót rượu. Giọng ông vẫn điềm đạm như thường khi kể chuyện vui:


- Tôi đã có dịp nghe vợ hắn đùa bỡn với chồng về những cô ả hắn ve vãn được.


Nàng sửng sốt nhìn vào cái ánh mắt diễu cợt của ông Lâm:


- Bà ta không coi những chuyện ấy là quan trọng?


Que diêm bật sáng dí vào lòng tẩu càng làm nổi bật ánh mắt khôi hài ngộ nghĩnh kia:


- Không ạ. Bà ta hiểu cái tính nguyệt hoa đĩ thõa của chồng quá lắm, cho nên vẫn bình thản trước những trò ma chuột ấy, bởi biết rằng vào chung kết, phần thiệt hại bao giờ cũng dành cho đóa hoa tàn.


Hạnh không thể nén được tiếng kêu thảm thiết:


- Đến thế kia ư!


- Bà ta lại bảo rằng, nếu cái cô ả dại dột đáng thương kia đã chết mệt vì chồng bà ta mà không phải là cái hạng xoàng xĩnh quá thì bà ta sẵn lòng làm quen với họ. Bà ta chỉ cần ghen khi gặp phải ả nào khả dĩ là địch thủ, nghĩa là ả đó xinh đẹp, tài tình lắm có đủ sức làm chồng bà ta say đắm một thời gian.


Nàng lắc đầu chán ngán:


- Tôi ngờ rằng ông vừa kể tôi nghe về một nhân vật quái gở nào trên màn ảnh!


Lặng đi một lát, nàng lại nhân đà câu chuyện, hỏi thêm về cận lai anh chàng Sở Mã:


- Hiện nay, ông ta có còn làm việc với cơ quan Hợp tác xã nữa không?


Ông bạn già đang yên lặng nhìn mấy con kiến châu đầu vào vết mỡ dính khăn bàn, nghe nàng hỏi, ngẩng lên:


- Hắn ấy à? Hắn đã chơi cho cái cơ quan thương mại ấy một vố đau. Sói già lại chạm nanh vuốt cọp. Rút cục, cọp già ngoạm được miếng mồi ngon và hiện đã bỏ rừng quật đuôi nhảy vót một cái về tận Kinh đô ánh sáng. Hắn đang nhởn nhơ giữa thủ đô. Theo cuộc điều tra, hắn đã gặp vợ con đầy đủ cả, và đang tậu một lô nhà đất, ngự ô tô. Thời bình như thời loạn - nhất là thời loạn - con người giỏi giang, khôn khéo, lừa bịp ấy vẫn cứ được nghênh ngang hưởng thụ như thường.


Ông bạn già lại gõ tẩu thuốc vào bình rượu cạn gần đến đáy, cười rộ lên mấy tiếng, bàn tay nắm lại đấm nhẹ xuống mặt bàn, vô tình làm chết dí bày kiến đỏ đang rúc đầu vào vệt mỡ.


Từ nãy, nàng vẫn đưa tay lên ôm má và vuốt thái dương nhức buốt, lòng tê dại vì nghe chuyện bạc tình. Cái gã đàn ông kia đã bao lần làm nát lũa lòng hoa thắm, lại còn thu vét cả bạc nén vàng thoi. Cung đã biết, nhưng kẻ trượng phu coi rẻ chuyện tiền nong mà chỉ đau buồn nghĩa tao khang đã mất. Tuyệt nhiên anh không gạn hỏi, vì thế Hạnh càng kính sợ lòng chồng.


Ông Lâm gảy xác kiến xuống chân bàn, đẩy ghế đứng lên:


- Ồ, có lẽ bữa nay tôi nói dông dài quá. Đó chỉ là vui câu chuyện, chẳng biết có điều gì khiến bà phải phiền lòng, dù sao bà cũng đừng chấp trách người bạn già chân thành nhá!


Hạnh cười gượng:


- Ông dạy quá lời. Ở đây, quanh tôi, người và vật đều câm lặng và bí mật đến ghê hồn. Nếu không được nghe ông thỉnh thoảng nói cười dăm ba tiếng thì tôi tưởng mình đã chết tự thuở nào rồi.


Ông khoác áo bước ra thềm. Nàng cũng ra thềm đứng, trong khi người tớ gái dẹp bàn ăn.


Ông bạn già hoan hỉ:


- Sắp hết cữ lạnh rồi, vài ngày nữa sang xuân. Những cây non kia được vài cơn mưa nhẹ sẽ tha hồ chắc rễ và tươi lộc, lớn mau như thổi ấy. Có nhiều cây quý lắm, bà sẽ ngạc nhiên và ngỡ đang đứng trước một khu vườn ở đồng bằng, chứ không phải ở miền thượng du nước độc. Tôi tin chắc chắn ông Đốc nhà sẽ chẳng thích cái vườn hoa này và những luống ngô khoai kia lắm.


- Nhà tôi thì thật là khó hiểu. Có nhiều khi ông ấy ưa thích mà chẳng nói ra đâu.


Ông Lâm bước xuống thềm để cho đôi chó mèo quấn quýt, cào cấu đôi giầy tây bám bụi.


- Nhưng tôi vẫn tin rằng ông nhà sẽ thích ít nhất một hai loài cây ở vườn này. Không lẽ ông lại khó tính quá sức tôi tưởng tượng.


Giữa lúc đó, tiếng thủy tinh reo vỡ trên nền gạch mốc. Cái Oanh buông thõng đôi tay, không nhìn mảnh vườn mà cặp môi cắn chặt, đôi mắt ngời ánh lạnh hồn ma loáng nhìn ông già vô tội ngoài sân nắng.


Không lưu ý đôi mắt lạnh và tiếng thủy tinh reo ở bàn tay người tớ gái trong nhà, ông Lâm hồn nhiên sưởi nắng:


- Gà vịt mai sẽ quen chuồng, bà cứ thả tự nhiên. Vịt xuống lạch khe kia mò tôm tép. Gà no sâu bọ quanh đồi. Có điều cần cấp tốc là khai cái giếng lấy nước ăn và tưới tắm vườn nương, khỏi phải bắt cái Oanh đi gánh nước suối rừng xa nhà hàng nửa cây số. Việc đào giếng, tôi lại xin đem chút lực tàn đảm nhận. Nếu đuối sức, tôi sẽ nhờ anh em trại giam đến giúp, chỉ năm hôm có nước giếng ăn, đó cũng lại là một cái ngạc nhiên thần diệu dành cho ông chủ trại. Tôi về qua nhà một lát. Chiều sớm xin trở lại cầy nốt nửa sào nương đang ngả dở dưới đồi kia.


Ông bạn già huýt ba tiếng sáo. Con ngựa gày ăn cỏ đâu đó đủng đỉnh hiện ra. Ông trèo lên yên làm bằng tấm chăn chiên rách, khẽ thúc gót vào bụng ngựa. Ngựa già lại đủng đỉnh xuống chân đồi và ngoi lên đường núi thoai thoải. Con chó con theo đuôi ngựa, lũn cũn soải chân gắng đuổi. Ông Lâm thúc ngựa ruổi mau cho chó con cố dượt theo.


Ngựa và chó khua lầm bụi đỏ. Lão giang hồ khoái trá cười vang trong nắng ấm.


 


V. Đàn én đã bay về rừng Việt Bắc, một sớm đưa thoi trong nắng xuân,trên những nương ngô đỗ và vườn cây của khu trên sân trại.


Bờ rào nứa ken cánh sẻ, loài giây leo mướp, mồng tơi, đậu ván bám đầy phủ kín như bức thành vững chắc bao quanh khu trại rộng, trong đó người đàn bà đẹp ngày ngày chơi với đàn chó mèo, gà vịt, ngỗng kêu gào ríu rít.


Thầy trò Hạnh bận bịu cả ngày với bày gia súc lớn nhanh như nấm dại mà sinh sản cũng mau tựa cỏ rừng. Chị lợn đã có mang nũng nịu với anh chồng, ăn rất tục tranh cả phần lợn đực, thỉnh thoảng lại ríu lên như muốn phá ken, húc cọc thoát ra ngoài. Đàn vịt đều đều đẻ ấp, những chị gà ganh tị sớm chiều ở ổ ấp trứng chốc chốc lại nhảy xuống te tái khoe cùng chị vịt.


Mấy cặp vợ chồng nhà ngỗng thì lúc nào cũng làm ra mặt anh chị bậc nhất, cứ nghênh ngang tự đắc và kiêu hãnh nhìn lũ trẻ đùa ở quanh mình, thỉnh thoảng lại ra uy sấm sét quát lên vài tiếng để dẹp yên lũ vịt gà tranh ăn uống.


Anh chó vàng đã tỏ ra khôn lớn, có lúc làm điệu hảo hán giang hồ, không thèm chơi với gà vịt ngỗng cho chúng nó nhờn, mà chỉ bầu bạn với bác ngựa già mỗi khi đưa ông Lâm đến làm trại giúp. Anh ta cứ quanh quẩn bên vó ngựa, coi thường lũ gia súc bé nhỏ kia ra mặt, là vì luôn luôn anh ta được cùng ngựa phi nước kiệu vào rừng săn muông thú để trở về ngậm một xác chim ném giữa sân cho bọn gà ngỗng biết tài năng.


Cô ả mèo đen thì ngày một thêm hung dữ, lông càng óng mượt, mắt càng xanh biếc, hễ nổi nóng mà giơ vuốt nhe nanh gừ một tiếng thì từ anh chó đến chị ngan đều lảng sợ.


Suốt ngày đêm, mèo đen ẩn nấp trong phòng nữ chủ. Cặp mắt treo lơ lửng trong bóng tối như hai vệt lân tinh vụt hiện trên mộ địa đêm sâu, đã nhiều lần làm Hạnh rú vì khiếp hãi.


Người tớ gái ôm ấp nâng niu mèo đen hơn hết. Ngày cũng như đêm thiêm thiếp ngủ, nàng thường thảng thốt giật mình vì thấy mèo đen vươn mình nhảy vút qua mặt, phào trên mặt nàng một luồng gió âm lạnh lẽo dị kỳ. Những lúc đó, Hạnh tê dại cả thịt da, mồ hôi toát lạnh như lúc mê sảng tưởng bị bóng đè, kêu cựa không được nữa.


Hạnh đem chuyện ấy kể với cái Oanh. Người tớ gái chỉ đăm đăm nhìn chủ, mắt không hề chớp, đôi môi khô nhợt nhạt se sắt lại, đến nỗi không chịu nổi cái nhìn ma quái ấy nàng phải ngoảnh đi và mồ hôi càng lạnh toát. Hạnh bảo cái Oanh đuổi mèo ra, nhất định không cho nó lọt vào buồng ngủ. Nhưng khi nào vắng cái hình đen ghê rợn và hai ánh mắt lân tinh treo lửng lơ trong bóng tối ở đầu giường, nàng vẫn kinh hoàng về mớ tóc buông dài thõng phủ tấm lưng gày và những bước chân nhẹ như sương bay của người tớ gái, trong tay áo hình như thủ sẵn một màu thép lạnh.


Hôm nay, ông Lâm đến sớm, đang ngồi ở góc vườn hì hục cưa gỗ đóng nốt chiếc chuồng chim. Vừa làm ông vừa hát huyên thiên và cũng liên miên hút tẩu, thỉnh thoảng lại xoa cái trán hói bóng đỏ như cái nồi đất mới hun bếp lửa. Ông hát rất hay bài ca thủy thủ mà ông đã hát ngày năm xưa tiễn biệt cô cháu gái trở về nơi “Quán gió” với mẹ già. Nàng thường xua tay bảo bạn già: “Hát chi những lời chua xót ấy, ông Lâm ơi, tôi sợ lắm!”. Thì bạn già khẽ nhếch mép cười, và nói như khóc mếu: “Tôi nhớ thương con cháu quá. Chả biết ngày nay mẹ con cái Trâm có còn dọn quán bán hàng bên cây đa già, con sông lộng gió nữa không!”… Đánh một nhát búa xuống chiếc đanh cuối cùng, ông Lâm đứng dậy, bê chiếc chuồng mới đặt lên nhánh cây to, gò giây thép buộc, rồi gãi trán cười:


- Được lắm rồi! Thế là từ nay trại bà Đốc có cả một đàn bồ câu.


Vừa lúc đó, nàng xua đàn vịt để lùa chúng xuống lạch nước chân đồi. Ông Lâm cười lớn:


- Tôi chắc bà ưa chim câu trắng, cho nên vội đóng chuồng này cho kịp ngày mồng. Ra ngoài mồng một đến mồng mười, thả chim, chim sẽ bay đi mất. Hôm nay đầu cữ trăng mùa xuân, thả chim tốt lắm.


Bạn già cười khảy để tự khuyên câu nói của mình. Nàng thấy chạnh lòng, nghĩ rằng ông ta ám chỉ việc Hải đã về thủ đô, và như vậy, ông ta đã biết việc mình với hắn rồi chăng?


Lảng câu chuyện ấy, Hạnh theo đàn vịt xuống chân đồi.


Ông Lâm ra giếng, thả gầu múc nước. Chiếc gầu củ ấu đan bằng cật tre vầu từ đáy sâu hơn một trượng từ từ nhô lên, giỏ long bong từng giọt xuống lòng nước lạnh. Uống một ngụm, rửa chân tay, dội một gầu vào đầu hói, ông khoan khoái lên sân, đã thấy cái Oanh đang đứng sững, nhìn như thôi miên vào một cây mới trồng đang độ nở.


Ông hát và cười the thé khiến người tớ gái giật mình, toan rảo bước lẩn đi như mọi lần bắt gặp cặp mắt soi mói của ông già quái dị. Ông đứng ngay trước mặt cái Oanh, nheo mắt bảo:


- Chị thấy cái vườn hoa này có xấu lắm không?


Người tớ gái cúi nhìn ngón chân di mặt đất:


- Thưa Cụ, vườn hoa cụ gây nên tất nhiên phải đẹp. Có điều…


Ông già đánh mạnh que diêm, đưa mắt soi vào mặt ả:


- Có điều… chị không biết hết tên những cây này phải không?


Cái Oanh ngập ngừng đáp khẽ:


- Thưa Cụ, con tưởng chừng đã trông thấy cây này ở đâu rồi, quen lắm, mà con chẳng làm sao nhớ được tên…


Ông Lâm nghiêm mặt đáp:


- Nếu chị đã quen nó, chị còn yêu nó. Bởi vì đó là một giống cây lá xanh như ngọc thạch, hoa đỏ tựa máu tươi. Đó là cây Trúc đào mà chỉ những người có tâm sự mới dám chơi với nó ở vườn mình. Vậy chị đã thấy giống cây này ở vườn trại nhà ai?


Mặt người tớ gái biến sắc rất mau khiến ông Lâm bắt chợp. Ông gặng hỏi:


- Chị thấy cây này ở nơi nào?


Mắt ông sáng soi vào mắt cái Oanh. Ả vội nghiêng đầu tránh:


- Thưa Cụ, đã lâu ngày, con cũng không nhớ nữa.


Rồi đó, cái Oanh rảo chân đi, vòng ra phía sau nhà. Ông Lâm chú ý nhìn theo, cảm giác một cái gì rợn lạnh, và lạ rằng đôi gót người tớ gái nhẹ như không chấm đất.


Hạnh từ nãy ngồi bó gối bên bờ lạch nước, nhìn đàn vịt ngụp đầu rúc mỏ tìm mồi. Những con cào cào đôi lúc bay qua mặt nàng xòe cánh xanh đỏ trắng, tiếng kêu canh cách thoảng vọng trong cái tĩnh mịch buồn tênh. Vẩn vơ nhìn đỉnh núi chập trùng bao quanh vùng thung lũng như bức trường thành thiên cổ, nàng thấy mình trơ vơ mất hút giữa cái bao la cô tịch của sơn lâm, nàng thầm nhủ:


- Ngờ đâu mình bị đày đọa ở nơi này. Có lẽ anh ấy chủ ý bắt mình táng mệnh tại đây chăng. Ở tình trạng này, mình chẳng còn mong được hồi sinh nữa. Nhất định, anh ấy bắt mình tự tử một cách êm đềm. Như vậy, mình chẳng oán gì anh ấy mà chỉ thấy thương. “Em là người vợ đã đủ lỗi lầm. Hắn cho em lên Bắc Mục ấy là thêm lần nữa hắn tránh cho em những sa ngã mai sau. Xử như vậy là hắn ban cho em một đặc ân rồi đó!”. Hải hiện ra mờ mịt như làn khói lam tỏa trên lạch nước, và những lời trắng trợn kia hắn đã ném vào mặt người yêu hôm gặp gỡ cuối cùng ở quán chợ, lúc này lại xoáy nghiến vào tâm não nàng.


“Trời ơi, còn nhớ lại làm gì nữa!”. Hạnh úp mặt xuống cánh tay. Một lát ngẩng lên, đã thấy Cung gục đầu, còng lưng dưới chiếc ba lô nặng chĩu, mệt nhọc đi về phía nàng. Bồi hồi, mừng rỡ, nàng vội tiến lên ôm chầm lấy chồng, nói nghẹn ngào:


- Mình đã về! Khổ chưa, xạm đen cả da mặt thế này. Mình vất vả quá vì em. Em mong mình biết bao nhiêu!


Hạnh úp mặt vào vai chồng mà khóc. Cung khẽ nắm vai vợ, rồi nhẹ nhàng nới cánh tay nàng đang vòng níu chặt lưng mình. Cung lùi lại, nhìn mặt vợ. Nàng cầm bàn tay Cung nói:


- Mình đi xa khó nhọc, gầy đi. Em ở nhà khỏe mạnh và đẫy ra một chút vì em cùng ông Lâm và cái Oanh phá nương cuốc đất trồng cây, lại dựng rào, đào giếng, làm chuồng gà lợn nữa. Mình lên nhà sẽ ngạc nhiên về công việc tăng gia sản xuất trong khi mình vắng mặt…


Hạnh sung sướng nói một thôi dài. Cung mỉm cười nhìn đàn vịt. Nàng níu tay chồng:


- Mình xem đấy, em ngồi chăn vịt từ ban nãy. Ngày nào cũng vậy, Hạnh lười nhác, ốm đau, tội lỗi của mình trước kia, bây giờ hoàn toàn hoán cải thành một gái quê mùa sớm dậy với gà để chăm nom mọi việc, quấy cám lợn, tưới rau đập đất. Mình ơi, mình hãy rộng dung cho em sống lại bên mình. Em dẫu chết cũng an nhẹ vong hồn vì đã gột rửa một phần tội lỗi…


Cung chỉ nắm hững hờ cánh tay vợ cùng bước lên đường đồi dốc, chẳng nói năng chi.


Đến hàng rào nứa ken san sát, cây leo phủ xanh um, anh đứng lại dáng gật đầu thầm khen ngợi công lao ông bạn già Lâm thì con chó nghe tiếng động đã xồ ra, vẫy đuôi mừng, sủa to tiếng. Trong sân, bầy ngỗng cũng vươn cổ kêu inh ỏi. Anh sững sờ trước những luống cầy đất mới, ngô đỗ đang lên tốt. Càng ngạc nhiên hơn nữa khi anh thấy những bồn đất vun xới rất gọn gàng trên đó mấy thứ cây cảnh non tươi đang độ mọc, lá cành reo vui trong nắng xuân nồng ấm.


Anh không giấu niềm xúc cảm, bất giác thốt lên lời:


- Đẹp quá, thật chẳng ngờ!


Mắt Hạnh sáng hẳn lên vì sung sướng. Nàng kéo tay chồng đi xem chuồng gà, chuồng lợn. Cái Oanh ở đâu về, mừng thấy chủ, vội chạy đến đỡ chiếc ba lô nặng:


- Ông con về chưa kịp trút gánh trên vai, chưa kịp tắm rửa chi, bà đã dắt ông con đi thăm trại mới!


Nhìn đôi lợn ăn no nằm ngủ kỹ, anh gật gù nói qua hơi thuốc lá:


- Ông bạn chúng ta thực chí tình. Một mình ông làm hết? Tưởng mình nên thuê người làm đỡ chứ?


- Ông Lâm chẳng khiến ai, cứ loay hoay làm lấy, mà nhanh như trò quỷ thuật, ngoảnh đi ngoảnh lại đã xong rồi. Còn một sự ngạc nhiên hơn nữa, mình ra phía sau đồi sẽ biết.


Anh vui vẻ cúi nhìn lòng giếng, nước trong leo lẻo dâng cao gần đến miệng bờ, Hạnh nói:


- Ngày khai giếng, ông Lâm nhờ mấy anh em dưới trại lên đào một nửa. Còn thì ông Lâm cứ cần cù đào xén một mình. Em và cái Oanh đứng trên bờ giòng quang thúng kéo đất lên. Cả ba cùng nhem nhuốc. Giếng khai đúng mạch, cho nên mới một đêm nước đã lên ngay. Lát nữa, mình tắm nước giếng nhà, sẽ khỏe mạnh như tắm suối thiên thai…


Hạnh bỗng ngừng lời, hối rằng nói lỡ. Nàng đưa mắt thấy chồng khẽ chau mày, lẩm bẩm:


- Ờ, tắm suối thiên thai, còn gì bằng cái thú thần tiên ấy. Tắm xong, còn mát mãi…


Vẻ mặt anh đang hoan hỉ bỗng lại lạnh lẽo, thờ ơ.


Chợt từ xa, một đám bụi vẩn mù đường núi tưởng có đoàn binh mã cuồn cuộn đến. Ông già Lâm ngất nghểu trên lưng ngựa thồ, hai tay kéo mấy cây tre vầu lớn cành lá quét tung bụi cát. Cung và vợ xuống đón đầu ngựa bạn. Nhận ra Cung, ông Lâm ném cây tre vầu xuống cỏ, nhảy xuống nắm chặt cánh tay anh rung mấy cái, âu yếm cười và the thé giọng kim mỗi khi ông ta đùa nghịch:


- Ông Đốc đi xa về hẳn không ngờ mình đã trở nên chủ trại. Ông bạn hài lòng chứ?


Cung cũng nắm chặt bàn tay xương xảu mà rắn chắc kia, trân trọng đáp:


- Vừa rồi tôi bàng hoàng ngơ ngác như một kẻ lữ hành thời cổ lầm đường đi tới một bộ lạc hoang sơ, trong đó có một bà chúa đẹp ngồi chăn vịt trời chờ trứng ngọc, một ông tướng gày lẻo khoẻo nhưng có sức đào nổi giếng, vác nổi tre; và trong bộ lạc không có hùm beo, chỉ thấy toàn gà ngỗng chim cò để chốc nữa bà chúa động sẽ thân làm tiệc lớn đãi anh chàng viễn khách râu ria, bụi bậm xấu như quỷ sống.


Ông Lâm nheo mắt, đáp giọng Tàu:


- Viễn khách hẳn từ bên kia ải Bắc đến đây, nên nói như một sứ giả đuôi sam sang thử tài chúa động chúng tôi chẳng? Nếu vậy thì sếnh sáng khá lên sơn trại, ta cùng nhau hội kiến.


Ông bạn già ngả giọng tuồng. Cả ba cùng phá lên cười vui vẻ. Rồi đó, ông ta len cái thân hình loắt choắt vào giữa, khoác chặt cánh tay vợ chồng Cung, bước lên sân, vừa đi vừa hát một bài Hạ uy di, làm đàn ngỗng kinh động vươn dài cổ kêu ầm ĩ.


Đến trước thềm, ông Lâm dừng lại:


- Ông bà có biết tôi vào suối đẵn tre về làm việc chi không?


Và ông ta tự đáp liền:


- Thưa rằng để dựng một cái giàn, rồi trồng thiên lý. Ông bà sẽ bắc ghế ngồi dưới giàn uống nước lão mai, chờ trăng ngàn mọc, gió rừng đưa nhè nhẹ cái mùi hương gợi hồn quê. Nếu nói kiểu vị nhân sinh thì phải bảo rằng hoa thiên lý sẽ cho ta một món canh tuyệt hảo, ngon hơn rau Thủy yến Động đình hồ.


Ông chép miệng, mắt chớp liền mấy cái:


- Chà canh thiên lý nấu với cua Bắc Mục thiên sơn, mỗi khi công tác xa về mà có vợ hiền nấu khéo tay, húp vài thìa, mát ruột hơn thuốc bổ. Cho nên, ngay hôm nay, tôi phải làm giàn và trồng cây thiên lý, để kỷ niệm cuộc hồi du tái hợp của ông Cung, bà Hạnh.


Ông ta cười khoái trá về câu nói mà ông ta cho là ý nghĩa. Nhưng chính câu nói khôi hài bóng bẩy kia khiến vợ chồng oan nghiệt đưa mắt nhìn nhau để rồi cùng cúi xuống, và cùng nhớ lại bữa canh thiên lý đắng bồ hòn chiều mưa bão nọ ở nhà ông Chánh tổng bên con sông quạnh miền chiêm.


Người tớ gái vừa xuống lạch bắt cặp vịt bầu lên làm tiệc tẩy trần. Thoáng nghe lời ông Lâm lẫn tiếng cười dí dỏm, ả bèn dừng gót bên cây trúc đào non, đưa đuôi mắt rợn hồn ma liếc nhìn mặt chủ, rồi rảo bước ra ngoài giếng, vô tình bóp mạnh cổ con vịt rãy trong bàn tay nõn trắng. Con vật kêu mấy tiếng to, âm thanh khàn đục.


Thảng thốt, Cung hạ kính râm, bước lên thềm, rơi mình xuống ghế. Thấy sắc mặt chồng biến đổi, Hạnh vội rót cốc trà tươi pha đường bưng đến và ghé lên tay ghế Cung ngồi:


- Mình mệt lắm ư?


- Tôi vừa choáng váng. Nghỉ một chút khỏi ngay, có sao đâu.


Hạnh bùi ngùi xót thương chồng. Nàng ngồi xuống cởi giầy, tháo tất cho chồng. Cung nhăn mặt, nhưng lại cố dịu dàng bảo Hạnh:


- Mình đừng chiều tôi quá vậy. Ông Lâm cười cho đấy.


Ông bạn già có đôi tai thính như tai khỉ đã nghe rõ lời Cung trong khi lúi húi đào lỗ, cưa tre dựng giàn hoa.


Ông quay vào nói:


- Xin ông bà cứ tự nhiên. Ở đời, còn gì vui vẻ đẹp bằng lòng người chinh phụ đợi chinh phu trở về. Vậy sao ông chẳng vui nhận bàn tay của người đàn bà đang làm cái việc hầu chồng.


Cung xót xa thầm nhắc lại câu nói ấy. Và nàng cũng cúi giấu đôi má ửng trong khi mở va li lấy áo quần cho chồng tắm.


(còn tiếp)


Nguồn: Cầu sương. Tiểu thuyết của Ngọc Giao. NXB. Thế giới. Hà Nội,1953. Bản này đã được tác giả chỉnh lý năm 1991.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 17.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »