tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30445883
Tiểu thuyết
29.11.2012
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

Trong nhà ông giáo Thứ. Đồ đạc trong nhà bày biện đơn giản. Trên bàn thờ khói hương nghi ngút. Trực đang ngồi nói chuyện với ông giáo, câu chuyện của họ đã đến lúc kết thúc.


            Con cám ơn thầy đã nhận lời giúp con trong kế hoạch diệt lũ Tây dương. Khi nào khởi sự con sẽ cho người qua rước thầy. Xin thầy giữ kín chuyện này dùm con.


            Ông thầy Thứ hết sức xúc động vì được tham gia vào trận chiến sắp tới, bắt giặc Pháp phải đền tội ác với nhân dân, trong đó có gia đình thầy. Ông nói: Con yên tâm về lo các việc chuẩn bị khác đi. Thầy rất vui vì còn được góp công sức vào trận đánh sắp tới, mà con tin tưởng giao nhiệm vụ cho thầy. Thầy tin chắc trận đánh sẽ thành công. – Vậy xin phép thầy con về. Trực đứng dậy chắp tay chào ông lần nữa trước khi bước xuống chiếc xuồng đậu chờ sẵn dưới bến nước. Ông đáp lễ rồi đứng nhìn theo đến khi chiếc xuồng khuất sau đám lá dừa nước, ông mới lững thững trở vào với nét mặt phấn khởi.


 


            Những ngày tiếp theo dưới sự chỉ huy của Sáu Bảnh, các nghĩa quân ra sức tập luyện võ thuật đánh cận chiến. Từng cặp, từng cặp quần nhau trên cánh đồng đã gặt lúa xong ở chỗ đóng quân. Mồ hôi nhễ nhại trên những nét mặt sạm nắng của những nghĩa quân, kể cả những nghĩa quân đã có tuổi ngoài ba, bốn mươi… Nhưng tất cả đều tỏ ra hăng hái, vui vẻ được luyện tập chuẩn bị trận đánh sắp tới mà họ không biết sẽ đánh ở đâu, nhưng dù ở chỗ nào miễn là họ diệt được lũ giặc đang gây tội ác trên xóm làng bao đời nay vốn sống bình yên bên sông Vàm Cỏ…


 


 


            Bà Hai ngồi nhìn Trực ăn tô cháo gà bà nấu khi anh về thăm bà. Nhìn Trực ăn ngon lành bà thấy thương anh vô cùng. Đã lâu, từ khi tham gia trận đánh ở Chí Hoà đến nay, Trực mới về thăm bà. Thấy Trực nước da đen sạm, hơi gầy ốm vì lăn lộn ở chiến trường, trông anh già dặn hơn trước nhiều. Ăn nữa đi con! Má múc thêm tô nữa nghe! Bà âu yếm nhắc con trai:


            Má nấu ngon quá! Đã lâu con chưa ăn bữa cháo nào ngon như vầy. – Anh cười, vươn vai – Nhưng no quá rồi, không ăn nữa được đâu má. Rồi anh nhìn bà Hai với vẻ xúc động nói tiếp: Má ơi! Bữa nay về thăm , con muốn thưa với má một chuyện… Chuyện gì vậy con nói đi, má nghe đây – Bà Hai mỉm cười nói. Nhưng má phải bình tĩnh nghe. Ừa, con cứ nói đi. – Bà Hai cười vui vẻ. Má à, bọn con sắp đánh một trận lớn vùng này. Chắc chắn sau đó bọn Tây dương sẽ trả thù. Như vậy má không thể ở yên đây được. Con đã lo chuẩn bị ghe thuyền và người sẵn cho má và gia đình mình đi xuống miền Cà Mau, U Minh để lánh nạn trước rồi. Dẫu sao ở dưới vẫn là đất của mình, chớ trên này coi như giặc đã chiếm. Nhứt là con bây giờ chỉ huy nghĩa quân đánh nó thì nó không để cho má yên đâu. Bà Hai thở dài, nét mặt thoáng buồn: Thiệt là má không sao hiểu nổi dân mình đang sống yên lành ở đây tự nhiên lũ giặc ở đâu đến gây bao nhiêu tội ác với dân mình. Con cứ yên tâm lo phụng sự quốc gia diệt hết lũ mọi Tây dương đi. Cầu Trời Phật phù hộ cho con. Còn má sống nơi đâu cũng được, con đừng lo. – Được má vui lòng đi thì con mới thiệt sự yên tâm. Ngày hôm kia, con Nghĩa có về đây thăm má. Tội nghiệp con nhỏ. Má chỉ mong con sớm tính chuyện lập gia đình đi, chớ má thấy nó thiệt lòng thương con đó. – Bà Hai nói với vẻ thoáng buồn. Má ơi! Con cũng biết như vậy. Nhưng lúc này nước nhà còn bị giặc xâm lăng, phận làm trai thì lo nợ nước trước đã. Mai sau đất nước yên bình rồi, lo chuyện đó cũng đâu có muộn. Con lớn rồi, có sự hiểu biết hơn má, tuỳ con định liệu sao cho vuông tròn… Má chỉ nhắc con nhớ mà xử sự sao cho có tình có nghĩa… Có được như vậy thì má mới vui được. – Con xin nghe lời má. Bữa nay con chỉ về thăm má một chút rồi phải đi ngay vì còn bao nhiêu việc đang chờ con. Má nhớ cho khi nào nghe tiếng súng nổ hướng Vàm Cỏ là có ghe đến đón má đi cho kịp đó. Bây giờ xin phép má, con đi.


            Trực nắm chặt bàn tay gầy guộc của mẹ rồi nhanh chân đi ra cổng. Một nghĩa quân gác phía ngoài chờ chàng ra rồi cả hai biến mất sau hàng cây cuối xóm.


            Bà Hai đứng nhìn theo, không hiểu sao bà buông tiếng thở dài… dường như bà linh cảm thấy còn rất lâu nữa bà mới gặp lại người con trai mà bà hết sức thương yêu này.


 


 


            Buổi trưa trên ngã ba vàm Nhựt Tảo. Chiếc Espérance vẫn buông neo giữa dòng sông rộng.


            Trời hôm nay nắng nhiều, không có gió. Lá cờ tam tài trên cột cờ ủ rũ không tung bay phất phới ngạo nghể như mọi ngày. Bọn lính ăn trưa xong tản về các hầm tàu ngủ trưa trong không khí oi nồng. Chúng cởi trần nằm cho mát. Phía sau lái, tên lính ôm súng canh ngủ gà ngủ gật. Phía trước mũi tàu, tên lính canh cầm súng đi qua đi lại, dáng điệu có vẻ mỏi mệt. Phía trong ca-bin thuyền trưởng, trung úy Parfait cũng cởi trần nằm lim dim.


            Chợt tên lính gác thấy từ xa có mấy chiếc ghe lớn chở nhiều người ăn mặc rất đẹp, đàn ông thì khăn đóng áo dài, phụ nữ thì đội nón cụ, thứ nón chỉ đội trong những dịp lễ, áo dài đủ màu sắc. Trên mỗi chiếc ghe đều có mâm trầu, ché rượu phủ bằng lụa the đỏ và nhiều trái cây… Chiếc ghe đi đầu có ông già áo thụng xanh khăn đóng và chú rể, cô dâu đều ăn mặc trang phục đám cưới… Rõ ràng là đám cưới đi rước dâu trên sông. Những chiếc thuyền tiến về phía tàu Espérance. Tên lính gác vội chạy vào báo với viên thông ngôn cũng đang ngồi lim dim trên ghế: Có đám cưới đi về phía tàu mình. Ông báo cho trung úy biết. Tên lính nói xong, đi nhanh trở lại vị trí canh gác phía mũi tàu.


            Trung úy Parfait mở mắt hỏi viên thông ngôn: Cái đó? Có mấy ghe chở đám cưới đi về phía tàu ta – Viên thông ngôn đáp. Gã trung úy vội mặc bộ quân phục lại chỉnh tề vì chắc chắn phải tiếp đám cưới đến trình giấy phép và hắn cũng tò mò muốn biết phong tục tập quán người Việt trong lễ cưới mà từ khi sang Việt Nam hắn chưa lần nào được trông thấy. Chiếc ghe đi đầu đã cặp vào hông tàu.


            Một chiếc thang dây được thòng xuống ghe. Người bước vào thang dây đầu tiên là ông giáo Thứ trong vai chủ hôn. Tiếp theo là chú rể Trực và cô dâu Nghĩa. Lần lượt rể phụ là Nhường và một cô gái cũng là nghĩa quân cải trang và một nghĩa quân khác đội quà cưới trong chiếc mâm phủ lụa đỏ tiếp tục leo lên. Mấy chiếc ghe chở hai họ cũng đến cặp vào hông tàu. Thấy đông người, thêm một chiếc thang dây thả xuống chiếc ghe thứ hai. Một số nam nữ hai họ bám thang dây leo lên.


            Trên boong tàu, ông Thứ trong vai chủ hôn bước đến vái chào trung úy Parfait, lúc này thật oai vệ trong bộ quân phục hải quân với lon ngù rủ tua vàng với những cuống huân chương đủ màu trên ngực áo. Hắn tỏ ra thích thú với cử chỉ vái chào của ông giáo già trong lễ phục chủ hôn mà hắn cho là tỏ ra kính trọng hắn. Ông Thứ nói: Bẩm quan lớn. Bữa nay đám cưới đứa cháu gái, có chút quà mọn dâng quan lớn. Ông vẫy người nghĩa quân đội mâm phủ vải đỏ đến giở ra. Mấy nải chuối cau vàng rực với cam quít… Tên Parfait cười tít mắt: Cám ơn. Cám ơn. Tên thông ngôn vội bưng mâm lễ vật để vào trong ca bin rồi trở ra. Ông Thứ đưa giấy phép cho Parfait xem.


            Tiếp tờ giấy phép đám cưới do tri huyện Cường ký tên đóng dấu, xem qua loa rồi trả lại cho ông giáo, hắn nói: Bản chức rất hân hạnh thay mặt cho quân đội viễn chinh nước Pháp xin chúc mừng cho hai họ cô dâu và chú rể. Chờ thông ngôn dịch xong, hắn mỉm cười nói tiếp: Nhân ngày lễ cưới này của đôi vợ chồng trẻ, bản chức có món quà quý tặng cho cô dâu để làm kỷ niệm ngày trọng đại của đời mình. Hắn vỗ tay ra hiệu. Một tên lính bưng cái khay trên có để xấp vải in hoa sặc sỡ của vùng Lyon, nơi có kỹ nghệ dệt vải hoa nổi tiếng của nước Pháp. Hắn cầm xấp vải nói: Đây là vải hoa từ nước Pháp và là món quà đầu tiên của bản chức tặng cho phụ nữ xứ này. Chúc hạnh phúc! - Hắn mỉm cười trao xấp vải cho Nghĩa trong tiếng vỗ tay của mấy tên lính mã tà kéo ra đứng xem. Tên Parfait cười khoái chí quay sang chú rể: Xin chúc mừng…


            Chưa nói hết câu hắn bỗng “hự” một tiếng giật nẩy mình ngã vật ra sau vì mũi đoản kiếm của Trực đã đâm thẳng vào ngực hắn ngập cán. Lập tức, Nhường vội rút thanh kiếm giấu trong chiếc áo rể phụ lia luôn một nhát vào cổ tên thông ngôn. Trận chiến ác liệt xảy ra giữa những nghĩa quân đóng vai hai họ đã lên tàu cùng với toán lính ra tò mò đứng xem. Tên lính gác hốt hoảng chĩa súng vào đám đông bắn một phát, nhưng chưa kịp bắn phát thứ hai, đã bị một nghĩa quân nhảy tới đá lộn nhào xuống sông. Ở dưới các chiếc ghe lúc này mọi người đã trút bỏ hết các lớp áo dài ngụy trang, lôi dưới sạp ghe lên mấy chiếc thang tre áp vào thân tàu rồi nghĩa quân vác theo rơm con cúi tẩm dầu, bùi nhùi và củi tre khô lao lên nhanh quăng có đống trên boong tàu. Ở phía sau lái, nghe tiếng la hét xáp chiến phía trước, tên lính gác vội bắn súng báo động.


            Một số lính đang ngủ choàng dậy ngơ ngác chưa hiểu chuyện gì xảy ra thì có tiếng la lớn: Chạy mau! Giặc đến rồi kìa! Mấy tên vội vọt ra phía sau hạ luôn chiếc ca nô xuống sông. Cả bọn chạy theo, kể cả tên lính gác, nhảy đại xuống lấy dầm bơi thục mạng theo dòng nước chảy về hướng hạ lưu, bỏ mặc đồng bọn ở trên tàu chui vào hầm tàu cố thủ…


            Cùng lúc ấy, khi mấy chiếc ghe chở đám cưới đến cặp vào hông chiếc Espérance, thì bọn lính mã tà trên đồn do một tên thiếu úy Pháp chỉ huy, bỗng nghe tiếng súng hoả mai nổ, đồng thời tiếng mõ hồi một báo động vang lên dồn dập phía xa. Tên võ quan ra lệnh tập họp rồi dẫn toán lính ra khỏi đồn nhắm về hướng có tiếng mõ chạy đi tiếp viện. Tên võ quan chạy đầu vung vẩy khẩu súng lục vừa hò hét, bỗng ngã nhào xuống hố chông nghĩa quân đã đào sẵn ngụy trang khéo léo, khiến hắn vô tình chạy giẫm lên.


            Bọn lính đang chạy theo phía sau vội dạt sang hai bên, nhưng chúng bị lọt vào ổ phục kích. Các nghĩa quân từ các bụi cây xông ra đánh xáp lá cà với bọn lính bằng mã tấu, gươm, giáo, mác khiến bọn lính không kịp chống đỡ. Bọn lính cũng không biết rằng khi chúng bị phục kích đây, thì ngay ở đồn chúng cũng bị tấn công tiêu diệt bằng hình thức cải trang giả làm nông dân đẩy xe bò chất đầy bao lúa hoặc gánh lúa đến ngang cổng đồn ngồi nghỉ mệt lúc trưa nắng. Tên lính gác cảnh giác vác súng ra đuổi họ không cho ngồi nghỉ trước cổng đồn: Ê! Mấy người không đưọc ngồi ở đây. Đi khỏi đây, mau lên! Tiếng quát tên lính chưa dứt thì một lưỡi mác đã đâm vào ngực hắn và dưới sự chỉ huy của Sáu Bảnh, đám nghĩa quân giả đẩy xe lúa đã rút vũ khí giấu dưới bao lúa hò reo xông vào đồn…


            Trở lại trên boong tàu Espérance. Giữa đám xác giặc còn ngổn ngang, Trực cầm bó đuốc đánh bằng rơm con cúi giơ cao, hô lớn:


       Tất cả rút xuống ghe!


            Các nghĩa quân lần lượt vội theo thang dây, thang tre nhanh chóng trở lại mấy chiếc ghe còn cặp bên hông tàu. Thấy anh em rút hết, Trực châm lửa vào đống bùi nhùi, con cúi tẩm dầu củi tre khô. Trực nhảy xuống chiếc ghe đầu bằng một động tác nhanh nhẹn không tiếng động mạnh, anh hô lớn: Rút lui mau! Tất cả các chiếc ghe vội vung mạnh mái chèo nhanh chóng vọt ra khỏi chiếc tàu sắt đang bốc ngọn lửa lên cao, và khi đoàn thuyền khuất vào con rạch nhỏ gần đó, thì một tiếng nổ long trời rung chuyển cả mặt sông. Chiếc Espérance từ từ chìm xuống dòng sông ngay vàm Nhựt Tảo, nơi mà từ nay đã đi vào lịch sử như một chiến công oai hùng của nhân dân Nam Kỳ chống bọn thực dân Pháp đầu tiên nửa sau thế kỷ XIX. Cùng lúc ấy, ngọn lửa cũng đã bốc lên ngùn ngụt ngay trên nóc đồn bên bờ. Ở xa trong thấy bóng lá cờ tam tài quằn quại dật dờ trong lửa khói mỗi lúc một bốc lên cao…


 


Chương Năm


Tiếng trống thúc liên hồi báo tin vui thắng trận vang xa khắp làng trên xóm dưới. Nhiều ngọn đuốc cháy rực soi rõ từng khuôn mặt người dân hớn hở kéo về sân đình làng nơi tổ chức liên hoan mừng nghĩa quân chiến thắng đốt cháy chiếc tàu giặc Espérance ở vàm Nhựt Tảo trở về. Từ trên cao nhìn xuống những ngọn đuốc trong các xóm ấp gần đó đổ về sân đình như những con rồng lửa uốn khúc trải dài trong đêm tối mênh mông. Tiếng cười nói râm ran của đồng bào đã phá tan không khí tĩnh mịch ở vùng quê khi màn đêm buông xuống.


            Tiếng người cười nói ồn ào nghe rõ dần: Phen này lũ Tây dương Phú-lang-sa hết phách lối với dân Nam mình. Thấy ngọn lửa bùng lên khỏi ngọn cây rồi sau đó một tiếng nổ lớn rung rinh nhà cửa, tui vừa chạy vừa la: “Tàu giặc bị đốt rồi bà con ơi!” tới bây giờ cổ họng còn rát đây nè! Thiệt đã quá! Từ cha sanh mẹ đẻ đến giờ mới thấy dân mình đốt được tàu Tây dương! Nghe nói có mấy thằng Tây dương chạy thoát được. Thiệt tiếc quá! Mấy thằng ôn dịch đó còn sống ngày nào nó còn làm khổ dân mình ngày đó! Cũng nghe nói có thằng lội được vô bờ bị dân mình đập chết. Thiệt đáng đời quân cướp nước! Mỗi người một câu, tiếng cười nói không dứt trên khắp các nẻo đường làng… không khí còn vui hơn Tết. Tiếng trống vẫn thúc không ngừng như giục giã mọi người rảo bước nhanh hơn đến dự hội mừng chiến thắng trăm năm mới có một lần ở vùng quê vốn yên tĩnh này.


            Ở sân đình, nhân dân đã tụ tập rất đông. Giữa sân, ngọn lửa trại bốc cao soi rõ gương mặt mọi người từ già đến trẻ đều lộ vẻ phấn khởi vui mừng trước chiến công rực rỡ của những anh trai làng vốn là con em của họ đang đứng xếp thành hàng ngũ chỉnh tề, trang bị hầu hết là tầm vông, mác vót, vài ba khẩu súng với chiếc khăn màu chàm quấn trên đầu và bộ áo bà ba nhuộm màu bùn đất quen thuộc, thắt lưng bằng vải hay dây gai.


            Phía bên trong sân đình Nguyễn Trung Trực mặc áo dài đầu đội khăn đóng đen đang vui vẻ tiếp khách. Đó là các lãnh tụ nghĩa quân như Thiên Hộ Dương, Quản Tu, Đỗ Trình Thoại, đặc biệt có Trương Định và Tuần phủ Huỳnh Mẫn Đạt. Các lãnh tụ nghĩa quân đều mặc như Nguyễn Trung Trực, riêng Huỳnh Mẫn Đạt vì là quan văn nên mặc áo thụng xanh và bịt khăn đóng cũng màu xanh. Nét mặt của các lãnh tụ nghĩa quân đều rạng rỡ phấn khởi chia sẻ niềm vui chiến thắng với Nguyễn Trung Trực. Hai nghĩa quân khệ nệ bê hai vò rượu đặt lên bàn, rồi rót ra từng bát đầy. Xong họ lui ra sau. Nguyễn Trung Trực đến bưng bát rượu, hai tay mời Trương Định: – Xin mời đại nhân. Đỡ chén rượu trên tay Trực, Trương Định quay lại nói với các lãnh tụ nghĩa quân: – Xin mời chư vị.


            Thấy các lãnh tụ đều cầm chén rượu do Trực mời, Trương Định nói tiếp, giọng cảm động: – Hôm nay là chén ruợu mừng chú Trực cùng toàn thể anh em nghĩa quân đã lập được một chiến công lừng lẫy, khiến cho lũ giặc Tây dương phải bạt vía kinh hồn… Vậy là kể từ nay tàu chiến giặc không còn là thứ “bất khả xâm phạm” nữa. Mong rằng từ nay về sau sẽ có những trận Nhựt Tảo “kinh thiên động địa” tiếp theo nữa, phải không các vị? – Đại nhân nói phải lắm! – Thiên hộ Võ Duy Dương cười vui vẻ nói tiếp: – Đất Tháp Mười rộng bao la còn thừa chỗ chôn lũ giặc Tây dương nếu chúng cả gan kéo vô. Dương này xin hứa với đại nhân và chư vị như vậy! Các thủ lãnh nghĩa quân cũng giơ cao chén rượu đồng thanh nói: – Chúng tôi xin hứa với đại nhân sẽ quyết tâm tiêu diệt lũ Tây dương! – Chư vị đồng lòng như vậy thì phước đức cho dân Nam ta lắm. Nào xin mời cạn chén!


            Trương Định xúc động nói, tay giơ cao chén rượu cùng uống với mọi người. Tiếng trống múa lân bỗng nổi lên rộn rã ở phía ngoài. Dẫn đầu là hai con lân râu bạc, râu xanh từ ngoài tiến vào sân. Đi trước hai con lân là hai ông địa áo xanh bụng lớn phe phẩy hai cây quạt chân nhảy loi choi đùa nghịch với lân. Theo sau là các vị chức sắc các làng áo dài khăn đóng cùng những thanh niên mặc đồng phục khiêng bàn trên để mấy con heo quay vàng ruộm trông rất hấp dẫn. Sau cùng là các cụ lão nông, các bà mẹ, ai nấy mặt mày rạng rỡ trông trẻ hẳn lại.


            Khi hai con lân đến sân thì đồng bào đang đứng dạt ra nhường chỗ cho lân vào. Bỗng hàng loạt pháo nổ chớp lóe quanh hai con lân, hoà lẫn với tiếng trống, tiếng thanh la nổi lên dồn dập. Khói pháo phủ mờ cả sân đình. Mùi thuốc pháo cay xè, nồng nặc, mùi quen thuộc trong các buổi múa lân làm say đắm lòng người, nhứt là với lũ trẻ con ngồi kín quanh sân. Ở phía sau đình, nơi mấy gian nhà bếp. Nhiều chị em phụ nữ đang tất bật chuẩn bị dọn cỗ. Dưới ánh sáng những ngọn đuốc nét mặt người nào người nấy lấm tấm mồ hôi nhưng nụ cười luôn luôn nở trên môi, trông họ đẹp lên rực rỡ. Tiếng họ gọi nhắc nhau í ới: – Mau lên các chị ơi! Lân tới rồi đó! Lân tới thì tới chớ, cũng phải từ từ mới được. Ối! Ai làm đổ nước mắm vô áo tôi rồi nè! Có chút xíu mà cũng la! – Áo dính nước mắm, lát nữa gặp ai càng thêm nồng mặn chớ sao! Thôi đi bà. Áo dính mùi nước mắm, đi đâu ai cũng biết, lộ bí mật hết đó nghen! Tiếng các cô gái chọc ghẹo nhau cười rúc rích, đấm nhau thình thịch làm cho không khí thêm vui nhộn của các cô thôn nữ vùng quê khi có hội hè.


            Trong số này có Nghĩa. Cô cũng vui vẻ lo dọn cỗ với chị em. Một cô to mập nhưng cười má núng đồng tiền rất có duyên hỏi Nghĩa: – Hôm đóng vai cô dâu lên tàu gặp giặc chị có sợ không? Sợ chớ. Nhưng đi bên cạnh anh Hai, thấy ảnh bình tĩnh em cũng bớt sợ. – Hỏi thiệt chị nghe. Hôm bận áo cưới đi với anh Hai trong bụng chị có nghĩ ngày nào đó hai anh chị sẽ làm đám cưới thiệt hông? – Cô gái to mập cười hỏi chọc Nghĩa. – Chị hỏi kỳ cục quá hà! Em hổng nói đâu! – Nghĩa đỏ mặt trả lời rồi bỏ chạy lại phụ bưng cỗ. Cô gái cười chọc với theo: – Ê, chịu quá trời còn làm bộ! Mấy cô ngồi bên cạnh nghe chuyện cũng bật phá lên cười vui vẻ.


            Trong dinh Soái phủ ở Sài Gòn.


            Đô đốc Bonard đang đứng chắp tay sau đít ngắm tấm bản đồ Nam Kỳ rộng lớn treo gần kín bức tường trong dinh.


            Trên tấm bản đồ đánh dấu những vùng quân Pháp đã chiếm được bằng lá cờ tam tài như vùng Biên Hoà, Định Tường, Tân An… Còn những miền có nghĩa quân hoạt động thì đánh dấu bằng những khoanh tròn đỏ.


            Bỗng có một sĩ quan hầu cận mang quân hàm đại úy từ ngoài đi nhanh vào, rập gót giày đứng nghiêm giơ tay chào. Bonard quay lại: – Có chuyện gì, đại úy? Trình đô đốc, có báo cáo khẩn cấp. Viên đại úy tiến ba bước đưa hai tay bản báo cáo cho Bonard. Liếc nhanh qua bản báo cáo, mặt Bonard biến sắc biểu lộ hắn bị cơn xúc động mạnh. Hắn nói nhanh: – Truyền lệnh gọi các sĩ quan đến họp ngay ở Ban tham mưu!


            Tuân lệnh! Viên sĩ quan giơ tay chào rồi lủi nhanh ra ngoài.


            Trong phòng họp ở Ban tham mưu Soái phủ Nam Kỳ. Có lính gác cẩn mật vòng trong vòng ngoài. Hầu hết các sĩ quan quân đội viễn chinh Pháp quân phục chỉnh tề đến đủ mặt theo lệnh triệu tập khẩn cấp của Bonard. Nét mặt các viên sĩ quan căng thẳng theo lời viên tướng vừa được cử sang thay Charner giữ chức Tổng tư lệnh quân viễn chinh Pháp ở Việt Nam. Các ngài biết không. Bản chức vừa nhận được tin báo khẩn cấp: chiếc Espérance do trung úy Parfait chỉ huy đã bị đội dân binh do Nguyễn Trung Trực chỉ huy tiêu diệt ở vàm Nhựt Tảo sông Vàm Cỏ trưa ngày 10–12–1861!


            Cả đám sĩ quan giật mình thảng thốt nhìn nhau. Giọng của Bonard gay gắt tiếp tục vang lên: – Đây là một thất bại khủng khiếp không thể chấp nhận được. Các ngài hãy tự trả lời đi: Tại sao một tàu chiến của hoàng đế nước Pháp được trang bị hùng mạnh, có cả đại bác, lại bị một dám nông dân có võ trang thô sơ đánh chìm giữa ban ngày trên vùng quân đội Pháp đang kiểm soát? Tại sao? Tại sao?


            Cả phòng họp lặng im phăng phắc trước cơn thịnh nộ của viên tướng Tổng tư lệnh lúc này mặt đỏ bừng như mào gà trống. Các ngài chưa trả lời được phải không? – Giọng Bonard tiếp tục gay gắt – Các ngài đã ngủ quên trên chiến thắng sau khi ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ lọt vào tay quân đội Pháp dễ dàng gần như không gặp sự kháng cự đáng kể nào. Chính cái chiến thắng quá dễ đó làm cho các ngài chủ quan khinh địch và cái giá phải trả là chiếc Espérance bị đốt cháy với 17 chiến binh Pháp bỏ mạng cùng với 20 lính địa phương đóng đồn trên bờ để bảo vệ cho chiếc Espérance cũng không tên nào sống sót. Thật là một ngày đen tối, bi thảm nhất của quân đội viễn chinh Pháp ở xứ này! Bản chức đề nghị các ngài: một phút mặc niệm những tử sĩ đã hy sinh cho vinh quang của nước Pháp!


            Tất cả các sĩ quan vội đứng lên cúi đầu mặc niệm theo lệnh của Bonard. Cả phòng họp lặng im không một tiếng động nhỏ. Bên ngoài hai tên lính gác cũng đứng im như phỗng. Trên nóc Soái phủ lá cờ tam tài không có gió cũng rủ xuống như chịu tang cùng với sĩ quan trong phòng họp Ban tham mưu. Giọng của Bonard tiếp tục vang lên trong phòng họp:


            Chúng ta đã gặp phải sức kháng cự chống đối mãnh liệt của đối phương, không phải là quân chính quy của triều đình Huế – Bonard nhấn mạnh – mà chính là những nông dân ở xứ Nam Kỳ này. Họ không được tập luyện, trang bị như quân triều đình, nhưng tinh thần chiến đấu của họ, như các ngài đã biết rồi đó, đã gây cho chúng ta những tổn thất không sao lường hết được. Họ đúng là những trung tâm kháng chiến có mặt ở khắp mọi lúc mọi nơi, chỉ cần chúng ta có chút sơ hở, mất cảnh giác là họ có thể tấn công ngay mà vụ đánh chìm chiếc Espérance ngay giữa ban ngày ở vàm Nhựt Tảo là một bằng chứng hùng hồn nhất. Để đối phó với một đối phương có bản lĩnh chiến đấu đáng gờm đó, bản chức ra lệnh: Một – Phải triệt hạ những làng nào có hoạt động của đội nông binh ở Biên Hoà, Định Tường, Tân An. Trước mắt phải triệt hạ vùng Nhựt Tảo và các làng ven sông Vàm Cỏ để trả thù vụ chiếc Espérance. Hai – Ai chứa chấp, tiếp tế lương thực, hoặc chỉ điểm cho nông binh đối phương đều phải xử bắn công khai để răn đe dân chúng vùng quân đội Pháp kiểm soát. Ba – Tăng cường biện pháp kiểm soát nghiêm ngặt, nhất là các trục giao thông quan trọng đường bộ cũng như đường thủy, quyết không thể để xảy ra vụ Espérance lần nữa! Bốn – Tăng cường tổ chức mạng lưới gián điệp tình báo ngay vùng nông thôn ngoài vòng kiểm soát của quân đội Pháp để kịp thời phát hiện tổ chức và hoạt động của các đội quân kháng chiến đối phương. Khen thưởng đích đáng những tin tức có giá trị đặc biệt liên quan đến quân đội Pháp. Năm – Treo giải thưởng gồm tiền bạc, chức tước cho những ai giết hoặc bắt sống các thủ lãnh đội quân kháng chiến. Đặc biệt thưởng 5.000 quan cho ai bắt sống hoặc giết được Trương Định và Nguyễn Trung Trực, hai thủ lãnh đầu sỏ quan trọng và nguy hiểm nhất của lực lượng kháng chiến đe dọa sự tồn tại và an ninh quân đội Pháp ở ba tỉnh miền Đông Nam Kỳ hiện nay.


            Trong lúc Bonard nói, sắc mặt các sĩ quan trong phòng họp đều lộ vẻ lo lắng. Một viên đại tá đã ghi vào mảnh giấy trao cho viên sĩ quan ngồi bên cạnh: “Espérance bị tiêu diệt. Đây là khúc nhạc mở đầu cho cuộc tổng công kích vào tất cả hệ thống đồn luỹ của quân đội Pháp ở xứ này. Tương lai chúng ta rồi sẽ ra sao?”. Viên sĩ quan xem xong gật đầu đồng ý. Hắn cũng viết đáp lại: – “Không có cách nào khác. Phải tiêu diệt tất cả bọn đó để tồn tại!”.


            Giọng nói Bonard rắn rỏi:


            Đây là mệnh lệnh khẩn cấp của Bộ chỉ huy Tổng tư lệnh quân viễn chinh nước Pháp. Các ngài theo chức trách của mình hãy chấp hành nghiêm chỉnh. Mọi vi phạm sẽ bị đưa ra toà án binh. Giải tán!


            Hậu cung triều đình Huế. Tự Đức ngồi bên án thư trông ra hồ sen cảnh vật rất nên thơ. Hai cung nữ đứng hầu phe phẩy quạt lông cho nhà vua đang tìm hứng để làm nốt mấy câu thơ khóc Bằng Phi, người thiếp yêu của mình vừa qua đời không lâu. Ngài ngự ngâm nga mãi hai câu mà ngài tâm đắc nhất:


Đập cổ kính ra tìm lấy bóng


Xếp tàn y lại để dành hơi…”


            Ngài lim dim đôi mắt để suy nghĩ tiếp cho trọn vẹn bài thơ.


            Không khí hậu cung tĩnh mịch. Thỉnh thoảng nghe vài tiếng chim hót lãnh lót gọi bầy ngoài vườn ngự uyển khiến hai cung nữ đang muốn ngủ gật vì công việc hầu quạt đơn điệu tẻ ngắt, giật mình vội quạt nhanh mấy cái, may mà Hoàng thượng mải lim dim chìm đắm trong thế giới mộng ảo tìm tứ để làm thơ không chú ý đến động tác quạt nhanh bất thường này.


            Bỗng viên thái giám đã có tuổi hấp tấp đi vội vào vấp phải ngạch cửa suýt ngã, làm Tự Đức nghe tiếng động mở mắt ra: – Có chuyện răng mà mi vội rứa? Viên thái giám khúm núm vội quỳ xuống dâng tờ biểu: – Tâu Hoàng thượng có sớ tấu biểu của Tổng trấn Vĩnh Long gởi ra trình Hoàng thượng. Tiếp nhận tờ sớ, Tự Đức đọc lướt qua. Nét mặt nhà vua bỗng rạng rỡ hẳn lên: – Hay lắm! Được lắm! Cho gọi ngay Đông các Đại học sĩ họ Phan vào gặp trẫm. Bẩm… tâu Hoàng thượng, gặp ở mô? Trong nội điện hay là… – Ngay tại đây. Mau lên đi! Tâu vâng.


            Viên thái giám cúi chào đi giật lùi ra nhanh. Tự Đức quay sang một cung nữ: – Mi đi pha trà cho trẫm tiếp khách. Cung nữ vội cúi đầu: – Tâu vâng. Rồi cũng nhanh chóng lui vào. Tự Đức cầm tờ sớ đọc đi đọc lại vẻ thích thú ra mặt, lẩm bẩm: – Đánh rứa mới là đánh chứ!


            Phan Thanh Giản mũ áo nghiêm chỉnh từ ngoài đi nhanh vào. Đó là một vị lão thần đã phò ba đời vua, tuy tuổi đã cao, nhưng da dẻ hồng hào đi đứng hãy còn nhanh nhẹn. Đến trước Tự Đức, họ Phan quỳ xuống: – Hạ thần xin bệ kiến Hoàng thượng. Tự Đức xua tay: – Miễn lễ. Miễn lễ. Mời khanh ngồi.


            Phan Thanh Giản khép nép ngồi vào ghế tựa phía trái Tự Đức. Nhà vua đưa tờ sớ cho Phan Thanh Giản: – Khanh đọc đi. Đưa hai tay tiếp nhận tờ sớ của Tự Đức trao, Phan đại thần đọc luôn một mạch. Nét mặt vị lão thần sáng lên rạng rỡ: – Thiệt là một chiến công hiển hách. Thần xin chúc mừng Hoàng thượng. Nhưng trẫm muốn hỏi khanh, Nguyễn Trung Trực là ai mà giỏi rứa? – Tâu Hoàng thượng, hạ thần cũng chưa được rõ. Có thể Nguyễn Trung Trực ở đội nông binh, chớ nếu thuộc quân triều đình thì không thể trái chiếu chỉ của Hoàng thượng được. – Khanh nói có lý. – Tự Đức nhìn họ Phan nói tiếp – Trực lập được chiến công này rất có lợi cho ta. Vậy theo ý khanh, trẫm nên phong hắn chức chi cho xứng với công trạng như rứa? – Tâu Hoàng thượng, theo thiển ý của thần thì có thể phong cho Trực chức quản cơ. Đó cũng vào hàng chức chánh tứ phẩm võ quan triều đình. Còn thuộc hạ của Trực có tham dự trận này thì tùy theo công trạng mà phong chức cai đội gì đó, cũng như xuất ngân khố thưởng cho binh sĩ còn sống, hay tử vong để khích lệ tướng sĩ ba quân thấy được ân đức của Hoàng thượng đối với kẻ đã xả thân vì nước. Trẫm chuẩn tấu đề xuất của khanh. Ngày mai lâm triều sẽ công bố tin này cho triều thần biết và hạ chiếu phong chức cho Trực cùng với thuộc hạ của hắn. – Tự Đức phấn khởi nói, giọng vui vẻ hẳn lên. – Tâu Hoàng thượng – giọng Phan Thanh Giản có vẻ ngập ngừng, thăm dò – Khi nãy Hoàng thượng có nói Trực lập chiến công rất có lợi cho ta. Hạ thần chưa hiểu được thâm ý của Hoàng thượng về việc này, vì theo thần được biết, Hoàng thượng chỉ chủ hoà chớ không chủ chiến, nay Trực đốt cháy tàu chiến của Phú-lang-sa, rõ ràng là trái ý Hoàng thượng, vậy thì lợi ở chỗ nào, thiệt tình thần chưa hiểu nổi.


            Tự Đức cười lớn đắc chí: – Mần răng mà khanh hiểu được ý trẫm trong chuyện ni. Thực ý của trẫm thì khanh biết rồi đó. Trẫm chỉ muốn hòa và định cử khanh đi vào Gia Định gặp người Phú-lang-sa để nghị hòa… Nhưng liên tiếp từ Đà Nẵng đến Sài Gòn Gia Định, quân ta chỉ toàn bại chứ chưa giành được thắng lợi chi mô. Đi thương lượng như ri là thế yếu. Bọn Phú-lang-sa sẽ coi thường ta, khi đó việc thương lượng nghị hoà của khanh sẽ khó khăn thêm. Nay Nguyễn Trung Trực đánh cháy tàu chiến có võ khí tối tân, mà Trực lại là nông binh chứ chẳng phải là quân triều thì bọn Phú-lang-sa tất phải nể mặt, vì thấy lực lượng ta cũng mạnh chớ không phải yếu như chúng tưởng. Như vậy cuộc đàm phán nghị hoà sẽ thuận lợi hơn nhiều. Trẫm nói có lợi là vậy đó. Khanh hiểu ý trẫm chứ? Thần thực sự khâm phục cao kiến sâu xa của Hoàng thượng. – Phan Thanh Giản nói. – Còn Nguyễn Trung Trực sau khi nhận chức quản cơ trẫm sẽ xuống chỉ điều động hắn ra Phú Yên hay Bình Thuận để hắn không thể trực tiếp tấn công bọn Phú-lang-sa nữa, hầu tạo không khí thuận lợi cho cuộc nghị hoà sắp tới. Khanh thấy thế nào? Hoàng thượng thiệt anh minh, thần xin bái phục. Thần không ngờ Hoàng thượng có nước cờ cao vậy: vừa được lòng quân sĩ, vừa tránh cho người Phú-lang-sa nghi ngờ ta không thực tâm nghị hoà với họ. Phan Thanh Giản tỏ ra khâm phục thật sự khiến Tự Đức rất khoái chí, đưa tay mời:


         Mời khanh dùng thử trà Long Tỉnh mà Tổng trấn Bắc Thành vừa mới dâng trẫm đó. Mời khanh!


Phan Thanh Giản xúc động trước cử chỉ ưu ái của nhà vua:


         Tạ ơn Hoàng thượng.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »