tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28869808
Tiểu thuyết
22.11.2012
Ngọc Giao
Cầu sương

Phần thứ hai


I- Rô ta! Hò… rô ta! Rô ta… hò!


Đoàn người đầu trọc áo thô, lưng đeo số, đang gò lưng hò nhau vật ngã một cây ngàn. Mấy sợi dây trão kết xoắn bằng cật tre vầu non, theo tiếng hò in hệt tiếng hú hồn, mỗi lúc một thít mạnh thêm nút thòng lọng vào cổ cái cây chịu tử hình. Thân cây oằn oại, trên gốc già đã bị nhiều nhát chặt, nhựa ứa lòng thịt gỗ chảy tràn trề.


Gió bấc vào buổi chiều lại xoáy từ ngàn cao xuống lòng thung lũng, xoay ngang bốn hướng, ào ạt tựa đoàn binh mã tung hoành trên một chiến tuyến rộng dài.


Những sống lưng càng cong xuống, những cánh tay rướn vội, nương vào sức gió, giật mạnh liền dây trão với tiếng hò quái gở. Cây to chịu ngã, đập xuống đá núi, gửi vào rừng quạnh một hơi thở hắt ra tỏ cái tình tiếc luyến lòng đất.


Bọn tù khoa dao tuốt lá chém cành, rồi xúm lại, lùa dây xuống lưng cây, ghé vai nâng đòn hò nhau khiêng gỗ về đồn.


Gió bấc hun hút thấu thịt xương. Bọn tù lảo đảo trong gió, hò nhau giữ miếng kẻo cả người lẫn gỗ lăn xuống vực.


Trên vọng canh lính thú đã rúc kèn gọi tù về nghỉ. Họ vội vàng ai nấy mau tay vơ cành khô lá ải lát nữa mang về trại giam, đốt lên mà sưởi. Những thân hình còm cõi đó khuất lẩn sau các bụi cây hốc đá, khí độc tiết ra tỏa mịt mùng và Hạnh ngày ngày ngồi trong cửa sổ nghe rừng núi vang động bởi tiếng dao ngả gỗ, tiếng hò buồn tênh tẻ ngắt của lũ người bị đày đọa vào miền nước độc chỉ vì đã dám cắt máu mình viết lên nền trời thiên thanh dòng chữ: “Phải được sống tự do”. Và lam chướng đã chém họ ngã từng ngày.


- Vừa thấm thoắt ngày nào - Hạnh thốt lên, rồi nàng mệt nhọc ngả đầu ra lưng ghế xích đu, nhắm mắt, rùng mình qua hơi gió thoảng.


Chợt đâu đây vọng lên một tiếng rú rợn người như tiếng chó sói đêm sa mạc. Nàng nhìn về phía thung lũng đầy sương lam, chép miệng:


- Thêm một người rãy chết, buồn ơi là buồn.


Nàng nhắm nghiền mắt, da mặt tái xanh hơn trong bóng chiều. Nàng nghĩ cuộc đời lênh đênh chìm nổi của mình cũng như làn khói kia tắt lúc nào chẳng biết.


Nàng tự biết mình giờ đây chỉ là một kẻ đi tù phát vãng. Trước kia, ở tòa nhà bên giáo đường Cửa Bắc, nàng cũng chỉ là một tội nhân tự giam cầm trong mấy gian phòng trang hoàng lịch sự, sống thờ ơ bên cạnh một người chồng thầy thuốc tha thiết với bệnh tật nàng hơn săn sóc tấm tình vừa bồng bột vừa u ẩn của nàng. Thêm vào đấy, vẻ mặt lầm lì, dáng điệu khô khan, đôi mắt sắc lạnh của chồng đã khiến nàng chán chường duyên kiếp, đến nỗi nàng đã liều nhắm mắt phụ lòng chồng.


- Thật bẽ bàng, nhục nhã, Hải! Hải! Chao ôi Hải!


Nàng tần ngần với tay vớt bông hoa thả bát thủy tinh cạnh đấy cầm vuốt ve rồi bóp nát. Hình bóng con người mặt trơ trán bóng, đĩ thõa, lường gạt ấy thoáng hiện qua trí não nàng, chập chờn như chiếc dơi vút vào bóng tối tìm muỗi đói. Nàng chợt nhớ đến những ngày mình liều lĩnh tìm đến hắn, hiến thân cho hắn từ buổi ở bãi bể Đồ Sơn, ở căn gác quét vôi xanh tại khu phố vắng, đến cả những lúc lừa chồng ở nhà thương, nàng đã cả gan tiếp hắn ngay trong phòng ngủ tòa nhà Cửa Bắc. Thế rồi lưu lạc ra đây, nàng tuy đi bên chồng mà dọc đường vẫn có hắn theo lẽo đẽo. Vợ chồng nàng tối trời vào quán cơm hay vào trụ sở nào ngủ đỗ, nàng cũng ra ám hiệu cho hắn vào theo, rồi thừa cơ chồng ngủ mệt, nàng lại máy người tình ra chỗ vắng tự tình. Lòng chung thủy của Hải đã làm cho nàng bùi ngùi cảm động. Và hắn đã một đêm ôm nàng trong tòa cổ miếu sau quán cơm, lúc chồng nàng đang say ngủ, khóc: “Cái cảnh ngộ chúng mình chẳng khác gì Mỵ Châu ngồi chung lưng ngựa…”.


Nàng giơ bàn tay che miệng tình nhân, bảo: “Đừng nói nữa anh ơi, em sợ lắm…” Sau đó, Cung vẫn nâng niu thương xót vợ trên đường vạn dặm.


 


Người chồng chẳng biết gì về câu chuyện nọ, đã chiều theo ý vợ, dừng lại xin ngụ nhà ông Chánh, kẻo vợ mình ngại nỗi sông nước.


Nhân dịp chồng đạp xe đi công tác, nàng đã không ngại cùng Hải sang sông. Rồi đấy, ánh đèn pin soi đường thung lũng hai lần đã rọi suốt tâm linh ô uế người vợ ngoại tình; và một lần tấm mùi soa lụa tẩm mùi nước hoa quen thuộc thêu chữ “H - C” tự tay người chồng đau khổ và độ lượng ném xuống chân thang nhà sàn để thích vết chàm vào giữa trán người đàn bà tội đã rành rành. Tuy nhiên người chồng cũng cho phép vợ được gặp Hải lần chót.


“Một là về Hà Nội với kẻ mình yêu, hai là mình theo tôi lên Bắc Mục. Hai đường ấy, tôi cho phép mình chọn một”. Một chiều Hạnh, Hải gặp nhau tại một quán chợ cạnh trụ sở Hợp tác xã mà Hải vừa đến đó giao hàng. Hạnh kể lể hết nỗi niềm, làm cho Hải mặt xanh tràm đổ.


“Anh thương Hạnh lắm, nhưng Hạnh nghĩ kỹ xem, em là gái có chồng, mà anh là trai có vợ, lấy nhau đâu có được. Vả lại chúng ta đang sống trong cảnh loạn lạc, chúng ta không nên buộc chân nhau. Anh phải giữ mình cho xứng với địa vị anh, danh dự anh. Anh đang theo đuổi công việc thương mại lớn, nếu tai tiếng gì, hay vướng víu gì tất anh sẽ mất nhiều quyền lợi lắm. Hạnh nên xử sự cho ổn thỏa, khỏi thua thiệt cả ba ta. Nếu ân ái chúng mình đã lỡ rồi, thì chỉ nên coi đó là một ván bài tháu cáy vừa lộ tẩy. Ta hãy ném bài đứng dậy đừng ham thua được nữa. Hắn đặt cho em hai điều kiện đó, thế là khá lắm. Mà anh biết, cái mã ấy làm gì được ai. Anh khuyên em đã đến nước này, nên theo hắn lên Bắc Mục. “- Ông đày tôi vào đất chết đấy ư? Ông khuyên nhủ tôi một cách xót thương đến thế ư? Thôi thôi, đã bị gạt gẫm rồi, tôi còn biết nói gì khi ông bảo cái ân thâm nghĩa nặng của chúng ta chỉ là một canh bạc vận đen đánh hỏng”… “- Này Hạnh, anh nghĩ rằng em nên hiểu tâm trạng người đàn ông một chút khi mà cuộc ái tình vụng trộm đã có kẻ thứ ba xé màn bí mật nhòm vào. Em là người vợ lỗi lầm. Hắn cho em đi Bắc Mục, ấy là thêm lần nữa, hắn tránh cho em những sa ngã mai sau. Xử như vậy là hắn ban cho em một đặc ân rồi đó”. - “Chao ôi, ông là đồ tồi! Ông đã cạm bẫy tôi. Bây giờ ông mong tôi chết sau khi đã đánh cắp của tôi cả một túi vàng, cả một mối chân tình”. “Ồ, bà đừng nên oán trách tôi. Nói trắng ra, trong cuộc ái tình này, tôi không lãi lắm đâu Hạnh ạ. Vợ tôi, con tôi, một lũ đang sống thác ở ngoài kia, tôi chưa được rõ chỉ vì tôi quá yêu bà, mê muội theo bà. Nhưng thôi, trong giây phút biệt ly này, hãy cố giữ chút tình ở lòng nhau, để rồi mai đây anh cũng cố gửi cho em dăm ba chữ để ôn lại tình cũ!” - “Anh nói nữa đi, tôi muốn nghe hết lời bỉ ổi ở chính cái miệng kia đã hát vào tai tôi bấy lâu nay như con khiếu. Chính chồng tôi đã cho phép tôi đến nói chuyện với anh ở chỗ này. Chính chồng tôi đã làm ơn cho tôi nhìn rõ lòng anh: cái hố bùn lầy cặn rác. Anh là một hạng người kiêu ngạo, hèn nhát và ích kỷ. Khi lợi lộc, anh quỳ dưới chân tôi mà khóc. Khi nguy biến, anh rất giỏi tìm đường tẩu thoát. Tôi đã lỗi lầm với chồng tôi vì tin ở tình yêu xảo trá của anh. Anh là đồ khốn nạn”.


- Thực là nhục nhã!


Hạnh thốt thở dài, đầu vẫn tựa vào lưng ghế xích đu, hé mắt chớp liền mấy cái cho tan những hình bóng cũ.


- Vừa mới ngày nào thấm thoắt! Hôm nay mình đã ngồi đây, lắng nghe cái rùng rợn của núi rừng và cái chết chóc của thiên hạ.


Những hình bóng cũ, nàng cố xua đi, tuy nhiên chúng vẫn ám ảnh, day dứt nàng, như sợi xích sắt quấn chặt mãi vào chân kẻ tội tù. Nàng lại sực nhớ lúc từ biệt Hải một cách vô cùng cay đắng ở quán chợ hoang, về đến nhà đã thấy chồng sửa soạn hành lý sẵn. Thật là mỉa mai, thì ra anh nhìn rõ nhân cách hắn như nhìn rõ một bệnh nhân hấp hối. Qua ngày sau, Hạnh lẽo đẽo theo chồng lên miền thượng du nước độc này, đầu gục xuống vì tủi thẹn với chồng, vì căm hờn Hải. Qua muôn trùng núi non, người đàn bà tội lỗi nặng mang tâm sự kẻ tù nhân phát vãng đi bên một người lính tay gươm tay súng giải mình từ nhà giam này sang nhà giam khác. Dọc đường, Cung lầm lì chẳng nói năng trong khi nàng ngao ngán nhìn cánh nhạn bay, sóng nước vỗ khi thuyền ngược con sông rừng.


Vợ chồng nàng ở Bắc Mục đã hơn hai tháng, và trú ngụ tại dinh viên Chánh đoan còn sót lại thuở thịnh thời. Nhưng tòa nhà trên đã bị phá hủy ngày khởi nghĩa, chỉ còn lớp nhà ngang cũng bị nắng mưa tàn phá nốt. Hôm mới đến, nàng đã ghê mình chóng mặt vì mấy gian phòng hoang phế tối tăm này: cỏ mọc ngổn ngang, cóc nhái nằm tứ phía, từng hố đào sâu xuống, khiến nàng đoán rằng đó là những huyệt chôn vội tử thi. Cái Oanh đã cùng mấy người Mường ra công quét dọn tu sửa lại, mất sáu bẩy ngày mới được phong quang.


Chồng nàng ngay tự hôm đầu, đã nhận việc ở quân y viện, có đêm không về nhà ngủ. Suốt đêm ấy, nàng bảo người tớ gái nằm bên, nhưng không sao nhắm mắt. Nàng hoang mang sợ hãi, lắng nghe thác đổ rừng khuya, và ghê rợn nhìn những con mắt thú ăn đêm sáng chập chờn ngoài bóng tối. Hạnh quanh quẩn với cái Oanh, thầm giận chồng chẳng còn săn sóc mình như ngày trước. Nhưng giận mà không oán, vì nàng tự biết anh đã ban cho mình tất cả độ lượng mà chỉ một người chồng quân tử mới có. Trước kia, nàng hờ hững với chồng bao nhiêu, bây giờ người chồng đau đớn, căm hờn ấy lại hờ hững với nàng chừng ấy. Buổi trưa, anh về ăn cơm, đọc báo, hút thuốc lá bên cốc nước đường pha chút rượu, hỏi qua loa nàng vài câu lấy lệ rồi cứ ngồi yên chỗ, ngả đầu ra ghế, ghếch chân lên thành cửa sổ, mệt nhọc thiếp đi một lát, lại vùng nhỏm dậy, rửa mặt khoác áo đến quân y viện hay xuống trại giam thăm bệnh các tội nhân. Anh sống như cái máy tự động, tưởng như không còn tình cảm nữa. Thái độ ấy càng làm cho Hạnh thêm đau khổ, nàng có thể đọc hết ý nghĩ trong đầu chồng, những ý nghĩ ấy đều bất lợi cho nàng, cũng chẳng ích gì cho anh hết. Đó là những ý nghĩ liều lĩnh: Anh đang tự đầu độc tinh thần, xác thịt mình. Anh làm việc lấy chết, sống trong tình trạng chết, đồng thời lôi kéo cả người vợ tội tình vào cái chết dần mòn, héo hắt, bi thảm đó. Mỗi lần, đứng trong cửa sổ nhìn theo chồng xuống chân đồi, nàng chua xót nghĩ chồng mình đang lao đầu xuống vực. Anh bước đều đều, khá nhanh, đầu cúi xuống, lúc nào cũng cúi xuống, trông cái đầu nặng trĩu ưu tư ấy như một chùm quả chín sắp lìa khỏi cành cây ải. Xuống đồi cũng như ngoi lên con đường thoải dốc hàng ngày, dáng điệu anh nhắc nàng nhớ đến hình bóng người chồng lừng lững, tay buông thõng, mặt lầm lì, lên xuống cầu thang gác xoáy ngược của tòa nhà ma quái đường Cửa Bắc ngày nào. Hạnh chán chường, mệt nhọc: “Trước kia mình bị tù trong cái lâu đài ma quái giữa kinh thành lộng lẫy, ngày nay mình lại là một kẻ bị tù đày ở gian nhà hoang phế nơi đèo heo hút gió, chung qui ở đâu, mình vẫn là tù”. Nàng thở dài, chép miệng: “Chỉ tại mình, lỗi ở mình. Mình chẳng dám trách chồng, oán Hải, do mình gây oan nghiệt mà thôi!”.


Đoàn người kéo gỗ, từng tốp một từ nãy đã bị dồn xuống dưới đồn. Bóng họ khuất sau những lùm cây mờ khí núi.


Bỗng một người cưỡi ngựa từ con đường núi trên đó có ngôi đền cổ, đang tiến về phía cửa sổ nàng ngồi ngắm cảnh rừng chiều. Con ngựa gầy thõng thẹo đi bước một khiến người ngồi trên cỗ yên làm bằng tấm chăn chiên màu xám rách cũng lắc lư như cái chuông đồng treo trên giá. Kỵ sĩ hình như không hề biết sốt ruột, đã quen với hai cặp vó khẳng khiu yếu đuối của con vật già lông xơ xác, mắt lừ đừ, thở phì phì như con rắn hổ mang hoa, bước thủng thỉnh trên đường rừng núi quạnh, dáng điệu mỏi mệt như con trâu đói cỏ đã lâu ngày. Kỵ sĩ buông thõng dây cương, có lẽ cầm cho khỏi buồn tay chứ thực thì đôi cương ấy rất thừa, vì có bao giờ cần gò, giật mỗi lần phi kiệu đại.


Con ngựa tới bên cửa sổ, tự dưng dừng lại, cơ hồ đã quen thuộc lắm rồi. Người cưỡi ngựa, từ từ nhảy xuống, reo lên:


- Bà đốc làm gì đó?


Hạnh vẫn ngồi yên trong ghế mỉm cười:


- Làm gì? Tôi còn việc gì mà làm. Đang mong ông đến chơi. Buồn lắm ông Lâm ạ.


Ông ta nhỏ bé, lùn loắt choắt, phải kiễng chân cho cái đầu to tướng nhô lên bờ cửa sổ, giọng the thé như tiếng thủy tinh cạo vào ống nứa:


- Cứ gặp bà là thấy kêu buồn. Như thế là dại khờ lắm nhé!


Rồi ông ta lắc lư cái đầu, hất chiếc mũ dạ cà mèng lên để lộ cái trán hói gồ kinh khủng, kéo lê đôi giầy vẹt gót làm bụi bay cả lên bộ đồ tây lụng thụng trơ khố tải. Ông ta cười khanh khách, và huýt sáo, đi vòng về sân trước, trèo qua mấy đống gạch vụn cỏ mọc xanh, vào nhà. Trước hết, ông ta móc túi quần bên phải lôi ra một con chó trắng đốm vàng đặt lên mặt bàn, rồi móc túi quần bên trái lôi ra con mèo đen như cục than tàu, đặt lên vai nàng.


Hạnh bật cười la lớn:


- Cái ông này làm trò quỷ thuật hay sao đó. Túi gì mà toàn đựng chó, mèo!


Ông Lâm cười ngặt nghẽo:


- Thấy bà không có bạn, nhà thì vắng như bãi tha ma, nên tôi đi bắt trộm ở nhà lão Mường dưới chân núi bên kia hai chú chó, mèo này mang ngay đến biếu ông bà Đốc cho vui nhà vui cửa.


- Cám ơn, ông săn sóc chúng tôi nhiều quá!


- Có gì!


Ông Lâm lại thò tay vào túi áo trong, lấy ra một gói giấy xinh xinh:


- Ơn Thượng Đế, tôi không bao giờ buồn phiền cả. Lúc nào tôi cũng thấy đời nồng men say như chai rượu mạnh. Vừa có rượu gửi lên, tôi mang một chai đến kính ông; mỗi ngày nhấm nháp chơi vài chén khuây sầu, lại là phương pháp cản bệnh sốt rừng kia đấy.


Vừa nói ông ta vừa móc túi lấy ra cái chai bẹp nhỏ và chiếc cốc bé bằng hạt mít, rót luôn ba lần uống cạn. Ông ta khà một tiếng làm rung mấy sợi râu mép mọc lưa thưa, vàng như râu ngô, buông rủ mép tựa bức mành mành rách.


- Bà nữa, thỉnh thoảng cũng cần uống một chén con. Ở đường rừng, uống rượu không phải là thói xấu. Chỉ xấu khi nào người ta không biết khôn ngoan và can đảm chống với ma thiêng nước độc, để rồi chết uổng.


Nàng cười lơ đãng:


- Cũng có người thích ngửa mặt thách đùa cái chết thì sao?


Ông Lâm ôm con chó vào lòng cười lớn:


- Chỉ có người chán cái lối tự tử bằng nước cường toan, dấm thanh thuốc phiện và súng lục, mới dẫn xác lên đây thi can đảm cùng nước độc.


Nàng gượng cười:


- Đời có ai điên cuồng, rồ dại thế không, ông Lâm?


Ông Lâm rót luôn cốc nữa, uống một nửa, còn thì đổ vào miệng chó, làm con vật sặc kêu lên, rồi đáp:


- Có chứ, tôi sẽ trả lời bà.


Nàng thẫn thờ vuốt lưng con mèo nhỏ:


- Ông uống nhiều rượu quá!


- Chính thế, bởi vì tôi can đảm quá, hay hèn nhát quá cũng vậy thôi. Vả lại đấy là hạnh phúc của tôi. Tôi chỉ còn ưa có rượu.


Lúc đó, dưới trại giam trong thung lũng vọng lên nhiều tiếng hò reo, ánh lửa lung linh mờ tỏ gợi cho nàng cảm giác đang lạc vào âm phủ, nghe tiếng kêu của hồn ma vượt cầu vồng. Nàng nói xa xôi như nói một mình khi chợt tỉnh vì ác mộng:


- Những tội nhân! Tội nghiệp!


Ông Lâm ngồi xuống ghế, đôi mắt mất ngay cái ánh sáng nghịch ngợm và riễu cợt:


- Vâng thưa bà, đó là những người chiến sĩ bị chính thể độc tài hạ ngục. Có người ở đây đã ba năm, có người ở lâu hơn chút ít, họ vẫn lấy sống làm vui, vì họ vẫn còn ôm hy vọng lớn.


Hạnh hỏi thẫn thờ:


- Người nhà họ có được phép thăm nom gì không nhỉ?


- Còn thăm nom gì nhau nữa, ở nơi ma thiêng nước độc này. Mà họ có mong mỏi ai đến thăm đâu. Họ vui với nhau không cần cả năm tháng. Đấy bà đã từng coi, họ ngả cây kéo gỗ trong rừng, ở trên đồi họ hát vui vẻ lắm.


Nàng ngậm ngùi thấp giọng:


- Tôi nghĩ rằng họ không còn nước mắt mà khóc nữa, ông Lâm ạ.


Ông ta cười nhạt:


- À, bà đừng tưởng thế. Họ cũng khóc rất nhiều, nhưng mà… đấy, bà nghe họ đang chảy nước mắt trong những tiếng hò hát đó. Họ khóc khi vui và đau đớn, khi thấy một bạn đồng tù rãy chết vì sốt rét, vì ngã nước.


- Tôi muốn ngày mai ông đưa tôi đi chơi một lát, trước xem phong cảnh miền này, sau xem anh em tù chính trị họ làm việc ra sao, có tiện không?


Ông ta vuốt sợi tóc xoăn trên vầng trán hói, hấp háy đôi mắt tròn đen, như mắt con sóc đang rình mồi trên cành lá rậm:


- Vâng, cũng được. Nhưng để hôm nào tiện. Mấy hôm nay, trong nhà giam tù phạm chết rất nhiều vì bệnh sốt rừng. Chết không chôn kịp nữa.


Nàng rùng mình:


- Tội nghiệp! Ngày ngày tôi ngồi đây, nhìn qua cửa sổ thấy họ làm việc ngoài rừng, có ý muốn ra xem, may có gặp mặt nào quen chăng.


Ông Lâm lại hau háu mắt nhìn ra ngoài đường núi, con ngựa gày đang tha thẩn gặm cỏ non ướt sương, lẩm bẩm:


- Một cái mặt quen!


Ông ta lại móc túi moi cốc chai ra đặt xuống bàn. Tiếng thủy tinh chạm vào nhau ghê rợn trong gian nhà hun hút gió.


- Kỳ dị quá bà Hạnh ạ, có một người đã biết bà, đã nhắc đến tên bà…


Nàng ngạc nhiên, ngảnh lại nhìn thảng mắt ông ta:


- Có một người quen tôi? Thế nào, ông Lâm?


Cái đầu nặng trĩu của ông Lâm nghiêng nghiêng:


- Một người bị tù tội và phát vãng vì đã viết sách báo chí chi đó. Anh ta vui vẻ bình thản nhất bọn anh em trọng phạm. Tôi rất thú anh ta vì lẽ anh ta cũng là một tửu đồ. Hát bộ, hát chèo cổ, hát cải lương Sài Gòn, ca Huế, ca cải cách, ngâm thơ đường luật và trường thi, rất giỏi. Còn tài nói chuyện về chính trị, văn chương, kinh tế, và nhất là những chuyện giang hồ thì sâu sắc vô cùng, dí dỏm vô cùng, không ai chê được. Anh ta có cái giọng và đôi mắt, nụ cười quyến rũ và chế ngự người nghe. Ồ, đôi mắt ấy khi biện luận, sáng một cách khác thường, mà cái miệng cười thì thật là ngậm ngùi, chua chát…


Ông ta nói một hơi để ca tụng người đó.


Hạnh gõ ngón tay vào thành ghế:


- Xin được ngắt lời ông bạn già của tôi. Tên người ấy là gì nhỉ?


Ông Lâm cũng gõ cốc vào chai rượu:


- Thưa bà, là Tuấn.


Nàng chau mày, suy nghĩ về cái tên xa lạ ấy:


- Ông Lâm ạ, dễ thường tôi chưa quen người đàn ông nào tên là Tuấn, kể cả các bạn nhà tôi.


Ông ta lại vuốt ve sợi tóc loăn xoăn trên vầng trán hói gồ, đó là thói quen khi sắp diễn một ý tưởng gì nghiêm chỉnh:


- Tất nhiên bà không quen. Nhưng người ấy biết bà từ lâu lắm. Bà lên đây được hai hôm thì người ấy nhân khiêng xác bạn đồng tù qua con đường dốc kia đã nhận được bà đang tựa cửa. Anh ta tin rằng bà đang mong ông ở bệnh viện về, nên đi ngay.


Ông ta ngừng lại, gõ thêm ba cái vào chai rượu mạnh vừa được dốc cạn:


- Vả lại một người tù, một người tù kiêu hãnh và tự trọng như anh ta thì thưa bà, ồ, thật là khó nói.


Ông ta đứng dậy chếnh choáng bước ra sân, đút tay vào túi quần, trơ trơ như cây cù mộc, đứng nhìn xuống khu nhà giam xa mờ trong bóng hoàng hôn. Hạnh cũng đứng lên, bước ra thềm:


- Ông có gặp người đó hôm nay không?


Lâm đáp, không ngảnh lại:


- Suốt ngày nay không thấy anh ta ra làm việc.


Nàng nói như thể săn sóc đến một người bạn hữu hay thân thuộc:


- Có lẽ ốm đau chăng?


Giọng Lâm vẫn thản nhiên mặc dầu ông ta nói đến một câu chuyện không khiến người nghe vui thỏa:


- Có thể lắm, trong nhà giam người ta đang thi nhau ngã, kẻ sống chẳng đủ sức mà thương người chết nữa. Tôi xin phép bà đi xuống trại thăm anh ta. Nếu còn kịp thì…


Ông ta vỗ vào túi áo:


- Túi này còn chai rượu mạnh nữa, uống với nhau ba cốc rồi thì kẻ đi người ở cũng cứ vui, có phải thế không bà?


Rồi ông ta cười ằng ặc. Cười xong, miệng ông ta méo hẳn đi, tưởng rằng vừa ngộ gió. Hạnh lắc đầu:


- Ông thì vui với cả cái chết chóc của thiên hạ.


Lâm nhìn vào mặt người đàn bà, và cái miệng vừa méo vì cười càng méo nữa bởi nấc liền ba bốn cái.


- Chính thế bà Cung ạ. Sao lại không vui khi người ta ai cũng đã biết rằng cuộc đời này chỉ toàn những trò nhố nhăng phiền phức. Cho nên, cần uống rượu. Và bây giờ tôi đi tìm những người không sợ chết để uống rượu cho vui đây. Thưa bà lát nữa, ông Đốc về, tôi xin trở lại. Tôi cần nói với ông nhà nhiều chuyện lắm. Mà ngay tối hôm nay, nếu người ấy quá là trọng bệnh, tôi cũng phải tìm ông vào trại coi con bệnh.


Ông ta lảo đảo vòng qua sân, ra cửa sau lên con đường núi dốc xuyên rừng. Đứng trên đường cao, Lâm cho hai ngón tay vào miệng huýt ba tiếng sáo. Tức thì con ngựa già thông thạo tìm về với chủ. Ông ta chậm rãi leo lên cái sống lưng xương xảu của con vật già gần ngang tuổi ông ta, rồi khẽ thúc gót vào dưới bụng. Ngựa và người lại thõng thẹo đi vào bóng chiều.


Hạnh nhìn theo bóng ngựa ông Lâm, thầm nhủ:


- Sao lại có một người tù chính trị quen mình. Mà người ấy lại là một nhà văn. Mình chẳng biết có quen không, nhưng cứ thấy nói là một văn nhân mình đã có cảm tình rồi. Tuấn! Cái tên xa lạ quá!


Giờ lâu, nàng ngồi lặng lẽ thu mình trong chiếc ghế bành, trên đùi tấm nỉ hoa phủ kín xuống đôi bàn chân nõn trắng. Cái Oanh bưng cây đèn dầu hỏa dưới bếp lên, ánh sáng phá tan bóng tối đang vây kín nàng.


Người tớ gái nhẹ tay đặt cây đèn xuống mặt bàn, nói:


- Chiều nay, ông con về muộn thế! Độ này, ông con ham làm việc quá, hẳn bà cũng lưu ý như con.


Ánh đèn làm chói mắt. Nàng đứng lên, ra bàn ăn giúp cái Oanh xếp các món lên bàn, khẽ đáp:


- Ít ngày nay, ông gày hẳn đi, đêm ông choàng tỉnh, kêu như bị bóng đè, thần kinh suy nhược, lại ăn uống thất thường cứ thế này chừng tháng nữa thì ông ốm mất.


Người tớ gái ngước nhìn nữ chủ, giọng bùi ngùi:


- Bà cũng chẳng hơn gì ông con đâu ạ. Da mặt bà độ này giảm hẳn màu tươi mát, mắt thì vẩn đục, mà lại gày võ quá nhiều. Có đêm ông chẳng ngủ nhà, con nằm ở giường, thấy bà giật mình luôn, và cũng kêu ú ớ, có khi nói thành tiếng nữa…


Nàng liếc nhìn. Cái Oanh ánh mắt buồn thăm thẳm đang ngồi bên ánh đèn sáng:


- Thật thế ư? Ta kêu thành tiếng… Thế nào kia chứ?


Người tớ gái ngập ngừng, vô tình gieo mạnh mớ đũa xuống mặt bàn:


- Thưa bà… khi ấy con hốt hoảng cũng không còn nhớ nữa.


Người tớ gái vẫn thường quen thói bỏ lửng câu chuyện đang vui miệng, khiến nàng nhiều lúc phải bực mình.


- Tôi nói sảng thế nào, chị cố nhớ ra xem.


- Thưa bà, sá gì những câu nói mơ hồ khi mê ngủ, bà tha cho, đừng bắt con nhắc đến. Nhưng lúc nào tiện dịp, con sẽ cố nhớ lại kể bà nghe…


Mặt người tớ gái tranh tối tranh sáng hằn nếp nhăn giữa khoảng đôi mày giao nhíu lại. Nàng vụt nhớ Trâm ngày nọ đến kể nửa vời câu chuyện nhà ma, lời nói cũng cứ buông lửng thế kia và nét mặt dưới tia chớp chiếu qua cửa sổ chiều mưa bão ấy cũng hao hao giống mặt người tớ gái chuyện trò dớ dẩn bên ánh lửa lúc này.


- “Thế là nghĩa làm sao?”. Hạnh tự nhủ thầm, lòng càng thêm héo hắt. “Anh ấy đã thờ ơ, lãnh đạm với mình. Con bé ở là kẻ thân tín nhất của mình trong cảnh tù đày phát vãng, cũng ỡm ờ bí mật, cớ như ma quỷ hiện để dò la báo chướng mình cho đến chết. Mình sống sao được nữa, nếu anh ấy còn cố chấp, không bao giờ tha thứ”.


Nàng ngồi xuống ghế, nỗi niềm tủi cực dâng lên khiến nước mắt chảy rưng rưng. Cái Oanh nhẹ bước bưng lên chiếc hỏa lò than cháy đỏ và bó củi gộc khô, đặt dưới chân nàng:


- Ngoài kia rét lắm! Rét đến chết cả cây rừng. Thế mà ông con…


Chị ta ngừng lại, ngồi cạnh lò than chất củi, ghé miệng thổi cho bùng cháy. Lẫn vào đấy một mẩu củi thông, nhựa tiết khói ra khét lẹt. Cái Oanh dụi mắt khói cay:


- Bà sưởi chân cho khỏi cóng. Đốt lửa sẵn thế này, lát nữa ông con về vừa sưởi vừa xơi cơm.


Nàng cúi nhìn ngọn lửa rừng rực bốc xòe ra bần thần nói:


- Ở đây nhàn rỗi thế này, giá có vài chục cuộn len mà đan áo cũng đỡ buồn đôi chút. À hôm nay ông có mặc thêm áo va rơi dạ ra ngoài không nhỉ? Chị có để ý không?


- Thưa bà, ông chỉ mặc có chiếc áo len cộc bên trong. Hình như ông không còn biết gì là rét. Con tưởng chừng da thịt ông con chẳng có cảm giác nóng lạnh là chi nữa. Người ta thường khi quá rét ở trong lòng thì không còn thấy rét ngoài xương thịt, có lẽ ông con rét nhiều ở nội tâm mà quên cái rét bên ngoài đó chăng.


Hạnh không đáp, nàng thấy sợ ánh mắt ma quái đang lung linh soi vào lửa đỏ.


- Con nhận thấy từ khi rời bến sông lên đây, ông con càng thêm âm thầm. Bà để ý coi bàn tay ông con có lúc nắm chặt lại, có lúc mười ngón xòe ra, con ngỡ ông con sắp bóp cổ một người nào, nhưng lòng còn cố nén. Môi ông thường mím, đôi khi cười nhạt một mình. Có điều lạ: sao ông cứ tránh bà, ngồi không nhếch mép, mà trước kia ở Hà Nội, sau này ở bến sông, và bây giờ ở chốn sơn lâm quạnh vắng này, ông bà vẫn cứ phòng riêng mãi…


Đầu củi nổ một tiếng nhẹ ròn, bị bắn hoa lửa vào bàn tay, người tớ gái suýt soa đau:


- Như thế, bao giờ con mới có em bé ẵm?


Cái Oanh cúi xuống, giọng chìm chìm:


- Ắt hẳn ông con u uất tâm sự, sao bà không gợi hỏi để có lời an ủi. Lạ điều nữa, ai chẳng biết rằng ở nơi lam sơn chướng khí, phải tránh muỗi, kiêng nước lạnh, không ăn hoa quả độc, vậy mà hàng đêm, ông con vẫn ngủ không màn, muỗi đốt sưng cả mặt, hàng ngày ông con vẫn tắm nước suối nước khe dù lạnh rét, và bữa ăn vẫn xơi rau sống, tráng miệng bằng quả chín quả xanh. Con trộm nghĩ: ông con cơ hồ muốn đánh một tiếng bạc liều chí mạng đó, thưa bà.


- Chị Oanh!


Hạnh thốt kêu gần như gào khóc. Gió rừng đêm lùa qua khe cửa rít như tiếng hú đâu từ một bãi tha ma nào vọng lại. Mặt người tớ gái càng ghê rợn bên lửa đỏ, và giọng nó càng ớn lạnh, xa xôi:


- Thưa bà, ngày xưa đã có hai người yêu nhau ở tòa nhà ma quỉ ấy, thế rồi họ không lấy được nhau..., đến nỗi người con gái mài dao một sớm… người con gái quyên sinh, máu oan nghiệt đã thấm vào hoa lá, nhưng hồn thiêng còn u hiển, còn vương vấn mãi một tấm lòng…


Đôi mắt người tớ gái vụt quắc lên, rồi từ từ nhắm lại. Nàng nắm chặt bàn tay run cóng vào thành ghế, thốt kêu:


- Chị Oanh! Chị Oanh!


Con mèo đen ông già Lâm vừa mang đến cho lúc ban chiều từ nãy vẫn co ro thu mình ở góc phòng. Mắt con vật biếc xanh trong bóng tối chiếu thẳng về phía Hạnh, rồi vươn mình nhảy vút lên cửa sổ. Nàng rú mấy tiếng liền xòe tay ôm kín mặt. Người tớ gái đứng ngay lên, lặng lẽ bước ra sân. Gió lạnh thốc lùa vào. Theo gió lạnh, Cung đã đứng ở giữa nhà, không khép cửa. Mắt anh sâu thẳm như trời đêm nhìn lừ lừ vào gáy nàng, cánh tay anh buông thõng theo thói quen, bàn tay nắm chắc… Người vợ thấy ớn buốt sau lưng quay đầu lại, nhìn chồng sợ hãi, và lắp bắp:


- Mình! Mình về muộn quá!


Nàng rời ghế đứng lên, ra đóng cửa rồi đỡ chiếc ba lô nặng trên lưng chồng xuống, nắm cánh tay gầy guộc, nói nghẹn ngào:


- Mình mặc mỏng mảnh thế này, chịu sao nổi cái rét đường rừng. Mình ngồi xuống, lò than đã đốt hồng, đợi mình về sưởi. Mình ngồi xuống ghế, em pha nước trà nóng với đường và rượu mạnh, mình dùng cho ấm bụng rồi xơi cơm.


Hạnh đẩy chiếc ghế nàng vừa ngồi đến phía chồng. Nhưng anh đã lặng lẽ ngồi xuống chiếc ghế vẫn quen ngồi mọi buổi trưa và tối trong giờ ăn và giờ đọc sách. anh móc túi lấy píp, nhồi thuốc lá Mường, cúi lưng nhặt than củi di vào đầu píp. Lửa đốt cháy sợi thuốc khô sèo sèo kêu trong ruột tẩu lẫn với tiếng pập pập ở cặp môi se lạnh đang rít khói. Hạnh bưng cốc nước trà ngát hương, hai tay kính cẩn đưa chồng. Cung đỡ cốc nước, nhắp một ngụm, nói chậm rãi rẽ rọt từng câu một như thường khi anh vẫn nói, mắt không nhìn nàng:


- Ban nãy nghe cái Oanh nói chuyện gì mà mình rú lên như vậy?


Hạnh chậm chạp đi vòng sang bên kia bàn, mệt mỏi ngồi xuống ghế, khẽ đáp:


- Chị ấy kể một câu chuyện ngày xưa… câu chuyện cổ tích… đến đoạn một người con gái thất tình nên phải quyên sinh, em xúc cảm quá kêu lên, không ngờ đúng lúc ấy mình đẩy cửa vào…


Đang nhìn lửa cháy dưới chân, nghe nói vậy, Cung thốt nhỏm lên, nhưng lại ngả mình ra lưng ghế, giọng vẫn chậm rãi xong yếu đi đôi chút và vẫn chẳng nhìn mặt nàng:


- Mình bảo thế nào? Chuyện người con gái quyên sinh? Chuyện ngày xưa?


Bàn tay hơi run, Cung nâng cốc nước uống cạn một hơi rồi đặt cốc xuống mặt bàn, cặp mắt thêm tối:


- Chuyện ngày xưa, mình còn trẻ dại lắm đấy sao mà ngồi nghe cổ tích. Nó hay nói nhảm nhí dông dài, tôi khuyên mình nên xử sự cho ra người chủ.


Nàng cúi đầu nghe. Cái Oanh đã xới cơm. Anh quay ghế lại bàn ăn, không quở người tớ gái, cũng không trò chuyện gì với vợ. Người vợ đã quen sống cái không khí trang nghiêm, trĩu nặng từ bốn năm nay trong bữa ăn trưa tối, giờ đọc sách báo dưới đèn ở tòa nhà ma Cửa Bắc. Không ai nói với ai, nàng vào phòng riêng ở dưới nhà ôm gối. Rồi anh lừ lừ lên gác, bóng hắt tường như quỷ nhập tràng, đứng nhìn rặng cây oan nghiệt dưới vườn đêm.


Cung chỉ ăn một chút rồi buông đũa. Nàng vội đặt bát, lo lắng hỏi:


- Mình xơi đi chứ, sao uể oải thế mình?


- Tôi thấy hơi khó chịu.


- Mình thấy thế nào? Cho em biết với. Uống một chút rượu mạnh nhé?


- Không sao đâu. Chỉ hơi mệt mỏi. Có lẽ vì sáng nay đi xe đạp leo đồi nhiều quá. Mình cứ ăn đi, đừng bận tâm về tôi nhiều thế!


- Em chờ mình khỏi mệt, rồi cùng ăn. Nếu mình thật khó chịu thì xin mình cho em biết. Ông Lâm vừa mang rượu đến biếu, mình uống một tí cho nóng bụng.


- Cảm ơn mình. Tôi không muốn uống. Hình như độ này mình ép tôi dùng rượu hơi thái quá. Nếu mình cứ ép mãi, e rằng tôi nghiện rượu như ông Lâm mất thôi.


Ngừng lại, anh cúi nhìn lửa đỏ. Hạnh bỏ khăn ăn đứng dậy, kéo ghế ngồi đối diện chồng cùng sưởi. Người tớ gái vừa thu dọn bàn ăn, vừa nhìn vợ chồng chủ nhân lắc đầu chán ngán: “Hai ông bà thi nhau ngậm miệng, thi nhau nhịn đói, thi nhau ăn độc, nằm muỗi đốt, thế này thì nhất định một trong hai người sẽ táng mạng ở rừng xanh. Còn có cuộc tự sát nào thê thảm hơn được nữa!”.


Chị ta quen lệ bưng đĩa hoa quả tráng miệng lên, rồi xuống bếp. Anh nhắp chút rượu, châm thuốc hút:


- Ông Lâm lại đem cho rượu nữa. Ông ấy chu đáo quá, lo cho mình hơn là chính ông ta.


- Mình nghĩ về cái ông già vui vẻ ấy thế nào? Mà ông ta làm gì ở miền này, em chưa biết đấy.


- Ông ấy có những việc làm không ai biết được. Cũng không cần biết, vì chắc chắn là ông ta chỉ làm điều hữu ích, tốt lành, cho nên không ai muốn tò mò dò xét hành vi tung tích ông ta nữa. Tôi thấy ông ấy ngay thẳng, dễ dãi, và hơi ngộ nghĩnh.


Nàng vui theo câu chuyện bên lò lửa sưởi. Vả đây cũng là lần đầu từ ngày lao thân vào cuộc phiêu lưu miền nước độc, anh mới nói nhiều với vợ quá ba câu. Nàng tiếp ý nghĩ về ông Lâm:


- Ông ta thật thông minh. Nói chuyện có duyên đáo để. Một câu chuyện thường đến đâu được ông ta kể cũng hóa đậm đà thú vị. Trông ông ta, không ai nỡ nghĩ đến tuổi tác một ông già mà chỉ thấy đó là một đứa trẻ tinh quái, ranh mãnh, luôn luôn nheo con mắt hấp háy cười một nụ cười nhạo đời, hóm hỉnh.


- Anh em tù phạm quý ông ta lắm. Bởi vì ông ta hay tổ chức cuộc đánh chén với họ ở trong rừng, lại khéo xin cho họ được làm ít giờ đi. Họ vẫn gọi ông ấy là anh cả.


Bỗng thấy chồng chú ý nhìn điểm sáng xanh ở góc nhà, nàng bật cười:


- Đó là chú mèo đen và anh chó trắng ông Lâm đem đến ban chiều. Ông ấy thương em trơ trọi, nên cho em đôi bạn mới.


Cung không đáp.


- Cảnh chúng mình nghĩ cũng buồn, nhất là em. Những giờ mình đi làm vắng, em chỉ một mình ra ngoài rừng núi nghe chim hót, hoặc nhìn những bóng tội nhân kéo cây khiêng gỗ qua đồi. Thỉnh thoảng ông ta cỡi ngựa qua cửa, lại rẽ vào ba hoa dăm ba câu. Có ông ấy, em cũng được khuây sầu chốc lát. Mình có để ý đến chuyện gia đình của ông Lâm ra sao không?


- Tôi không lưu ý, chỉ biết rằng ông ấy luôn luôn cỡi con ngựa già ốm yếu ấy vượt biên giới qua Nam quan, qua Long Châu, sang mãi tận ranh giới Tầu rồi lại cỡi ngựa già thủng thỉnh về đây, tuyệt nhiên chẳng có ai hỏi han ngăn cấm hết. Thật là một sự lạ, nhất ở con người bé nhỏ khôn ngoan ấy. Nghe nói ông ta vừa lấy cô vợ người Mường, chừng như đẹp lắm.


- Thật là một người vô tư lự. Sống như con trẻ, phải cái uống nhiều rượu. Giá mình khuyên ông ta đừng bê tha quá có lẽ hay hơn.


Anh nhìn vợ, cười nhạt:


- Sao lại khuyên người ta uống ít đi khi người ta đã lấy rượu làm hạnh phúc, hay làm liều thuốc quên. Ừ, nếu có thể quên…


Nàng đứng dậy ra góc tường ôm con mèo đen lên tay, tiến đến đặt nó xuống lòng chồng. Cung vuốt đầu con vật xinh xắn, lắng nghe tiếng kêu thảm đạm của loài hoẵng ở ngoài rừng.


Hạnh đứng nép bên chồng, vuốt mớ tóc rối bồng của người chồng đang im lặng, một lát nàng ngập ngừng:


- Mình cho phép, hỏi một câu…


Anh nhìn tia khói thuốc vẩn thành mấy vòng xích nối vào nhau…


- Mình cứ hỏi.


Nàng nói rất nhanh, nói một câu mà nàng đã sẵn trong đầu có lẽ từ lâu lắm:


- Mình đày em lên đây, mình có muốn cho em rửa tội không?


Anh chỉ nhìn người vợ bằng đuôi mắt, rồi lại nhìn trừng trừng vào ngọn lửa vừa bốc cháy, thờ ơ đáp:


- Tôi không muốn mình nhắc đến câu chuyện ấy.


Xen vào đấy một tiếng thở dài:


- Mà nhắc nhủ đến làm gì nữa, Hạnh!


Bàn tay nàng run rẩy nắm vai chồng:


- Em thấy rằng mình âm thầm phiền não về chuyện cũ. Em cũng vậy. Không lúc nào em có thể quên, nhất là trong những ngày sống thảm thương này. Mình ơi, em xin phép mình, cho em nói vài câu, chỉ vài câu thôi, kẻo cả hai ta cứ uất mà chết mòn đi mất.


Anh vẫn trừng trừng nhìn lửa bốc:


- Được, mình cứ nói.


- Em đã phụ mình.


Thốt nhiên, anh đứng bật lên, bước qua lò lửa đỏ, làm mấy cành củi đang cháy rực bắn tung ra nền gạch ẩm. Anh đi lại quanh phòng, theo thói quen hai tay buông thõng, bàn tay nắm chặt, mắt nhìn xuống đất.


Nàng đứng giữa mấy thanh củi cháy, nhìn theo chồng, giọng van lơn.


- Em đã phụ mình. Nhưng lòng mình cao cả quá, mình không nỡ xử tàn tệ với em, mà chỉ lặng lẽ trừng phạt em trong cảnh tù đày héo hắt. Bây giờ thì em tự xét không còn xứng đáng để mình nắm bàn tay tì ố của em.


Cung chỉ cười khảy không nói.


Người tớ gái bưng lên bình trà nóng, vội cúi nhặt những thanh củi vung vãi trên mặt đất sắp bén đến chân nữ chủ, khẽ lắc đầu xót thương “Tội nghiệp, oan khiên này còn là kéo dài. Biết bao giờ giải được!”. Rồi chị ta cúi đầu bước ra sân, chiếc áo cánh mờ mờ màu trắng trong bóng tối.


- Em sợ mình, từ lâu em tránh mắt mình, mà mình thì ghét thù em. Em chỉ còn biết cầu Trời cho mình đỡ đau khổ vì em.


Anh cười ra tiếng:


- Cảm ơn. Mình tưởng tôi đau khổ là mình nhầm đấy. Tôi bận bịu bao nhiêu công việc, không có đủ thì giờ nghĩ về mình.


- Em cũng biết mình chẳng còn đoái hoài đến em. Nhưng cách trừng phạt âm thầm ấy còn độc ác bằng vạn nhát dao nạo xương, xẻo thịt. Thà rằng giết ngay em! Mình ơi, hãy giết em ngay một cách nhân đạo hơn một chút. Viên đạn kia chẳng hạn. Sao chẳng giết em bằng viên đạn nạp sẵn trong ổ súng này.


Nàng sấn đến bàn, mở ba lô của chồng lôi ra khẩu súng, đưa ngay vào ngực. Rất nhanh, người chồng kịp hất tay, khẩu súng lục rơi xuống đất.


Cung nhặt khẩu súng bỏ túi quần, rồi vẫn cứ đi lại quanh phòng, dẫm cả lên tàn than lửa. Nàng buông mình xuống ghế, gục vào cánh tay mà khóc. Anh dừng gót trước mặt vợ, lặng im một lúc, rồi nói giữa tiếng nức nở của người đàn bà tội lỗi:


- Mình đã coi thường tôi lắm. Bây giờ sao lại thế này?


Hạnh ngẩng lên nói trong nước mắt:


- Bây giờ em tự khinh em, em cần chuộc tội với mình. Xin mình cho em theo đến các quân y viện giúp mình săn sóc bệnh nhân, và nếu có thể, săn sóc những người tội phạm.


Người chồng lạnh lẽo đáp:


- Việc ấy khó nhọc và nguy hiểm lắm. Tôi tưởng tính mình tha thiết cái gì thì tha thiết lắm mà chán chường thì cũng chán chường ngay. Như vậy, trò chơi giải trí ấy chẳng thú vị được bao ngày.


Nàng phẫn uất kêu lên:


- Mình khinh rẻ em đến thế kia ư?


Cung im lặng, mở cửa sổ cho gió lạnh thốc vào. Nàng rùng mình rét. Cả hai cùng im lặng. Nàng gục mặt xuống cánh tay, nức nở. Sau đó, nàng lau giọt lệ chan hòa:


- Em khóc, mình đừng để ý. Em không muốn khóc mà nước mắt cứ trào ra. Em tự khinh em bao nhiêu càng sợ hãi mình chừng nấy. Độ này, mình ít ăn, ít ngủ, làm việc lao lực quá. Mình vùi đầu vào cõi chết kia để làm gì, để mà tự sát đó phải không? Em biết, em biết mình đi như thế, chỉ vì em. Em thương xót mình, em muốn an ủi mình, nhưng mình nghiến răng nuốt cái đau hờn, mình không cần em an ủi. Mình tởm lợm em, coi như không có em ở trước mặt, ở trong đời mình nữa.


Anh dằn giọng:


- Mình có thể về Hà Nội. Tôi muốn mình làm ngay việc ấy.


Đó là tiếng sét xé trời và làm tan rã thể xác linh hồn Hạnh. Nàng rên thảm thiết:


- Sao lại thế hả mình?


Mắt anh ngun ngút lửa, giọng anh dằn từng tiếng:


- Mình tính xem, một người có mang ở đây sao tiện. Thoạt ra đời, đứa bé đã phải tắm ngay bằng nước độc, nó sống làm sao chứ?


Nàng tê tái, lịm người đi. Anh tiếp:


- Mình có mang hai tháng nay rồi. Mà hai tháng ấy tôi với mình không hề chung chăn gối. Tôi không phải là cha nó. Mình về Hà Nội đẻ, đứa trẻ tội nghiệp sẽ có người cha ký giấy khai sinh.


Anh im bặt, tự kiềm chế cơn giận dữ bấy lâu đốt cháy tâm can mình.


Nàng run rẩy nói:


- Mình thử bình tĩnh nghĩ lại xem. Em hư hỏng, đã đành rồi. Nhưng bảo rằng cái thai kia không có máu huyết mình thì có phần oan uổng. Mình nhớ lại, mình ơi, đã có một đêm, em được gần mình… đêm ấy… xin mình nhớ lại…


Người chồng ngồi xuống ghế, đưa bàn tay giá ngắt đỡ lấy vầng trán đang có những ý nghĩ bạo cuồng.


Hạnh đứng sau lưng chồng:


- Đày em lên chốn đèo heo hút gió này, có phải mình định tâm nhờ ma thiêng nước độc giết em không?


Anh thay mồi thuốc khác, lúc lâu mới đáp:


- Tôi có ý đó ban đầu. Còn bây giờ…


- Nhưng ít ra, bây giờ, em cũng được biết rằng mình đã tha thứ cho em. Người cai ngục đã truyền tháo xích, thả tội nhân ra ánh sáng. Mình cho em về. Nhưng trên cõi thế gian này, em còn biết về đâu, xin mình cho em được sống để ăn năn hối lỗi kính thờ mình, và lúc chết được mình vùi cho mớ thịt xương tội lỗi ở gốc cây bờ suối.


Cung vẫn lạnh lùng không xúc động, nhưng nếu cái Oanh nấp ngoài cửa nhìn đôi mắt loáng ướt kia sẽ thấy rằng con người sắt đá đã se lòng vì câu van lơn của vợ. Tuy nhiên, anh cứ thờ ơ:


- Thế là chúng ta cùng thi nhau hủy hoại đời mình, có phải vậy không? Mình ở lại đây cũng được. Tôi không dự vào việc riêng của người nào hết. Cái đó tùy ý mình.


Nàng ngùi ngùi:


- Mình hãy ban cho em một lệnh. Mình muốn thế nào em cũng xin theo lời chỉ giao.


Cung vươn vai tỏ ra mệt nhọc, rút túi quần lấy chiếc đồng hồ Omega cổ, soi lên ánh đèn dầu:


- Mười một giờ rồi. Tôi cần xuống dưới trại giam. Mấy bệnh nhân trầm trọng có thể trở bệnh vào hồi sáng. Mình ở nhà cố ngủ cho đẫy giấc. Đọc sách đi, đó cũng là liều thuốc ngủ.


Biết rằng không nên ngăn cản chồng khi nào anh cần đi thăm con bệnh trọng, Hạnh cầm cây đèn theo chồng ra ngoài thềm lộng gió.


- Mình đi cho cẩn thận. Em đã quen cảnh một mình rồi. Mai mình về sớm nhá!


Anh thuộc đường và quen bóng tối ít lâu nay, thoắt cái đã xuống hết sườn đồi. Ánh đèn pin rọi lấp loáng dưới đường dốc chạy xuống trại giam vụt nhắc Hạnh nhớ đến đêm ngoại tình với Hải, chính ánh đèn kia đã soi vào tâm linh Hạnh.


Gió quằn quại rít quấn lấy bờ rào nứa ken cánh sẻ làm bật lên một thứ âm thanh từa tựa tiếng tơ rung ở ruột cây phong cầm lớn. Nàng đăm đăm nhìn theo mãi ánh đèn khi hiện khi tắt như ma chơi ở nẻo đường xa, nao nao nghĩ:


- Lòng anh ấy thật là cao cả. Bây giờ mới hiểu được lòng chồng, có lẽ đã muộn mất rồi!


Gió quất vào mặt Hạnh sắc như những đầu roi. Nàng nhắm nghiền mắt lại, kêu một mình trong đêm tối:


- Sao tôi trơ trọi thế này. Ở dưới kia có một cái đề lao. Gian phòng này cũng là một cái đề lao. Mình bị tù đày không biết đến bao giờ mới hết. Bây giờ lại có mang, sao mà đắng cay đến thế. Đã đến nước đời này, chỉ còn cái chết là xong chuyện.


- Thưa bà, đêm khuya trời nổi gió, bà nên vào nghỉ kẻo cảm lạnh.


Cái Oanh đứng sau lưng nữ chủ tự lúc nào, tay cầm cây đèn dầu, bấc lửa bị gió lùa đưa khói lên liếm đen nửa thông phong. Hạnh giật mình quay lại. Người tớ gái đỡ cánh tay chủ, dìu vào. Nàng tựa mình vào nó, chán nản bước vào gian nhà quạnh vắng. Con mèo đen đang vờn nghịch mẩu củi than chưa vạc tắt. Nó phun phì phì hệt loài rắn thường trườn mình đớp vội những tàn lửa đóm của khách dạ hành để rơi xuống đường cỏ.


Nàng vào giường. Cái Oanh thu dọn chén tách và quét tàn thuốc lá vương vãi quanh ghế Cung ngồi ban nãy. Mỏi mệt, người tớ gái tiến tới bên ngọn đèn thò tay vào túi áo lót mình lấy chiếc túi đen, rồi rốc ra mảnh giấy, soi nghiêng vào ánh lửa gió lùa chập chờn. Mấy dòng chữ hiện ra ở mặt giấy dầu, và ở mặt sau in một bàn tay máu.


Mái tóc người tớ gái rũ ra, đổ xuống đôi vai gày guộc. Mái tóc dài đen nhánh ủ cả hai bên má trắng nhợt nhạt như cánh nhài vừa nở trong bóng tối, đôi mắt to đen mở thao láo nhìn vào vệt máu huyết thư kia càng khiến cảnh đêm tịch mịch thêm ghê rợn.


Cái Oanh uể oải gấp mảnh giấy bỏ vào chiếc túi đen, thắt sợi chỉ ngũ sắc buộc chặt đầu túi vải, và cẩn thận bỏ vào bên trong áo lót mình.


Mái tóc xõa buông dài xuống hết lưng, người tớ gái lặng lẽ, lừ lừ tiến đến phòng ngủ Hạnh, sau khi thổi tắt đèn. Ả nắm chắc con dao díp nhỏ sắc như lá lúa, run tay đẩy cửa, lách mình vào.


II


Trời hửng nắng. Nắng rờn rợn trong gió bấc rọi xuống những dòng nước suối lũ sáng lấp lóa một màu bạc pha vàng.


Hôm nay, chợ Mường họp phiên ngày chẵn. Những màu áo chàm xanh điểm lác đác trên các nẻo đường đất đỏ lượn quanh co theo những hàng cây lim, cước mọc kín dãy đồi cao trùng điệp. Sơn nhân vội vã gánh hàng xuôi chợ, con địu ngang lưng, để rồi vội vã trở về với nương cày đang dở luống.


Ông Lâm rẽ một cành cây hoa trắng như hoa mai cho khỏi vướng vào mình Hạnh trên lưng ngựa. Cành cây rung động, rắc hoa xuống đầy mái tóc và tà áo. Nàng lỏng tay cương, nhặt mấy bông hoa ngàn rắc xuống đường.


Con ngựa gày đủng đỉnh gõ móng sắt mòn xuống nền đất núi, đuôi phe phẩy và đầu cúi xuống nom nó buồn rầu như con lạc đà đói khát lang thang đã lâu ngày trên cát cháy. Nàng bật cười:


- Ở đất rừng này, và cỡi ngựa già của ông Lâm, tôi mơ hồ cảm thấy sống lùi lại nghìn kiếp trước.


Lâm vỗ vào đầu ngựa nhắc nó bước qua đoạn rễ cây cổ thụ cong hẳn mình lên vắt ngang đường, lớn như con trăn gió.


- Kể thì bà Hạnh chẳng khác gì Hạnh Nguyên mấy chút đâu.


- Ông Lâm bảo thế nào?


- Tôi bảo rằng sẽ có ngày tôi buồn mà nâng chén, tiễn bà về Hà Nội.


Vó ngựa thụt xuống vũng đất lõm sâu khiến Hạnh chúi đầu suýt ngã, nàng la lớn:


- Tôi về Hà Nội? Ông Lâm là thánh tiên tri đó chắc?


Lâm vỗ đầu ngựa rẽ sang con đường tắt và làm như không nghe thấy lời nàng nói vừa rồi:


- Cái lão giang hồ thủy thủ già này, từ khi vất mộng hải hồ lui về sơn cước tạm náu thân đã một lần, cách đây mới ba năm, tiễn đứa cháu hồng nhan tang tóc trở về với mẹ già nơi quán gió. Chà! Thực thương cho phận hồng nhan, bà Hạnh ạ. Nó là đứa cháu dâu, nhưng tôi thương sót nó vô ngần. Tên cháu là Trâm, Trâm là con nhà trâm anh, quyền quý. Mẹ Trâm xưa là một ca nhi tài sắc sông Hương, lấy chồng đất Bắc sinh ra Trâm, nuông chiều Trâm vì Trâm sắc tài như mẹ. Cha Trâm làm tri phủ, khắc bạc với dân lành, oán thấu trời cao. Loạn bốn phương, dân lành vót tre mài giáo, một đêm phá phủ đường giết bạo quan, do thế, mẹ con Trâm cơ khổ chạy lên phía Bắc. Để mưu sinh, mẹ con Trâm dọn quán bán hàng. Quán một gian, bốn mùa gió bến sông lộng mái, mẹ con Trâm như đôi gà nem nép trước phong ba. Rồi đó, Trâm phải lấy chồng, biệt mẹ già đưa nhau lên chính miền này. Điều chú ý là Trâm bị lấy chồng, để rồi sau khám phá ra: bạn trăm năm kia là kẻ đã bắn bố mình đêm khởi loạn.


- Trời ơi, sự đời mà đến thế, đau khổ biết bao nhiêu!


Ngựa qua một cành cây có chùm quả đỏ buông rủ xuống, ông ta ngừng chuyện và ho mấy tiếng chấm lửng câu nói thương sót của Hạnh. Rồi cái thân hình ngũ đoản loắt choắt mà nhanh như con vượn đã ôm cây leo thoăn thoắt, chuyền ra đầu cành hái chùm quả ngọt, đoạn lao mình nhảy xuống ngã còng queo trên bãi cỏ xanh non. Hạnh kinh sợ kêu lên, loay hoay toan xuống ngựa đỡ ông bạn già ngồi dậy, nhưng Lâm đã ngồi nhỏm lên, xoa cái trán hói sọ dừa, cười khanh khách, rồi móc chai rượu con trong túi áo, mở nút nốc một hơi, và đưa cay bằng trái cây vừa hái.


Uống đủ ba ngụm, ông ta đứng dậy, lắc lư cái đầu, lại nắm dây cương dắt ngựa đi. Ngồi trên yên, nàng chờ ông ta kể nốt, nhưng đi một quãng dài, ông ta chẳng nói năng gì, đầu gục xuống như đầu ngựa, và cũng thở phều phào như con vật già.


- Ông Lâm mệt lắm ư? Tôi xuống đi bộ đến lượt ông cỡi ngựa, như thế cho công bằng chứ.


Ông ta hếch cái mũi đỏ sọng và cặp mắt ngầu tia máu, cười:


- Không đâu, tôi thường vượt qua biên giới sang Tầu, rồi lại vượt ải qua đèo, vượt thác, trở về đây, dẻo dai và dễ dàng như hôm nay đưa bà đi chơi chợ, có thấm gì! Mời bà cứ dùng con thiên lý mã này, gọi thế, bởi vì nó đã đưa tôi đi vạn dậm với tốc lực sên bò rùa chạy như vậy đó. Tôi sẽ để bà dùng nó hàng ngày. Bà cần hoạt động nhiều mới được, kẻo khó mà yên ổn qua mùa gió lạnh nơi thâm sơn cùng cốc này đấy, thưa bà.


Ông ta lại cúi đầu đi theo ngựa. Lá cây trút xuống rào rào. Hạnh lắng nghe tiếng vó ngựa gõ buồn tênh giữa cái cô tịch ngàn trùng sâu thẳm của rừng trưa.


Thốt nhiên, nàng hỏi:


- Thế nào nữa nhỉ! Trâm khám phá ra chính chồng mình đã giết cha ngày khởi loạn…


- Từ đấy, Trâm oán thù kẻ oan nghiệt đó. Trong thời kỳ ấy, Trâm đã có mang. Không dám mang giọt máu kẻ thù. Trâm đã tìm cách phá thai. Sau đấy, chồng Trâm chết vì trọng thương ngoài mặt trận. Tôi đành tiễn đứa cháu dâu bạc mệnh trở về cái quán gianh bên bến cũ, mẹ già Trâm đang chờ con.


Nghe hết chuyện người bạc mệnh, Hạnh thờ thẫn trên lưng ngựa, nước mắt rơi xuống má. Gió lùa qua mái tóc, nàng rùng mình nghĩ đến một hiện tượng anh linh nào đó... nàng bâng khuâng thầm nhủ: “Trâm đã tự phá hủy giọt máu thù oan chướng?”. Và Hạnh vô tình nhìn xuống bụng, nghẹn ngào kêu: “Còn mình? Giọt máu này chắc chắn là nhiều huyết tính của Hải hơn là của anh ấy. Có nên mang nó ở trong lòng để nay mai cho nó ra đời? Nó sẽ là cái vực muôn trùng chia cách giữa mình với chồng. Anh ấy đã không tha thứ mình thì sẽ không thể thương yêu nó…”. Hạnh sực nhớ tối kia, nàng đã nhắc chồng nhớ lại một đêm chung gối, nhân Cung nói về cái thai hai tháng của mình. “Thực là nhục nhã, đê hèn! Từ ngày rời Hà Nội đi chạy loạn sáu bẩy tháng trời, Cung vẫn nằm riêng, lấy cớ rằng nàng đang ốm yếu, cần kiêng cữ. Cho đến hơn một tháng nay bị đày ở miền này, chợt giật mình vì thấy huyết kỳ tắt hẳn, nên một đêm trở rét, nàng đã vào giường chồng, nằm nép bên xin chồng một ơn mưa móc. Người chồng bất đắc dĩ nằm với vợ, cuồng bạo như gió xé hoa tàn, không còn trìu mến nâng niu như trước. Hạnh ứa nước mắt trong cánh tay chồng, cảm tưởng mình chịu một trận đòn thù tàn bạo. Rồi đó, nàng khiếm kỳ kinh nguyệt, và đã van vỉ chồng nhớ lại đã một lần… mà thương”. “Chao ôi, nhục nhã thế thì thôi! Tôi không còn muốn sống làm gì nữa!”…


- A! Chợ Mường kia rồi! Bà trông sườn núi bên tay phải, hôm nay phiên chính, họ họp đông như kiến lụt.


Ông Lâm nói the thé bên tai và thúc ngựa xuống mau con đường dốc tuột. Hạnh giật nảy mình, nhoài về phía trước nắm chặt bờm ngựa, nói:


- Coi chừng, tôi ngã tan xương đấy ông Lâm!


Ông ta hếch mũi cả cười:


- Tôi vốn là mã phu. Bà cứ ngồi thế, không sao ngã được, trừ phi bà tự ý mạo hiểm gieo mình xuống đất để tìm cảm giác thì ở trường hợp ấy, tôi không dám khoe tài bảo hiểm với ông nhà.


Tiếng ông ta bị át bởi tiếng vó ngựa khua và con vật luôn hí lên dữ dội. Ông Lâm vẫn nhanh như vượn, chạy ngang đầu ngựa, tay nắm lấy sợi giây da đóng vào hàm thiếc.


Gió thổi vù vù bên tai, Hạnh nhắm nghiền mắt lại, liều lĩnh nghĩ: “Nhân cơ hội này mình sợ gì mà chẳng buông mình xuống vực... Nhưng làm thế, mình để lụy cho ông bạn già tốt bụng này”.


Ngựa vẫn phi xuống dốc. Gió cuốn bụi đường vẩn lên như một đám mây hồng. Mã phu già thấy Hạnh nhắm mắt và hai tay đã dần dần nới lỏng dây cương chiếc bờm ngựa xù ra như mấy bông lau thì khoái chí hếch mũi cười khanh khách. Nàng đang say ý tưởng điên rồ, không nghe tiếng ông ta cười, chỉ nghĩ rằng mình sắp được giải thoát khỏi đôi mắt khinh khi lạnh lẽo của người chồng, khỏi cả cõi trần gian hờ hững mà mình không còn một chút tình thương xót của mọi người.


Tiếng ông già tinh nghịch, hồn nhiên như trẻ dại, lẫn vào tiếng gió, tiếng ồn ào của chợ do vách núi cao vọng lại xa xôi như tiếng vong hồn từ địa ngục càng làm say cảm giác đê mê về cái chết đang bốc cháy trong linh giới người đàn bà tội nghiệp. Nàng nao nao ngây ngất, mắt vẫn nhắm nghiền, rồi hai bàn tay lạnh cứng từ từ rời cương ngựa. Nàng thét một tiếng ghê rởn, văng mình xuống đất. Ông Lâm rú theo một tiếng. Thân thể nàng vướng vào khóm sim rậm rìa đường, nếu không thì đã sa xuống lòng thung lũng sâu thăm thẳm.


Nằm trên cánh tay ông Lâm bên bờ cỏ, mặt nhem bụi đỏ dính chút máu, nàng thiêm thiếp lịm dần đi, dưới hàng mi lệ ứa chảy thành dòng trên làn da nhợt nhạt. Tuy nhiên, kẻ giang hồ già không cuống trí. Ông ngẩng nhìn quanh và nói với người đàn bà thoi thóp thở:


- Cũng may bà Đốc lại chọn đúng vị trí gần quân y viện sau núi kia mà chơi cái trò nguy hiểm. Để tôi đem bà vào đấy, ông Đốc nhà sẽ tiêm thuốc hồi dương. Đã một lần, tôi vô ý suýt để con cháu hồng nhan táng mệnh vì muốn giải thoát. Lần này, tôi lại vô tình vui chuyện cũ, thành ra xui giục bà làm cái việc oan gia. Kiếp người! Kiếp người thế đó! Tôi thương cháu Trâm tôi, tôi thương bà bạn, tôi thương hài nhi vô tội…


Nước mắt ông già xác cỗi hồn thơ đó rơi lã chã xuống vầng trán người đàn bà. Nghe tiếng sáo miệng, con ngựa còm quay trở lại. Ông Lâm cỡi ngựa, ẵm nàng trên hai cánh tay khô gầy mà còn dư sức của người thủy thủ kéo buồm buông neo chọc thủng rốn trùng dương thuở trước.


Trái lệ thường, ngựa già cuốn vó gày phi như tên bắn. Kẻ giang hồ kỵ sĩ chẳng cầm cương mà mình vẫn không nghiêng ngả theo tốc lực.


(còn tiếp)


Nguồn: Cầu sương. Tiểu thuyết của Ngọc Giao. NXB. Thế giới. Hà Nội,1953. Bản này đã được tác giả chỉnh lý năm 1991.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 19.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »