tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30445618
Tiểu thuyết
02.11.2012
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

Chương Bốn. Năm 1861.


            Bản doanh Soái phủ quân viễn chinh Pháp ở Sài Gòn.


            Cuộc gặp của hai tên tướng cáo già của quân viễn chinh Pháp là Charner và Bonard, người vừa được triều đình Napoléon đệ tam cử sang thay Charner.


            Viên sĩ quan hầu cận đã rót đầy hai ly sâm banh trên bàn rồi lặng lẽ lui vào. Charner giơ tay: – Xin mời tướng quân! Cả hai chạm cốc uống cạn. Charner mỉm cười nhìn Bonard: – Từ nay gánh nặng cuộc chiến ở xứ này sẽ do tướng quân gánh vác thay tôi – người lính già của nước Pháp đã quá mệt mỏi vì tuổi tác – và hy vọng ngài sẽ làm tròn sứ mệnh vẻ vang mà Hoàng thượng đã giao cho ngài. Cám ơn những lời nói tốt đẹp mà đô đốc dành cho tôi trong cuộc gặp mặt đầy ý nghĩa này – Bonard nói – Nhưng tôi rất mong được sự chỉ giáo của đô đốc về tình hình và những chủ trương chúng ta trong cuộc chinh phục xứ sở này mà đô đốc đã trải qua với bao kinh nghiệm quý giá không nơi nào có được trong cuộc đời binh nghiệp hết sức vẻ vang của ngài… Bonard nói với giọng chân thành của một tên cáo già về chính trị cũng như quân sự. Có lẽ vì thái độ tỏ ra khiêm tốn chịu nghe của Bonard làm cho Charner cảm thấy mình được tôn trọng, lão không giữ sự dè dặt, mà bộc lộ những suy nghĩ chân thật của lão về cuộc chiến mà lão cho là khó khăn trong lúc này:    Chắc tướng quân đã biết, với sức mạnh của hải quân và bộ binh, chúng ta đã chiếm Sài Gòn Gia Định rồi Biên Hoà, Định Tường… chỉ trong một thời gian rất ngắn. Nhưng ở đây chúng ta vấp phải một cuộc chiến hoàn toàn khác với cuộc chiến chinh phục ở châu Phi hay các nơi khác. Quân chính quy triều đình Việt Nam hoàn toàn không có gì đáng lo ngại, và sự thật ở chiến trường đã chứng tỏ điều đó. Nhưng ở đây lại có những lực lượng khác đáng để chúng ta quan tâm hơn. Charner ngừng lại nhìn Bonard mỉm cười, nhưng là nụ cười không vui. – Vậy đó là lực lượng nào, thưa đô đốc? Bonard hỏi. – Đó là lực lượng dân binh mà họ tự gọi là “dân chúng tự vệ”. – Charner nói. Lực lượng dân binh? – Bonard ngạc nhiên hỏi – Tổ chức và trang bị của họ ra sao? – Đội quân này trước đây là những thanh niên trai tráng trong làng đến tuổi phải đi lính, nhưng họ vẫn ở địa phương cày ruộng, triều đình Việt Nam gọi họ là nông binh, gần như mỗi làng đều có một đội nông binh như vậy. Số lượng đội này tùy theo dân số của làng nhiều hay ít, có thể từ vài chục đến vài trăm. Chỉ huy đội quân này do dân cử hay do các võ quan triều đình phụ trách vùng đó chỉ định. Phần lớn chỉ huy đều có học thức và giỏi võ nghệ. Trang bị chủ yếu là gậy gộc, giáo mác, cung tên… Họa hoằn lắm mới có vài khẩu hoả mai… – Charner nói. Như vậy thì có gì đáng lo ngại? Bonard mỉm cười nói. Lúc đầu tôi cũng nghĩ như tướng quân. Nhưng thực tế, ôi lạy Chúa lại không phải như vậy. Từ khi ta chiếm Gia Định, Biên Hoà, Định Tường thì gần như đối đầu trực tiếp chúng ta không phải là quân triều đình mà chính là những đội nông binh này. Họ tập họp vào đội ngũ gồm có quân triều đình thất trận rã ngũ, những nông dân nào có thể chiến đấu được, không kể tuổi tác, nam hay nữ… Chúng luôn bám theo mọi hoạt động của quân ta bất kể ngày đêm, thừa lúc sơ hở để tấn công. – Nhưng trung tâm kháng chiến như vậy họ đặt ở đâu để chỉ huy những đội dân binh đáng ngại này? Bonard hỏi. Làm gì có trung tâm chỉ huy kháng chiến? Nếu có, thì thưa tướng quân tôi đã diệt từ lâu! Nhưng đằng này có thể nói là trung tâm đó có mặt ở khắp nơi, hầu như vô tận và cũng có thể nói, có bao nhiêu người dân Nam đang gặt hái bó lúa ngoài đồng kia là có bấy nhiêu trung tâm chống Pháp… Nếu không có một giải pháp nào hữu hiệu để chống lại đội quân này thì trong thực tế, thưa tướng quân, coi như chúng ta đang bị sa lấy không có lối thoát… – Charner nói. Tình hình lại bi đát đến thế ư? – Bonard hỏi với vẻ mặt thất vọng. Rất tiếc đó là sự thật, thưa tướng quân – Charner nói tiếp – Tôi đã áp dụng biện pháp cho tuyển mộ đám người Việt bất mãn hoặc mất tinh thần khi thấy sức mạnh của võ khí ta, thành lập những đội quân mã tà bản xứ, hỗ trợ cho việc đưa người bản xứ vào bộ máy cai trị của ta ở vùng thôn quê rộng lớn và hẻo lánh, nơi quân lực viễn chinh không đủ người để chiếm đóng… Biện pháp này cũng chỉ có tác dụng phần nào, vì nếu quân viễn chinh rút đi là bọn nông binh đó đến chiếm ngay đồn bót, và bọn lính mã tà không sao đối địch được, phải bỏ chạy hoặc đầu hàng… Xứ sở này nhiều sông rạch, rất ít đường bộ, do đó hải quân là ưu thế tuyệt đối của ta khi đối phó đám dân binh này, và cũng là vị trí an toàn cho các chỉ huy sở ở những vùng hẻo lánh.


            Cuối cùng Charner kết thúc cuộc trao đổi với Bonard: Tôi đã có lần tấu trình với Hoàng thượng cần phải tăng cường thêm lực lượng viễn chinh, mở rộng khu vực chiếm đóng ra toàn xứ Đàng Trong, nơi có tiềm năng kinh tế dồi dào, lấy xứ này làm điểm xuất phát chinh phục toàn cõi Việt Nam, nước Pháp sẽ trở nên giàu có hơn, bởi so sánh những cuộc chinh phục khác ở châu Phi và Mỹ Latinh thì xứ sở này vượt trội về nhiều mặt, và vị trí nước Pháp ở châu Á cũng không thua kém bất cứ cường quốc nào, dù họ đến châu Á sớm hơn chúng ta rất nhiều… Đến hôm nay vấn đề nêu trong bản tấu trình cũng chưa được triều đình chính thức chấp nhận. Tôi mong tướng quân sẽ thay tôi, tiếp tục đề đạt với Hoàng thượng vấn đề có tầm chiến lược hết sức quan trọng này.


            Thưa đô đốc, xin ngài yên tâm trở về đất mẹ. Tôi sẽ cố gắng thực hiện những hoài bão của đô đốc, dù trước mắt có lẽ sẽ hết sức khó khăn. – Bonard nói giọng xúc động. Tôi rất hài lòng và biết ơn tướng quân về những lời mà tướng quân vừa nói. Xin ơn trên phù hộ cho tướng quân thực hiện thành công sứ mệnh cao cả của mình… Charner cầm ly sâm banh mà người sĩ quan hầu cận vừa rót đầy chạm cốc cùng Bonard với nụ cười thoả mãn…


 


 


Hoành sóc giang sơn cáp kỷ thu


Tam quân tì hổ khí thôn Ngưu


Nam nhi vị liễu công danh trái


Tu thính nhân gian thuyết Vũ hầu


            Tiếng ngâm thơ sang sảng của Trực khi chàng nằm trên chiếc võng đu đưa trong khu vườn nhà của một nông dân vùng Bến Lức, nơi chàng tạm đặt chỉ huy sở của đội khi rời Định Tường về hoạt động vùng này. Buổi trưa khu vườn yên tĩnh chỉ nghe tiếng gió thổi rì rào trên các ngọn dừa tơ mơn mởn đang phơi mình dưới ánh nắng mùa thu đất phương Nam.


            – Anh Hai ngâm thơ hay quá! Tiếng khen của Nghĩa khiến Trực thoáng giật mình, mỉm cười: Nghĩa mới về đó à? Dạ. Anh Hai ngâm thơ của ai vậy? – Nghĩa vừa lấy khăn rằn lau những giọt mồ hôi lấm tấm trên trán vừa mỉm cười hỏi: Thơ của Phạm Ngũ Lão, một danh tướng đời Trần – Trực đáp – Đó là bài thơ lúc Phạm Ngũ Lão còn là chàng trai ở làng Phù Ủng, chưa đi đánh giặc. Anh thích nhứt hai câu cuối, tạm dịch là:


Tài trai nếu chẳng trang xong nợ,


  Luống thẹn tai nghe chuyện Vũ hầu!”


            Chuyện Vũ hầu là chuyện gì vậy anh? ­– Nghĩa hỏi với ánh mắt nhìn Trực long lanh chan chứa một tình cảm trong sáng, sâu lắng… Đó là chuyện ông Khổng Minh Gia Cát Lượng thời Tam quốc. Ông đã phò tá Lưu Bị dựng nên nhà Thục, công lao rất lớn được phong tước Vũ hầu, danh ông lưu truyền mãi trong sử sách bên Tàu đó em Trực đáp. Rồi chàng nói thêm: Không riêng gì Phạm Ngũ Lão đời Trần, mà người trai nước Việt thời nào cũng đều muốn trở thành như Gia Cát Lượng, nhứt là trong lúc nước nhà bị lũ giặc Tây dương xâm chiếm hiện nay. Vậy là ý nghĩa của bài thơ này hay quá! Nghĩa buộc miệng khen. Trực cười: Thời nhà Trần là thời kỳ vẻ vang nhứt của lịch sử nước ta đó Nghĩa. Từ vua đến các văn quan, võ tướng ngoài chiến công hiển hách đánh bại quân Nguyên là đội quân bách chiến bách thắng chưa thua ai bao giờ, các vị đó còn để lại đời sau những áng thơ văn bất hủ làm vẻ vang nền văn hiến Việt Nam, giáo dục truyền thống yêu nước cho đời đời con cháu về sau. Nhưng thôi, để lúc nào rảnh rỗi, anh sẽ đọc thơ văn đời Lý, Trần cho em nghe. Còn bây giờ Nghĩa nói cho anh biết công việc của em ra sao rồi? – Em vừa đi Định Tường… Người ta đồn rằng ở Gò Công bây giờ bọn Phú-lang-sa bị quân ông lãnh binh đánh cho tơi tả ở Kiểng Phước, khiến chúng không dám ở trong đồn mà đêm đêm chúng xuống tàu chiến ngủ cho an tâm. Cả bọn người Việt làm cho bọn chúng ban đêm cũng không dám ở nhà phải vô đồn bót ngủ. – Rồi chúng cũng không tránh được sự trừng trị của dân chúng. “Thiên võng khôi khôi, sơ nhi bất lậu”, lưới trời lồng lộng chớ mảy lông không thoát được đâu, Nghĩa à! – Trực nói.


            Vừa lúc ấy, một nghĩa quân còn rất nhỏ tuổi, chính là chú bé chèo tam bản cho anh Hai Lịch đi chài trên sông Vàm Cỏ ngày nào. Chú tên là Tâm, làm liên lạc cho Trực ở đội nghĩa quân, chạy ra báo: – Anh Hai ơi, có khách! Ai vậy Tâm? – Trực hỏi. Ông già Tàu bị cướp mà anh Hai cứu mấy năm trước đó. Tâm nói, giọng vui vẻ. À ạ… Anh nhớ ra rồi. Trực quay sang Nghĩa – Nghĩa về chỗ nghỉ đi. Anh sẽ gặp em sau. Cũng còn một số việc phải nhờ em đó. Nghĩa “dạ” rồi cùng Tâm đi ra phía sau vườn.


            Chỉnh lại trang phục rồi Trực vào nhà. Thấy Trực, ông già người Hoa đang ngồi ở ghế vội đứng dậy chắp tay chào nhưng đôi mắt ông thoáng vẻ ngạc nhiên ngỡ ngàng khi nhận ra người thủ lĩnh nghĩa quân lại là người cứu ông khỏi bị cướp năm xưa trên sông Vàm Cỏ: Ái dà… Xin chào ông lớn – Ông già lúng túng không biết xưng hô với Trực ra sao, cuối cùng ông gọi Trực bằng “ông lớn” – Không ngờ ngộ lại gặp ông lớn ở đây. Lâu nay ông lớn mạnh giỏi chớ? Trực cười rất vui: Cám ơn. Tôi vẫn khoẻ. Tôi cũng không ngờ được gặp lại ông. Ông vẫn đi buôn bán phát tài hay làm chuyện gì khác rồi?


            Ngộ “lâu” có cái nghề gì khác ngoài việc “li” buôn bán? – Ông già người Hoa nói. Ông gặp tôi có chuyện gì không? – Ngộ “li” nộp thuế. – Ông già người Hoa nói. À… Nhưng ông phải đến chánh quyền làng tổng chớ đâu phải ở đây. Ngộ cũng “lến” họ “dồi”, nhưng không gặp ai hết. Bây giờ ngộ xin nộp cho ông lớn gọi là chút lễ mọn ủng hộ cho nghĩa quân “lánh” bọn Tây dương. – Ông già người Hoa nói – Có lẽ ngộ cũng “li” về Kiên Giang buôn bán chớ không muốn ở trên “lày” nữa. – Tại sao vậy? Ái dà, cái lũ Tây dương mũi cao mắt lục ấy là cái “lồ” chó chết. “Ló” lấy tiền “dồi” còn “lánh” người nữa cho là ngộ “li” tiếp tế cho mấy ông lớn nghĩa quân “lánh ló”! À, “tỉu nà má” cái lũ Tây dương chó chết! – Ông già tỏ ra tức giận chửi bọn giặc trước mặt Trực. Thôi được. Ông đã có lòng giúp cho nghĩa quân thì tôi xin thay mặt anh em cám ơn ông. À quên, xin lỗi, ông cho biết quý danh để còn ghi vào sổ sách…Ngộ là Tiêu Chí Thời, nhưng ai cũng kêu chú Xồi từ hồi nhỏ “diết dồi” cũng quen. Chú Xồi, chú Xồi… nghe cũng “lược” quá chớ! Ông già vừa nói vừa cười, khiến Trực cũng cười theo vui vẻ.


 


            Hai chiếc tàu chiến nối đuôi nhau chạy trên sông Vàm Cỏ. Chiếc thứ nhứt mang tên Garonne, còn chiếc thứ hai mang tên Espérance. Cả hai tên được sơn to tướng hai bên hông tàu. Trên mỗi chiếc tàu chiến này đều có đại bác và một trung đội lính được trang bị đầy đủ. Vừa chạy chúng vừa nã đạn pháo vào làng xóm ven sông để yểm trợ cho cánh quân đi càn quét trên bộ. Bọn giặc đi đến đâu thì ngọn lửa đốt nhà dân bùng lên đến đó. Trên những con rạch nhỏ đi vào Đồng Tháp Mười, nhiều xuồng tam bản chở người già, đàn bà, trẻ con và đồ đạc lỉnh kỉnh chạy tránh giặc khủng bố. Những quả đạn đại bác trên tàu Espérance và tàu Garonne nổ súng đuổi theo đám ghe xuồng chở đồng bào tản cư, tiếng đạn rít xé gió bay trên đầu họ tạo thành những đụn khói lửa bất chợt bùng lên ở phía trước hay phía sau với những tiếng nổ chát chúa như tiếng sấm vang rền cả cánh đồng lau sậy, đưng lác bạt ngàn… Một quả đạn rơi xuống lòng rạch dựng lên một cột nước cao chụp xuống chiếc xuồng chở đàn bà, trẻ con vừa trờ tới…


            Trên bờ, một đám nghĩa quân trang bị toàn mã tấu, dao phay, gậy gộc núp sau một cây rơm. Họ chỉ bốn, năm người. Nét mặt họ căng thẳng chờ đợi. Một tốp lính giặc gồm có Pháp, mã tà, ma ní hùng hổ kéo vào một gia đình nông dân đã tản cư bỏ trống. Bọn lính chia nhau lục soát. Chúng đập vỡ chén bát, nồi niêu, lu vại kể cả bàn thờ tổ tiên trong nhà… Tiếng đồ đạc bị đập vỡ với tiếng cười, tiếng chửi khả ố của bọn lính vọng tới các nghĩa quân ở cây rơm sau nhà, khiến họ nghiến răng căng mắt chờ lệnh anh đội trưởng cũng còn rất trẻ như họ nhưng tay cầm lưỡi kiếm, anh khoát tay ra hiệu họ yên lặng, chờ…


            Một tên Pháp đi lại cây rơm. Hắn vạch quần định đái, bỗng “hự” một tiếng, ngã vật ra. Lưỡi kiếm của anh đội trưởng đã cắm vào ngực hắn. Lập tức, mấy nghĩa quân vọt ra đâm chém túi bụi vào bọn lính mã tà, ma ní đang chạy tới toan cứu tên Pháp – có lẽ là cai đội gì đó – lúc này đang giẫy giụa trên vũng máu. Cuộc hỗn chiến kéo dài được một lúc. Mấy tên mã tà, ma ní bị những nghĩa quân có võ nghệ hạ gục, đứa chết, đứa bị thươngMột tên mã tà chạy thoát ra ngoài bắn phát súng chỉ thiên cầu cứu. Nghe tiếng súng báo hiệu tiếp viện, một toán đông lính Pháp, mã tà, ma ní đang sục sạo mấy nhà ở khu vườn gần đó, vội chạy theo tên võ quan Pháp chỉ huy hướng về nơi có tiếng súng cầu cứu. Khi bọn chúng tới nơi thì chỉ còn thấy đám lính đứa chết, đứa bị thương đang rên la thảm thiết, ngoài ra chẳng thấy bóng một nghĩa quân nào. Tên võ quan Pháp tức tối ra lệnh: Đốt nhà! Lập tức mấy tên lính chạy vào trong nhà để vơ vét những thứ gì còn sót lại, nhưng chỉ thấy ngổn ngang những đồ đạc đã bị bọn đi trước đập phá. Chúng ngao ngán trở ra… Một ngọn lửa đỏ bùng lên sau lưng chúng


            Trên chiếc tàu Espérance, gã trung úy hải quân Parfait khá điển trai với bộ râu quai nón được xén tỉa rất khéo, đang đi đi lại lại, tay vung vẩy khẩu súng lục, nét mặt hầm hầm nhìn anh nghĩa quân bị bắt trói quặt hai tay vào cột cờ trên tàu. Đầu anh nghĩa quân bị thương được băng tạm, nhưng máu vẫn còn rỉ ra trên khuôn mặt sạm nắng quắc thước. Gần đó, dưới tháp khẩu đại bác, cũng có ba người nông dân đã có tuổi cũng bị trói thúc ké ngồi cạnh nhau. Một ông mặt sưng húp bầm một bên, có lẽ bị đánh đập lúc bị bắt. Chung quanh có cả chục tên lính Pháp, ma ní, mã tà lăm lăm khẩu súng trường trong tay, vẻ mặt đứa nào cũng biểu lộ sự căm tức thô bạo, như lũ chó săn đang chờ lệnh chủ sẵn sàng xô vào cắn xé con mồi.


            Nói đi! Đội trưởng Trực ở đâu? Đóng quân chỗ nào? Khai ra thì sẽ thả mấy thằng già kia mà mày còn được thưởng nữa! Nghe tên thông ngôn người Việt dịch, anh nghĩa quân cau mày lắc đầu: Tao không biết! Nghe tên thông ngôn dịch, gã trung úy cười gằn hất hàm ra lệnh: Dắt thằng già ngồi bên trái ra mũi tàu chờ lệnh! Hai tên mã tà vội đến xốc nách lôi ông già mắt sưng húp đi lại phía mũi tàu. Ông già cố nói to: Đừng khai nghe chú! Qua có chết cũng là chết vinh hơn sống nhục!


            Tiếng nói dõng dạc của ông già nông dân đã tác động mạnh đến tình cảm người nghĩa quân. Anh nhìn thẳng vào mặt tên Parfait với đôi mắt rực lửa căm hờn khi gã trung úy đến sát anh hỏi: Mày có chịu khai không? Tao đếm một hai ba… Nếu mày không nói, thằng già đó sẽ chết. Một! – Nghe tên thông ngôn dịch, anh nghĩa quân thét lớn: Không biết! Gã trung úy đếm: – Hai! Lại cũng im lặng. Một không khí nặng nề bao trùm trên chiếc tàu. Lúc này ánh hoàng hôn chỉ còn chút ánh sáng phía chân trời Đồng Tháp Mười. Gã trung úy gầm lên: Ba! Bắn!


            Một phát súng nổ. Ông già rướn người lên rồi ngã lộn xuống sông. Gã trung úy cười gằn rồi ra lệnh: Đưa thằng cha già thứ hai ra mũi tàu! Hai tên mã tà lại tiếp tục xốc nách ông già nông dân dìu ra chỗ ông già trước vừa bị bắn. Tuy dáng người nhỏ con bị đánh đập bước đi không nổi, nhưng giọng ông thét rất to: Có chết cũng đừng khai nghe chú em! Tên Parfait lập lại: Tao đếm đến tiếng thứ ba mày không khai thì lão già này cũng sẽ chết! – Một! Nghe tên thông ngôn, anh nghĩa quân thét lớn: Tao không biết!


            Thấy thái độ của anh nghĩa quân, gã trung úy hiểu là không thể khai thác gì ở người lính nghĩa quân hết sức can đảm này, hắn cau mày ra lệnh: Bắn! Một tiếng súng nổ đanh gọn vang lên. Dòng sông Vàm Cỏ lại nhận thêm một người con bất khuất trước họng súng giặc. Mặt tên Parfait bực tức đỏ bừng như vừa uống xong cốc rượu mạnh. Hắn đến sát anh nghĩa quân gằn giọng: Lần cuối cùng tao hỏi mày tên Trực ở đâu? Nói!


            Anh nghĩa quân dồn hết sức phun bãi nước bọt vào mặt Parfait hét lớn: Ở trong tim tao đây này! Bắn đi, đồ chó đẻ! Bị bất ngờ tên Parfait không kịp né tránh, lãnh đủ bãi nước bọt vào mặt. Hắn vung khẩu súng lục bắn luôn vào ngực người nghĩa quân hai phát. Máu tuôn ướt cả ngực áo người lính nghĩa quân dũng cảm. Anh từ từ khuỵu xuống, đầu gục một bên. Một dòng máu bên khoé miệng trào ra. Ném nó xuống sông! Tên Parfait vừa chùi bãi nước bọt trên mặt, vừa ra lệnh. Lập tức, hai tên lính ma ní vội đến cắt dây trói, kéo lê xác anh nghĩa quân đến bên hông tàu rồi ra sức lấy đà ném xác anh xuống dòng sông lúc này nhuốm màu đỏ sẫm của ánh hoàng hôn sắp tắt. Và lần nữa dòng sông quê hương Vàm Cỏ lại đón nhận thêm một người con anh dũng của mình giữ tròn khí tiết trước mũi súng kẻ thù.


 


 


            Trực, Nhường và Sáu Bảnh cùng dự bàn việc đánh chiếc Espérance, pháo đài nổi của giặc án ngữ ngã ba vàm Nhựt Tảo kiểm soát mọi hoạt động thương hồ mua bán, thu thuế và quan trọng hơn là ngăn chặn mọi hoạt động và liên lạc của nghĩa quân từ Tân An đến Mỹ Tho, Gò Công thuộc tỉnh Định Tường. Họ ngồi trên tấm đệm trải dưới gốc dừa trong khu vườn nhà người nông dân nơi Trực đóng quân.


            Trực nói chậm rải nhưng kiên quyết:


            Bọn Tây dương hiện nay mọi hoạt động quân sự đều dựa vào sức mạnh hải quân mà chúng cho là “bất khả chiến bại”, là ưu thế tuyệt đối của chúng trên chiến trường đầy sông rạch ở phía Nam. Chỉ có đánh chìm pháo hạm của bọn Phú-lang-sa mới phá tan tư tưởng sợ tàu giặc trong hàng ngũ nghĩa quân và cả quân triều đình nữa. – Anh Hai nói có lý. Nhưng đánh bằng cách nào? Nhượng hỏi – Chúng ta đã dùng búa, mã tấu trong trận đánh tàu ở cản 4 trước đây, rõ ràng với vỏ sắt của nó, búa với mã tấu chỉ “gãi da” cho nó chớ không ăn thua gì. – Súng thần công của quân triều đình cũng chưa lần nào làm gì được nó Sáu Bảnh nói – Trái lại chính thần công trên tàu đã nhiều lần phá tan trận địa thần công của ta. Tôi tán thành ý định của anh Hai là phải nhận chìm tàu thằng giặc ở vàm sông Nhựt Tảo này để trả thù cho đồng bào và anh em nghĩa quân đã bị nó sát hại. Ngày nào tàu giặc còn tung hoành ngang dọc trên sông rạch nước ta là ngày đó chúng ta còn mang nhục và có tội với dân chúng. Phải tìm mọi cách đánh nó cho được anh Hai à! – Được anh em đồng ý với quyết tâm đánh tàu, tôi thiệt hết sức mừng Trực nói – Nhưng với chiếc tàu đậu ở vàm Nhựt Tảo nó bao lớn, dài rộng bao nhiêu, quân lính trên đó nhiều ít thế nào chúng ta chưa rõ, thì làm sao có cách đánh chắc thắng được? Tôi định như vầy mấy anh coi được hay không nghe? – Anh Hai cứ nói ý định của anh, có gì anh em mình bàn thêm. – Nhường nói. Binh thơ Tôn Tử có nói: “Biết mình biết người, trăm trận trăm thắng. Biết mình không biết người, nửa được nửa thua. Không biết mình không biết người, trăm trận trăm bại”. – Trực mỉm cười nhìn Nhượng và Sáu Bảnh rồi tiếp – Vậy việc đầu tiên là ta phải tìm mọi cách tiếp cận tàu địch một cách hợp pháp để biết rõ về nó. Vì khi biết nó rõ rồi, chắc chắn chúng ta sẽ tìm được cách đánh khiến nó không thể chống đỡ được. Ý hai anh thế nào? – Tôi hoàn toàn nhứt trí với điều anh Hai vừa nói Nhường mỉm cười gật đầu. Tôi cũng vậy Sáu Bảnh cũng cười nói tiếp – Nhớ hồi nẳm khi còn đi cướp bọn nhà giàu, tôi cũng phải dọ thám trước nắm cho được tình hình chắc chắn, có khi phải giả dạng ăn mày vô tận trong nhà quan sát rồi mới dẫn anh em đi “hành sự”. Bây giờ đánh giặc cũng phải làm như vậy thôi, phải không anh Hai? Trực cười gật đầu: – Anh nói đúng quá!


            Giữa lúc ấy Nghĩa về tới. Cô chào mọi người rồi nói: Anh Hai à. Tụi nó chở cây gạch tới đóng đồn ở vàm Nhựt Tảo mình rồi đó. Qua lời kể của Nghĩa thấy hiện lên mấy chiếc ghe lớn không biết giặc trưng dụng ở đâu chở đầy cây gạch đến cặp vào bờ sông.


            Trên bờ đã thấy một số lính Pháp, mã tà, ma ní, bắt một số dân phu xuống ghe khiêng vác cây gạch lên chất một đống cao như núi ở khoảng đất trống gần bờ sông.


            Rồi bức tường gạch được bắt đầu xây lên hối hả…


            Ngoài sông chiếc tàu Espérance vẫn bỏ neo đậu như để hỗ trợ cho bọn lính trên bờ xây đồn, và cũng bắt đầu kiểm soát ghe dân cư qua lại, thu thuế ghe thương hồ buôn bán ngược xuôi trên sông Vàm Cỏ.


 


 


            Trở lại chuyện họp của Trực ở khu vườn với các chỉ huy nghĩa quân.


            Vậy là chúng quyết chiếm giữ vùng Bình Đức– Nhựt Tảo này làm bàn đạp để từ đây khống chế Bến Lức, Thủ Thừa. Và điều quan trọng hơn, là chúng muốn cắt đứt mọi liên lạc giữa ta với lực lượng nghĩa quân anh em đang hoạt động ở Định Tường, Gò Công bằng đường thủy. Tình thế này khiến chúng ta không thể chần chờ được nữa, mà chậm một ngày thêm bất lợi một ngày. Phải hành động nhanh chóng thôi. “Binh quý thần tốc”. Anh em nhớ chớ? – Trực nói và nhìn thẳng mọi người chờ nghe ý kiến của họ.


            – Anh Hai cứ ra lệnh, anh em chúng tôi xin kiên quyết chấp hành!Nhường, Sáu Bảnh gần như cùng nói một lúc với vẻ mặt biểu lộ sự tin tưởng tuyệt đối vào người thủ lĩnh nghĩa quân tuy còn trẻ tuổi, nhưng tỏ ra dày dạn kinh nghiệm trận mạc. Vậy bắt đầu từ hôm nay mấy anh em mình phải bằng mọi cách tiếp cận cho được chiếc tàu giặc, nắm rõ quy luật của nó… Sau đó chúng ta sẽ họp lại đây bàn kế diệt nó cho thiệt gọn, thiệt mau, để bọn chúng không kịp trở tay chống đỡ hay kêu gọi tiếp cứu. Anh em đồng ý chớ? – Trực nói. Đồng ý quá đi chớ. Anh Hai khỏi lo, nhứt định nội trong vài ngày tôi sẽ báo với anh Hai kết quả dọ thám này. – Nhường nói. Vậy là tốt rồi – Trực nhìn Nghĩa – Còn Nghĩa, em bám sát việc xây cất đồn bót và quy luật hoạt động của bọn giặc rồi báo cho anh biết. Thôi, ta tạm chia tay để mọi người lo phần việc của mình. Riêng Nghĩa ở lại, anh nhờ em chuyện này.


            Nhượng và Sáu Bảnh vui vẻ ra đi lo công việc của mình.


            Trực đưa Nghĩa phong thư, dặn: Trong ngày mai em đi gặp ông huyện Cường đưa thơ này cho ổng. Rồi chờ ổng gởi gì cho anh, em cầm về. Nhớ chưa? – Dạ em nhớ. – Nghĩa nhìn Trực bằng ánh mắt tình cảm và tin tưởng – À, anh Hai còn nhớ ông thầy Thứ dạy chữ nho ở Bình Trinh không? – Nhớ chớ. Trực nhìn Nghĩa mỉm cười nóiAnh cũng có học với thầy tuy không lâu nhưng rất quý thầy. “Nhứt tự vi sư, bán tự vi sư” mà em… Lâu quá rồi anh chưa có dịp ghé thăm thầy. – Tháng trước đại bác tàu giặc đã nổ trúng nhà thầy giết gần hết người trong nhà, may mà hôm đó thầy đi vắng, nên còn sống… Tàu giặc Tây dương thời gian gần đây đã gây quá nhiều tội ác với đồng bào mình. Mỗi lần thấy nó, em tức không chịu nổi anh Hai à! Ba em chết cũng vì nó… Nghĩa nói mấy câu sau cùng giọng gần như nghẹn lại, đôi mắt đỏ hoe rơm rớm nước mắt. Trực lấy khăn chậm nước mắt cho Nghĩa rồi nói, giọng âu yếm:


            Cái ngày lũ giặc đó đền tội không xa đâu em. Chúng nó gieo gió nhứt định nó sẽ gặt bão!


            Nghĩa nép đầu vào ngực áo Trực, nhìn anh bằng đôi mắt biết ơn và tin tưởng..


 


 


            Sông Vàm Cỏ. Một buổi sáng đẹp trời.


            Chiếc tàu Espérance vẫn neo đậu bên ngoài vàm Nhựt Tảo. Bọn lính Pháp và mã tà, ma ní đã dậy từ sớm lo phần việc của mình: cọ rửa sàn tàu, lau chùi võ khí… Một ghe thương hồ đi đến. Chúng vẫy tay ra hiệu cặp lại mạn tàu. Một chiếc thang dây thòng xuống. Một tên lính Pháp và tên thông ngôn theo thang dây xuống sàn ghe xét giấy tờ và thu thuế… Xong chúng leo thang dây trở lên. Chiếc ghe thương hồ tiếp tục chèo đi… Tất cả không qua khỏi tầm mắt Trực trong vai anh dân chài đang vãi chài gần đó quan sát không bỏ sót một cử chỉ nhỏ. Vẫn là chú bé Tâm chèo tam bản chở anh đi làm công việc do thám chiếc Espérance…


 


 


            Trên bờ sông, đồn giặc đã xây xong. Lá cờ tam tài bay ngạo nghễ trên nóc đồn. Bọn lính phần lớn là mã tà đi lại trong sân đồn được vòng rào bằng tre cao khỏi đầu người che chắn. Dân chúng đi lại phía ngoài đồn thưa thớt, dù gần đó có mấy quán lá mới mọc lên nhưng vắng khách.


            Sau mấy lần vãi chài trong khoang chiếc tam bản của Trực đã khá nhiều tôm cá, Trực nói với Tâm: Em chèo về hướng chiếc tàu để anh quan sát kỹ hơn một chút… – Đừng lại gần nó anh Hai à! Coi chừng nguy hiểm đó!


            Chú bé Tâm nói với vẻ mặt lo ngại thật sự. Trực cười:


            Không sao đâu. Em cứ bình tĩnh chèo tự nhiên… mình là dân chài mà – Nói rồi Trực ung dung vãi chài tiếp. Tên lính gác đứng ở mũi hạm tàu dùng ống nhòm quan sát. Nó nhìn thấy Trực chài được khá nhiều tôm cá… Nét mặt nó vui hẳn lên. Chiếc tam bản đã lướt đến gần chiếc tàu. Tên lính gác gọi lớn: Ê! Ghé lại! Trực nói với Tâm: Cứ chèo đến tự nhiên. Đừng sợ! Chiếc tam bản đã cặp vào hông tàu, giống như con thằn lằn bám vào cột đình vì thành tàu to với lên mấy sải mới tới, còn chiếc tam bản thì quá nhỏ. Một chiếc thang dây thả từ trên tàu xuống chiếc tam bản. Rồi một tên lính Pháp có vẻ như cai đội chỉ huy vì nó không mặc áo, ở trần trùng trục và tên thông ngôn bám theo sau. Tên Pháp đưa đôi mắt xanh lè nhìn Trực từ đầu đến chân rồi hỏi:


            – Cho coi giấy tờ! – Tên thông ngôn dịch, Trực nói: Tâm, em giở sạp lên lấy trong túi áo anh đưa giấy tờ cho quan lớn coi đi. Tâm vội giở sạp lấy trong túi áo bà ba đã cũ của Trực tờ giấy đưa cho Trực. Đây quan lớn coi đi. Trực đưa cho tên Pháp. Nó liếc qua rồi đưa cho tên thông ngôn. Tên này coi xong nói với nó:


            Giấy này của tri huyện Cường cấp cho nó được hành nghề chài lưới trên sông hợp pháp. Tên Pháp gật đầu. Rồi nó chỉ vào đống cá trong khoang: Mua hết thứ này đi. Hỏi nó bán bao nhiêu? Tên thông ngôn nói với Trực: Quan lớn muốn mua hết chỗ tôm cá này. Mày bán bao nhiêu? – Tùy quan lớn muốn trả bao nhiêu cũng được. Tên thông ngôn nói lại với tên Pháp. Nó gật đầu rồi nói: Trả cho nó ba quan! Tên thông ngôn móc trong túi ra ba quan đưa cho Trực: Ông lớn trả cho mày ba quan đó. – Cám ơn quan lớn. Trực nói tiếp: – Tâm, em lấy cái giỏ đưa cho anh đựng tôm cá cho quan. Tâm lấy cái giỏ trong tam bản đưa cho Trực. Anh hốt đống cá bỏ vào giỏ rồi đưa cho tên thông ngôn.


            Cũng vừa lúc ấy, Nhường trong vai anh nông dân chèo chiếc tam bản chở đầy chuối đi tới. Trông thấy mấy quày chuối cau chín vàng, tên Pháp có vẻ thích thú nói với tên thông ngôn bằng tiếng Pháp: Thứ chuối trái nhỏ chín vàng kia ngon lắm. Hỏi nó bán bao nhiêu? Tên thông ngôn hỏi Nhường: Quan lớn hỏi mày bán mấy quày chuối cau kia bao nhiêu? – Quan lớn mua hết hả? Nhường hỏi. Ổng mua hết. Mày lấy bao nhiêu? – Dạ, mỗi quày là một quan. Ba quày là ba quan! Tên thông ngôn móc trong túi ra có hai quan đưa cho Nhường: Cầm đỡ nghe mậy. Hết tiền rồi. Mai mốt có đi qua đây bán, tao trả cho. – Cám ơn quan lớn.


            Có mấy tên lính ra lan can tàu nhìn xuống, tên thông ngôn ngước lên nói:


      Ê! Quăng dây xuống kéo mấy thứ này lên coi!


            Lập tức chúng quăng xuống sợi dây thừng. Trực buộc giỏ cá tôm xong, chúng kéo lên. Rồi lại thả dây xuống tiếp. Nhượng lại buộc từng quày chuối cho chúng kéo lên. Tên Pháp và tên thông ngôn trở lên.


            Trực ra hiệu cho bé Tâm chèo tam bản đi trước. Còn Nhượng sau khi chúng kéo hết ba quày chuối lên anh cũng chèo xuồng đi theo sau chiếc tam bản. Cuộc trinh sát trực tiếp của họ với chiếc tàu chiến Espérance coi như kết thúc không gặp trở ngại gì, bởi bọn giặc không ngờ những thủ lãnh nghĩa quân có thể dám làm chuyện mạo hiểm động trời như vậy.


 


 


            Sau cuộc trinh sát thực địa, Trực có cuộc họp với Nhường, Sáu Bảnh và cả Nghĩa tham dự, cũng tại khu vườn dừa nơi đóng quân để bàn kế hoạch tấn công chiếc Espérance.


            Trực mỉm cười nhìn các bạn chiến đấu của mình, những người đã cùng anh trải qua cuộc chiến ở Sài Gòn rồi Định Tường… Họ đã tỏ rõ phẩm chất trung thành, chiến đấu đầy sáng tạo, mưu trí và dũng cảm. Các anh đã tận mắt nhìn thấy chiếc tàu của nó rồi, bây giờ theo ý các anh chúng ta nên đánh như thế nào, để vừa diệt được nó, mà anh em mình ít bị tổn thất nhứt? – Trực vui vẻ nói tiếp – Các anh đừng ngại, cứ nói, cái gì hay thì mình làm, còn chưa hay thì bàn thêm. Người xưa có nói “tam ngu thành hiền”. Ba anh em mình, thêm cô Nghĩa nữa, thì làm gì mình không tìm ra cách đánh hợp với hoàn cảnh chúng ta hiện nay? Có phải vậy không hai anh? – Xin anh Hai cứ nói cách đánh của anh cho chúng tôi nghe trước đi. – Nhường vui vẻ nói – Về kinh nghiệm trận mạc, cũng như sự hiểu biết của anh hơn chúng tôi nhiều lắm. Anh cứ nói trước rồi anh em chúng tôi sẽ góp thêm sau. Như vậy có lẽ hay hơn. Anh Hai Nhượng nói đúng đó – Sáu Bảnh nói – Anh Hai nói trước đi anh Hai!


            Trực cười: – Anh em tụi mình ai cũng đều có xông pha trận mạc hết, đâu phải chỉ riêng mình tôi. Bây giờ cứ để Hai Nhường nói thử cách đánh của anh rồi anh em mình bàn. – Anh Hai nói vậy thì tôi cũng liều mạng nói đại suy nghĩ của tôi về những khó khăn mà chúng ta sẽ gặp phải trong trận đánh này. – Nhường nói tiếp – Cái khó thứ nhứt là vỏ tàu nó bằng sắt, mà sắt thì anh em mình thử một lần trong trận đánh ở cản sông Bảo Định rồi. Búa, mã tấu choảng vô nháng lửa mà không ăn thua! Cái khó thứ hai là chiếc tàu này lớn quá, thành tàu nó cao không sao leo lên được nếu nó phòng bị cẩn thận. Cái khó thứ ba là nó đóng đồn ngay trên vàm Nhựt Tảo, sẵn sàng tiếp ứng khi tàu bị tấn công. Đó là ba cái khó mà anh em mình phải tính trước, chưa kể nếu không đánh mau lẹ mà nó báo động được, có thể có tàu khác đến tiếp viện thì gay go lắm. – Anh Hai Nhường nói đúng lắm. – Sáu Bảnh gật đầu tán thành – Trên tàu nó có vài ba chục thằng lính chớ không phải ít, nó lại có súng ống đầy đủ chớ không phải gậy gộc, giáo mác như anh em mình. Chỉ cần nó nghi ngờ cho nổ súng trước, thì mình coi như chỉ có nước rút lui chớ còn đánh đấm gì nữa! – Anh Hai cho em nói với nghe. – Nghĩa nhìn Trực mạnh dạn góp ý – Mấy lần em qua lại quan sát thì thấy bọn Tây dương này nó ỷ y lắm, không coi ai ra gì. Ghe nào nó cũng kêu lại xét giấy tờ hay thâu thuế, như vậy mình có thể dùng hình thức làm ghe buôn, khi nó kêu lại xét giấy thâu thuế thì thừa cơ đó anh em mình tấn công luôn, khiến nó trở tay không kịp… – Cô Nghĩa nói cũng có lý lắm – Hai Nhường khen – Nhưng đó chỉ có một số ít theo thang dây thả trên tàu xuống, chớ số đông bọn lính vẫn ở trên tàu, mình làm gì nó được? Ngay như hôm kia, nó xuống xét giấy tờ anh Hai cũng chỉ có hai thằng. Còn trên tàu vẫn có mươi thằng thò đầu ra lan can dòm ngó… Giỏi lắm mình chỉ “xé phay” được hai thằng rồi lặn luôn, chớ có “mần thịt” gì được tụi đứng trên đó đâu? – Cha, bàn rồi mới thấy “khó ăn” quá. Không lẽ mình chịu bó tay sao anh Hai? – Sáu Bảnh cười nhìn Trực. – Chính “cái khó mới ló cái khôn”, ông bà mình đã nói như vậy rồi. – Trực cười nói tiếp – Các anh tiếp tục suy nghĩ thêm coi có cách nào tiêu diệt được “con cá mập sắt” của lũ Tây dương đó không? – Bí quá anh Hai à! – Nhường lắc đầu cười nói – Phải chi mình có gói thuốc nổ nào phá được tàu sắt đó thì tôi tình nguyện cảm tử “chơi” nó luôn! Mình hy sinh mà diệt được nó thì chết cũng hả dạ! – Được có thuốc nổ như vậy tôi cũng xin làm như anh Hai Nhường, cho chúng nó biết mặt dân Nam mình là dân “chịu chơi” chớ không sợ chết đâu! – Sáu Bảnh cười nói tiếp.


            Thấy Hai Nhường, Sáu Bảnh và cả Nghĩa nói, Trực rất xúc động. Anh tự hào mình có những người bạn chiến đấu thật thà, dũng cảm, dám “xả thân vì nghĩa lớn” trước họa xâm lăng của giặc Pháp. – Bây giờ tôi tạm suy nghĩ cách đánh như vầy hai anh coi được không nghe! Trước hết là bọn Tây dương nó ỷ có tàu to súng lớn, nó có thể đánh mình từ xa. Đó là ưu thế tuyệt đối của nó. Cho nên ta phải phá ưu thế đó bằng cách đánh cận chiến, nghĩa là đánh giáp lá cà, thì súng lớn bắn xa cũng không có tác dụng. Qua trận đánh ở đại đồn Chí Hoà vừa rồi, thế đánh cận chiến của ta đã có hiệu quả rõ rệt. Anh em thấy có đúng không? – Đúng quá chớ anh Hai! – Sáu Bảnh gật đầu tán thành. – Vậy chuyện đánh chiếc tàu này cũng phải tính đến cách đánh cận chiến. – Trực nhìn mọi người rồi nói tiếp – Nhưng tiếp cận nó bằng cách nào? Cái khó tiếp cận nó thì hai anh đã nói rồi… Tôi suy nghĩ mãi mới nghĩ ra cách tiếp cận nó như thế này, hai anh và Nghĩa nữa thử nghĩ xem có được không nghe. Bây giờ mình giả làm đám cưới rước dâu trên sông, đã là đám cưới thì phải có hai họ đằng trai đằng gái, có chủ hôn, cô dâu chú rể chánh và phụ. Nghĩa là có hai ba ghe lớn chở năm ba chục người đàn ông, đàn bà, trai gái ăn mặc đẹp, dưới ghe mình bí mật giấu võ khí, khi có hiệu lệnh là nhất tề xông vào tiêu diệt. Đối với thằng giặc Tây dương nó ở xa tới đây, thấy đám cưới nó cũng muốn coi cho biết phong tục tập quán người Việt mình trong việc cưới hỏi ra sao, do đó mà sự đề phòng không cao như thấy ghe thương hồ buôn bán.


            Vậy mình tiếp cận nó bằng cách nào? – Hai Nhường hỏi. – Thấy đám cưới nhứt định nó phải kêu lại xét hỏi giấy tờ, nhưng mình không đợi nó gọi mà chủ động ghé vào mạn tàu trước, xin lên ra mắt và tặng quà mừng cưới theo tục lệ dân Nam… Nó sẽ thả thang dây cho ông chủ hôn, cô dâu chú rể chánh và phụ đi lên. Lúc trao quà cưới ta sẽ hành sự. Đến lúc đó thì các ghe đi sau chở hai họ, thực chất là chở anh em nghĩa quân mình sẽ dùng thang tre đã giấu sẵn dưới ghe, áp vào hông tàu cho anh em leo lên nhào vô xáp lá cà với chúng nó… – Hay quá! Quả là diệu kế – Sáu Bảnh, Hai Nhường gần như cùng lúc vỗ tay hoan hô. Cả Nghĩa nét mặt cũng rạng rỡ vui hẳn lên. – Nhưng… – Trực nói tiếp – Ta phải chọn thời điểm bọn giặc sơ hở mất cảnh giác nhứt. Đó là sau buổi ăn trưa, chúng nó tản vô phòng ngủ chỉ có một số ít canh gác. Đến lúc đánh nhau, bọn lính có thức giấc thì cũng đã muộn rồi. – Hay lắm! Anh Hai tính toán không thua gì Khổng Minh! – Sáu Bảnh khoái chí khen Trực. – Đó là mới chuyện dưới nước. Ta phải tính đến chuyện mấy thằng lính trên bờ, tức là mấy thằng lính đóng đồn, làm sao cho chúng không thể tiếp viện được cho bọn dưới tàu… – Cái đó theo tôi nghĩ cũng dễ thôi, anh Hai! – Nhường mỉm cười nói. – Dễ thế nào? – Trực nhìn Nhường chờ câu trả lời. – Ta sẽ cho một số anh em hoạt động nghi binh, dụ bọn chúng ra xa đồn đúng vào thời điểm mình tấn công chiếc tàu… – Nhường trả lời tỉnh queo như có sẵn ý định từ trước. – Hay quá! Đúng là kế “điệu hổ ly sơn” của Khổng Minh Gia Cát! – Sáu Bảnh khoái chí cười to, khiến mọi người cũng cười theo vui vẻ.


            Chợt Sáu Bảnh ngừng lại hỏi: Nhưng làm sao mình nhận chìm được chiếc tàu đó anh Hai? Giết lũ Tây dương trên tàu thì được rồi, còn nhận chìm nó bằng cách nào đây? Chớ chiếc tàu còn thì tụi nó vẫn còn uy hiếp mình sau này đó! Hai Nhường tính sao chuyện Sáu Bảnh nói? – Trực nhìn Nhường mỉm cười hỏi. Chắc là anh Hai tính rồi, anh còn làm bộ hỏi, phải hôn? – Nhường nheo mắt cười nhìn Trực. Nhưng anh thử nói coi giống suy nghĩ của tôi hay không? – Nói làm chi, thử viết ra đất coi tụi mình giống nhau không? – Trực vui vẻ nói. – Đồng ý.


            Nhường lấy que viết chữ “hoả” rồi quay sang nhìn Trực cũng thấy chữ “hoả” như mình. Cả hai cười vui vẻ. Cả Sáu Bảnh, Nghĩa cũng thích thú với trò chơi chữ của hai người. – Vậy là ta đã thống nhứt với nhau rồi phải không? Bây giờ phải bắt tay vào việc thôi. Nhưng đây là kế hoạch tuyệt mật, không được để lộ. Chỉ khi nào lên đường hành quân mới nói cho anh em biết. Trực nhìn Sáu Bảnh nói tiếp: – Phải ôn tập cho anh em đánh cận chiến, chuyện này Sáu Bảnh lo. Còn mọi việc chuẩn bị khác như ghe thuyền, thang tre, con cúi tẩm dầu, quấn áo cưới… thì Hai Nhường, cô Nghĩa và tôi chia nhau lo trong bảy ngày cho xong. Còn gì bàn thêm nữa không? Nếu không thì mỗi người đi lo phần việc của mình đi. Riêng Nghĩa ở lại anh dặn thêm công việc.


            Hai Nhường, Sáu Bảnh đi rồi, Trực nói với Nghĩa: – Em cầm thơ của anh xuống gặp ông tri huyện Cường nhờ lo giùm đồ cưới gấp. Ổng có hỏi, Nghĩa nói không biết, chỉ biết làm theo lịnh của anh thôi nghe. Nhớ chưa? Có bấy nhiêu mà không nhớ thì còn làm cái gì được nữa anh? Nghĩa cười nói. Trông Nghĩa vui hẳn lên như chính lo đám cưới của mình.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info


           

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »