tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30476843
Lý luận phê bình văn học
25.10.2012
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (6)

THƠ TÌNH CỦA XUÂN DIỆU


Tình yêu là tình cảm đẹp và thiêng liêng, thường đem lại vui buồn và những kỷ niệm sâu sắc cho cuộc đời mỗi con người. Tình yêu được xem là đề tài muôn thuở khơi nguồn và in đậm dấu vết trong văn học qua nhiều thế kỷ. Thơ tình không đi sâu vào miêu tả những mối tình đằm thắm, say mê hoặc éo le, đau khổ, mà như lọc ra, chắt ra cái duyên, cái đẹp, cái phần hồn của nó. Những bài xonnê tình yêu của Sếchxpia, thơ tình của Puskin, Tago, Gragông… là tiếng nói đam mê, đau khổ và thánh thiện của trái tim yêu đương, góp phần làm cho tâm hồn con người thêm nhân ái, thêm cao đẹp.


Xuân Diệu là nhà thơ tiêu biểu nhất của phong trào Thơ mới và thơ tình là cái nhụy, là tinh hoa của thơ ông. Nửa thế kỷ đã trôi qua, những bài thơ tình của Thơ thơ, Gửi hương cho gió vẫn tươi trẻ, đắm say, nồng nàn như thuở ban đầu. Suốt những chặng đường dài nhiều thử thách, gian truân của đất nước, bên cạnh những bài thơ với cảm hứng công dân sâu sắc, trái tim Xuân Diệu vẫn thức đập với những vần thơ tình đẹp. Cho đến cuối đời, khi đã ở vào cái tuổi mà tình yêu chỉ còn là một kỷ niệm mờ xa trong dĩ vãng, Xuân Diệu vẫn viết thơ tình và có những bài hay. Trong một lần đến thăm ông, sau khi nghe ông đọc một số bài thơ tình vừa làm, tôi mạnh dạn hỏi: “Thơ tình của anh ở thời kỳ đầu của Thơ thơ và thơ tình hôm nay của anh có gì khác nhau nhiều lắm không?”. Xuân Diệu trả lời: “Tất cả phải tuân theo quy luật của thời gian thôi. Nếu đứng về cuộc đời riêng mà nói thì trái tim và tình cảm không còn sự sôi nổi ban đầu và không tránh khỏi xơ cứng. Nhưng mình lại biết khơi nguồn từ tình yêu của lớp trẻ hôm nay”. Tôi cảm động về ý kiến chân thành của ông và hiểu rằng những cảm hứng thơ tưởng như riêng tư nhất vẫn được nuôi dưỡng bằng những tình cảm chung của cuộc đời.


Thế kỷ XX sắp khép lại. Thời gian sẽ góp phần lắng lại, đem lại sự bình yên trong tâm tưởng để có thể có cái nhìn khách quan về một thế kỷ thơ.


Có thể khẳng định rằng Xuân Diệu là nhà thơ tình lớn nhất thế kỷ của thơ Việt Nam. Chặng đường đầu thế kỷ có thể kể đến thơ tình hay của Tản Đà, Đông Hồ, Tương Phố,… nhưng đến Xuân Diệu tình yêu trong thơ mang khuôn mặt mới đáng yêu, tràn sức sống, thắm tươi, tha thiết và giàu tâm trạng. Thơ Xuân Diệu là một mạch đời, một nguồn thi hứng nói lên khát vọng sống, yêu đời thiết tha với hạnh phúc và mong ước giao cảm với mọi người và thiên nhiên tạo vật. Nói như Huy Cận: “Có thể nói Xuân Diệu đã sống để mà yêu, và yêu để mà sống. Chàng trai ấy tự xem mình là “đa tình”, và tình yêu đã có từ khi chưa có hình hài và sẽ còn, khi tác giả đã đi vào cõi hư vô”.


Thuở xưa kia là con của mặt trời,


Tôi có lửa ở trong mình nắng dội.


Tôi đã yêu từ khi chưa có tuổi,


Lúc chưa sinh vơ vẩn giữa vòng đời.


(Đa tình)


Nói vậy nhưng tình yêu giữa cuộc đời là đằm thắm và thi vị nhất. Thời gian để sống không phải là nhiều và thời gian để yêu lại càng ngắn ngủi. Tác giả trân trọng từng ngày, nuối tiếc từng phút giây trôi qua. Ông “vội vàng” “giục giã” và “hoài xuân”. Xuân Diệu không rơi vào triết lý sống gấp mà hiểu giá trị của sự sống hạnh phúc trong yêu đương. Thái độ ân cần, vội vàng trong nhịp sống không phải chỉ có trong tuổi trẻ mà bộc lộ trong suốt cuộc đời nhà thơ, không chỉ trong thơ tình mà còn ở nhiều phạm vi khác của cuộc đời.


Trong thơ Xuân Diệu đã miêu tả được một tình yêu đích thực, không ngại ngùng, gò bó, không dang dở nửa vời, Xuân Diệu muốn gọi đúng tên của tình yêu. Tác giả muốn tạo nên một không khí yêu đương say đắm:


Tình thổi gió màu yêu lên phấp phới.


(Giục giã)


Và một ánh mắt nhìn đắm đuối:


Ôi vô cùng trong một phút nhìn nhau.


(Xuân đầu)


Một phút cầm tay giao cảm chan hòa:


Với bàn tay ấy ở trong tay,


Tôi đã nguôi quên hận tháng ngày.


(Với bàn tay ấy)


Vẫn chưa đủ. Tác giả khao khát một tình yêu “vô biên và tuyệt đích”.


Yêu tha thiết, thế vẫn còn chưa đủ


Phải nói yêu, trăm bận đến ngàn lần;


Phải mặn nồng cho mãi mãi đêm xuân,


Đem chim bướm thả trong vườn tình ái.


(Phải nói)


Mang trong lòng một tình yêu đẹp, đam mê, sôi nổi nên Xuân Diệu cũng nhìn thiên nhiên tạo vật với con mắt của người đang yêu - thiên nhiên không vô tình mà như cũng đang ở trong vận hội của tình yêu say đắm. Chính vì thế mà tác giả có những liên tưởng rất gợi cảm và độc đáo:


Tháng giêng ngon như một cặp môi gần.


Tác giả muốn hòa nhập, muốn ôm ấp chính sự sống đang lan tỏa trong thiên nhiên:


Ta muốn ôm


Cả sự sống mới bắt đầu mơn mởn;


Ta muốn riết mây đưa và gió lượn,


Ta muốn say cảnh bướm với tình yêu.


và ở phút giây xúc động nhất của tình cảm:


- Hỡi xuân hồng ta muốn cắn vào ngươi!


Thơ tình của Xuân Diệu cho dù đắm say nhất, đam mê nhất cũng không hề rơi vào bản năng nhục cảm. Thơ Xuân Diệu hàm chứa một khát vọng, một mong ước và không buông rơi chán nản. Thơ Xuân Diệu mang sự sống của cuộc đời và thiên nhiên tạo vật nên nó vượt lên mọi rung động tầm thường và những cám dỗ vật chất. Cũng vì thế mà hầu hết những bài thơ tình của Xuân Diệu nằm trong phạm trù của những tình cảm tuy rất gần gũi đời thường nhưng lại trong sáng và thanh cao. Đến với tình yêu, Xuân Diệu muốn đem một trái tim có “lửa mặt trời” để tìm đến thế giới mới lạ, để chào đón và hiến dâng. Nhưng rồi tình yêu nhiều khi như một trái chín nằm ở ngoài tầm với. Thơ Xuân Diệu vui bao nhiêu thì cũng buồn bấy nhiêu vì tác giả hiểu rõ: Chàng trai chủ động để tìm đến, nhưng sự tiếp nhận lại thuộc về một quyền lực khác:


Yêu, là chết ở trong lòng một ít.


Vì mấy khi yêu mà chắc được yêu?


Cho rất nhiều, song nhận chẳng bao nhiêu:


Người ta phụ, hoặc thờ ơ, chẳng biết.


(Yêu)


Và cho dù khi đã được yêu thì giữa hai người làm sao có được sự gắn bó thông cảm hoàn toàn:


Dầu tin tưởng: chung một đời, một mộng,


Em là em: anh vẫn cứ là anh,


Có thể nào qua Vạn Lý Trường Thành,


Của hai vũ trụ chứa đầy bí mật.


(Xa cách)


Xuân Diệu đã chỉ ra một trong những tâm trạng phổ biến nhất trong tình yêu là ý thức về khoảng cách, cái khoảng cách vừa hữu hình vừa vô hình, cái khoảng cách không dễ mất đi ngay cả lúc tình yêu nồng thắm nhất và hiện ra như vực thẳm lúc chia ly xa cách. Cũng rất khó để chỉ ra hết những nguyên nhân tạo nên những khoảng cách trong tình yêu. Vì anh, vì em hay vì cuộc đời chung? Xuân Diệu không muốn trách ai, không muốn tìm những nguyên nhân khách quan. Tác giả đến với tình yêu với tấm lòng chân thực, và cũng rất chân thành để tự phân tích mình:


Linh hồn ta còn u uẩn hơn đêm,


Ta chưa thấu nữa là ai thấu rõ.


Chưa hiểu hết mình nên cũng không có khả năng để hiểu hết người. Xuân Diệu nói ra điều đó như một nỗi buồn tâm trạng:


Lỗi vì tôi, tôi đâu dám giận hờn.


Đọc thơ tình Xuân Diệu nhiều lúc ta thấy yêu mến, cảm thương chàng trai tưởng như mạnh mẽ, sôi nổi đến vồ vập trong tình yêu nhưng lại yếu đuối và biết đợi chờ. Trong cuộc đời cũng như trong tình yêu, Xuân Diệu muốn hào phóng ban phát nhưng chính nhà thơ lại là người mong được ban phát:


Và hãy yêu tôi, một giờ cũng đủ,


Một giây cũng cam, một phút cũng đành.


(Lời thơ vào tập Gửi hương)


Tác giả đã tỏ ra biết điều và khiêm tốn trước tình yêu:


Anh đã nói, từ khi vừa gặp gỡ:


Anh rất ngoan, anh không dám mong nhiều.


Em bằng lòng cho anh được phép yêu;


Anh sung sướng với chút tình vụn ấy.


(Hẹn hò)


Tác giả hiểu rất rõ quy luật trong tình yêu. Có lúc Xuân Diệu gõ cánh cửa tình yêu bằng tình thương và tình thường là lối mòn dẫn đến trái tim của người phụ nữ. Trong thơ, chúng ta bắt gặp một chàng trai si tình với trái tim giàu yêu thương nhưng lại ngây thơ, khờ khạo - chút khờ khạo đáng yêu:


Nửa câu nói, một chút cười, đôi tiếng thở,


Tình cờ qua trên miệng mở quá xinh:


Ta ngây tơ vội tưởng họ yêu mình,


Về dâng vội cả ân tình thứ nhất.


Đương vương chủ ta bỗng thành hành khất,


Chỉ vì nghe một lời hứa như chim.


(Yêu mến)


Xuân Diệu vẫn tự xem mình là người thiết tha với đời, yêu đời nhưng cuộc đời lại có lúc như lạnh nhạt ơ hờ. Tác giả cho mình là một chú lái khờ, một kỹ nữ cô đơn lẻ bóng, một con nai bị chiều đánh lưới. Cái tôi trữ tình của Xuân Diệu trong thơ tình dù ở dạng thức nào cũng gợi được sự cảm thông quý mến ở người đọc. Có thể nói Xuân Diệu là người bộc lộ được nhiều tâm trạng nhất của tình yêu lứa đôi trong thơ và cũng là trong đời. Tình yêu gắn với những cảm xúc và khát vọng về hạnh phúc của cá nhân, sau những năm tháng bị lễ giáo phong kiến đè nặng, như mất hẳn đi bản sắc và sức sống, lại bừng lên với nhiều màu vẻ và hương sắc. Thơ tình của Xuân Diệu thời trước Cách mạng mặc dù có trĩu nặng nỗi buồn và quẩn quanh trong mối nhện tơ vương nhưng vẫn đem lại cho người đọc lòng yêu cuộc sống và cảm nhận sự phong phú của tâm hồn con người.


Sau Cách mạng tháng Tám, thơ tình của Xuân Diệu không vơi cạn mà lại có những nguồn mạch mới. “Đi giữa dòng người”. Xuân Diệu vui vẻ thốt lên: “Trời ơi quần chúng hóa tình nhân”. Đây là một dấu hiệu báo hiệu tình cảm trong thơ đã có những đổi mới. Tình yêu của lứa đôi không còn là tình cảm giữa hai vũ trụ nhỏ cô đơn mà đã có sự hòa hợp với mọi người. Đã bớt đi trong thơ những tình cảm sôi nổi ban đầu của tuổi trẻ yêu đương. Cảm hứng công dân trong thơ hiện ra như một người bạn đồng hành dắt dẫn tình cảm lứa đôi theo một định hướng nhất định. Thơ tình của Xuân Diệu lúc này ít xao xuyến và biến hóa hơn trước, nhưng lại có thêm những phẩm chất mới. Người con trai trong thơ năm xưa ngoài tình yêu lại có thêm tình nghĩa vợ chồng. Đã có những buổi chiều đứng chờ em trước cổng.


Nhận từng vóc dáng từ xa tới,


Lọc lấy một hình anh thuộc quen.


(Đứng chờ em)


Có những phút ngẩn ngơ dấu nằm của người yêu:


Ghe lui còn để dấu dằm,


Người yêu đâu vắng dấu nằm còn vương.


(Dấu nằm)


Thơ yêu của Xuân Diệu đã có tình cảm vợ chồng. Tuy nhiên, điều đáng quý là viết về tình cảm vợ chồng nhưng vẫn là thơ tình yêu. Thơ Xuân Diệu lúc này có nét gần gũi với thơ tình Aragông viết tặng Enxa.


Đi về phía thực của cuộc đời, Xuân Diệu lại như bắt gặp những câu hỏi lớn của tình yêu trên đà đi đến cõi hư vô. Phải chăng tình yêu tồn tại mãi mãi với cuộc đời, với thế gian này? Từ cái hữu hạn tác giả nghĩ đến cái vô hạn. Trong kho trời đất một ngày nào đó hiển hiện lên khuôn mặt em: “Nét thường rờ rỡ như tơ chín - Dáng vẫn thanh thanh tựa nước hiền”. Khuôn mặt ấy có thắm tươi vĩnh viễn với thời gian? Thời gian sẽ đổi thay tất cả nhưng hình ảnh của khuôn mặt thì vĩnh viễn đã được chụp lại và cất trong đáy thẳm tâm hồn rồi:


Mặt em ở giữa kho trời đất,


Vô tận thừi gian có mặt em.


Đáy thẳm tâm hồn anh đã cất,


Mựt em hoa vĩnh viễn ngày đêm.


(Mặt em)


Nghe một giọng nói hay của người yêu ríu rít ở sau xe, Xuân Diệu cũng nghĩ tới thời gian và không gian vô tận dành cho hai người:


Ước được nghìn năm nghe giọng ấy,


Đèo em đi mãi cuối thời gian.


(Giọng nói)


Rồi thiên nhiên cũng có mặt nhiều hơn trong thơ Xuân Diệu. Nếu trước kia tác giả chỉ hay nói đến vẻ đẹp của đêm trăng và hoa lá, của thiên nhiên tuần hoàn theo năm tháng… thì bây giờ thiên nhiên đã trải trong không gian rộng lớn hơn. Có hương thơm ngát của dạ lan hương, có hoa ngọc trâm cánh trong như tuyết, có núi cao, hồ đầy và biển rộng. Xuân Diệu đi nhiều và ở đâu trong thơ anh có dấu vết của cuộc sống thì ở đấy có cảm hứng của tình yêu. Xuân Diệu muốn tìm đến những hiện tượng thiên nhiên có sức sống dào dạt, mạnh mẽ để nói hộ tình cảm của mình. Một ngọn thác với dòng nước trào lên và xoáy sâu như giấu trong mình biết bao câu hỏi, bao băn khoăn của lẽ sống, và tình yêu. Và Xuân Diệu thích hơn cả là sự dào dạt của biển. Biển là bài thơ thường được Xuân Diệu nhắc đến như điều tâm đắc. Bài thơ viết lúc Xuân Diệu sắp bước vào tuổi năm mươi nhưng sức sống của hồn thơ còn mạnh mẽ và tình yêu còn nồng nhiệt như thuở nào của thời Thơ thơ và Gửi hương cho giío:


Anh xin làm sóng biếc


Hôn mãi cát vàng em


Hôn thật khẽ thật êm


Hôn êm đềm mãi mãi


 


Đã hôn rồi hôn lại


Cho đến mãi muôn đời


Đến tan cả đất trời


Anh mới thôi dào dạt    


(Biển)


Tuy nhiên, những bài thơ như thế không nhiều. Trong thơ Xuân Diệu, cái tình đã nương nhờ nhiều vào cái tứ. Nếu trước đây Xuân Diệu thường biểu hiện trực tiếp một hơi cảm xúc trong thơ tình thì ở chặng đường sau cái tình quyện hòa với tứ. Xuân Diệu là người rất giỏi tạo tứ cho thơ tình. Có lần tôi nói với ông: “Thơ tình của anh có nhiều tứ lạ và ít trùng lặp”. Xuân Diệu cười và trả lời: “Mình phải để dành, chắt chiu từng tứ một, không được lãng phí… Tình thì mênh mông, phải có tứ bài thơ mới đứng được”. Chỉ riêng trong đời sống gia đình, Xuân Diệu viết hàng chục bài thơ: Em làm bếp, Đứng chờ em, Dấu nằm, Quạt, Trách em,…Trong tình yêu, chỉ có thể đến với nhau khi cùng một “phạm trù” như cách nói của Xuân Diệu và ông tạo ra từ “tấm kính giữa đôi ta”; tưởng là gần gũi nhưng lại là ngăn cách. Ánh mắt của người yêu có thể biến chén nước thành rượu nồng say chết người (Chén nước). Tứ trong thơ tình của Xuân Diệu thường gần gũi, dễ cảm thông mà vẫn mới lạ.


Thơ tình của Xuân Diệu sau Cách mạng có nhiều niềm vui mới khi nhà thơ hòa hợp với cuộc đời. Song tình yêu là chuyện riêng tư nên buồn vui còn thuộc mạch tình cảm riêng của mỗi người. Nếu cứ đọc những chùm thơ tình đăng trong các tập thơ của Xuân Diệu thì tình cảm vui là chủ yếu. Trong thơ có không khí gặp gỡ, hội hè với tình cảm thủy chung gắn bó. Tình yêu thường đem lại hạnh phúc cho đôi lứa. Song vì quá thuận chiều trong tình cảm nên mạch thơ không tránh khỏi đơn giản và đơn điệu. Trong một lần trò chuyện với ông về thơ tình, tôi nói: “Thơ tình của anh sau Cách mạng là thơ vui. Theo anh thì giọng điệu buồn hay vui dễ tạo được cái hay trong thơ tình?”. Xuân Diệu cho biết, ông thích “giọng điệu buồn”. Nhiều bài thơ buồn sau Cách mạng chưa có điều kiện giới thiệu. “Mình có một vệt thơ tình buồn và theo mình mạch này hay hơn mạch thơ vui”. Ông tâm sự: “Trong tình yêu thật ra buồn mới có nhiều chuyện để nói còn khi đã vui, đã hòa hợp, thì cầm tay nhau mà đi chơi thôi”.


Xuân Diệu nhắc đến tứ thơ mà sau này ông cho in và đặt tên bài thơ là Chầm chậm đừng quên. Khi yêu nhau, giữa hai người như có những sợi dây vô hình ràng buộc và khi xa nhau cũng phải cởi cho hết từng sợi dây và tránh sao khỏi những vết lằn đau cho da thịt. Ông gọi đó là nỗi đau của sự nguôi quên. Nỗi buồn trong thơ tình của ông nói lên đúng những tâm trạng rất chân thật và đời thường trong đời, trong thơ. Tình yêu với ý nghĩa chân chính và cao đẹp không dễ dàng có thể với tới được. Và nếu có thì bảo vệ cho được tình yêu đó cũng rất khó khăn. Cũng vì thế mà suốt cuộc đời thơ, ông vẫn thường xem mình là người “thua cuộc”; không bao giờ làm chủ quan nói lên sự thắng thế của mình trong tình yêu. Biết trân trọng và nâng niu cái đẹp bao giờ cũng là dấu hiệu nói lên sức mạnh tinh thần của những người đang yêu và biết yêu.


 


(Đi tìm chân lý nghệ thuật, Sđd)


(còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học sắp phát hành.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiểu thuyết Sóng lừng (VN. MAFIA) qua Từ điển và một số bài nghiên cứu phê bình - Nhiều tác giả 05.12.2019
“Sóng lừng” – Cuốn tiểu thuyết về Mafia ở Việt Nam - Bùi Quang Huy 03.12.2019
Trò chuyện với nhà văn Triệu Xuân - Nguyễn Khoa Đăng 02.12.2019
Những bài viết về nhà văn Hồng Nhu - Nhiều tác giả 14.11.2019
Sóng lừng (VN. Mafia), tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Giao thông Vận tải, 1991. - Nguyễn Bích Thu 12.11.2019
Về Bogdanov và tiểu thuyết “Tinh cầu Đỏ” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Một Week end ở Điện Biên Phủ - Phan Quang 07.11.2019
Ngụ ngôn giữa đời thường: Việt Nam giữa Canada; Ta giữa Tây; Dân tộc giữa nhân loại - Đỗ Quyên 01.11.2019
Đào Duy Anh nói về sự "Hán hóa" (1950) - Đào Duy Anh 31.10.2019
Sự kiêu hãnh quá đáng là dấu hiệu cho thấy nhiều điều không tốt đẹp - Vương Trí Nhàn 31.10.2019
xem thêm »