tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30523269
Lý luận phê bình văn học
23.10.2012
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (5)

Thơ Xuân Diệu và tình yêu cuộc sống, yêu nhân dân


Cách mạng tháng Tám 1945 thành công, Xuân Diệu đến với cuộc đời mới trong niềm vui chào đón, hồ hởi. Một chặng đường mới, những đóng góp mới tiêu biểu nhất trong những năm đầu Cách mạng tháng Tám là Ngọn quốc kỳHội nghị non sông. Xuân Diệu gọi đó là những trường ca viết sang trang sử mới. Tứ thơ, lời thơ tỏa sáng mà ấm áp với bao cảm xúc yêu thương, trân trọng, ngợi ca những biểu tượng về cuộc sống, con người của đất nước mới hồi sinh. Xuân Diệu cảm kích với ngày hội non sông “Dòng giống Việt thật hả lòng, hả dạ” và tác giả thắm thiết ngợi ca:


Hội này đây mặt trời dọi với trăng,


Cả dân tộc đứng hiên ngang nhật nguyệt.


Đất trường cửu ngắm với trời bất diệt,


Nòi vô cùng còn mãi nước muôn năm.


(Hội nghị non sông)


Ngoài ra phải kể đến những bài thơ đả kích. Càng thiết tha yêu cuộc sống mới càng căm thù những kẻ phá hoại cách mạng. Cách mạng được dân bảo vệ. Chúng hô hào tổng đình công nhưng chợ vẫn họp, cửa hàng vẫn mở. Xuân Diệu viết bài Tổng… bất đình công để phản đối bọn phản động:


Tổng đình công đấy, nghĩ mà thương.


Phố đóng sao mà cửa mở toang?


Tàu điện long cong ra vẫn chạy!


Đồng Xuân ầm ĩ họp như thường!


Tổng đình công hỡi! Tổng đình công!


Dân chúng sao mà xỏ chúng ông?


Tưởng chắc được dân nên mới “tổng”;


Mà dân không được, thế là… tong!


Xuân Diệu vốn không phải là nhà thơ châm biếm. Trước Cách mạng, chủ yếu là nhà thơ của tình yêu, tình thương, nỗi buồn nhưng trong một số bài văn viết về người cạo giấy ở văn phòng, viết về một số kẻ lang thang cơ nhỡ, kể cả viết về loài vật cũng đã mang ít nhiều chất châm biếm. Có sống những ngày tháng Tám ở Hà Nội mới thấy hết không khí cách mạng của quần chúng và cả thái độ của bọn phản cách mạng. Nhưng cách mạng đã vững bước đi lên, trái tim của Xuân Diệu rạo rực tuổi thanh niên. Chào dón cách mạng ở tuổi hai mươi bảy nhưng tấm lòng Xuân Diệu đã đến với cách mạng từ phong trào Việt Minh những năm 1943-1944. Ông chứng kiến không khí chuẩn bị chiến tranh của Hà Nội và càng cảm phục:


Đất đào xuống cho hết lòng mỗi phố,


Sắt trồng lên, cây ngã xuống ngang tàng.


Đây rầm rầm đêm mười chín hiên ngang,


Hà Nội đứng với cả lòng biển lửa.


(Thủ đô đêm mười chín)


Xuân Diệu thiết tha yêu cuộc sống. Nếu trước đây là lòng yêu đời qua tình yêu lứa đôi, yêu thiên nhiên thì nay tình yêu cụ thể hơn, yêu đất nước, cuộc sống, con người. Bài thơ Trở về viết nhân dịp kỷ niệm Cách mạng tháng Tám 1945 mang không khí yêu đời đó, rất thiết tha và tươi thắm:


Cũng bởi vì tôi nhớ, tôi mong,


Một sớm mai hồng, tôi sẽ lên đường trở lại


Giữa vũ trụ nhân gian, trong gia đình xã hội


Giữa quốc gia nhân loại, trong thế giới gia đình


Một sớm mai hồng, vắng một bình minh


Xanh mắt trẻ em,


Hồng môi thiếu nữ


[…] - Tôi phải về nghe dự nhạc đoàn viên


Nhân loại mới nói cười như trẻ nhỏ.


(Trở về)


Xuân Diệu thích nói đến nhân loại với niềm hân hoan chào đón:


Trong buổi tằm lên nhân loại mới,


Lòng tôi như thẻ chiếc nong xanh.


Nhân loại mới như lúa tằm đang lên: nhân loại mới nói cười như trẻ nhỏ… cũng chính là nói một phần cho mình. Mình như trẻ lại, hòa nhập với số đông. Và có những câu thơ của Xuân Diệu chân tình đến vồ vập:


Trời ơi quần chúng quá tình nhân!


(Mê quần chúng)


Xuân Diệu đến với quần chúng từ ngày đầu Cách mạng và cảm thấy chất thơ phải được khơi nguồn từ cuộc đời mới:


Có một suối thơ chảy từ gần gũi,


Ra xa xôi, và lại đến gần quanh.


Một suối thơ lá ngọt với hoa lành,


Nói trong xóm và giỡn cười dưới phố.


(Nguồn thơ mới)


Và Xuân Diệu yêu cái bình dị của cuộc đời. Chẳng có gì thật cao xa mà sao gần gũi:


Đời đáng yêu nhiều lúc có gì đâu,


Miếng ván chênh vênh giữa nhịp cầu,


Một buổi chiều sương nghe chó sủa,


Sân hè thóc trải lượn bồ câu.


Và thật đáng yêu hương vị làng quê:


Cái nắng ồ lên trong tiếng lá,


Một làn gió nhẹ thoảng hương cau.


Và điều quan trọng nhất là cách nhìn cuộc sống. Phải nhìn đời với con mắt tin yêu lòng không u ám, trí không mất phương hướng:


Hãy nhìn đời bằng đôi mắt xanh non


Hãy để trẻ con nói cái ngon của kẹo.


Hãy để cho bà nói má thơm của cháu,


Hãy nghe tuổi trẻ ca ngợi tình yêu.


(Đôi mắt xanh non)


Sau Cách mạng tháng Tám, được sống với tư cách công dân, tấm lòng nghệ sĩ là tấm lòng công dân nên cảm hứng với đất nước không làm sao nói hết được: “Việt thanh thanh, Viếc sắc sảo mặn mà”:


Miền Trung Bộ như vòng cung sắp bắn,


Dáng em Nam mềm mại chiếc chân giò,


Chị Bắc Bộ cánh quạt xòe tươi tắn:


Ba vẻ cùng biêng biếc một màu tơ.


(Việt muôn đời)


Đó là những lời ca, tiếng nói buổi đầu đến với cách mạng. Có một cái gì đó gần gũi, non tơ, đằm thắm như mối duyên đầu:


Cái thuở ban đầu Dân quốc ấy


Nghìn năm chưa dễ mấy ai quên.


Và tình cảm ban đầu ấy ngày càng sâu đậm thiết tha qua năm tháng. Đi vào kháng chiến là quá trình quần chúng hóa của Xuân Diệu. Mỗi nhà thơ có một cách quần chúng hóa. Tố Hữu từ Từ ấy đã gắn bó với dân nghèo thành thị. Với Tiếng hát trên đê, ông đã quần chúng hóa với nông dân và càng gắn bó với nông dân cách mạng qua Bầm ơi, Bà mẹ Việt Bắc và cao nhất là trong bài Việt Bắc. Xuân Diệu đến với quần chúng sớm nhưng giai đoạn sau có chững lại. Chùm thơ phát động là chùm thơ viết bằng tấm lòng cảm phục, thương cảm chân tình với người nông dân.


Có lẽ trong bài thơ viết về phát động quần chúng và cải cách ruộng đất thì những bài thơ của Xuân Diệu vẫn đứng lại được. Trở về với nhân dân là quá trình chuyển biến về nhận thức và tình cảm của tất cả các nhà thơ mới. Mỗi người quần chúng hóa theo một cách riêng. Huy Cận tiến hành quá trình quần chúng hóa từ những năm đầu xây dựng chủ nghĩa xã hội. Huy Cận đi chậm hơn nhưng lại có nhiều thành tựu đáng kể. Về với vùng mỏ, gắn bó với đời thợ, Huy Cận đã có một mùa thơ bội thu với các tập thơ Trời mỗi ngày lại sáng, Đất nở hoa và Bài thơ cuộc đời. Còn Chế Lan Viên thì bắt đầu quá trình quần chúng hóa trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp. Theo Xuân Diệu thì “trước Cách mạng, thơ của Chế Lan Việt lạnh, không ấm bằng Hàn Mặc Tử. Có một số bài tình cảm ấm áp nhưng Chế Lan Viên vẫn dựa chủ yếu vào óc! Thơ của Chế Lan Viên là thơ của óc”. Ánh sáng và phù sa là tập thơ bộc lộ rõ rệt nhất quá trình đi từ chân trời một người đến chân trời tất cả”. Chế Lan Viên nói lên nỗi buồn cô đơn và quyết tâm “Phá cô đơn ta hòa hợp với người”. Chế Lan Việt hiểu rõ ngọn nguồn, ánh sáng đã soi rọi phù sa bồi đắp cho tâm hồn tác giả trong cuộc đời mới. Với Xuân Diệu, trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp có một giai đoạn bế tắc, khó viết khoảng từ năm 1949-1953. Lúc này, Xuân Diệu cảm thấn đứng trên lập trường cái tôi không ổn nữa. Bị khủng hoảng. Tập Dưới sao vàng cũng chìm chìm không gây ấn tượng gì:


Kéo dài tâm trạng lênh đênh,


Sống mà lắm lúc như mình bỏ đi.


Không khí sáng tác của khu Bốn lúc đó có màu sắc riêng đô hội. Cuộc chỉnh huấn năm 1953 của văn nghệ sĩ đã đem lại cho Xuân Diệu ánh sáng mới:


Bước đầu tuy chưa là bao,


Nhưng nghe trong rộng đã cao vô ngần.


Tập Riêng chung ghi nhận những bước phát triển về tư tưởng của Xuân Diệu. Ông chân tình ngợi ca cuộc sống mới: “Tôi thẳng thắn ngợi ca nền chuyên chính”. Xuân Diệu muốn đấu tranh chống lại con người xưa cũ của mình, con người hay bi lụy, bùi ngùi, con người chạy theo hư danh, lá mặt lá trái: “Hai mặt người trên một mặt người ta”. Tấm lòng của nhà thơ với cuộc đời mới như trái tim hồng:


Một khối hồng đau đáu trong tim.


Những câu thơ đẹp của Xuân Diệu ngợi ca đất nước và nhân dân:


Lòng yêu cuộc sống với nhân dân


Mạnh mẽ vươn xa lại tỏa gần


Đêm hóa làm sương ôm mặt đất


Ngày là nắng ấm giục mùa xuân.


Theo dõi bước đi của nhà thơ cách mạng ngày càng thấy nhà thơ với quần chúng cách mạng là một, ngày càng gắn bó. Như một phương châm, một tâm sự có tính chất tuyên ngôn:


Tôi cùng xương cùng thịt với nhân dân tôi,


Cùng đổ mồ hôi, cùng sôi giọt máu,


Tôi sống với cuộc đời chiến đấu,


Của triệu người yêu dấu gian lao.


Cuộc đời thơ của Xuân Diệu mở đầu là những trang thơ lãng mạn nhưng bộc lộ sâu sắc khát vọng tự do và tình yêu vươn tới cái đẹp mộng tưởng. Nửa chặng đường sau, thơ Xuân Diệu trở về với cuộc đời thực, gắn bó với Tổ quốc, nhân dân và mang những phẩm chát mới cao đẹp mà thơ Xuân Diệu chưa thể có được trong vườn thơ lãng mạn.


 


Tháng 11-2007


Kỷ niệm 100 năm năm sinh nhà thơ Xuân Diệu.


(Tạp chí Văn học, số 1-2008)


 


VỀ MỘT HƯỚNG ĐI TRONG THƠ


Hồn thơ của Xuân Diệu sau những kỳ sinh sôi nảy nở tưởng như vơi cạn hẳn đi, nhưng rồi ông biết hút nhụy trong những bồn hoa của cuộc đời để lại kịp hồi sinh và phát triển. Chặng đường thơ của Xuân Diệu sau Cách mạng tháng Tám phát triển theo quy luật ấy. Cứ nhìn vào những tập thơ được viết ra qua những giai đoạn cách mạng cũng thấy ông viết khỏe và đều tay. Cái hướng đi vào đời sống thực tế không chỉ là một phương châm mà thực sự từ lâu đã đâm hoa kết quả trong thơ ông. Ông đi trên nhiều miền đất nước và có thơ hay về đỉnh cao Mã Pí Lèng, về vùng lúa Thái Bình, về những đêm Thanh - Nghệ hành quân trong chiến đấu…


Ông không tự bó hẹp mình trong một loại đề tài nào mà luôn biết triển khai, mở rộng, chiếm lĩnh những miền đất đai từ lâu vốn ít có mặt ở trong thơ. Ông không chỉ làm thơ mà đi tới đâu còn nói chuyện thơ, bình thơ rất sôi nổi. Con người nhà thơ ấy dường như luôn muốn thoát mình ra để chia sẻ tâm tình với mọi người và tìm lại trong một cặp mắt nhìn, một dáng lắng nghe những sự giao cảm của quần chúng với thơ. Phần bù đắp đáng quý với người nghệ sĩ cũng không thể lường hết được. Ít nhất cũng là một dịp hiểu biết để bước ra khỏi đám mù sương ảo tưởng luôn bao trùm lấy nhà thơ, một thứ sương mù dễ có trong chức năng hoạt động thi ca. Và sâu xa hơn chính là một nguồn động viên mạnh mẽ, nâng đỡ cảm xúc nhà thơ vượt lên trong quá trình sáng tạo.


Trong thơ, Xuân Diệu có một cảm hứng chủ động, tự tin, như một bản lĩnh sáng tạo. Ông luôn muốn chiếm lĩnh thực tại và bày tỏ cảm xúc. Xuân Diệu bắt rất nhạy với những đề tài thời sự. Ông bám sát cuộc sống và có thơ về những sự kiện còn nóng hỏi hơi lửa thời sự. Ông cũng không từ chối loại thơ “com - măng” và nhiệt tình trước sự tín nhiệm đặt hàng của xã hội. Ông viết nhiều và trong phần lớn những bài thơ trung bình, đột xuất lên có những sáng tác, những tứ thơ hay. Xuân Diệu trân trọng, thiết tha và thành kính với đề tài miền Nam và Bác Hò. Ông viết về Bác Hồ với tình cảm của một người mang nặng công ơn của Bác. Chỉ một góc độ ấy tất nhiên là không thể nói đủ về Bác, nhưng nếu khai triển sâu khía cạnh này thì cũng hết sức phong phú. Xuân Diệu có thơ hay về Bác, nhưng những bài viết về Bác trong tập lại chưa hay. Ông nói nhiều, cảm nhiều nhưng bắt chưa đúng mạch, nên tứ thơ không lắng đọng mà dàn trải, rườm rà. Những câu dễ đi vào người đọc nhất là những câu mộc mạc, chân tình:


Bác hiền như hạt gạo thôi,


Chí: no thiên hạ, tình nuôi đồng bào;


Bác là bóng cả cây cao,


Gió đâu, chim tự xứ nào cũng che.


(Bác ơi!)


Xuân Diệu theo rất sát những đổi thay của miền Nam với tấm lòng gắn bó yêu thương. Ông nói được nỗi sục sôi căm giận của thành thị miền Nam trong dịp Tổng tiến công mùa xuân:


Sáu mươi thành thị một loạt đứng lên.


Phố chẳng giam chân, nhà không chịu trói,


Giận tích lũy mười năm run cả ngói,


Xuống đường, xuống đường mà hỏi tội bay!


(Tôi lắng nghe những phố hè trong ấy…)


Ông bắt được niềm vui hân hoan trong phút giây gặp gỡ của những người con miền Nam ra thăm đất Bắc: “Trẻ như chim hót vang lừng - Già thay áo mới đón mừng miền Nam”. Trong sự bề bộn của những vần thơ về miền Nam, ta bắt gặp một tấm lòng rất chân tình. Xuân Diệu chân tình đến bộc bạch. Đi theo đoàn đại biểu Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam từ Hà Nội vào Vĩnh Linh, ông viết:


Tôi đi theo những bước của miền Nam từ Hà Nội


 vào tới Vính Linh


Chao ôi nước nghĩa non tình


Chao ôi anh em mình yêu thương dấu mến


Mỗi bước miền Nam ta đi ra thăm đến


Tức thì miền Bắc đôi mắt tràn yêu


(Đi theo miền Nam từ Hà Nội vào tới Vĩnh Linh)


Chắc chắn những dòng trên chưa phải là những câu thơ hay, nhưng cũng không thể lướt qua nhanh vì bộc lộ một phương diện của phong cách Xuân Diệu. Xuân Diệu thiết tha yêu đời sống cách mạng đến say sưa, đến vồ vập và thể hiện tình cảm một cách bộc bạch chủ quan. Có lúc ông viết những câu thơ làm cho người đọc mỉm cười, vì dường như có một chút gì ngây ngô của tuổi thơ. Không phải chỉ trong đời sống xã hội mà cả với thiên nhiên, ta vẫn bắt gặp một Xuân Diệu trong những chi tiết nhỏ:


Hoa hướng dương chào mặt trời, chứ sao lại chào tôi?


Hoa chào, tôi cũng xin nghiêng đầu đáp lại.


Tôi còn muốn hôn hoa một cái,


Vòng cánh vàng xinh lắm đấy, hướng dương ơi.


(Hoa xứ lạnh)


Cách cảm xúc ấy không khỏi có lúc rơi vào lạc điệu, nhưng về một phương diện khác vẫn chứng minh một mặt mạnh ở phía khác của hồn thơ Xuân Diệu. Do luôn có một tâm hồn cởi mở và thái độ chân tình với cuộc sống nên ông có năng lực giao cảm mạnh. Sức sống của thiên nhiên tạo vật ở những nét măng tơ và ngay cả ở những cảnh vật tưởng như bình thường quen thuộc vẫn làm cho ông xúc động. Tôi thích cái chân tình rất trẻ ấy của Xuân Diệu. Một bãi ngô xanh, một vồng khoai mượt, một dây bí vươn tươi tốt cũng gây cảm xúc mạnh cho ông. Ông muốn nói thay lời ngô, lời khoai, nhưng rồi bối rối chẳng nói được thành lời: “Tôi nói mùa xuân líu lưỡi tôi”. Xuân Diệu giao hòa và bắt được những nét tinh vi trong đời sống của thiên nhiên. Trong không khí của một đêm Thái Bình, ông nói được sự sống của “Đêm ruộng đồng, đêm thở hơi vườn tược”. Và vẫn là sự sống nhưng không ở chỗ cảm thụ, Xuân Diệu tìm đến một quan niệm, một triết lý. Quả sấu non trên cao là một bài thơ hay. Sự vật tự nó bình thường mà đề lên được một quan điểm có ý nghĩa triết học sâu sắc, hiện tượng vốn từ trong giới tự nhiên mà liên hệ trực tiếp được vào ý nghĩa đấu tranh chính trị. Từ hoa đến quả, khoảng thời gian chuyển vần, xê xích như không cảm thấy, “Như một thoáng nghi ngờ - Trái đã liền có thật”. Xuân Diệu đặt câuhỏi: “Ôi từ không đến có - Xảy ra như thế nào?”. Ông không nhằm đẩy vấn đề vào chỗ huyền bí mà muốn nói lên tính chất mầu nhiệm của sự sống trong quy luật phát triển biện chứng của nó. Sự sống ấy cũng là một con chim chích chòe: “Một mảnh hồn của đất đai vườn tược”, một sinh vật bé nhỏ mỏng manh nhưng theo cách nói khoa trương của Xuân Diệu, nó mạnh hơn trăm ngàn lần cái xác tàu bay Mỹ, hiện thân xấu xa của cái chết. Sự sống ấy cũng là một chiếc chồi non nhọn hoắt, “Trông rất mực măng tơ nhưng cường hơn sắt” đã có đủ sức đẩy bật lớp vỏ già vượt ra ánh sáng.


Sức sống trong thiên nhiên non tơ, khỏe khoắn, nhưng đúng hơn là trong đời sống xã hội, sự sống mới bộc lộ hết những sắc thái phong phú và mạnh mẽ nhất. Bài thơ Sự sống chẳng bao giờ chán nản lập được cái tứ rất hay. Sự sống chính là ở về phía chúng ta, chúng ta mang sự sống nên ngay ở vào những lúc mà tưởng chừng sự sống mỏng manh nhất, sự sống vẫn thắng và có xu hướng vượt lên:


Đã là sự sống, thì chẳng bao giờ chán nản;


Những gian nhà Văn Điển, dù cho bom phá nát tan,


Khi mẹ trở lại thăm nhà mẹ vẫn cứ mang trái tim vĩ đại,


Dọn bếp hót tro, nhặt những chân ghế bàn còn lại,


Mẹ nhìn phân biệt bằng mắt yêu thương,


Cái chum đang còn đựng nước, miếng gương


 có thể soi gương,


Không thể tiện tay vứt thanh gỗ làm thành mảnh củi.


Xuân Diệu cũng chỉ ra bộ mặt xấu xa tàn bạo của cái chết mà kẻ thù là hiện thân tiêu biểu nhất. Chúng đem sức mạnh nhất thời và cái chết đe dọa khắp nơi nhưng chính cuối cùng theo quy luật tất nhiên của lịch sử, chúng sẽ bị nhấn chìm trong bóng đêm tăm tối, dày đặc của cái chết. Chỉ tiếc rằng bài thơ không có nhiều câu thơ hay, cấu tứ chung không có điểm tựa vững chắc, nhiều hình ảnh còn thiếu chọn lọc. Nhược điểm đó cũng là nhược điểm phổ biến trong thơ Xuân Diệu.


Đi vào thực tế đời sống, Xuân Diệu rất ham chất liệu của cuộc sống. Trong nhiều trường hợp, ông tìm thấy chất thơ phong phú và cả những câu thơ đã có hình dáng từ trong cuộc sống. Ông bắt được nhiều hình ảnh khỏe, âm thanh đẹp mà với sức tưởng tượng cho dù giàu có cũng không dễ tạo ra được. Ưu điểm ấy làm cho thơ Xuân Diệu phong phú, luôn hứa hẹn một cái gì mới mẻ, nhưng vì ông quá tham chất liệu, kể lể nhiều, sự việc đưa vào ồ ạt đến bề bộn nên giảm sút hẳn sự tinh tế. Có lúc thơ ông như một chất quặng quý nhưng chưa được tôi luyện để chắt ra chất kim ngời sáng. Thực ra thì ông rất có ý thức về sự chọn lọc. Ông chẳng đã viết về Bài học Than Cọc Sáu:


Bảy triệu tấn than mới lấy được một triệu tấn than


Bãi thải mênh mông lổng chổng những hòn than giả.


và từ đấy rút ra một suy nghĩ về thơ:


Thơ ơi! Quặng thỉ muôn lần,


Biết bao giờ mới ra vần kim cương?


Những câu thơ ánh sắc kim cương ấy chưa có nhiều trong thơ Xuân Diệu. Trong thơ Xuân Diệu có những ý thơ, nhưng câu thơ thật hay, thật tài năng chen lẫn trong những câu thơ thua kém nhiều lần. Bài thơ chỗ được, chỗ mất dễ gây lẫn lộn. Hồn thơ ông có tầm vóc, hơi thơ ông khỏe, giàu sức dự trữ, nhưng không dễ bao giờ cũng tạo được tri kỷ. Cái gồ ghề, bề bộn, trúc trắc, kể lể trong thơ ông làm mất đi nhiều bè bạn ngay tự buổi đầu. Nhưng đọc lâu, đọc kỹ, đọc nhiều thì rõ ràng ta có một Xuân Diệu đáng quý, đáng trân trọng. Xuân Diệu cũng nói nhiều đến chất thơ trong đời sống và trong thơ, nhưng thực sự nhược điểm trên đã làm cho chất thơ chìm đi và bị chất văn xuôi lấn át. Thơ Xuân Diệu có nhiều bài gần với văn xuôi, đi sát mấp mé với văn xuôi. Đó không hẳn là một nhược điểm và có thể lại là một ưu điểm nếu biết đứng lại ở bên này ranh giới của thơ để đừng rơi vào văn xuôi. Về hình thức, câu thơ của Xuân Diệu không gò bó mà được triển khai một cách phóng túng. Chúng ta không câu nệ nhiều ở hình thức thơ của một câu thơ. Có thể chấp nhận một nguyên tắc cởi mở: nhà thơ có thể viết câu thơ dài, tự do, văn xuôi,… theo mạch cảm nghĩ tự nhiên của mình, sao cho biểu hiện được đầy đủ nhất nội dung của sáng táng. Vấn đề quan trọng là phải đảm bảo được chất thơ của nội dung, đừng để cho chất thơ bị hòa tan trong văn xuôi - Xuân Diệu chưa khắc phục được thiếu sót này. Những bài thơ của ông rơi vào văn xuôi thì bao giờ cũng thua kém văn xuôi vì trong khuôn khổ có hạn định bé nhỏ của mình, thơ không bao giờ có được sự giàu có, mạch lạc của văn xuôi.


Từ thực tế đời sống, thơ có thể được nuôi dưỡng từ nhiều nguồn mạch khác nhau. Có xu hướng phản ánh cuộc sống làm tiền đề sáng tạo và hình tượng thơ biến hóa linh hoạt. Xuân Diệu trong khi nói về cuộc sống thường thiên về cái thấy, cái nghe. Xuân Diệu đi nhiều nên ông có nhiều điều kiện để quan sát, lắng nghe. Hình tượng thơ của ông nghiêng về loại hình tượng thị giác. Nếu ông tự cảm thấy mình giàu có thì chủ yếu sự giàu có ấy được tiếp nhận qua cái nhìn, cái thấy. Tên đề tập thơ Tôi giàu đôi mắt phải chăng đã nói lên một phần thực tế đó? Sức quan sát của ông giỏi, tinh tế. Chỉ riêng một làn ao Thái Bình với nhiều màu sắc, nhiều dáng cỏ cây được miêu tả một cách tỉ mỉ; nào “Rọc khoai vươn ba tầng cao thấp - Lá ngồn ngộn rung rinh nắng xế”, nào “Rau muống cứ ngoi ra bơi chải - Rễ lạ kỳ bám nước lênh đênh”. Cứ kể mãi cái thấy trong một vùng ao thì còn có thể có nhiều chuyện nữa. Nhưng rồi chỗ cuối cùng phải đi đến của bài thơ là ở đâu? Tất nhiên miêu tả không phải chỉ nhằm mục đích tự thân. Cái hồn của bài thơ có thể lại ở những câu:


Ao căng nước như mình lúa mẩy,


Muốn nuôi đời cũng biết lo toan.


(Một cái ao ở Thái Bình)


Hình tượng thơ vốn thuộc loại cảm xúc, suy tưởng. Suy cho cùng thì hình ảnh trong thơ cũng nhằm phục vụ cho cảm xúc và suy tưởng. Chạy theo hình ảnh bên ngoài, mạch thơ dễ hời hợt mỏng nhẹ, nhất là trong sự miêu tả, lại thiên về tả cảnh và sao chép tự nhiên mà thiếu khám phá, sáng tạo. Bài thơ lúc đó chỉ còn là một bức tranh đồ họa, mô phỏng cuộc sống. Cách làm ấy làm chúng ta liên tưởng đến một câu nói của nhà thơ Tây Ban Nha Garxia Lorca: “Còn gì vụng về hơn là đọc một bài thơ về một bông hồng với một bông hồng thực trong tay. Có một cái gì thừa ra, hoặc là bông hồng, hoặc là bài thơ”.


Hình tượng thơ của Xuân Diệu đa dạng và nhiều biến hóa. Quá thiên về hình tượng thị giác là nhược điểm phổ biến của một số bài mà ông viết trực tiếp về cuộc sống khi đi vào đời sống thực tế. Tất nhiên ông cũng nói được nhiều mặt bản chất của hiện thực, nhưng ông có thể viết hay hơn với khả năng sáng tạo giàu có của mình.


Trong thơ Xuân Diệu, có một nguồn mạch riêng đáng quý: những bài thơ tình. Cũng như những tập thơ trước, chùm thơ tình trong Tôi giàu đôi mắt có nhiều bài hay. Những bài thơ tình của Xuân Diệu được viết ra từ một tâm hồn rất trẻ và có một tiếng nói riêng. Quy luật luôn hồi sinh ở trong thơ không làm cho nhà thơ trẻ lại tuổi đời nhưng có thể luôn trẻ mãi trong thơ. Trong đời sống, tình yêu của mỗi người sôi nổi nhất ở tuổi thanh niên, sau lứa tuổi đó thường đằm xuống thủy chung và quyện hòa với nhiều trạng thái tình cảm ân nghĩa, trách nhiệm. Xuân Diệu trong thơ vẫn như buổi ban đầu: bắt được cái ríu rít tươi trẻ qua một giọng nói của người yêu:


Sau xe những tiếng em phơ phất


Cởi hết ưu phiền gửi gió mây


(Giọng nói)


và cái nhìn đằm thắm như thắt lưới, như giăng tơ:


Mắt em một vùng yêu mến,


Thắt anh trong lưới êm đềm.


(Hôn cái nhìn)


Nhưng điều quan trọng chưa phải là ở chỗ ngợi ca, vì những chuyện đó ông cũng đã nói nhiều và người khác cũng đã nói nhiều. Xuân Diệu nhấn mạnh đến một tình yêu trong sáng, thủy chung, ân nghĩa không lệ thuộc vào vẻ đẹp hình thức, không đắm đuối một cách ích kỷ, riêng tư. Một tình yêu như thế phải xuất phát từ một nhân cách và lý tưởng cao đẹp.


Khi mặt em gầy, lại rất yêu,


Niềm thương như bỗng dội lên nhiều.


Mảng nhìn bịn rịn lo em ốm,


Mà mặt em thêm vẻ lệ kiều.


(Mặt em)


Xuân Diệu cũng không trừu tượng chung chung. Ông nói đến một tình yêu cụ thể qua những sự việc hằng ngày. Lúc này ông rất tỉ mỉ, một sự tỉ mỉ cần thiết. Trong tình yêu, hạnh phúc vốn không tự nó không phải chuyện lý thuyết. Tình yêu cũng là chuyện đồng điệu về tâm hồn qua những cảm nghĩ về những sự việc cụ thể. Xuân Diệu lấy cái cụ thể trong đời sống hằng ngày mà nói về tình yêu: nhìn em khi ngủ, chờ em ăn cơm, một đôi đũa mun kỷ niệm, một lần tạm biệt đi xa,… Nhưng ông không dừng lại ở cái cụ thể mà từ đấy nâng cao, phát hiện ra bên trong từng sự việc một cái gì cao đẹp, linh thiêng. Xuân Diệu thường đẩy tình yêu từ cuộc đời vào phạm trù vĩnh viễn của không gian và thời gian. Nào là “Cái nhìn em trong không gian - Tâm hồn anh chứa chan”. Nào là:


Mặt em ở giữa kho trời đất


Vô tận thời gian có mặt em


Đáy thẳm tâm hồn anh đã cất


Mặt em hoa vĩnh viễn ngày đêm.


(Mặt em)


Xuân Diệu không rơi vào siêu hình, hoặc biến tình yêu thành chuyện gì huyền bí mà chỉ muốn nói lên tính chất cao quý, linh thiêng của tình yêu. Trong tương quan giữa hai người với nhau, tình yêu có một cái gì duy nhất, vô biên. Những ước mơ cao đẹp, lòng tin cậy không cùng, niềm giao ước thủy chung phải chăng cũng là những biểu hiện có tính chất cao quý, linh thiêng, không thể tính toán hoặc đổi thay tùy tiện được? Xuân Diệu đã nói lên được điều đó.


Xuân Diệu vốn là một nhà thơ của tình yêu. Hiện nay vẫn chưa có ai thay thế hoặc vượt lên được ông trong lĩnh vực này. Nhưng nếu có một điều gì đáng nói có lẽ là ở chỗ tính hiện đại của những bài thơ tình. Ông tiếp thu được hơi thở của truyền thống, lấy được tinh hoa của thơ ca dân gian để nói về hiện tại nhưng câu hỏi ám ảnh đặt ra là: phải chăng những trạng thái tình cảm yêu đương của nam nữ thanh niên, của thời đại hiện nay là như thế? Xuân Diệu có thể làm cho say, cho mê, khơi dậy tình yêu trong sáng lành mạnh với những biểu hiện cổ điển của nó; ông chưa nói được nhiều những cái mới mẻ trong tình yêu.


Tâm hồn rất trẻ của Xuân Diệu cũng hòa vào thế giới của các em một cách vô tư và quyến luyến. Từ một điệu bộ của trẻ nhỏ (“Một trăm điệu nhăn nhó - Trên khuôn mặt hiền thơ”) đến những trò chơi nhặt búp đa, hoa gạo, cũng làm cho ông chú ý xúc động. Tâm hồn ấy, con người ấy vẫn như một cây xanh có chùm rễ sum suê muốn bắt vào nhiều mạch đời tha thiết ở mọi nơi.


Tôi giàu đôi mắt nằm trong nguồn chung với Hai đợt sóng, những sáng tác viết ra trong những năm chống Mỹ cứu nước. Ông viết đều, viết khỏe, tiếng nói thơ ca có phần già đi, cũng có phần trẻ lại. Ông gây ấn tượng bằng khối lượng nhiều hơn bằng chất. Quan niệm viết nhiều bài thơ trung bình từ đó nảy sinh thơ hay có mặt tích cực, nhưng không khỏi có chỗ hạn chế làm cho ngòi bút quen đi trong sự dễ dãi.


Trong thơ Xuân Diệu có cả cuộc sống lần tâm hồn. Cái hướng đi của ông là đúng và tích cực. Bút lực ông dồi dào. Nhưng ông chưa có nhiều thơ hay, và có thể chưa tạo được sự ưa thích rộng rãi. Tất nhiên là ông có thể hài lòng với những thành công hiện tại - nhận thức và tình cảm ấy là đúng và có cơ sở, nhưng bạn đọc vẫn nghĩ rằng ông có thể có đóng góp lớn hơn; tương quan giữa những bài thơ trung bình và hay chênh lệch như trong mức độ hiện nay. Lòng tin ấy là có căn cứ vì hồn thơ ông đa dạng và có tầm vóc, sức chiếm lĩnh thực tại mạnh, cảm hứng sáng tạo trong thơ năng động và có nhiều biến hóa.


(Báo Văn nghệ, số 420, tháng 11-1971)


(còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học sắp phát hành.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiểu thuyết Sóng lừng (VN. MAFIA) qua Từ điển và một số bài nghiên cứu phê bình - Nhiều tác giả 05.12.2019
“Sóng lừng” – Cuốn tiểu thuyết về Mafia ở Việt Nam - Bùi Quang Huy 03.12.2019
Trò chuyện với nhà văn Triệu Xuân - Nguyễn Khoa Đăng 02.12.2019
Những bài viết về nhà văn Hồng Nhu - Nhiều tác giả 14.11.2019
Sóng lừng (VN. Mafia), tiểu thuyết của Triệu Xuân. NXB Giao thông Vận tải, 1991. - Nguyễn Bích Thu 12.11.2019
Về Bogdanov và tiểu thuyết “Tinh cầu Đỏ” - Vũ Đình Phòng 07.11.2019
Một Week end ở Điện Biên Phủ - Phan Quang 07.11.2019
Ngụ ngôn giữa đời thường: Việt Nam giữa Canada; Ta giữa Tây; Dân tộc giữa nhân loại - Đỗ Quyên 01.11.2019
Đào Duy Anh nói về sự "Hán hóa" (1950) - Đào Duy Anh 31.10.2019
Sự kiêu hãnh quá đáng là dấu hiệu cho thấy nhiều điều không tốt đẹp - Vương Trí Nhàn 31.10.2019
xem thêm »