tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27808497
Tiểu thuyết
19.10.2012
Lê Văn Thảo
Cơn giông

Bằng tháo xích ghe đi ngay. Trời đổ cơn mưa tầm tã, tối mù, không thể quay lại, gió thổi thốc từng cơn, một tấm tôn bay vèo chạm lổn cổn vào một mui ghe, rớt sầm xuống nước. Có tiếng la í ới, ghe bên cạnh nổi lên tiếng ê a cầu kinh của một bà già. Bằng dùng sào chống đi chen lách qua đám ghe dày đặc, gió thổi lùa đám ghe lúc ken lại lúc giang ra. Thủy đứng phía trước cố bám níu chống đỡ, lâu lắm ghe mới thoát ra được. Bằng giật máy không nổ, vật lộn mãi chiếc ghe quay ngang ngửa, không biết trôi tới đâu. Chợ xã không còn nhìn thấy, ven rừng đước cũng biến mất.


Đành phải chèo thôi. Cha mẹ hai thằng sinh đôi giữ ghe thật kỹ, đôi chèo vẫn còn nguyên, đầy đủ cọc chèo, quai chèo xếp gọn dưới lòng ghe. Bằng lấy ra kêu Thủy gắn vào cùng chèo, ít ra cũng phải giữ ghe đi xuôi giòng, nếu không muốn nó lật úp. Mưa vẫn xối xả, màn mưa dày bịt dán chặt vào mắt. Bằng cố gắng quai chèo đúng hai vòng, vừa vặn như một thói quen vốn có từ lâu, quần áo ướt sũng người lại nóng ran, đầu óc muốn nổ tung trong cơn giận điên khùng với trời đất. Không thể thấy được gì, chắc trời đã tối từ lâu, mưa gió dịu đi một chút lại tiếp tục ầm ã. Mấy tiếng đồng hồ trôi qua họ vẫn chèo hối hả. Bằng nghĩ có lẻ nên tấp vào bờ nghỉ chờ một chút, nhưng không thấy bờ đâu, cũng không biết chờ đến bao giờ. Cuộc ra đi như không làm chuyện gì, chỉ để đối phó với bản thân mình.


Có cái gì đó đen đen lù lù trước mặt. Bằng kềm lái chèo thẳng tới. Một chiếc tàu đò hiện ra sát bên, lướt đi băng băng không một tiếng động, như một chiếc tàu ma.


Có tiếng “rầm” phía trước. Bằng quát:


“Gì đó?”.


“Em té!”, Thủy đáp.


“Có sao không?”, tiếng Bằng lạc đi trong mưa gió.“Gãy tay chân lúc này chết nghen!”.


Không có tiếng đáp lại. Bằng hoảng sợ buông chèo bò ra. Thủy nằm rũ trên sàn, nước mưa chảy thành dòng trên người, chiếc ghe chao nghiêng xô anh té sấp lên người cô gái, điên tiết anh lôi cô vào trong cabin la lối, cô thay đồ nghỉ đi tôi chèo một mình được rồi. Anh bỏ đi ra sau, cửa cabin tự động đóng lại, anh tiếp tục chèo một lúc vẫn không yên bụng lại buông chèo bò trở vào cabin. Thủy chỉ bận đồ lót ngồi co ro một góc, vậy là cô bị trặc chân gay lắm rồi. Trời tối mò, anh sờ soạng lục tìm trong túi xách lôi ra một mớ không biết có phải quần áo không, quơ một nắm thảy về phía cô gái. Một mối thương cảm dâng lên, anh nhẹ giọng kêu cô thay đồ lên giường nằm, anh cũng ghé nghỉ, không đi nổi với trời đất này đâu.


“Nghe anh nói không Thủy?”, anh bỗng đổi cách xưng hô, tiếng lẫn trong tiếng mưa dội sầm sập trên mui ghe.


“Anh lấy toàn áo không hà”, tiếng Thủy vẳng ra trong bóng tối.”Đưa đây cho em. Em trượt chân bị tay chèo đánh không biết ra sao, anh lôi em đi đâu trong trời đất vầy nè?”.


“Em bận đồ vô đi đã... Bận chưa?”.


“Rồi...”.


“Đưa chân anh coi… Không sao đâu, bị trặc thôi nằm nghỉ đi, anh nổ máy được mình đi thôi”.


Chiếc máy mãi rồi cũng nổ, cơn giông cũng dịu đi, nhưng chiếc ghe quay ngang ngửa đã mất phương hướng. Trời tối đen, trông dòng chảy không biết nước lớn nước ròng như thế nào. Bỗng có tiếng máy nổ sát bên, một chiếc ghe chạy qua, Bằng phóng đuổi theo không nhìn thấy gì cả, tiếng máy nhỏ dần rồi lớn trở lên, chiếc ghe quành lại tiếng người vọng sang:


“Ghe du lịch ông công tử phải không? Có tin nhắn đây!”. Hai chiếc ghe cặp sát vào nhau bồng bềnh giữa sông. Tiếng bên đó lại vọng sang: “Ông Sáu Thiên nói mưa gió quá không viết thư được, cây viết cũng hết mực, nhắn miệng thôi, chuyện dài lắm... Qua bên này nói chuyện được không?”.


“Bên này có người bịnh”.


“Vậy để tụi này qua...” Vẫn tiếng nói, không nhìn thấy người. “Bịnh tình ra sao, có cần thuốc men gì không?”.


“Cô ấy bị trặc chân”.


“Bà xã hả? Ông Sáu Thiên nhắn nhiều chuyện lắm, tôi nhớ không hết, vợ tôi nhớ tiếp... Má con Tím ơi!”. Một người đàn ông rồi một người đàn bà bước sang đứng ở khoang ghe phía trước, hai bóng đen ướt đẫm. Người đàn ông nói tiếp: “Ông Sáu Thiên nói gặp bà mập nói chuyện rồi, anh không cần gặp nữa... Gặp làm gì hả má con Tím?”.


“Gặp hỏi mượn tiền”, người đàn bà nói.


“Ông Sáu Thiên nói mượn tiền bà mập được rồi, anh đừng gây sự đâm chém chi cho mắc công. Ai đâm chém ai hả má con Tím?”.


“Đâm ông già ròm”, người đàn bà nói. “Thôi nói chuyện đâm chém ghê quá đi, lo cho người bị trặc chân kia kìa... Ai bị trặc chân đâu?”.


“Thủy ơi!”, Bằng gọi.


“Sao bị trặc chân?”, người đàn bà hỏi.


“Em bị tay chèo đánh”, Thủy mở cửa cabin nói vọng ra.


“Khổ thân chưa, giông bão ầm ầm như thế này đi đứng làm sao?”, người đàn bà nói, lần đi vào trong cabin.


“Đúng rồi, khổ lắm đó”, người đàn ông nói theo, tiếng vang vang át cả tiếng mưa gió. “Giông bão như vầy sẽ có người chết. Ông Sáu Thiên còn nói gì nữa má con Tím ráng nhớ coi, ông già nhiều chuyện lắm mà?”.


“Tôi quên rồi, ông nhớ đi!”, tiếng người đàn bà vọng ra. Đứa con gái nhỏ từ bên kia la lớn:


“Ghe trôi xa quá rồi ba má ơi!”.


“Kệ cho trôi”, người đàn ông la trả lại. “Có người nhờ nhắn tin, chỗ ơn nghĩa, người ta lo giấy tờ bằng khen cho gia đình mình... À tôi nhớ ra rồi, ông Sáu Thiên nói anh về chợ Cà Mau gặp tay người Mỹ bàn chuyện mổ mắt cho đứa nhỏ, còn hơn thọc dao vô bụng người khác”.


“Sao nói chuyện đâm chém hoài vậy?”, người đàn bà nói.


“Tay người Mỹ nào vậy? Sao có chuyện Tây Tàu ở đây?”, người đàn ông hỏi.


“Tôi không biết”, Bằng đáp.


“Ông Sáu Thiên còn nói ông già trăm tuổi nào đó chết rồi”.


“Trời ơi!”.


Bằng kêu thét lên trong đầu. Người đàn ông nói tiếp:


“Nói có ai đó ghé thăm, giăng mùng cẩn thận, ông già nằm chết khô hồi nào không hay, không hôi thúi gì cả”.


“Ong già chết rồi mình vẫn còn nói chuyện, như khấn vái ông bà vậy”, vẫn tiếng trong đầu Bằng.


“Con nhỏ trặc chân băng bó sao đây?”, tiếng người đàn bà.


“Em không sao đâu”, Thủy nói.


“Trặc chân khổ lắm”, người đàn ông nói. “Tím ơi, lấy chai dầu đưa má mày xoa bóp cho cô”.


“Cho luôn hả?”, đứa con gái hỏi.


“Không, cho mượn. Hôm nào gặp ông Sáu Thiên gởi trả”, người đàn ông nói.


Chớp lóe lên, từng tràng sấm kéo dài, hai chiếc ghe đu đưa qua lại, trong ánh chớp Bằng nhìn thấy gã tù ngồi thu lu một góc trong khoang mui. Gã quá giang về trại hay trốn trại? Chắc gã cũng nhìn thấy Bằng. Hình ảnh người trưởng công an ngã xuống hiện lên trước mắt, Bằng có cảm giác sắp có một phát đạn nổ từ sau lưng. Nhưng không có phát đạn nào cả. Hai chiếc ghe vẫn đu đưa khi gần khi xa, hình ảnh gã tù chập chờn như trong ký ức xa xôi.


Trời chỉ còn mưa lất phất, vẫn tối đen, hai chiếc ghe trôi lềnh bềnh, xa xa thấy có ánh đèn của chợ xã. Vậy là suốt từ chập tối tới giờ anh không đi đâu cả, mọi nỗ lực chỉ chuốc lấy cái chân bị trặc của Thủy.


Hai chiếc ghe cuối cùng cũng tách ra đi theo hai hướng, hình ảnh gã tù vẫn cứ chập chờn day dứt. Bằng thấy mình đang nói chuyện với gã:


“Mày bỏ trốn tao biết rồi, tao về trại nói không gặp cũng được. Nhưng rồi mày cũng thân tàn ma dại thôi. Nhiều thằng trốn trại đều như vậy, trốn chui trốn nhủi gặp người quen không dám nhìn, cha mẹ cũng từ bỏ, trở về quê như người xa lạ, có đứa giả bộ ăn xin ghẻ lở đầy mình, chân cẳng lành lặn phải bò lết, cuối cùng chết rấp dưới cống rãnh, ruồi bu, kiến đậu...”.


Trời đã yên hẳn. Ghe chạy thong thả suốt đêm trên sông lớn, sáng ra dừng lại nấu cơm ăn rồi nghỉ một chút. Bằng dò bản đồ đi vào một con sông nhỏ, rẽ tiếp qua mấy con rạch uốn lượn ngoằn ngoèo, hỏi đường mấy xuồng ghe qua lại, suốt ngày suốt đêm không rời tay lái, sáng ra đến nơi phải đến.


Đó là một đầm rộng mênh mông, như trong mơ.


Trời âm u lặng gió, mặt nước sáng màu chì gợn sóng lăn tăn. Những khóm đước lưa thưa thân cây mọc thẳng, những chang đước như nổi lều bều trên mặt nước, in bóng lung linh. Qua khe sáng giữa những khóm đước, lại thấy một vùng nước mênh mông bên kia. Không còn thấy con rạch đưa họ vào, như đường đi chỉ có một chiều. Bằng nổ máy nhỏ, chạy đảo một vòng rộng quanh đầm, ngửa mặt đón gió nhìn ngắm bốn bên. Thủy bưng mâm cơm đặt dưới chân Bằng cũng đứng lên nhìn theo. Một bầy chim bay ngang in những chấm đen trên nền trời. Không có phương hướng gì cả, chỗ nào cũng giống chỗ nào. Bằng tiếp tục chạy len lách từ vùng nước này sang vùng nước khác. Cả đầm nước tĩnh lặng, không có dòng chảy, nhưng lại có luồng lạch, nhiều chỗ rong đuôi chồn, rong lá hẹ dày đặc uốn lượn đung đưa, nước trong vắt, thấy rõ mặt bùn sủi bọt, từng đàn cá bơi lội, chúi đầu vào các đám lá mục làm bốc lên một làn bụi mỏng.


“Hồi xưa anh ở đây”, Bằng nói.


“Ở đâu?”.


“Không biết chỗ nào, lâu quá rồi. Ba má anh móc đất đắp thành gò, cất nhà trồng được ít cây, một cơn giông nổi lên tan hoang cả”.


“Hồi nào?”.


“Hồi anh năm sáu tuổi gì đó. Anh nằm chết lịm trên ghe, tỉnh dậy thấy không còn ba má, chiếc ghe trôi đi, đời anh cũng trôi giạt từ đó”.


Bằng buông lỏng tay lái, chiếc ghe như trôi đi, không thấy đất đâu cả, qua một vùng nước rộng, chen qua mấy khóm cây, cứ thế đi tới không biết đang ở đâu đi tới đâu. Trời nặng màu chì, gió bắt đầu thổi giật từng cơn, mây đen sà xuống thấp. Bầy chim cuối cùng bay đi, không còn sự sống, cả đầm nước lặng lờ như trôi đi dưới trời mây.


Chiếc ghe đi vào một vùng bông sen, bông súng, Bằng đón lấy tô cơm Thủy đưa lên cất tiếng cười khan trong gió...


Nhưng tiếng cười bỗng ngưng bặt. Một đống cây đước chìm nổi lổn ngổn trong nước, nồng nặc mùi thối rữa, một đống nữa rồi một đống nữa kế tiếp chạy dài. Cơ man những gỗ đước không biết từ đâu đem đến, dấu chặt còn mới tinh, nhưng không thấy có dấu chặt phá chung quanh, như từ dưới nước trồi lên.


Bằng đậu rướn ghe lên một đống cây đưa mắt nhìn quanh, không tin vào mắt mình.


Thủy từ trong sàn bếp bước ra cũng tròn mắt ngạc nhiên:


“Ôi cây đâu quá trời quá đất vầy nè?”.


“Công lao của bà chủ cô đó”, Bằng nói. “Ông già ròm chỉ với bộ bài đốn được cả rừng cây đó!”.


Một chiếc xuồng hiện ra xa xa. Một gã con trai bơi xuồng như quào trên mặt nước. Bằng nổ máy chạy tới. Gã con trai cặp xuồng vào ì ạch leo lên, nói như bị hụt hơi:


“Bà mập hỏi ông công tử Sài Gòn đi một mình hay có ai nữa? Nói cứ ở đây bà sẽ vô gặp”.


Gã tự tiện cột xuồng vào ghe, đến ngồi ở mũi chỉ tay cho Bằng lái đi. Ghe len lách qua mấy khóm cây. Đầm nước hoang vu, bỗng hiện ra mấy dãy nhà sàn cất sơ sài như nhà trạm, có căn không có cả mái. Ghe hướng vào một căn nhà lớn nhứt, từ xa thấy lố nhố đám đàn ông con trai ngồi vắt vẻo trên những thanh sà hút thuốc thờ ơ nhìn ra.


“Bạn hiền tới anh em ơi!”, một gã lên tiếng.


“Ông công tử có cục vàng lớn lắm”, gã khác nói thêm.


“Ông công tử là tù trốn trại. Có cần trói không?”, gã đầu lại nói.


“Để yên hỏi chuyện cái đã”, một gã đứng tuổi, có vẻ đầu bò cất giọng. “Hỏi ông công tử vô đây dòm ngó cái gì, tọc mạch chuyện gì? Mấy đống cây làm ông nhức mắt phải không? Đừng dòm có được không?”.


“Tụi bây đốn cây đó hả?”, Bằng bước lên hỏi, không nhìn ai.


“Nghe không tụi bây”, gã đầu bò cười nói. “Thằng trong tù tra vấn người ngoài tù”.


“Bắt trói nó đi”, một đứa nói.


“Trói cũng được”, gã đầu bò nói. “Nhưng nó không trốn đi đâu, khóa chiếc ghe lại thôi. Hỏi ông công tử ăn uống gì không, mình phải hầu hạ cơm nước, bà chủ dặn rồi”.


“Hầu hạ cũng được”, đứa vừa rồi nói. “Nhưng nay mai khoét bụng nó, cho ăn uống làm gì?”.


“Khoét bụng làm gì”, gã đầu bò nói. “Mình nuôi nó cơm bưng nước rót, đợi giao nhận lãnh tiền rồi dông thôi”.


“Còn đứa con gái?”.


“Con gái nào?”.


“Có đứa con gái dưới ghe, coi quen lắm”.


“Tao không biết, tao không ưa đàn bà con gái”, gã đầu bò nói. “Tụi bây cũng không mắc mớ gì phải dính vào”.


Có nhiều xuồng ghe đậu lấp ló trong các lùm bụi, loại ghe nhỏ không thể chở cây. Đám đàn ông con trai không thấy có mặt quen nào, không biết chúng làm gì ở đây. Trời vẫn mù mịt, bên kia khóm cây thấy có dải ánh bạc của một chiếc đầm nối tiếp nữa.


Mấy đứa con trai mò xuống ghe, nghe vẳng tiếng cười nói nhí nhố dưới đó.


“Kêu chúng lên được không?”, Bằng nói với gã đầu bò. “Hay muốn không lên nữa?”.


“Lên đi tụi bây”, ga đầu bò hét xuống. “Đã nói tao không ưa đàn bà con gái, ông công tử giận nè thấy không?”.


Mấy đứa con trai từ dưới ghe đi lên cười tủm tỉm. Đợi chúng lên hết Bằng nói với gã đầu bò:


“Tao ở đây với tụi bây hả? Giam tao phải không?”.


“Giam cũng được”, gã đầu bò nói. “Chẳng cột trói gì đâu, ăn ngủ cho khỏe đợi người tới bàn việc”.


“Ai?”.


“Còn ai xứ này nữa, nhưng không phải chuyện của tụi này. Đây chỉ làm công lãnh tiền thôi”.


Bằng xuống ghe. Thủy ngồi bó gối, gục đầu trong hai cánh tay.


“Lại giỡn hớt gì nữa đó?”, Bằng hỏi.


“Anh giết em đi”, Thủy nói trong nước mắt.


“Mấy thằng nào vậy?”, Bằng dịu giọng. “Lại người quen cũ phải không? Có moi được chuyện gì của bà mập không?”.


“Em không biết gì đâu”, Thủy cố ngăn nước mắt. “Chúng nói quen em ở chợ Cà Mau, khách quán tiệm làm sao em nhớ được. Em có hỏi chuyện bà mập chúng nói không biết gì cả, bà ấy kêu chúng giữ anh lại đây thôi. Anh muốn gặp bà mập đúng không? Anh tính chuyện gì em biết rồi, anh hung dữ vừa vừa vậy, đánh người này, moi bụng người kia. Không phải em sợ gì đâu, anh kêu một tiếng em đi theo liền thấy không? Nhưng anh ở tù hoài, một mình em làm sao xoay trở với trại tôm, nuôi con nhỏ mù?”.


Thủy dọn cơm tiếp tục tỉ tê:


“Chân em đỡ rồi, trời đất không biết như thế nào, em tranh thủ yên lúc gió nấu cơm ăn cả ngày, mấy thằng quỉ xuống cà khịa em muốn hỏi chuyện bà mập nên không đuổi đi được. Thôi kệ chúng, mình ở đây đâu có sao, coi như đậu ghe nghỉ thôi. Em mua trữ nhiều gạo mắm, nước ngọt còn nguyên khạp, nước đầm cũng uống được, quanh đây có nhiều đọt choại, đọt rán, mấy thằng kia hứa hái cho em, anh gặp bà mập bàn chuyện mau mau rồi mình đi thôi. Mắc mớ gì anh cứ phải gây sự? Anh thương con nhỏ mù, em cũng thương, anh ra tù chạy ghe mướn, em nuôi tôm, mình làm ăn bươn chải, tần tiện rồi cũng kiếm đủ tiền mổ mắt cho nó, chẳng cần phải moi bụng ai làm gì”.


Trời sụp tối. Bằng và mau chén cơm, buông đũa ra ngoài thòng đầu xuống đầm rửa mặt. Gã đầu bò trên nhà nói chõ xuống:


“Chán quá hả? Chịu vậy thôi, muốn gì được nấy! Tụi này không dính líu gì. Nhưng nói nghe thử: sắp có đâm chém gì không?”.


“Tao đâm mày đó”, Bằng nói vọng lên.


“Đâm làm gì. Thời buổi này đâm chém nhau dễ lắm, nhậu say cũng thọc dao vô bụng nhau được. Nghe nói có thùng vàng lớn lắm hả?”.


“Ai nói?”.


“Đâu biết ai nói, nghe đồn vậy thôi. Thôi ngủ đi, tụi này cũng ngủ thôi. Ông công tử ăn thua với bà mập, có sừng có cựa chơi nhau, tụi này dính vô làm gì?”.


Nước đầm vừa mặn vừa chua không dễ uống như Thủy nói. Nhưng Bằng cũng uống thử một ngụm, cố tìm lại hương vị ngày xưa, nhưng chẳng có gì gợi lên. Thôi ở lại đây cũng được, có khi cũng hình dung lại được điều gì. Chỉ có chán bị đám vằn vện này dòm ngó.


Trời đã tối từ lâu. Thủy dọn chỗ ngủ cho mình trong cabin, trải chăn, giăng mùng dưới sàn cạnh giường, chỉ còn chỗ đó thôi. Buồn ngủ ríu mắt, Bằng lên giường ngủ một giấc dài, giữa khuya chợt nghe tiếng Thủy:


“Anh à, chuyện thùng vàng là sao?”.


“Không có gì đâu”, Bằng nói.


Chiếc ghe lắc lư nhè nhẹ. Đám trên nhà không thấy động tĩnh gì, đầm nước cũng yên phắc. Ngủ thêm một chút, Bằng trở dậy hút thuốc, nghe tiếng Thủy thở đều, hút thêm điếu nữa rồi anh gọi, giọng rất khẽ:


“Dậy đi Thủy à...”.


Tiếng thở ngừng bặt. Im lặng một lúc rồi cô gái lên tiếng, nhẹ như hơi thở:


“Gì hả anh?”.


“Lên đây với anh...”.


“Là sao?.. Thôi ngủ đi…”.


“Lên đây... Nghe lời anh... Hay anh xuống nằm với em?”.


Im lặng rất lâu rồi Thủy nói, giọng trở lại bình tĩnh:


“Anh kỳ quá đi! Anh tưởng em như thế nào? Em chịu làm bé người ta, là do tưởng lấy được chồng, đàn bà con gái ai cũng muốn có nhà cửa sanh con đẻ cái. Anh có định cưới em không? Anh bỏ vợ trên thành phố, về đây định cưới vợ người ta bỏ đi tu, em theo anh có tính gì đâu cũng bị xua đuổi đánh đập. Giờ lại đòi ngủ với em. Anh làm sao vậy?”.


Thủy còn nói gì nữa nhưng Bằng ép chặt đầu vào gối, không nghe thấy, thức dậy trời đã gần sáng. Thủy cũng đã thức nhưng vẫn còn nằm, dịch người qua một bên. Bằng xuống nằm kế bên, choàng tay ôm lấy vai cô gái:


“Thôi đừng giận… Không chịu thì thôi... Thôi ngủ đi, trời còn sớm dậy làm gì…”.


Anh xoay người nằm ngửa ra cất tiếng cười khan, nói tiếp:


“Anh không biết thùng vàng gì đâu, ông già nuôi bày chuyện đó thôi. Bao nhiêu năm ở thành phố anh đâu biết gì đến tiền bạc, lúc lang thang ngoài đường không một xu dính túi, lúc lên làm giám đốc cũng chỉ có đi ăn nhậu, tiền bạc do một tay cô vợ quán xuyến, ông già vợ, ông già nuôi thậm thụt bàn chuyện mờ ám gì với nhau. Nhưng em biết chuyện đó làm gì”.


Trời đã sáng rõ. Đám trên nhà đang hò hét làm trò gì. Bằng trở dậy ngồi xếp bằng hút thuốc. Thủy dọn dẹp chăn mùng, ra sau rửa mặt, chải tóc, nổi lửa nấu nướng. Trời se lạnh, sương mù phủ một lớp mỏng trên mặt nước. Cơm chín hai người cùng ăn, đám con trai trên nhà vẫn la hét, vừa lúc nghe tiếng máy nổ, ngó ra thấy ghe bà mập đâm sầm chạy tới...


Chiếc ghe chài cặp sát vào, Bằng leo qua, dặn Thủy ở yên, không nói không làm bất cứ điều gì.


Nhưng không thể yên được, Bằng vừa đi khỏi Thủy đi tới lui, áp tai vào thành ghe nghe ngóng rồi lần ra sau tìm cách leo qua. Gian bếp chiếc ghe chài vẫn y nguyên, xoong nồi treo thành hàng, như không hề nấu nướng từ lúc Thủy ra đi. Vẫn cánh cửa sút chốt đung đưa qua lại. Cạnh khoang mui có một khe hở, cô ghé mắt nhìn vào.


Ba người ngồi với nhau. Bà mập và ông ròm ngồi một bên, Bằng ngồi bên kia. Có vẻ nãy giờ họ chưa nói gì với nhau, lặng thinh kéo dài. Rồi Bằng lên tiếng:


“Giờ tôi nói chuyện với ai đây? Bà mập hay ông câm này?”.


“Với đầu gối tôi nè!”, bà mập nói.


“Tôi hỏi ai đốn cây? Chở đi đâu? Để làm gì? Vót tăm xỉa răng chăng?”.


“Chuyện của ông hả?”.


“Không phải chuyện của tôi cũng không phải của ai, của tất cả mọi người, thấy lạ hỏi vậy thôi”.


“Đừng thấy được không?”.


Ông ròm vẫn làm thinh. Bằng nói qua chuyện khác, hỏi ông già nuôi anh đang ở đây phải không, tại sao cha con anh gặp nhau phải nhờ ông bà dẫn đường, ai đi tung tin thùng vàng mà đám tay chân đồn rùm.


“Không có vàng bạc gì đâu”, Bằng nói. “Một đồng cũng không. Tôi vô đây để tìm lại quê xưa. Hồi nhỏ tôi ở đây, bị một cơn giông trôi giạt, nãy giờ vừa kịp đi một vòng đã bị người của bà bắt giam”.


“Không giam cầm gì đâu”, bà mập nói rồi quay qua ngạc nhiên thấy Thủy đi ra đến ngồi sau lưng Bằng: “Mày ở đâu ra vậy? Ngồi đó làm chi?”.


“Cô ấy ngồi đâu cũng được”, Bằng nói. “Bà nói chuyện với tôi nè”.


“Nghe nói anh đòi nợ tôi gì đó. Tôi nợ gì anh?”.


“Có đó”, Bằng nói. “Long Cụt bị ông bà đâm lủng bụng bỏ lại đứa con gái mù mười hai tuổi suốt ngày ngồi nghe nước chảy. Bà biết chuyện đó không? Hay là không biết?”.


“Tôi biết”, bà mập đáp. “Vậy ông tính đòi gì?”.


“Không dễ gì moi được một đồng bạc của bà, đâm chém cũng chẳng được gì”, Bằng nói. “Hay ta làm lại từ đầu?”.


“Đánh bài hả?”.


“Còn chuyện gì khác trên ghe này?”.


“Ông có gì đặt, chiếc ghe hay trại tôm? Hay con nhỏ mặt tàn nhang này?”.


“Tôi lặn đục lủng ghe bà”, Thủy la lên.


“Mày dữ hả?”, bà mập trợn mắt. “Lâu nay mày ăn cơm của ai? Hồi mày bị ông thiên lôi này đánh ai nuôi mày?”.


“Thôi thôi”, Bằng nói. “Cô ấy biết ơn bà lắm, nhưng bà để cô ấy yên. Ta đánh bài đi!”


“Ừ ta đánh bài đi”, lão già ròm bỗng mở miệng, vung vẩy hai tay, lòi ra bộ bài xóc trở búng rảy lẹt rẹt, những ngón tay dài trơ xương cáu bẩn múa may, bộ bài biến mất, rồi lại thấy hiện ra giữa hai ngón tay cái và ngón tay áp út. Lão đặt cộp bộ bài xuống sàn ghe, ngước đôi mắt vô hồn nhìn mọi người.


“Chơi đàng hoàng nghen”, Bằng nói, nhanh như chớp chộp bàn chân lão già giơ cao lên. “Có chảo dưới này tôi chặt chân được không?”.


Lão già thu chân về nhanh như chớp, bà mập tiếp tay xô Bằng ra chụp lấy bộ bài nhét vào dưới chân.


“Không chơi thì thôi”, bà mập trợn mắt cất giọng the thé. “Ông là tù trốn trại đòi chặt chân ai?”.


“Long Cụt chết cũng phải thôi”, Bằng cười khẽ.


“Ông đừng xỏ xiên”, bà mập hạ thấp giọng giả lả. “Long Cụt là thằng chơi bời mạt hạng, chạy mánh ăn dơ, không vì nó tụi mình mích lòng nhau. Ta bỏ qua chuyện đó, con nhỏ mù tôi cũng thương, mình hùn tiền nhau mần ăn có tiền mổ mắt cho nó”.


“Không có thùng vàng gì đâu”.


“Không có vàng trong thùng nhưng có giấu chỗ khác, ông già nuôi đem vàng về cưới vợ cho ông, miễn hai cha con hòa giải với nhau. Ông nói một tiếng hùn với tôi không?”.


“Thôi bà lo thân bà đi, tôi ở tù chẳng làm được gì, trồng cây còn bị bà đốn trộm. Nhưng tôi sẽ trồng rừng nữa, và vì sắp giết người nên còn ở tù lâu, trồng rừng hoài”.


“Ông không dọa tôi nổi đâu”.


“Tôi dọa bà làm gì. Bà khóa ghe tôi rồi, tôi ở đây đi theo bà bất cứ đâu. Về đi Thủy!”.


Trời cứ mưa lâm râm, mù mịt, không biết trưa chiều thế nào, rừng cây đầm nước một màu xám xịt. Hai chiếc ghe đu đưa, xô đụng cọt kẹt. Một lát sau tiếng bà mập vọng sang:


“Ông công tử nghỉ đi, chẳng tội tình gì... Hay tôi tháo xích ông đi dạo một vòng, đây là quê ông mà?”.


“Là mồ chôn tôi, bà ơi!”, Bằng la trở lại. “Mồ chôn bà luôn nữa!”.


Mặt trời lặn từ lâu. Thủy dọn cơm, hai người lặng lẽ ăn trong bóng tối. Không còn nhìn thấy gì bên ngoài, cũng không nghe bên ghe chài có động tĩnh gì. Bằng lùa mau tô cơm, vào cabin ngồi xếp bằng trên giường mắt mở to không biết nhìn vào đâu. Thủy lục đục mãi sau sàn bếp, trời tối đến nỗi không tìm đâu ra chỗ để cây đèn bão. Cũng chẳng đốt đèn làm gì. Bằng chui vào giường ngủ ngay, không biết bao lâu thức dậy thấy Thủy thở đều bên dưới. Bằng trở dậy hút thuốc, tiếng thở ngưng bặt. Rồi tiếng hỏi:


“Bà mập định làm gì hả anh?”.


“Không làm gì đâu”.


“Thùng vàng cũng không có hả?”.


“Vàng bạc gì ở xứ này?”.


“Vậy anh vô đây làm chi? Thôi mọi chuyện để em lo cho, em nói chuyện với bà mập, chỗ quen biết không việc gì phải đâm chém nhau”.


Thủy trở dậy mở cửa cabin leo qua ghe bà mập. Bằng vẫn nằm yên. Trời đổ mưa lớn, tiếng ầm ào nghe lúc xa lúc gần, chiếc ghe lắc lư nhè nhẹ kẽo kẹt. Không nghe thấy có chuyện vãn la lối gì, lâu lắm Thủy trở về lặng lẽ đóng cửa vào nằm cuộn mình trong chăn. Bằng cũng dụi tắt điếu thuốc, thả mùng nhắm mắt chìm vào giấc ngủ.


***


Có tiếng đập thình thình vào vách cabin, Bằng choàng dậy bước ra. Trời đang mưa, Thủy đang ngồi chải tóc. Một chiếc vỏ lãi cặp sát vào, bà mập ngồi chễm chệ chính giữa, gã con trai cầm lái phía sau.


“Đi chớ ông chủ?”, bà mập ngoắc Bằng, vẻ tươi tỉnh.


“Đi đâu?”, Bằng ngạc nhiên. Thủy vẫn thờ ơ chải tóc. Bà mập la:


“Đi gặp ông già nuôi, đã nói rồi. Lẹ lên!”.


Vậy là đêm qua Thủy đã bàn chuyện đó với bà mập. Bằng lẳng lặng leo xuống ngồi phía sau với gã con trai. Ghe nổ máy chạy đi. Thủy không nhìn theo. Trời mưa lâm râm, mặt trời ló ra được một chút lại tối sầm, mây đen vần vũ. Ghe băng qua đầm, len vào mấy khóm cây qua chiếc đầm kế bên. Vẫn chỉ nước là nước, ghe vạch một đường dài phía sau rong rêu lặng lờ đưa đẩy, đi vào những luồng lạch không ra kinh rạch gì cả, nhiều chỗ hẹp chỉ vừa đủ hai tay chèo, đến một vùng rộng phình ra trước mặt là một vùng nước bao la.


Gã con trai lái ghe luôn miệng càu nhàu:


“Đi đâu? Làm gì? Gặp ai? Có thật có thùng vàng lớn lắm không?”.


“Không mắc mớ gì tới mày”, bà mập nói. “Con nít không nói chuyện tiền bạc”.


Bằng không hình dung sẽ gặp người cha nuôi như thế nào. Cũng là cha nuôi, gắn bó gần cả cuộc đời, còn như đời anh không ra gì chính do bản thân anh mà thôi.


Nhưng cũng cay đắng nhiều điều lắm!


Lúc anh mới lên giám đốc ông ta thường đến ngồi chễm chệ ở phòng khách rề rà chuyện vãn, nói đã có mối mần ăn không cần tiền nữa, chỉ cốt gặp anh. Đúng ra ông ta cũng thương yêu anh, nhưng tình thương thật phiền phức khó chịu, phải nói là kỳ cục. Ông chạy vạy cho anh cưới được vợ, có nhà cửa cơ ngơi, làm giám đốc, rồi như ganh tị tìm cách săm soi dò xét, như anh có món nợ cần phải trả. Nhưng lại không thấy đòi gì. Có lần ông ta điện thoại đến - cũng biết gọi điện thoại - kêu anh đến một chỗ hẹn có chuyện cần bàn. Nhưng anh đến không thấy ông ta đâu cả, lần sau gặp không thấy ông ta nói gì. Đó là một con người luôn thoắt ẩn thoắt hiện, không rõ hình bóng, luôn nghi ngờ tất cả, ngay với bản thân mình, đêm chỉ ngủ một mắt, thỉnh thoảng trở dậy coi có ai rình mò mình không. Từ lúc ra chợ Cà Mau anh không muốn gặp ông ta nữa, anh lớn rồi, có công ăn việc làm, nhưng ông ta cứ đến thành ra phải gặp. Con người ta đâu dễ bỏ qua tất cả, hay dở buồn vui cũng là của một thời.


Ghe vẫn đi theo con rạch, cảnh càng lúc càng hoang sơ, con rạch trổ ra một chiếc đầm nữa không biết chỗ nào, như nãy giờ không đi đâu cả. Rồi bỗng thấy hiện ra một vùng đất nửa nổi nửa chìm, nhà cửa lưa thưa. Ghe cặp vào một căn nhà vắng lặng như một căn nhà hoang.


Gã con trai càu nhàu:


“Đi đâu vầy nè? Không ăn uống gì ráo, lủi bờ lủi bụi, đi tìm ma quỉ hay sao?”.


Nhưng nhà cũng có người, mấy người đàn ông đàn, bà nằm ngồi dật dựa, như khách thương hồ ghé nghỉ tạm. Một người đàn ông bồng con nhỏ đi ra dẫn khách vào căn buồng phía sau, thấy có chiếc giường giăng mùng trắng toát, một hình người mỏng dính nằm bất động trong đó. Bà mập kéo ghế cho Bằng ngồi cạnh bên.


Lâu lắm, hình người vẫn bất động. Rồi giọng khò khè đứt quãng cất lên:


“Thằng con mày ngồi xuống đi, dòm tao làm gì”, tiếng người cha nuôi như vọng lên từ dưới nhà mồ. “Tao sắp chết rồi, đợi gặp mày rồi nhắm mắt thôi... Sao lâu vậy?”.


“Trời mưa giông dữ quá”, Bằng đáp, đầu óc trống rỗng.


“Biết rồi”, ông già sắp chết vẫn không bỏ thói dông dài. “Trời đất giông bão, đời tao cũng sắp tàn. Không ai sống hoài được. Cũng không dễ sống theo ý mình. Tao với mày như hai giề lục bình tấp vào nhau, bồng bềnh trôi giạt, đành phải sống cho hết kiếp người. Thôi mày cố ở hết hạn tù rồi lái ghe đi rong, chẳng mấy chốc rồi cũng già chết như tao... Ngồi xuống đi con!”.


Bằng vẫn đứng, đầu óc lơ mơ nghĩ sang chuyện khác. Bỗng tiếng ông già nói lớn lên lọt vào tai:


“... Tệ lắm… Không nói thì thôi… Hồi ở thành phố tao với ông già vợ mày làm cho mày đi tù đó con à...”.


Cái gì? Tù nào? Thì anh đã ở tù rồi, xong rồi, về đây sống cho hết cuộc đời thôi.


Tiếng ông già nuôi tiếp tục:


“…Chúng tao lập giấy tờ giả rút tiền công ty, đi đá gà, buôn trầm hương, thua độ cá ngựa. Mày lo ăn nhậu không biết gì cả, giấy tờ còn đủ tao đem về trong thùng sắt kia chứng thực cho mày...”.


Chứng thực cái gì? Thôi đi, anh không muốn gì hết, muốn chấm dứt tất cả.


Ông già ngồi dậy mò mẫm, có tiếng loảng xoảng, tiếng khò khè lại cất lên:


“... Lâu quá rồi phải không? Nhớ hồi tao vớt mày lên, chỗ nào đó trong đầm này, mày chỉ mới năm tuổi, tao không biết nuôi một đứa nhỏ phải như thế nào, chưa từng có vợ con, nhà cửa cũng không, bán chiếc ghe định lấy tiền nuôi mày nhưng bài bạc thua sạch, phải gởi mày chỗ này, chỗ nọ, khổ thân mày tao cũng không sung sướng gì. Đận đó hai cha con mình lang thang vật vờ như hai con cá chết, tao nghĩ cách đưa mày ra chợ Cà Mau, tính bề đổi đời. Mày mới mười hai tuổi phải dang lưng nhồi bột ở tiệm bánh mì, phụ việc thợ hàn, thợ tiện, công xá chẳng được bao nhiêu. Tao không có việc làm đói nhăn răng phải ăn nhờ cơm chùa. Nhưng cửa thiền đâu phải nơi chốn tao nương thân, thế là tao đến mượn tiền mày đi buôn, tiếp tục thua lỗ, nợ nần lút đầu, phải chạy lộn vào trong rừng đước tránh né, một thời gian trở ra mượn tiền mày nữa. Tao mượn rồi trả, có khi trả nhiều hơn, cũng có khi quên trả, cha con mình đâu cần phải tính toán chi ly. Có một dạo tao gần như có tiền, một thằng bạn rủ đi tìm vàng, một hòn đảo ngoài khơi Rạch Giá có vàng chất đống như đá tảng, sáng trưng cả một góc trời. Tao mượn tiền mày, mướn ghe thuê người dong ra hốt đá vàng bỏ vào chảo nấu ngày đêm, vàng bay mất chỉ còn đá tảng. Tao trốn biệt mày một dạo rất lâu, mò ra nhà lồng chợ dụ đám đàn bà góa gạ gẫm bòn tiền, bị mấy mụ “bề hội đồng” cho một trận tưởng thịt nát xương tan. Ôi miếng cơm manh áo sao mà gian nan cơ cực! Và đã hết đâu, còn đận mình lên thành phố...”.


“Thành phố nào?”, Bằng sực tỉnh, như người mộng du.


“Còn thành phố nào nữa? Buổi tối chiếc ghe cá đổ hai cha con mình lên một bến sông. Hai thằng dân rừng đước như cá lên cạn, quanh quẩn không biết đi đâu, ngồi ngủ gục vệ đường, gần sáng có chiếc xe hàng chạy ngang hai thằng đu bám theo, moi trong thùng xe thấy toàn sắt vụn chẳng ăn uống gì được. Nhưng rồi sau đó cũng biết cách mần ăn, chẳng ai có tay chân bị chết đói cả. Hai cha con tụ tập đám bụi đời chuyên nghề moi hàng Mỹ. Xe hàng nườm nượp từ bến cảng lên, cứ bám theo sau moi hàng tuôn xuống, bữa trúng đồ ăn thức uống, quần áo vải vóc coi như sống khỏe cả tháng, bữa trúng lựu đạn súng ngắn dao gâm phải bỏ chạy lủi trốn cho lẹ. Nghề nào cũng có vinh có nhục. Một lần hai cha con chậm chân bị tụi Mỹ bắt được đánh sặc máu, chạy lủi như con chó, mày khóc nói thôi kiếm nghề khác mần ăn, tao bèn kiếm cho mày chân phụ hồ, chẳng bao lâu mày chịu cực không thấu bỏ việc, lại đi bụi đời, tao ở nhờ nhà một thằng bạn cũng bị đá đít ra khỏi cửa, hai cha con mình tiếp tục số kiếp lang thang, nhà ở là công viên, gầm cầu, bến sông, bãi chợ. Thỉnh thoảng tao trúng mánh gởi tiền cho mày, sau đó mày tìm được việc làm tao lại đến mượn tiền. Có dạo mày bặt tăm, tao tưởng mày chết rồi, bỗng nghe mày moi hàng Mỹ trúng được cả thùng tiền, tao tìm đến định xin chút ít, nào ngờ tụi mày vô tù cả. Có đúng lần đó mày vô tù không?”.


“Không, tôi chỉ bị tù khi làm giám đốc thôi”.


“Vậy là không có thùng tiền hả?”, lão già nói tiếp, không thấy động đậy nữa. “Rốt lại lên thành phố chẳng đổi đời gì hết, chỉ có khổ là khổ. Cho tới năm Bảy Lăm, nghe súng nổ rần rần, tao đang câu lươn dưới cống không biết chuyện gì, bỗng nghe tin mày cầm lá cờ, biết chắc không phải của mày, nhưng nghĩ bụng có thể nhân cơ hội kiếm chác được gì. Trước đó tao làm nghề dẫn mối đá gà cá ngựa quen lão già nhà giàu ham cờ bạc. Lão có đứa con gái cần lấy chồng, tao bèn dẫn mối cho mày, chuyện cũng xuôi chèo mát mái, mày có được vợ giàu được làm giám đốc, còn chuyện vợ chồng mày sống với nhau như thế nào là chuyện của mày”.


“Vậy ông nói làm chi?”.


(còn tiếp)


Nguồn: Cơn giông. Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. Rút từ Tuyển tập Lê Văn Thảo. Nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 25.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 25.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 24.06.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
xem thêm »