tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29940978
Lý luận phê bình văn học
07.10.2012
Hà Minh Đức
Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu (3)

XUÂN DIỆU NÓI VỀ HAI TẬP


THƠ THƠ VÀ GỬI HƯƠNG CHO GIÓ


 


Trong phong trào Thơ mới, mỗi nhà thơ thường nổi lên với một tập thơ tiêu biểu: Thế Lữ với Mấy vần thơ, Lưu Trọng Lư với Tiếng thu, Huy Cận với Lửa thiêng, Tế Hanh với Hoa niên, Anh Thơ với Bức tranh quê… Còn với Xuân Diệu thì hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió đều có giá trị, góp phần tạo nên phong cách Xuân Diệu - nhà thơ số một của phong trào Thơ mới ở thời thịnh kỳ. Trong mỗi tập thơ đều có những bài hay, tiêu biểu cho Xuân Diệu. Thơ thơ có Đây mùa thu tới, Tương tư chiều, Vội vàng,… và Gửi hương cho gió có Lời kỹ nữ, Nguyệt cầm, Buồn trăng…Nhận xét về hai tập thơ, nhà thơ Huy Cận cho rằng: “Hai tác phẩm bổ sung cho nhau để tạo nên hồn thơ Xuân Diệu. Nói Thơ thơ hơn Gửi hương cho gió là không đúng vì nghệ thuật của Gửi hương cho gió chín hơn. Ngược lại, cũng không thể nói Gửi hương cho gió hay hơn Thơ thơ. Thơ thơ có nhiều chất non tơ rạo rực thiết tha, và hồn thơ trong trẻo. Gửi hương cho gió đằm như than hồng phủ lớp tro mỏng và cũng có vị đắng cay trong tình đời và tình yêu”.


Nhà thơ Tế Hanh xem Thơ thơ và Gửi hương cho gió là một mạch thơ có sự tiếp nối. Trong Thơ thơ giới thiệu Gửi hương cho gió, tuy tập sách phải sáu năm sau mới ra đời. Gửi hương cho gió được xuất bản khi không khí xã hội đã cò nhiều biến chuyển chuẩn bị cho thời kỳ Cách mạng tháng Tám. Thơ thơ có hương vị của tập thơ đầu tươi trẻ, Gửi hương cho gió đằm thắm thiết tha.


Nhà thơ Nguyễn Xuân Sanh cho rằng: “Thơ thơ ra đời trong tâm trí chờ đợi của xã hội và được hoan nghênh đặc biệt, Gửi hương cho gió không có không khí xã hội đó. Thực chất đây là hai tập thơ của hai thời kỳ nhưng có chung một phong cách. Rất khó để nói tập thơ nào hơn tập thơ nào. Ở tập đầu rạo rực tươi trẻ, ở tập sau méditations của Diệu sâu hơn”.


Trong những lần gặp gỡ Xuân Diệu để tìm hiểu những sáng tác của ông, Xuân Diệu đã kể, đã phân tích nhiều bài thơ ở cả hai giai đọan trước và sau Cách mạng. Có lần tôi hỏi ông ý kiến nhận định, đánh giá của tác giả về hai tập Thơ thơ và Gửi hương cho gió. Xuân Diệu trả lời: “Cả hai đều là đứa con tinh thần yêu quý của mình. Thật cũng khí có thể nhận xét. Hai tập đi liền mạch. Thơ thơ là premier jet, non tơ hơn, Gửi hương cho gió chín hơn, già giặn hơn. Bài hay nằm trong Thơ thơ nhiều: Nụ cười xuân, Đây mùa thu tới, Vội vàng, Tương tư chiều, Ca tụng, Thơ duyên, Cảm xúc… Tuy nhiên trong Gửi hương cho gió lại có những bài chín hơn về nghệ thuật. Lời kỹ nữ là bài hay nhất trong Gửi hương cho gió. Nguyệt cầm tinh vi và cao cường quá, phải láy luyến từng chữ, như từng nốt đàn. Xuân Diệu luôn bị ám ảnh bởi không gian và thời gian của cuộc đời và của trí tưởng tượng. Nói như Thế Lữ, lầu thơ Xuân Diệu xây dựng ngay trên đời. Xuân Diệu ở ngay trong đời, vì thế không gian và thời gian của Xuân Diệu mang tính chất trần thế. Cả hai trăm bài thơ cũng bị thời gian và không gian ám ảnh. Vội vàng, Giục giã nói được sự trôi chảy của thời gian và cũng là sự trôi chảy của kiếp người ngắn ngủi. Tuổi trẻ và năm tháng yêu đương là thời gian của sự sống, thời gian thắm tươi, thời gian có ý nghĩa,…Buồn trăng lớn vì gắn và tạo được không gian”. Nói rồi Xuân Diệu ngâm nga:


Huy hoàng trăng rộng, nguy nga gió


Xanh biếc trời cao, bạc đất bằng


và ông nói tiếp: “Cái không gian như ở ngoài cõi đời náo động”.


Trăng ngà lặng lẽ buông như tuyết


Trong suốt không gian tịch mịch đời


và bài thơ kết lại một ý về thời gian:


Hoa bưởi thơm rồi đêm đã khuya.


Sử dụng không gian và thời gian là một vấn đề tinh vi của nghệ thuật thơ:


Chúng ta nay trong cuộc thế ao tù,


Đốt điếu thuốc chiêu hồn sương quá khứ.


Chỉ hai câu thơ đã là hai phạm trù không gian và thời gian. Lời kỹ nữ, Nguyệt cầm, Buồn trăng là những bài thơ hay của Gửi hương cho gió. Thu cũng rất hay. Thơ thơ còn là búp, tơ non, hấp dẫn hơn. Cũng có thể nói mỗi tập thơ có floraison (sự nở rộ) riêng nhưng gần gũi nhau. Lúc mệt thích Thơ thơ, lúc khỏe thích Gửi hương cho gió. Cũng phải chú ý tới không khí của từng tập. Huy Cận bảo: “Xuân Diệu tạo không khí rất giỏi. Chỉ hai câu thơ:


Con đường nhỏ nhỏ gió xiêu xiêu


Lả lả cành hoang nắng trở chiều


đã nói được không khí quyến luyến của cảnh vật”. Atmosphère (không khí) của Thơ thơ thanh thoát nhẹ nhàng, còn atmosphère của Gửi hương cho gió nặng nề hơn và nó cũng phản ánh không khí xã hội. Như trong bài Hè, mình viết:


Tiếng gà gáy buồn nghe như máu ứa,


Chết không gian khô héo cả tâm hồn!


Thắm tuyệt vọng hai hàng bông phượng lửa:


Thê lương đời như trải mấy binh đao.


Thực ra thì nhà thơ đã không công bằng khi nói về mùa hè”.


Tôi nói xen ngang vào: “Trong Thơ thơ có bài Đây mùa thu tới và trong Gửi hương cho gió có bài thơ Thu. Cả hai đều rất hay. Tôi nghĩ có lẽ cảm hứng nghệ thuật của anh thích hợp hơn với cái đẹp, cái buồn của mùa thu”. “Cũng có thể. Tuy không thể viết về mùa hè một cách thiếu khách quan như thế, tâm trạng của người viết không phản ánh được cái khỏe đẹp của ngày hè”.


Xuân Diệu ngồi lặng im và như đang tưởng nhớ về những ngày đã xa. Đã trên ba mươi năm trôi qua kể từ ngày Thơ thơ được xuất bản. Tôi nói với ông “Ước gì tôi được xem lại bản thảo ban đầu để hiểu lao động của anh trên trang viết”. Xuân Diệu cười: “Trên đời không mấy khi ước gì được nấy. Nhưng hôm nay thì cậu gặp may rồi. Mình cũng chiều Hà Minh Đức”. Nói rồi ông đứng dậy mở tủ sách, chọn trong các tập hồ sơ hai hai tập bản thảo khá dày dặn. Ông đem đến đặt trên bàn và bảo: “Đây là bản thảo Thơ thơ và đây là bản thảo Gửi hương cho gió”. Tôi thực sự xúc động theo dõi bản thảo của từng bài thơ qua lời giới thiệu tuần tự của ông. Một điều đáng quý là mỗi bài thơ được in đều đính kèm theo những trang bản thảo được sửa chữa từ bản thảo đầu tiên, thứ hai, thứ ba,…Đối với người làm công tác nghiên cứu thơ thì đây là một điều lý tưởng. Xuân Diệu nói với tôi nhiều về bản thảo bài thơ Lời kỹ nữ. Nhiều câu thơ được sửa chữa và nét mực có chỗ đã nhòe với thời gian. Câu thơ:


Người kỹ nữ đã chan hòa nước mắt


Lệ nghẹn tròng làm vỡ tiếng kêu than


được chữa lại là:


Lời kỹ nữ đã vỡ vì nước mắt,


Cuộc yêu đương gay gắt vị làng chơi.


Câu thơ:


Nếu tóc em là muôn sợi dây tình


Vây buộc chặt cả thân hình yêu dấu


được chữa lại là:


Vì mình em không được quấn chân anh,


Tóc không phải những dây tình vướng víu.


Gấp lại hai bản thảo Thơ thơ và Gửi hương cho gió, tôi chân thành hỏi ông: “Trong văn học nhiều tác giả thường thất lạc bản thảo, nhất là bản thảo thời kỳ đầu, tại sao anh lại giữ gìn được cẩn thận các bản thảo như thế?” Xuân Diệu cười và nói: “Của mình thì phải có ý thức giữ gìn chứ, vả lại bọn mình nổi tiếng sớm”.


(Tạp chí Văn học, số 12-1995)


 


 


XUÂN DIỆU


VÀ NHỮNG CHẶNG ĐƯỜNG THƠ


SAU CÁCH MẠNG THÁNG TÁM


 


Thật cũng khó hình dung bước chuyển biến kỳ diệu của Xuân Diệu từ một nhà thơ lãng mạng bậc nhất của phong trào Thơ mới trở thành nhà thơ cách mạng và có thơ hay ngay từ những ngày đầu. Điều đó có căn nguyên sâu xa ở cuộc đời và thơ của tác giả. Là nhà thơ lãng mạng nhưng tác giả đã cảm nhận rõ cái hiện thực tù túng: “Chúng ta nay trong cuộc thế ao tù”. Cho dù cuộc sống còn gợi bao niềm trăn trở, Xuân Diệu vẫn khát khao gắn bó giao cảm với đời. Từ mối tình đầu lý tưởng với nhiều sương khói lãng mạng:


Nếu hương đêm say dậy với trăng rằm,


Sao lại trách người thơ tình lơi lả.


Và đến phút cuối đời:


Trong hơi thở trót dâng trời đất,


Cũng vẫn si tình đến ngất ngư.


Là nhà thơ lãng mạng nhưng mạch thơ trong sáng, thanh cao và tràn đầy lòng khát khao yêu cuộc sống, Xuân Diệu đã sớm đến với phong trào Việt Minh. Xuân Diệu chào mừng cách mạng với Ngọn quốc kỳ, và Hội nghị non sông, những áng thơ được viết ra với tấm lòng hân hoan tràn đầy và chút ngây thơ đáng yêu của người nghệ sĩ trong mối duyên đầu với cách mạng:


Lòng tiết trinh vui trong tiệc sáng lòa,


Tình nguyên thủy vẫn hãy còn run rẩy.


Cách mạng tháng Tám đã đem lại những giá trị tinh thần hết sức lớn lao và mầu nhiệm. Từ đây, trong hoạt động sáng tạo văn nghệ, con đường lớn nhất dẫn đến tương lai đã mở ra một lý tưởng cao đẹp. Lý tưởng ấy hiện hình trong hình ảnh và sức sống vững vàng của nước cộng hòa trẻ tuổi ngay trong những ngày đầu cách mạng, ở ngọn quốc kỳ tự hào và kiêu hãnh bay lượn trên bầu trời Tổ quốc, và trong lá phiếu mà hàng triệu người đang cùng giơ cao để biểu thị quyền làm chủ và lòng quyết tâm.


Xuân Diệu đã tìm nguồn sáng tạo cho Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông từ những sự kiện chính trị và hình ảnh tươi đẹp đó. Lần đầu tiên trong đời thơ, Xuân Diệu bắt vào đề tài xã hội lớn. Tình cảm yêu nước và trách nhiệm công dân cũng như lòng thiết tha ngợi ca cuộc đời mới đã nâng sáng tác của ông lên. Âm hưởng thơ khỏe khoắn, hào hùng khác hẳn với điệu thơ buồn hắt hiu trong cuộc đời cũ. Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông có không khí náo nức rất vui của ngày dựng nước. Tuy chất liệu thực tế chưa nhiều vì cuộc đời mới còn đang mở ra trên những trang đầu tiên, nhưng Xuân Diệu đã tạo được chất men say lý tưởng. Ngọn quốc kỳ là khúc tráng ca rộn âm thanh và nhiều màu sắc. Lá cờ tung bay trong gió: “Gió reo, gió reo, gió Việt Nam reo”. Hơi thơ như cuốn lên theo chiều gió lồng lộng  cao xa. Và màu cờ rạng rỡ:


Vàng huy hoàng sinh giữa thắm hây hây,


Thắm lộng lẫy nở quanh vàng rực rỡ.


Xuân Diệu cố bắt lấy và tả được cái không khí rất phấn chấn và tươi mới của ngày đầu Cách mạng:


Có mấy bữa mà Việt Nam thắm cả,


[…] Nếp cờ bay chen vỗ sóng bài ca.


Niềm vui hội hè của Cách mạng lại rộ lên qua cuộc Tổng tuyển cử. Lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, người dân lao động thực sự làm chủ vận mệnh của mình. Xuân Diệu nghĩ đến mỗi lá phiếu là một cánh bướm phất phới niềm vui:


Bỗng non sông lên một tiếng reo hò,


Bươm bướm trắng nở mùa xuân đất nước,


Bướm hoan hỷ trên cành mang hẹn ước,


Cánh mong manh mà có sức di sơn.


Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông nói lên một cách vui mừng sự có mặt của thơ ca trước yêu cầu của nhiệm vụ cách mạng. Từ một nhà thơ lãng mạn, thoát ly, Xuân Diệu trở thành thời sự: tính chất thời sự trong thơ ông cũng bộc lộ ở một Xuân Diệu trào phúng bên cạnh một Xuân Diệu trữ tình. Chất trào phúng đả kích này ít nhiều có liên quan đến những trang viết về cuộc đời vô vị ngày xưa mà tác giả nói lên với giọng chua chát. Trong hoàn cảnh mới, khi đã có hướng, chất trào phúng trước kia trở thành vũ khí châm biếm sắc sảo đánh địch. Ông vạch trần bản chất xấu xa của bọn phản động tay sai bày ra các thứ trò để phá hoại phong trào, chúng cũng trương lên đủ thứ cờ, nào sao trắng nhợt nhạt, nào quẻ ly cổ lỗ, nào ba que, ba gạch lăng nhăng,…


Cũng xanh, cũng đỏ cũng thì cờ,


Nấp bóng cờ ai ngó mập mờ?


Thẹn với gió sương bay lấp ló,


Hổ cùng non nước phất bơ vơ.


Chúng tổ chức các cuộc biểu tình để chống tuyển cử nhưng quang cảnh thì thật trơ trẽn và thảm hại:


Chen nhau đông tựa chùa bà Đanh


Hăng hái như người đang ngái ngủ.


Rồi bày trò tổng đình công nhưng lại hóa ra “tổng bất đình công”.


Xuân Diệu tỏ ra khá linh họat, sắc sảo. Trong tình hình sáng tác đương thời, khi thơ ca trong nước chuyển mình chưa thật sự tạo được cảm hứng lớn nhuần nhuyễn về chủ đề cách mạng, thì Ngọn quốc kỳ và Hội nghị non sông là những đóng góp đáng kể. Ngày nay, sau một chặng đường dài lịch sử, tuy những tập thơ trên đã bị thời gian bao bọc trong một “áng sương kỷ niệm” nhưng vẫn còn ấm nóng và nồng nàn những cảm xúc ban đầu với cách mạng. Sau này, chúng ta bắt gặp trong thơ ca Việt Nam nhiều trường ca trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp và đặc biệt trong những năm chống Mỹ cứu nước. Phần lớn các trường ca đều dựa  trên một dây cốt truyện hoặc sự kiện gắn với một chiến thắng của chiến trường, một vùng đất anh hùng, một nhân vật kiên cường. Xuân Diệu viết trường ca từ một hình ảnh (lá quốc kỳ), một cuộc họp quốc dân nên phần đóng góp rất quyết định là tâm hồn thơ và sức sáng tạo kỳ diệu.


Không phải ngẫu nhiên mà sau này Xuân Diệu khẳng định: “Trường ca của mình viết bằng hồn”.


Đi vào cuộc kháng chiến lâu dài và gian khổ của dân tộc, Xuân Diệu lại bước vào một chặng đường với những thử thách mới. Giây phút sôi nổi ban đầu đã lắng xuống. Cảm hứng sáng tạo không thể chỉ dừng lại ở những tình cảm ngợi ca chung chung về một lý tưởng, mà phải đi sâu vào những cuộc đời và con người cụ thể. Làm sao có thể hiểu và viết được về quần chúng công nông binh, một đối tượng vốn còn xa lạ với những nhà thơ lãng mạn trước kia. Rồi sự nhận thức phải chuyển thành tình cảm, hòa nhịp với trái tim. Đến đây, những khó khăn của một nhà thơ lớp trước lại xuất hiện cụ thể. Lúc này đứng trên lập trường dân tộc không đủ nữa.


Phải làm sao có được cảm hứng hết sức chan hòa với toàn bộ cuộc đời mới đang sinh sôi, trưởng thành trong lao động và chiến đấu. Xuân Diệu cảm thấy mình bị giày vò và xót xa khi không đáp ứng được những yêu cầu của xã hội.


Có lúc thật sự bi quan:


Kéo dài tâm trạng lênh đênh


Sống mà lắm lúc như mình bỏ đi.


Những giây phút tự cảm thấy lênh đênh ấy thực ra vẫn là trạng thái xuôi dòng cho một con thuyền sẽ cập bến. Tự đánh giá và duyệt lại mình một cách nghiêm khắc và chân thành là nhịp cầu gian khổ để đi vào một thế giới mới mà nhà thơ không thể trốn tránh và thoái thác được.


Cụôc chỉnh huấn trong thời kỳ kháng chiến đã đem lại cho Xuân Diệu một nhận thức mới:


Bước đầu tuy chửa là bao,


Những nghe đã rộng đã cao vô ngần.


Và đặc biệt quan trọng là những chuyến đi vào quần chúng. Bài học lớn lao và thấm thía nhất vẫn là thực tế đấu tranh gian khổ và dũng cảm của quần chúng cách mạng. Xuân Diệu viết được những bài thơ khá về phát động quần chúng giảm tô và cải cách ruộng đất. Xúc động ghi lại hình ảnh bà cụ mù lòa:


Một đời của mẹ héo hon,


Có hai mắt chết mòn cả hai.


Quanh năm chỉ một đêm dài,


Sáng trời không thấy mặt người thân yêu.


Và nay đang hồi sinh lại trong chế độ mới:


Mẹ dù đau đớn mù lòa,


Ánh xuân sẽ rọi chan hòa tâm can.


Xuân Diệu đồng thời cũng tự đánh dấu cái mốc mới trong quan hệ giữa nhà thơ và quần chúng cách mạng. Ngay từ sau Cách mạng, Xuân Diệu cũng đã tỏ ra “ngưỡng mộ” đám đông đang làm nên lịch sử:


Trong lúc tằm lên nhân loại mới.


Lòng tôi như thể chiếc nong xanh.


Nhân loại mới ấy đối với ông thật hấp dẫn: “Nhân loại mới nói cười như trẻ nhỏ” nhưng thực ra ông chưa thể hiểu sâu sắc. Trong mối quan hệ với quần chúng, Xuân Diệu vẫn chưa xác định đúng chỗ đứng và thái độ xử thế của mình. Rồi đi theo cách mạng, khoảng cách giữa nhà thơ và quần chúng sẽ dần dần được xóa bỏ.


Sự chuyển biến về tư tưởng của Xuân Diệu bộc lộ rõ nhất là ở Riêng chung. Tuy Xuân Diệu có đạt được một số thành tựu nào đó với Ngôi sao, qua một số bài thơ viết về cách mạng và phát động quần chúng nhưng Ngôi sao vẫn thiếu một cái gì đó thuần nhất, xác định một bước phát triển riêng của một chặng đường thơ. Với Riêng chung, có thể còn thiếu một sự hài hòa giữa lý trí và tình cảm, giữa nhận thức lý luận và chất sống thực tế, nhưng Riêng chung vẫn là sự ghi nhận cụ thể những đổi mới của tâm hồn. Không phải ngẫu nhiên mà Xuân Diệu lại nhấn mạnh:


Hãy nhìn đời bằng con mắt xanh non.


“Đôi mắt xanh non” của tuổi thơ chưa hề bị cuộc đời làm đổi thay vẩn đục hay đúng hơn là cái nhìn mới mẻ, trong sáng với cuộc sống và con người. Nhìn lại cuộc đời xưa cũ, Xuân Diệu thấy rõ những gì mà Cách mạng đem lại cho nhân phẩm và ấm no của con người. Lệ là bài thơ khái quát được những đổi thay của hai cuộc đời. Giọt lệ ngày xưa là nỗi niềm đau khổ không bao giờ cạn của trăm ngàn những cuộc đời bất hạnh trong xã hội đầy bất công:


Trăm ngàn kiếp lệ cuốn theo sông,


Biển cuốn long lanh sóng vạn trùng!


Trái đất - ba phần tư trước mắt!


Đi như giọt lệ giữa không trung.


Giọt nước mắt khổng lồ trong tưởng tượng ấy là tượng trưng và cũng là hiện thực:


Xưa lệ sa, ta oán hận đất trời,


Nay lệ hòa, ta lại thấy đời tươi.


Thiết tha với cuộc đời mới, Xuân Diệu cảm ơn Đảng, chế độ và khẳng định: “Tôi thẳng thắn ngợi ca nền chuyên chính”. Xuân Diệu nghiêm khắc phê phán con người xưa cũ của riêng mình, con người hay bi lụy, bùi ngùi. Cuộc đấu tranh đi từ “riêng” đến “chung” không thể diễn ra nhẹ nhàng, thanh thản khi nà thơ phải thật sự “chia tay” với con người cũ đã nhiều năm tháng cư trú trong mình. Xuân Diệu đã phải vượt qua những nỗi đau giày vò, trăn trở, nỗi đau của sự đổi thay và trưởng thành:


Cái đau trong cõi tinh thần,


Đã đau một lúc dần dần lại đau.


Xuân Diệu tỏ ra thiết tha với chất thép trong người, với cái tơ non của sự sống và muốn ngụp lặn, hòa mình trong dòng người vô tận của quần chúng đang nổi lên những khuôn mặt đẹp đẽ.


Mặt người ấm áp mặt người thanh


Những mặt người trong tựa suối lành.


Riêng chung nói đên cái chung và cái riêng trên bình diện đấu tranh và cọ xát về tư tưởng. Riêng chung là sức vươn tới của một tâm hồn hòa vào niềm vui và lẽ sống chung cao cả, là sự đẩy lùi, gạt bỏ những nhân tố tiêu cực, bi lụy của con người cũ cản trở tiến bộ xã hội và giam hãm riêng con người nhà thơ trong vòng vây của chủ nghĩa cá nhân. Qua Riêng chung, tấm lòng nhà thơ mở về phía xã hội để ân cần chào đón, chia sẻ niềm vui, nỗi buồn với mọi người. Cái cảm giác sung sướng, no đủ bên một nhà máy xây mới hoàn thành, niềm vui dâng đầy như muốn ngụp bơi trong biển lúa chín, và nỗi rạo rực về màu đỏ “ngói mới” của đất nước đang dựng xây,… tất cả những tình cảm đó tuy chưa thấm vị mồ hôi cần mẫn của người lao động nhưng đã nói lên sự gắn bó tự bên trong của nhà thơ với cuộc đời mới.


Từ Riêng chung, mạch thơ của Xuân Diệu như sôi nổi, tuôn trào, hối hả chạy về nhiều phía của cuộc đời. Cái nút về tư tưởng đã được mở ra, ông có thể chủ động và tự tin để thời sự mà không hời hợt gò bó, và tâm tình mà không ủy mị tiêu cực.


Mũi Cà Mau - Cầm tay, hai chùm thơ mới, đấu tranh và tình yêu, hai thái cực khác nhau trong thơ Xuân Diệu trước kia đã tìm được một gạch nối đi về tự nhiên trên một lối cảm nghĩ và một dòng tâm tình. Từ Riêng chung, Xuân Diệu viết đều viết khỏe. Ông bước vào thời kỳ sinh sôi, mắn đẻ như con gà mái Thịnh Lang: “Cục tác! Cục tác! - Đẻ trứng này rồi tôi còn trứng khác”. Những quả trứng hồng ấy đều sinh ra trong chu kỳ tuần hoàn của sự sống của dân tộc qua các giai đoạn đấu tranh cách mạng mà nhà thơ hết lòng gắn bó. Mũi Cà Mau - Cầm tay là tập thơ đấu tranh thống nhất đất nước; Một khối hồng viết về thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội; Hai đợt sóng và Tôi giàu đôi mắt là những tập thơ chống Mỹ. Xuân Diệu rất thời sự và ông là nhà thơ thời sự trong ý nghĩa đẹp và tích cực của khái niệm này. Ông có những phản ứng nhạy bén, kịp thời trước những sự kiện của đời sống. Ông làm thơ chính trị. Ông làm thơ theo “com-măng” (đặt hàng).Ở đâu và lúc nào ông cũng sôi nổi, nhiệt tình. Các tập thơ xuất hiện lần lượt qua các giai đoạn cách mạng. Giá trị các tập thơ không đồng đều và cũng không hẳn là tập thơ viết sau bao giờ cũng giá trị hơn tập thơ giai đoạn trước. Đó là hiện tượng thường thấy trong sáng tác văn nghệ. Xuân Diệu cũng không vượt khỏi quy luật chung ấy. Ở Xuân Diệu, bên cạnh phần lên xuống không đồng đều về giá trị các tập thơ vẫn có một mạch thoai thoải đi lên. Ông vẫn thường xuyên lặp lại mình nhưng cũng luôn cố gắng để đem đến cho mỗi tập thơ một cái gì mới. Cái mới do cuộc sống của mỗi giai đoạn cách mạng luôn vận động, đổi thay và Xuân Diệu có bắt lấy, chớp lấy được mặt này hay mặt khác. Và cũng cần khẳng định là hướng đi lên rõ rệt của sức suy nghĩ và tầm tư tưởng trong các sáng tác. Ngược chiều với thời gian, nhà thơ luôn luôn phải chống lại xu hướng chung của năm tháng trôi qua làm cho hao mòn và mất dần đi phần nhạy cảm với cái tơ non của sự sống. Nhưng có thể lại thuận lợi và xuôi chiều, thời gian bồi đắp cho nhà thơ chiều rộng và sâu của tâm hồn. Những kinh lịch chiêm nghiệm tích lũy được những năm tháng miệt mài trong sáng tạo, những quan hệ mới mở ra và khép lại, cái vui, cái buồn, cái được, cái mất,… tất cả góp phần tạo nên bài học lớn lao của cuộc đời. Sự từng trải cuộc đời không phải bao giờ cũng là tích cực nếu tự mình buông xuôi như một con thuyền bập bềnh trôi theo sóng nước, nếu không một bản lĩnh để biết gạn đục khơi trong, biết hút vào phần nhụy hoa của đời sống và đẩy ra những cặn bã,… Với những nỗ lực và tinh thần chủ động sáng tạo qua những chặng đường thơ sau Cách mạng, Xuân Diệu lại luôn được sự cổ vũ của đường lối văn nghệ của Đảng và nhiệt tình của quần chúng cách mạng. Thơ của ông ngày càng có căn bản về tư tưởng khi ông xác định được chỗ đứng vững chắc của mình trong lòng quần chung.


Xuân Diệu luôn phấn đấu để gạt bỏ cái tôi có phần riêng tư, cá nhân chủ nghĩa mất đi và dần thay thế bằng một cái tôi trữ tình chân thành, sôi nổi, đa dạng. Luôn bám sát những sự kiện chính trị, Xuân Diệu có ý thức miêu tả sự phong phú của cuộc đời đang mở ra từ nhiều phía, đồng thời ông cũng tự bộc lộ và hiện diện trong sáng tác. Ông nói lên trực tiếp, mạnh mẽ lòng căm giận kẻ thù và tình cảm xót xa trước cảnh đồng bào miền Nam trong những ngày còn nước sôi lửa bỏng:


Sao tôi chỉ có hai bàn tay,


Sao tôi chỉ có trái tim này,


Tôi muốn hóa thành rừng thành lửa,


Thành cơn thịnh nộ đất đá bay.


Ông nói lên tấm lòng gắn bó của nhà thơ với đất nước qua năm tháng, trong từng kỷ niệm thân thuộc hằng ngày cũng như trước những thử thách gian khổ, quyết liệt của cuộc chiến tranh cách mạng.


Tổ quốc thân yêu, ngàn lần ca ngợi!


Nay càng thêm tha thiết với tim ta,


Mỗi thôn xóm, mỗi cánh đồng vàng rợi,


Mỗi cây rơm đứng nghĩ ngợi bên nhà!


 


Mỗi hè phố, chao ôi chân bước nện,


Như có gì náo nức lắm bên trong,


Không! Tất cả tâm hồn ta đã quyện,


Với đất này không thể gỡ ra xong.


Trong tấm long chung với đất nước, với chế độ, Xuân Diệu có những tình cảm và giọng nói riêng. Ông chân tình đến bộc bạch, đến không kìm hãm được mình. Ông say sưa nhìn ngắm cuộc đời mới, ông sôi nổi nói năng, tâm tình, thiết tha đến vồ vập như nghẹn lời:


 


Ôi ngàn vạn ngói, nói xôn xao,


Như đất ta vui bỗng vọt trào.


Ngói mới! Ôi ngàn muôn sức lực,


Trải ra thành rộng, dựng thành cao.


Cũng một Xuân Diệu sôi nổi ấy khi viết về thiên nhiên, ông muốn nhập vào, nhân lên với niềm vui của sự sống đang đơm hoa kết quả và bừng sắc khắp nơi. Mùa xuân trên bãi sông Hồng tươi tốt - Xuân Diệu như bị tràn ngập trong âm thanh, màu sắc, trong ngôn ngữ đắm say của các giác quan và dường như ông bất lực để chuyển thành tiếng nói “Có lẽ mùa xuân líu lưỡi tôi”.


Một sớm mai thanh rất ngọt ngào,


Hồn tôi muốn cất giọng nam cao;


Nói lời dây bí ra hoa lớn,


Lời cát bờ sông sức sống trào.


Và cứ thế Xuân Diệu vừa tỉnh táo, vừa say sưa, ngơ ngác trước cuộc đời mới. Cái tôi trữ tình trong thơ Xuân Diệu đa dạng. Trong tâm hồn thơ ông có ngọn lửa nhiệt tình thường xuyên được nuôi dưỡng để bắt vào những đề tài thời sự và cái hằng ngày của cuộc sống, có cảm hứng khỏe khoắn, hào hùng để ngợi ca, có chất trào phúng châm biếm sắc sảo, có sức suy nghĩ để đúc kết những suy tưởng khái quát và có chất trữ tình đằm thắm. Những năng lực đó của tâm hồn thơ Xuân Diệu có khi rung động thành từng mạch tương đối riêng để tạo thành những chùm thơ tình yêu, chùm thơ đả kích…, và nhiều lúc quyện hòa trong từng sáng tác cụ thể. Những bài thơ hay của ông từ sau Cách mạng đều mang những phầm chất trên. Nhưng trong thơ Xuân Diệu còn thiếu hài hòa giữa các mặt, nhiều lúc ông không kìm hãm được mình để mặt này lấn át và xô đẩy mặt kia tạo nên nhiều dang dở trong sáng tạo. Xuân Diệu ít chủ động được cấu tứ của mình, ông sôi nổi tha thiết quá nên có lúc trở nên lắm lời, ông nói và kể say sưa, lời thơ không kịp đọng thành ý, ý thơ không tìm được điểm tựa ở hình ảnh.


Một khối hồng đau đáu trong tim,


Một nỗi niềm nhắn nhe, ấp ủ,


Nói bao nhiêu cũng còn chưa đủ,


Nói mãi mãi vẫn là chưa hết,


Nói đến chết cũng hãy đang còn.


Nếu câu thơ, đoạn thơ trên dừng lại và kết thúc ngay từ lúc mở đầu thì có thể gây ấn tượng mạnh mẽ hơn. Nhưng Xuân Diệu vẫn không tự kìm được mình trong thơ, ông muốn nói cho đủ, cho hết. Bởi thế trong thơ ông, ngoài những bài thơ, tứ thơ hàm triết lý, suy tưởng, còn thường thì câu thơ ít ẩn ý sâu xa. Xuân Diệu không có dụng ý và cũng không có năng lực chiếm lĩnh người đọc bằng sự “hàm súc” và “sự im lặng thành lời” của những câu thơ “ý tại ngôn ngoại”. Ông gây sức hấp dẫn ở những cảm xúc chân tình, hồn nhiên, ở sự rung động và kể lể về cái tâhý cái nghe, ở chất liệu của đời sống thực tế mà ông khát khao muốn ôm ấp bằng vòng tay rộng và chiếm lĩnh từ nhiều góc độ, phạm vị khác nhau.


Đi vào đời sống thực tế là một hướng lớn mà Xuân Diệu thiết tha quan tâm về mặt lý luận cũng như trong thực tiễn sáng tác. Từ sau Riêng chung tới Một khối hồng, Hai đợt sóng, Tôi giàu đôi mắt, Xuân Diệu đã mở rộng diện phản ánh và hệ thống đề tài trong thơ để viết về thực tế xây dựng chủ nghĩa xã hội và chống Mỹ cứu nước. Từ đỉnh Mã Pí Lèng xa xôi đển chùm đảo Cô Tô, từ vùng đồng chiêm trũng Nam Hà đến rừng Quỳ Châu gỗ quý, rồi ruộng lúa, vườn dâu Thái Bình đến nương sắn, đồi chè Phú Thọ - Xuân Diệu đi đến nhiều nơi, say sưa tìm hiểu ca ngợi cuộc sống và con người. Đất nước trăm vùng giàu đẹp, trăm nghề lao động cần cù, khéo léo. Nhưng tươi tắn nhất vẫn là gương mặt con người, đáng yêu, đáng quý nhất vẫn là những tấm lòng ăn chịu với nắng mưa, đem mồ hôi và máu ra bền gan giữ gìn đất nước.


Ngay tự buổi đầu, qua Ngọn quốc kỳ, Xuân Diệu đã nói đến quân du kích, những con người mới đầu tiên xuất hiện. Ông chưa có sự sống trực tiếp mà thiên về lắng nghe. Nhưng với tấm lòng đầy ngưỡng mộ và yêu mến, Xuân Diệu đã phác tả được nhiều nét chân thật đáng yêu về những chiến sĩ áo vải, “những kẻ hồn xanh như ngọc bích”:


Dân quân ăn mặc đủ màu quê


Nâu lẫn chàm pha, đen trắng kề


Đủ cỡ áo quần may đủ kiểu


Tấm bào tơi lá trải sơn khê


 


Thèm ăn măng trúc đói cơm khô


Khát: suối bên đèo tuôn nước lã


Cheo leo xác mệt tối nghiêng nằm


Thân lót bằng rơm đầu gối rạ


 


Đâu có màn che đâu trướng rủ


Chỉ có hồn thiêng ru giấc ngủ


Thiếu ăn, thiếu mặc, thiếu quân nhu


Nhưng dạ anh hùng thì thật đủ.


Và từ đó, hình ảnh con người mới đi vào thơ ông ngày càng cụ thể sinh động hơn. Xuân Diệu viết về chất thép người Trần Thị Lý, nụ cười Lê Quang Vịnh, về Bế Văn Đàn, Nguyễn Văn Trỗi,… những con người anh hùng mà tấm lòng với dân với nước vượt cao hơn mọi thử thách:


Tình yêu Tổ quốc là đỉnh núi bờ sông,


Những lúc tột cùng là dòng huyết chảy.


(còn tiếp)


Nguồn: Xuân Diệu - Vây giữa tình yêu. Tác giả: Hà Minh Đức. Nghiên cứu, trò chuyện và ghi chép về thơ Xuân Diệu. NXB Văn học sắp phát hành.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thời gian không đổi sắc màu (4): Ước mơ và hoài niệm của Nguyễn Khắc Viện và những bài khác - Phan Quang 22.10.2019
Nhà thơ Vũ Hữu Định – Đường đi chưa tới - Đỗ Trường Leipzig 22.10.2019
Phản tiểu thuyết là gì? - Vương Trung Hiếu 22.10.2019
Truyện ngắn Hoa Kỳ: từ hiện đại đến hậu hiện đại - Lê Huy Bắc 13.10.2019
Bài rất nên đọc: Lưu Quang Vũ trong cái nhìn của các bạn trẻ/ Những bài thơ viển vông cay đắng u buồn... - Nhiều tác giả 13.10.2019
Mai Thảo - khao khát và bất lực - Vương Trí Nhàn 13.10.2019
Nhà văn Triệu Xuân và tiểu thuyết Trả Giá - Ngô Vĩnh Bình 03.10.2019
Sông cạn - Son sắt niềm tin yêu - Triệu Xuân 02.10.2019
Gặp nhà thơ Hữu Loan ở Đồng Nai - Đỗ Hoàng 01.10.2019
Nhà thơ Đỗ Hoàng - Người dịch thơ Việt ra... thơ Việt! - Trần Quang Đạo 01.10.2019
xem thêm »