tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30545957
Tiểu thuyết
06.10.2012
Diêm Liên Khoa
Tứ thư

LỜI NGƯỜI DỊCH       


            Tứ thư là cuốn tiểu thuyết mới nhất và quan trọng của nhà văn Trung Quốc Diêm Liên Khoa, mà bạn đọc Việt Nam mới chỉ đọc của ông qua hai tác phẩm “Người tình phu nhân sư trưởng”(Công ty văn hoá truyền thông Võ Thị - Nhà xuất bản Thanh Niên) và “ Phong Nhã Tụng” (Nhà xuất bản Dân Trí) do Vũ Công Hoan dịch.           


            Sở dĩ mới nhất, vì ông viết từ năm 2009, đến năm 2010 mới xong.         


            Sở dĩ quan trọng, vì với tinh thần dám chịu trách nhiệm của một trí thức nhà văn Trung Quốc, ông viết tác phẩm này bằng lối viết mới, khác hẳn cách viết trước kia, mang đậm tư tưởng Thần học có tính chất thử nghịêm.


            Toàn bộ câu chuyện được hình thành bởi sự trích dẫn lồng ghép từng phần từng trang của bốn cuốn sách để làm nên một tác phẩm hoàn chỉnh.  


            Bốn cuốn sách đó là:


            1. “Con Trời”, một quyển sách khuyết danh, tác giả mua ở một cửa hiệu sách báo cũ.     


            2. “Tội nhân lục”, cuốn sách tư liệu lịch sử của tác giả xuất bản thập kỉ tám mươi thế kỷ trước.


            3. “Lối cũ”, cuốn truyện ký gần năm trăm trang của tác giả, xuất bản năm 2002.


            4. “Thần thoại mới Sisyphe” bản thảo tuỳ bút triết học viết dở dang của học giả nhân vật trong truyện Tứ thư gồm ba chương mười một tiết cho đến nay vẫn chưa xuất bản, tác giả chỉ mới được đọc nửa bản thảo viết tay ở Sở nghiên cứu văn hiến nhà nước.


           


            Tứ thư có mười sáu chương, từng chương nói rõ nội dung trích từ trang nào sách nào, để bạn đọc tiện theo dõi liền một mạch, người dịch xin phép lược bỏ chú thích rườm rà, cũng là bởi hiện tại chúng ta không có nguyên bản và bản dịch của bốn cuốn sách nói trên, chỉ có nguyên tác Tứ Thư mà thôi.


           


            “Tứ Thư đã được xuất bản ở Đài Loan và Hồng Công, đồng thời đều đang  dịch ra tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng Nhật Bản và tiếng Hàn Quốc”(Trích thư thứ nhất tác giả gửi  dịch giả ) “Xem xong quyển sách này ai cũng nói: “Diêm Liên Khoa đã dùng vai của một người đỡ dậy ký ức của một dân tộc” (Trích thư thứ hai tác giả gửi dịch giả ).


           


            Theo tác giả Diêm Liên Khoa, Tứ thư này của ông khác với Tứ thư cổ: Đại học, Trung dung, Luận ngữ, Mạnh tử. Ông            Viết Tứ thư này không có ý so sánh với Tứ thư cổ, mà chỉ muốn nói lên mối liên hệ vế số phận của Trí thức Trung Quốc hiện  nay với văn hoá truyền thống Trung Quốc.    


           


            Sau gần sáu tháng làm việc miệt mài, người dịch vừa hoàn thành bản thảo vào những ngày giáp tết năm NhâmThìn 2012.


           


            Xin tóm tắt sơ qua nội dung của Tứ Thư.


            Truyện xảy ra tại khu Dục Tân thuộc vùng trung nguyên bên bờ sông Hoàng Hà vào thời kỳ toàn dânTrung Quốc trồng lúa sản lượng cao và toàn dân luyện gang thép để mau chóng đuổi kịp Anh, vượt Mỹ. Vùng này xa xưa vốn là nhà tù và bãi hành hình phạm nhân của thời vua chúa Minh, Thanh để lại. Sang thời Cộng hoà nơi đây thực chất vẫn là nhà tù, nhưng được mang những cái tên nghe dịu đẹp hơn như Trại cải tạo lao động, Nông trường lao động cải tạo và Khu Dục Tân đào tạo bồi dưỡng con người mới. 


           


            Khu Dục tân chín trăm mười chín là một trong gần một nghìn khu như vậy. Mỗi khu có khoảng hai trăm phạm nhân biên chế và sinh hoạt theo kiểu trại lính. Trên là Tổng Bộ, dưới là các khu Dục Tân và trung đội, tiểu đội. Đứng đầu khu Dục tân là một quân nhân phục viên chuyển ngành, có quyền sinh quyền sát, được mệnh danh là “Con Trời”.


           


            “Con Trời” của khu chín trăm mười chín là một chàng lính trẻ, ngây thơ,ham hiểu biết, muốn nổi tiếng, trở thành anh hùng chiến sĩ thi đua, bản tính hiền lành, lương thiện.Dưới quyền cai quản của cậu, toàn là những người có học thức vốn bị xếp vào loại người thứ chín của xã hội lúc bấy giờ, quen  gọi là “Lão chín thối”(thối như cục cứt). Trong số này có học giả, nhà văn, giáo sư tiến sĩ, nghệ sĩ, bác sĩ, nhà ngôn ngữ, nhà pháp luật, nhà họat động tôn giáo, nhà giáo dục, nhà nông học, nhà nghiên cứu khoa học kỹ thuật… chiếm tới trên chín mươi phần trăm quân số toàn khu, chỉ có khoảng dưới mười phần trăm là quan chức và thường dân phạm tội. Những “lão chín thối” đến  đây cải tạo  theo chỉ tiêu phân bổ cho các đơn vị với nhiều lý do, có những lý do hết sức lạ lùng kỳ quặc, như sinh viên tự nguyện đi thay tội cho thầy giáo già, như chủ tịch hội nhà văn tỉnh không muốn chỉ định  người theo chỉ tiêu phân bổ, cuối cùng tổ chức bầu cử dân chủ, chính ông lại có số phiếu bầu cao nhất, phải bàn giao ra đi, hay như nữ nghệ sĩ đàn pi a nô, giáo sư dạy nhạc xinh trẻ tài hoa, bởi ngẫu hứng, trong đêm biểu diễn chúc mừng sinh nhật Tỉnh trưởng, đã tự ý thay một trong ba bản nhạc quy định bằng bản nhạc nổi tiếng của nước ngoài mình thích, hôm sau liền bị đưa đến trại, cũng có kiến trúc sư vì đã từng nhận giải thưởng của nước ngoài trao cho phải đi tù, lại có nhà ngôn ngữ học vì tuổi cao, xỏ lộn giầy chân nọ sang chân kia, bị đau sái chân đến muộn giờ trong một cuộc hội thảo quan trọng, nên mắc tội phải đi tù… Tóm lại, hễ “lão chín thối” nào trái mắt, trái tai, trái ý cấp trên liền bị liệt vào danh sách đến khu dục tân để đào tạo lại thành con người mới vô thời hạn.


            Tại khu Dục tân họ không những nai lưng làm vịêc nặng nhọc như trâu bò cuốc đất trồng lúa, hút cát, chặt cây, xây lò luyện gang thép theo chỉ tiêu bắt buộc, mà chế độ quản lý “mười điều răn” , trong đó có chế độ, thu nộp, đốt sách cấm, cấm đọc sách phản động, cấm viết gửi lung tung, thưởng hoa hồng, thưởng ngôi sao, thưởng nghỉ phép, thưởng bắt người bỏ trốn, tóm kẻ thông dâm vv… đã tha hoá con người, gây thù hằn chia rẽ nội bộ, theo dõi, rình mò tố giác bắt bớ nhau để lập công, được giảm tội giữa anh chị em phạm nhân. Đặc biệt là những việc làm phản qui luật tự nhiên, phản khoa học, tàn phá môi sinh, chặt hết cây cối, ngông nghênh, náo thiên náo địa, hạ mặt trăng, bắn mặt trời, trồng lúa trồng ngô bằng máu, lấy bông mạch to hơn bông thóc, hạt mạch to bằng hạt đậu, lấy bắp ngô to bằng cái vồ có hạt to bằng hạt lạc nộp lên trên kiếm khen thưởng và đua nhau hoang báo sản lượng lấy thành tích… đã khiến Trời không tha, Đất không dung, Đức Chúa Trời đã nổi giận, gây hạn hán, lũ lụt, baõ cát, làm cho cả nước lâm vào nạn chết đói, chết rét trên qui mô lớn. Họ đã ăn hết vỏ cây, rễ cỏ, hạt cỏ, liền quay sang ăn thịt đồng đội, xẻo thịt xác người xếp chồng đống lên nhau trong nhà xác để luộc ăn. Những trang, những trường đoạn miêu tả cảnh tượng khủng khiếp này đúng là chỉ xảy ra trong trong một chế độ độc tài, phát xít thời trung cổ.Có những cái chết vô cùng thương tâm như nữ nghệ sĩ đàn Dương cầm, buộc phải dùng tuổi trẻ và sự xinh đẹp của mình đánh đổi cho một tên “Cấp trên” của khu dục tân khác để lấy chút bánh bao, đậu rang, nuôi sống mình, cứu người yêu và bị chết sặc trong tư thế thảm thương, cứ chổng mông cho hắn thoả cơn điên tình giữa lúc đang có kinh nguyệt, mà trong tay đang giữ chặt mẩu bánh bao và mồm thì còn ngậm đầy đậu nành rang đã nhai vụn và còn nguyên cả hạt, ứ tắc trong cổ họng  không nuốt nổi. Song trong đấu tố dã man tàn bạo, nhiều trí thức cơ hội khiếp đảm trước quyền lực như nhà văn cam tâm làm nội gián, làm bồi bút bị đồng đội trừng phạt, hay như cậu nhân viên thực nghiệm cơ hội, chuyên rình mò dò la bắt kẻ gian để lĩnh thưởng, vẫn có những trí thức bất khuất, hiên ngang, cao ngạo, giữ vững vai trò tri thức chân chính, làm việc nhân nghĩa như học giả, có trí thức về sau này nhận ra tội lỗi tự xẻo thịt mình luộc cho người mình đã từng tố giác vu vạ ăn và cúng linh hồn người bị chết oan để chuộc tội mình đã làm nội gián hại bạn, để tâm linh được thanh thản.Trong khi có nhiểu kẻ độc ác ngực đeo đầy huân chương chiến công vì giết quá ư nhiều người như tên “cấp trên” của khu chín trăm mười tám, thì vị “Con Trời” của khu chín trăm mười chín vốn lương thiện,thương người không ra đòn ai, về sau chỉ say mê đọc sách, xem truyện tranh Kinh Thánh và noi gương Chúa Giê su. Có lẽ còn vì được học giả gợi mở, có lẽ được thực tế cuộc sống mắt thấy tai nghe cảm hoá thuyết phục, sau khi lên Kinh Thành nói là để “gặp lãnh tụ tối cao, hiến dâng lúa mạch trồng bằng máu của nhà văn và kiến nghị cứu dân cứu nước cuả học giả”, Ngài  trở về,  không kể đã làm gì, gặp ai, đi những đâu, chỉ xác nhận ở Kinh thành đúng là có xây lò luyện thép có cấy ruộng thí nghịêm sản lượng cao tại quảng trường Thiên An Môn. Có lẽ không tìm ra con đường và chân lý cứu rỗi, sau hai mươi tám ngày ở Kinh Thành trở về, có lẽ được Đức Chúa Cha cảm hoá và sai khiến, vị Con Trời này quyết định noi gương Chúa Giê su, làm đấng Cứu thế giải thoát cho anh chị em dưới quyền trong khu đang nóng lòng chờ ngài về . Trong gần một tháng Con Trời lên Kinh Thành, họ đã từng bỏ trốn tập thể, song bị lạc vào trận địa mộ mê hồn trận không đi thoát, buộc tất cả phải quay về chờ cấp trên lên Kinh trở về. Song họ buộc phải quay lai, chủ yếu vì không ai có chứng chỉ, có ngôi sao sắt màu đỏ và con dấu của cấp tối cao phát cho các bậc “Con Trời” quản lý, để đi qua các Trạm kiểm soát yêu nước nhan nhản dọc đường. Bằng tự đóng đinh lên giá chữ thập và trả lại toàn bộ sách đã tịch thu của họ trước kia, vị Con Trời  này lấy cái chết của mình, chuộc tội cho phạm nhân, giải cứu họ, để họ tự do ai về nhà nấy với đời thường.Vị Con Trời đã hoàn toàn vui vẻ làm việc nghĩa cao cả trong một buổi sáng nắng vàng rực rỡ, dưới đất trải kín hoa hồng, trên không mây tím Thiên sứ và chim khách báo tin lành bay ngợp trời. Dưới chân Ngài, dưới giá chữ thập, mọi phạm nhân xếp hàng một, lặng lẽ lần lượt đi qua ra về. Chỉ có một người thiếu chứng chỉ phaỉ ở lại với Con Trời. Đó là học giả, có lẽ vì ông đã từng hứa lấy nữ nghệ sĩ, nên vui vẻ ở lại đây với chị? Có lẽ ông chưa tin sẽ có thay đổi hẳn. Khi đất nước còn đang như thế này thì theo ông dù ở đâu cũng thế chăng?


           


            Tôi chỉ xin có vài lời tóm tắt nội dung cuốn sách như thế, mong bạn đọc đọc kỹ tất cả mười sáu chương của cuốn sách để lý giải, tự tìm cho mình câu trả lời.  


                                                                


 Hà Nội Thanh Xuân Bắc, ngày 21 tháng 1 năm 2012


 (Tức 28 tết âm lịch)


 Vũ Công Hoan


 


 


 


“Xin hiến tặng quyển sách này cho hàng triệu triệu trí thức đã sống và chết bị lịch sử lãng quên”.


Diêm Liên Khoa


 


Chương 1.  CON TRỜI                                 


            1. Tình yêu và nỗi khổ đã đến.  


            Sau khi sang thu, cánh đồng phẳng lặng, vắng tanh vắng ngắt, trên mặt đất con người bé tí tẹo như con kiến. Một chấm đen đang to dần. Trong khu dục tân, những ngôi nhà mọc lên khai thiên lập địa. Con người đến ở, thì có như thế . Tình yêu vô biên và nỗi khổ vô hạn đã đến. Mặt trời sắp lặn vàng óng ả. Ánh sáng đặc quánh, nếu tính trọng lượng, mỗi cột sáng cũng phải nặng bảy tám lạng, cứ từng cột từng cột chen chúc dầy đặc như rừng. Chân Con Trời nhảy múa trong ráng chiều rực rỡ. Hơi ấm cộm chân, cộm cả ngực và lưng. Người chạm hơi ấm, hơi ấm thít người. Nhà khu dục tân, khai thiên lập địa, gạch xanh ngói xanh cũ kĩ, ánh sáng hỗn độn chồng đống chồng khê… Giữa đồng không mông quạnh, con người đến ở, thì có như vậy. Ánh sáng là tốt. Đức Chúa Trời phân chia ánh sáng và bóng tối, gọi sáng là ngày, tối là đêm, có buổi tối, buổi sáng, trước khi đêm đến là hoàng hôn. Hoàng hôn là tốt, gà lên giá, dê về chuồng, bò tháo vạy, người về nghỉ.


            Con Trời trở về, tình yêu và đau khổ đã đến, cổng khu dục tân khép hờ. Ngài thổi còi. Tiếng còi réo vang. Mọi người đều đến xếp thành hàng.


            Đức Chúa Trời phán: Phải có khoảng không phân cách nước với nước, khoảng không phân cách nước dưới khoảng không với nước trên khoảng không, thì có như vậy, trên khoảng không là trời, dưới khoảng không là đất, mặt đất đỡ người, từng dải, từng dải, mênh mông, mênh mông.


                        Con Trời nói: Ta đã trở về, từ bên trên, từ trên thị trấn, tuyên bố mười điều răn. 


            Đọc mười điều răn:


                        1. Nhất nhất phải xin phép, cấm đi lung tung.


                        2. Nhất nhất phải lao động, cấm nói năng bừa bãi.


                        3. Nhất nhất phải cày cấy, thi đua được mùa, có thưởng phạt.


                        4. Không được thông dâm, thông dâm xử phạt


                        5. Lại thu sách vở bút mực, không được đọc viết lung tung, cấm nghĩ vớ vẩn


                        6. Không phao tin đồn nhảm, cấm phỉ báng…


            Tổng cộng mười điều, gọi là mười răn. Điều thứ mười cấm bỏ trốn, giữ lời dạy, giữ quy tắc, ai bắt kẻ bỏ trốn có thưởng.


            Trước khi đêm đến, hoàng hôn sưởi ấm trái đất. Nhà xanh của khu dục tân xây giữa cánh đồng hoang vắng, thành từng dẫy, từng dẫy. Trước dẫy đầu tiên là sân, có cây du, trên cây có chim.


            Đức Chúa Trời phán: Đất phải sinh các sinh vật tuỳ theo loại: Súc vật, côn trùng, thú hoang, chim muông, loại nào theo lọại đó, gia cầm loại nào theo loại đó. Tất cả côn trùng trên đất, loại nào theo loại đó. Đức Chúa Trời thấy điều đó là tốt đẹp. Ngài lại phán, chúng ta hãy tạo nên loài người như hình thể Ta và giống như Ta để quản trị các loài cá biển chim trời, súc vật trên trái đất, cùng tất cả côn trùng bò và chạy nhảy trên mặt đất, cũng như các vật sống hoạt động trên mặt đất và chim bay trên trời. Ngài nói, xem này, Ta ban cho các ngươi mọi thứ rau xanh kết giống và mọi thứ cây ra quả có hạt mọc trên đất để dùng làm thực phẩm cho các ngươi. Ta cũng ban tất cả cây cỏ xanh cho các thú vật, chim trời và mọi loài vật bò trên đất, mọi loài có sinh khí làm thực phẩm, thì có như vậy. Đức Chúa Trời nhìn mọi vật Ngài dựng nên và thấy là rất tốt. Vạn vật trên trời dưới đất đều tạo dựng đầy đủ, loại nào vào loại ấy, có trật tự, quy củ, mặt Ngài tươi cười.


            Con Trời nói, tất cả mười điều, điều thứ mười là không bỏ trốn, giữ lời dạy, giữ qui tắc, bắt kẻ bỏ trốn được thưởng.


            Con Trời lấy ra một bằng khen, giấy trắng rìa đỏ. Bên trên là quốc kỳ, quốc huy, viết chữ “BẰNG KHEN” rõ to, để ở trên. Chỗ trống của bằng khen nên viết chính văn, không có chữ, in một viên đạn, màu vàng choé. Con Trời nói:


            - Ta lên thị trấn về, bên trên bảo phát cho các người. Bên trên nói, nếu ai trốn, ngoài việc tước bằng khen, còn phải ăn đạn thật.


            Việc đã an bài, thì có như thế.


            Con Trời phát bằng khen cho từng người, yêu cầu ai nấy dán ở đầu giường, hoặc đè dưới gối, luôn luôn tâm niệm. Trời đã tối. Hoàng hôn là tốt, gà lên giá, dê về chuồng, bò tháo vạy, người nghỉ việc, Ngài lại phán, việc cuối thu là gieo giống. Tiểu mạch sản lượng mỗi người ít nhất từ ba đến năm mẫu (mỗi mẫu Trung Quốc bằng 667 mét vuông), phải cày cấy gieo trồng, thi đua xem ai được mùa, nông dân bình quân mỗi mẫu, không dưới hai trăm cân (một cân Trung Quốc bằng một nửa kg), các người đều tài giỏi, có văn hoá, yêu cầu sản lượng mỗi mẫu 500 cân. Bên trên nói, nhà nước đứng dưới gầm trời, nước Mỹ là một quả cầu, nước Anh, nước Pháp, nước Đức, nước Ytalia đều là hòn dái cục phân và đuôi gà của quả cầu. Trong hai ba năm, chúng ta phải xung thiên náo địa, đuổi Anh vượt Mỹ. Bên trên phán, trồng tiểu mạch, phải hái mặt trăng, bắn mặt trời, luyện gang thép đại quy mô, các người bình quân mỗi người mỗi tháng phải luyện được một lò gang thép. Có văn hoá có tài năng, các người không được kém nông dân.


            Cấp trên đã phán, thì có như thế.


            - Không canh tác, không luyện thép cũng được – Con Trời nói - Các người bỏ trốn cũng được. Trong khu khác đều đã có người được thưởng đạn thật. Các người bỏ trốn, ta chỉ xin một điều, một điều kiện, đó là ta đi vác vể một con dao cầu, các người chạy trốn, không cày cấy, không luyện thép, cũng không muốn ăn đạn thật, vậy thì hãy dằn ta dưới  lưỡi dao cầu cắt ta một nhát.


            - Ta sẽ phối hợp các người cắt phập ta một nhát cho xong, rồi các người đi đâu thì đi,  nhưng biết đi đâu!


            - Ta chi xin thế thôi, cắt cổ ta xong, khỏi phải cày cấy, khỏi phải luyện thép, các người ra đi.


            Trời đã tối, thì có như thế. Bóng đêm mùa thu đổ xuống. Trời đất hỗn độn hư không, màu đen xanh, như quả dưa thơm. Mọi người ra về, đều mang theo bằng khen, giấy trắng riềm đỏ, phía trên là quốc kỳ, quốc huy, viết một chữ khen. Chỗ viết chữ trên bằng khen, in một viên đạn rõ to màu vàng choé, giống như một trái quả giữa chậu hoa. Đức Chúa Trời nói, trên trời có ánh sáng, chia ra ngày và đêm, làm ký hiệu, định ra tiết lệnh, ngày tháng năm, đồng thời phát sáng bầu trời, chiếu khắp mặt đất, thì có như thế. Vậy là Đức Chúa Trời tạo nên hai vì sáng lớn, vì sáng lớn hơn cai quản ban ngày, vì sáng nhỏ hơn cai quản ban đêm và các tinh tú, phân biệt sáng và tối. Đức Chúa Trời thấy thế là tốt. Thế giới đã hình thành. Có buổi tối, có sáng sớm. Trước đêm một chút là hoàng hôn, sau hoàng hôn là đêm. Đêm đến lặng lẽ, vạn vật đều yên tĩnh, nhưng có tiếng động trong lòng đất, truyền lên mặt đất. Lại có tiếng nỉ non của cây cỏ truyền trong không trung. Lại có tiếng kêu của chim về tổ. Có tiếng người khóc, người nào cũng cầm chiếc bằng khen, giống như cầm một đoá hoa to, ai cũng lặng lẽ khóc, hình như đã sang thu, hoa rơi rụng, như tiếng khóc của đêm.


            Thì có như thế. Con Trời về nhà mình ngủ. Trên mặt đất trống vắng. Yên tĩnh đỡ bước chân con người, như mặt nước đỡ vật trôi nổi.


 


            2. Bẻ gẫy trời bắn mặt trời, náo thiên náo địa.


 


            Thi đua được mùa, trồng tiểu mạch. Con người cày xới ruộng đất. Giữa tháng chín, bầu trời cao xa vời vợi, hơi thu giăng giăng trải khắp đồng hoang. Mặt trời muốn chiếu đến đâu thì chiếu, không muốn chiếu đến đâu thì thôi. Gió cũng thế, muốn thổi ngọn cây, ngọn cây liền đung đưa, muốn thổi mái tóc, mặt người, thì gió lạnh phả vù vù, muốn thổi khắp mặt đất, thì cỏ cây và mặt đất liền rì rẩm thủ thỉ. Nói là bên bờ sông Hoàng Hà, thật ra xa tít mù tắp, chỉ thấy cánh đồng vắng lặng, trải dài mênh mông giữa khu dục tân và bờ sông Hoàng Hà, không thấy thôn bản, chỉ thấy đám đông phạm nhân cải tạo, toàn người là người


            Giữa các khu dục tân cách rất xa nhau, không qua lại.


            Người đào bới đất, phân tán khắp cánh đồng. Sáng sớm thức dậy khỏi giường, người liền cày ruộng. Ăn xong cơm sáng, người lại cày ruộng. Đến giờ ngọ người lại cày ruộng. Sắp xếp theo thứ tự, thì đây là khu thứ chín trăm mười chín. Bên trên nói, gọi người, đất đai và hoa màu phân tán trên bờ sông Hoàng Hà là khu dục tân. Thì liền có khu dục tân. Bên trên bảo, đặt phiên hiệu cho người và đất trong cả khu để tiện cải tạo trừng trị. Trời quản đất, đất quản người, bắt họ lao động làm việc. Người có người khác đến sai bảo. Người khác bố trí nơi đây thành khu 1, khu 2… cho đến khu thứ chín trăm mười chín. Bên trên nói, sắp xếp thế là tốt, bắt họ lao động canh tác, có thể thưởng phạt, có thể cải tạo. Có nghĩa là bắt họ lao động canh tác ngày đêm, cải tạo họ, đổi mới họ. Mặc dù họ vốn ở đâu, tại kinh thành, tại miền nam, tại thị trấn thị xã, hay tại địa phương trong tỉnh: họ nguyên là giáo sư, cán bộ, học giả, thầy giáo, hoạ sĩ, kiến thức chất đầy năm xe, tài cao đong đầy tám đấu, tất tuốt xít đều đưa đến đây lao động cải tạo, bồi dưỡng thành con người mới. Hai năm ba năm, năm năm tám năm, thậm chí cả đời.


            Thì có như thế, cũng  là lao động, cũng là cải tạo đổi mới.


            Sắp đến giờ ngọ, Con Trời đã đến. Người lấm tấm như sao sa trên mặt đất, trên trời có chim đang bay. Xa xa là sông Hoàng Hà, hơi nước tràn đến tanh tanh, đồng ruộng vừa cày xới, vàng vàng đo đỏ, lấp la lấp loáng dưới ánh mặt trời. Mặt đất toả mùi thơm của đất ấm ủ hàng ngàn năm. Mùi thơm nhởn nhơ bay, như tơ lụa, bồng bềnh dưới ánh nắng như mù khói. Trên cánh đồng, ai ai cũng thấm mệt, đang ngồi nghỉ. Thấy Con Trời đến, tất cả đều vội vàng hốt hoảng đứng dậy làm việc. Có kẻ mắt kém không trông thấy, Con Trời bước đến đứng trước mặt. Biết anh ta là một nhà văn, viết sách lập thuyết, liền nói:


            - Trước tác của ngươi là cứt chó.


            Nhà văn ngẩn người, gật đầu đáp:


            - Trước tác của tôi là cứt chó.


            - Nói ba lần.


            Nhà văn liền nói ba lần:


            - Trước tác của tôi là cứt chó


            Con Trời cười bỏ đi.


            Nhà văn cũng cười, lại hấp ta hấp tấp cuốc ruộng.


            Gặp một giáo sư là học giả, đang ngồi xổm xem sách. Con Trời nhìn ông ta, ông ta không nhìn thấy Con Trời. Con Trời đứng đằng sau ông ta, ho một tiếng:


            - Còn xem gì thế?


            Học giả giật mình đứng lên, ôm sách vào lòng có ý chống đối, ánh mắt có vẻ khinh thường, cầm cuốc cuốc ruộng.


            Trời cao xanh biếc, mây lại nhàn nhạt. Mảnh đất học giả khai khẩn giữa đồng hoang còn mới tinh và thơm thơm. Khu chín trăm mười chín biên chế thành từng trung đội rồi đến tiểu đội. Cuốc bới đất lấy trung đội làm bầy đoàn, làm việc rải rác giữa cánh đồng phía đông của khu. Đi từ trung đội một đến trung đội ba, đường rất xa, đất rất rộng. Cây ngô vụ trước, còn xếp ở đầu bờ, dựa chung quanh gốc cây thành đống hình tròn, người có thể chui vào sưởi ấm, cũng có thể chui vào làm việc gì đó. Trong trung đội ba, quân số đầy đủ, đang cày cuốc. Nhưng kiểm tra kỹ thiếu một người. Sau khi nhìn ánh mắt một người cùng đi, Con Trời đã tinh ý đi đến đầu bờ ruộng, chỗ cây dương xếp cây ngô cũ xung quanh, giơ chân đá đá vào những cây ngô, đá thêm cái nữa, thì có một người lồm cồm chui ra, trên đầu vẫn còn đội lá ngô.


            Trông thấy Con Trời, người ấy sợ hãi, mặt tái mét không còn một hạt máu. 


- Đi đại tiện phải không? – Con Trời hỏi.


            Người ấy im lặng.


- Đi tiểu tiện phải không? - Ngài lại hỏi.


            Vẫn không trả lời.


            Con Trời bới những cây ngô xếp quanh gốc cây, thấy một cái hang. Trong hang có ánh sáng. Ánh sáng trên cây dọi xuống. Trên cây có dán bức tranh Thánh Mẫu Ma-ri-a. Ngài không biết Thánh Mẫu, nhưng biết bà ta rất đẹp. Tranh cũ và bẩn, người thì đẹp. Ngài ngắm ngắm cười cười, lại lấy cây ngô rấp cửa, nụ cười biến mất, mặt lạnh như tiền:


- Ngươi nói ba lần: tôi là lưu manh, tôi là lưu manh, tôi là lưu manh!


            Người ấy không nói,


- Không nói chui vào trong làm gì? Vẫn là một con đàn  bà Tây.


            Người đó không nói.


- Nói hai lần cũng được - Con Trời nhượng bộ.


Người ấy không nói.


            Đám đông cuốc đất ở xa đều nhìn về chỗ đó, không biết nơi đó đã xảy ra chuyện gì. Chỉ ngáo ngơ nhìn, lâu lắm. Con Trời có vẻ nóng mặt, bước tới, hỏi dồn:


            - Ngươi không nói thật hả? Không nói ta sẽ dứt bức tranh đem treo trên tường trong khu, tuyên bố ngươi làm chuyện bậy bạ với con mụ này trong hang xếp cây ngô nỏ đầu bờ ruộng .


            Người ấy vẫn không nói.


 


            Con Trời không biết làm thế nào, đá một phát vào cây ngô, cửa hang hở ra. Ngài quay lưng lại đám đông, đối diện với bức tranh, cởi giải rút, định tụt quần như sắp sửa đái vào bức tranh. Giờ phút này người ấy hốt hoảng, bỗng dưng quỳ sụp trước mặt Con Trời:


-           Coi như tôi van xin Ngài chớ làm thế!


Con Trời bảo:


- Ngươi nói, tôi là lưu manh, chỉ nói một tiếng cũng được.


            Người ấy không nói. Con Trời lại ra vẻ như đái vào bức tranh.


            Mặt người ấy trắng bợt, môi run run, nói mấy câu liền:


- Tôi là lưu manh, tôi là lưu manh…


            Tuy nói, nhưng nước mắt ứa ra.


            Có thế chứ - Con Trời bảo – Nói sơm sớm đi có phải xong rồi không.


            Ngài cũng bỏ đi, không tỏ ý trừng phạt người ấy như thế nào. Nhưng người ấy lại lăn ra đất, sắc mặt nhợt nhạt, như cái hang rỗng sáng giữa bầu trời. Con Trời bỏ đi, sang trung đội bốn, đến với đám đông cuốc ruộng xa hơn. Ở đó, Ngài lại gặp một đàn bà, trẻ tuổi, trầm tĩnh, dáng tương tự người đàn bà trên cây trong ánh sáng của cái hang được quây bởi những cây ngô vụ trước. Người đàn bà trẻ, trầm tĩnh, đẹp đến mức đoan trang. Ngài định gọi là chị. Ngài đi đến gần, lại thấy chị không giống bức tranh. Nhìn lại thì giống. Bị quyến rũ, Ngài đến gần người đàn bà. Nhưng chị cuốc đất, cúi xuống đứng lên, cứ xa dần Ngài. Ngài lại đến gần, biết chị là người mới đưa đến khu thứ chín trăm mười chín, là nhà giáo, người thị xã, dạy âm nhạc, nghệ sĩ đàn pi-a-nô. Tay chị phồng rộp, máu chảy theo cán cuốc. Ngài lấy khăn tay lau máu cho chị. Khăn tay vải trắng dệt thô còn mới, sạch sẽ, có riềm chung quanh.


            Chị nhìn ngài, có vẻ cảm mến.


 


            3/ Cuốc đất gieo giống, các khu dự báo sản lượng mỗi mẫu.


 


            Con Trời yêu cầu không cao, các khu khác, đều báo sản lượng mỗi mẫu 500, 600, 700 cân. Còn có mấy khu lại báo sản lượng mỗi mẫu 800 cân. Con Trời chỉ yêu cầu khu chín trăm mười chín, xuống đến các trung đội, mỗi trung đội báo 500 cân là được. Sản lượng trung bình mỗi mẫu 500 cân.


            Sáng sớm thức dậy, ánh nắng toả khắp muôn nơi. Khu chín trăm mười chín, yên tĩnh đến nỗi nghe được tiếng ánh nắng rơi xuống đất. Con Trời gọi phụ trách các trung đội đến nhà họp. Mọi người đều ngồi đối diện im lặng. Ngài bắt từng trung đội báo cáo sản lượng dự tính, nhưng đều im lặng như chết.


            - Ta biết – Con Trời nói - Sản lượng mỗi mẫu ở đây nhiều nhất là 200 cân, nhưng không thật, cần phải đạt sản lượng mỗi mẫu năm trăm, cứ báo miệng trước đã, sau đó ra sức gieo trồng.


            Họp ở trong nhà Con Trời. Nhà ở một bên cổng chính của khu, có ba gian, gian giữa là sảnh, hai bên là chỗ ở luân lưu của Ngài. Người đến họp ngồi trong sảnh, có mấy cái ghế băng, họ ngồi đối diện, đầu ai cũng cúi gằm. Một nhà văn, một học giả, một giáo sư tôn giáo, một người nữa là giáo viên dạy nhạc, nghệ sĩ chơi đàn pi-a-nô. Họ được chỉ định phụ trách các trung đội. Tất cả ngồi im thin thít.


 


            - Các người không báo sản lượng mẫu – Con Trời khẽ nói -  không cho các người về rửa mặt.


            - Các người không báo sản lượng mẫu – Con Trời nói to - không cho các người về ăn cơm.


            Cuối cùng Con Trời đã quát tướng - Các người không báo sản lượng mẫu, ta sẽ cách chức không để các ngươi phụ trách trung đội, bắt các ngươi năm năm không được về nhà. Sáu năm gia đình không được đến đây thăm.


            Thế là chơi trò du hí, trung đội nào cũng báo sản lượng cao.


            Thì có như thế.


            Sản lượng dự báo đều số 600. Con Trời là người tốt, ngài không đánh không mắng, chỉ giơ chân đá ghế. Dự báo sản lượng, ầm ĩ một lát xong; các học giả, tôn giáo, nghệ sĩ đều về ăn cơm.


            Đã rửa mặt, đã ăn cơm. Thế giới cũng như thế.


            Con Trời không cho nhà văn ra về. Ngài nói, trong bốn người, nhà ngươi báo sản lượng thấp nhất. Ngươi phải ở lại, ta có chuyện nói với ngươi.


            Nét mặt sợ hãi, nhà văn ở lại, nhìn các học giả, tôn giáo, nghệ sĩ an nhiên ra khỏi cửa, nét mặt đầy hâm mộ, như đất mầu nâu đỏ mới đào trên mặt đất. Chờ giáo sư Tôn giáo, học giả, nghệ sĩ ra khỏi nhà, Con Trời đóng cửa. Trong ánh sáng lờ mờ, chỉ có Ngài và nhà văn. Con Trời lấy ra bức tranh Thánh Mẫu, trải lên bàn, hỏi đây là ai? Gã giáo sư Tôn giáo lén lút dán bà ta lên cây dương ở đầu bờ có xếp những thân cây ngô cũ vây quanh.


            Con Trời lấy ra một quyển sách do các con số “1,2, 3,4, 5, 6, 7” và đường cong đường thẳng kết thành, hỏi đây là gì? Ta để nghệ sĩ phụ trách trung đội bốn, chị ấy liền biếu ta quyển sách này, tác phẩm của chị ấy.


            Con Trời lấy ra một bằng khen vẽ viên đạn đã phát từ trước, viên đạn vàng óng, chỗ trống bên dưới viết hai câu thơ chữ đỏ nổi bật:


                “Cho dù ngưỡng sắt ngàn năm,


          Cũng về với đất nằm trong nấm mồ”. (thơ Phạm Thành Đại đời Tống ND).


            Con Trời chỉ vào hỏi:


- Cái này để dưới gối gã học giả, ý nói gì vậy?


            Con Trời còn lấy ra nhiều thứ, đưa cho nhà văn nghiên cứu kỹ. Ví dụ tranh đàn bà nửa khoả thân, sổ nhật ký viết kín sổ, bút bi hoàn toàn dùng cho người nước ngoài, bật lửa ga bật ra lửa, ngay đến nhà văn cũng chưa từng biết. Chiếc bật lửa đầy mùi xăng như hơi khói ô tô chạy qua phụt ra. Hai người ngồi vây quanh xem từng thứ, nói rất nhiểu, rất nhiều chuyện. Cuối cùng Con Trời lấy ra một lọ mực xanh, một bút chấm mực, một quyển giấy viết thư, đưa cho nhà văn bảo:


            - Ngươi có thể viết sách, mong muốn của ngươi có thể thực hiện. Bên trên đồng ý cho ngươi viết sách lập thuyết trong khu. Ngươi có thể viết ra một bộ sách rất hay, hay vô cùng. Bên trên đặt tên quyển sách cho ngươi là “Tội nhân lục”. Bên trên nói, mỗi quyển giấy nháp năm mươi tờ, yêu cầu ngươi viết hết cả năm mươi, nộp lên rồi lại lấy năm mươi tờ khác. Ngài nói, chỉ cần ngươi viết ra tác phẩm, không những cho ngươi về đoàn tụ với gia đình ở tỉnh thành, mà còn in phát sách của ngươi khắp toàn quốc, điều ngươi lên Kinh thành, để ngươi thống lĩnh việc viết sách trong cả nước.


            Con Trời giục:


            -Ngươi về đi. Trong khu chín trăm mười chín, ngươi được trên tín nhiệm nhất.


            Khi ra về, nhà văn còn ngoái lại nói:


- Chúng tôi đã báo thấp sản lượng mẫu, bây giờ tôi báo lại là 800 cân!


            Con Trời cười với nhà văn. Ánh nắng vàng tươi. Trên mặt đất sương mù giăng giăng. Tiếng còi ra đồng gieo trồng chợt vang lên lanh lảnh, như bay như nhẩy trong sân khu.


 


            4. Còi đã thổi. Tiếng kêu xé trời. Nhưng mọi người cứ ngồi chết dí trong nhà không ra, không vác cuốc xẻng ra đồng. Mỗi trung đội hai máy gieo hạt đều nằm khểnh dưới mái hiên, sợi dây chão kéo máy gieo mạch vứt lòng thòng ra đất. Hạt giống mạch cấp trên phát xuống chứa trong túi, dựng ngay ở cửa nhà các trung đội.


            Kẻ giặt quần áo cứ giặt quần áo


            Kẻ viết thư cứ viết thư tự nhiên.


            Kẻ không làm gì cứ việc tự do ngồi phơi nắng tại chỗ.


          Phụ trách các trung đội đều đi tìm Con Trời báo cáo không ai chịu ra đồng, các phạm nhân đều bảo đứa nào tài giỏi, thì cứ việc ra đồng mà trồng sản lượng mẫu 800 cân?


 


            Nhìn giáo sư tôn giáo, học giả và nghệ sĩ vừa từ trong nhà mình đi ra quay trở lại, Con Trời khẽ nói ba chữ:


-           Họp đã.


Thì có như thế.


            Mọi người đều tập trung trên bãi trống trước nhà Con Trời. Đơn vị đều ngồi theo trung đội. Con Trời không nhiều lời, lấy ra một văn bản, bảo một phạm nhân còn trẻ đọc. Con Trời nói, ai đọc một lượt văn kiện, sẽ thưởng người ấy cả ngày mai không lao động, lên thị trấn đưa thư, lấy thư báo bưu điện gửi đến đem về, liền có hai phạm nhân trẻ  tranh nhau đọc. Con Trời chỉ định một trong hai người đọc. Văn bản không dài. Trên văn bản công bố những sách được đọc trong khu cải tạo. Sau khi đọc xong văn bản, Con Trời im lặng một lúc, rồi nói to trước mọi người:


            - Tất cả nghe rõ chưa? Đã công bố những sách các ngươi được đọc. Các ngươi đọc những sách không công bố là sai lầm, phạm pháp, là phản động.


            -  Giờ  ta hỏi, Ta biết các ngươi đều đọc sách gì, sách các ngươi đều giấu ở đâu trong nhà – Con Trời  đi đi lại lại trước mọi người nói -  Có kẻ nấp trong nhà xí đọc sách phản động. Có người ngủ đến nửa đêm thức dậy đọc rặt những sách phản động là phản động. Còn có đứa vừa đọc sách vừa khóc hu hu.


            Sau khi đi qua đi lại trước mọi người, Con Trời đột nhiên đứng lại, chỉ vào người  tranh đọc văn bản:


            - Hai ngươi ngày mai nghỉ một ngày lên thị trấn đưa thư, lấy thư, ta còn thưởng các ngươi ngày mai được nghỉ phép ba ngày về thăm gia đình. ConTrời nói:


            - Bây giờ hai ngươi hãy nghe ta. Đến trung đội 2, lật đầu giừơng của học giả, dưới gối của ông ta đang giấu một quyển sách rất phản động.


            Hai thanh niên đi tìm, đã tìm thấy một quyển sách phản động có tên là “Nguỵ Tấn thất hiền”.


            Con Trời nói:


            - Đến trung đội 3, trong chăn của giáo sư Tôn giáo, vỏ chăn của ông ta có phéc mơ tuya, các người hãy kéo phéc mơ tuya ra mà tìm.


            Hai thanh niên đi tìm, trên đầu giường của giáo sư Tôn giáo, chiếc chăn của ông gấp vuông vắn, có một quyển “ Cựu ước” giấu ở trong phéc mơ tuya. Trong bìa đen của cuốn sách đó, trang nào cũng bị đọc nhàu nát, đều có dấu dùng ngón tay nhấm nước bọt  mở ra xem.


            Con Trời nói:


            - Sang nhà trung đội bốn tìm dưới gầm giường của gã nhà văn. Dưới gầm giường của anh ta có ba cái hòm gỗ, trong hòm đều là sách.


            Hai thanh niên đi tìm, tìm được ba hòm gỗ, khiêng cả về, vất quần áo ra đất, dốc hết sách. có các quyển: “Cỏ dại”, “Đường Tống luật”, còn có tiểu thuyết nước ngoài: “Cao lão đầu”, “Đôn ki-hô-tê”, tập truyện của Merimee, kịch của Sếch-xpia “Rô mê ô Giu ly et”. “Đêvit Ko-pơ-fin” của Đích-Ken, còn có “Nỗi buồn phiền của thiếu niên Véc-te” của Goethe. Hổ lốn hẳn một đống rặt sách cũ, đều rách nát. Chữ trong sách đều in phồn thể. Tiểu thuyết của nhà văn đều là chuyện của Trung Quốc, nhưng anh ta cất giấu và đọc phần nhiều là sách nước ngoài.


            Ba hòm mấy chục quyển, một đống lù lù như núi, đốt thành một đống lửa.


            Con Trời đưa ánh mắt nhìn nữ nghệ sĩ. Khuôn mặt trắng thành giấy, trắng thành tuyết, trắng thành mù. Nữ nghệ sĩ ngồi sau cùng đám đông. Con Trời đi gặp chị, mọi người cũng ngoái cổ nhìn chị. Chị cúi gằm. Con Trời lại nhìn đi chỗ khác, nhìn một giáo sư đứng tuổi beo béo nói:


- Ngươi đề đạt ý kiến lên trên, bên trên nói, thứ bảy hàng tuần không về nhà, đều đi xem kịch, còn chuyên xem kịch cũ đóng theo kiểu cổ mới giàn dựng. Nhưng trong gối của nhà ngươi, sách đóng toàn là sách cổ đóng giây, còn có một quyển dâm tà tối phản động, tên là “Thạch đầu ký”. Nghe người ta nói, nhà ngươi có thể thuộc lòng tất cả những câu thơ trong sách ấy.


            Ngài lại chỉ vào một người xương xương gầy gầy:


            - Ngươi viết thư lên Kinh Thành cho cấp trên cao nhất nói: “cấp trên hiện nay đều hư hỏng”, nhưng ngươi không xấu. Trong ngăn kéo của ngươi không có sách, nhưng có nhiều kẹo tây nhỏ. Gia đình ngươi tháng nào cũng gửi cho ngươi một gói quần áo, trong gói quần áo đều có một cân kẹo. Hàng ngày trước khi thức dậy, đi làm, về nghỉ, đi ngủ ngươi đều len lén ăn kẹo, mỗi ngày ít nhất là năm viên, một tháng là 150 viên. Nhưng ngươi không biết, đến lúc này dân chúng cả nước đều chưa hề trông thấy kẹo tây nhập khẩu gói giấy ngọt hình thù như thế nào, ngươi có biết không?


            Con Trời tính toán như thần. Ngài biết nhiều lắm, ngài bảo ai giấu sách ở đâu, quả nhiên có sách giấu ở đó. Ngài bảo kẻ nào giấu vật gì ở đâu, quả thật ở đó có vật. Ngài đứng trước đám đông, trong khi nói chuyện, luôn luôn giơ chân đá vào những cuốn sách. Đến chỗ đống sách mỗi lúc một to, chất cao như núi. Từ sau đống sách, ngài chuyển sang phía trước đống, mặt trời đi theo ngài. Từ đằng sau ngài đi đến đằng trước, ánh sáng chiếu xuống rơi trên đống sách. Đốm bụi li ti bay nhảy trong ánh sáng. Nét mặt người nào cũng sợ hãi trắng bợt, trong mắt chứa đựng nỗi ngạc nhiên khác thường, nhìn ngài như nhìn Đức Chúa Trời. Thì có như vậy, đang nhìn Đức Chúa Trời.  Chim bay trên trời, liệng qua, lông rơi xuống, nghe tiếng xoáy, ngài đón một cái lông xem, vất đi, nói rõ to:


            - Ta không kể ra hết, các ngươi giấu sách ở đâu, ngươi biết, ta biết, Trời cũng biết. Ngay bây giờ, các ngươi tự đi lấy những sách phản động không nên xem nộp ra đây, đầu xuôi đuôi lọt, xong việc này là xong tất tuốt xít.


             Phần đông đều chủ động, tích cực bắt đầu về nhà ở lấy sách vốn xem hàng ngày, có kẻ do dự, Con Trời nhìn kẻ do dự, kẻ do dự không do dự, vội vàng đi về tìm. Nghệ sĩ pi-a-nô định đứng lên về nhà tìm, nhưng Con Trời nhìn chị nói:


            - Ngươi không có sách, khỏi phải đi về.


            Nghệ sĩ lại ngồi xuống, có ý hàm ơn Ngài.


            Tất cả đều về, chỉ có nữ nghệ sĩ không về.


            Sách đem đến, giống như vứt giầy cũ, vứt một quyển, vài quyển lên đống sách. Đống sách cao dần. Mặt trời cũng cao dần. Đống sách lớn, mặt trời cũng lớn. Mùi giấy vàng mục trong đống sách toả ra đã hoà quyện với hơi thở đồng ruộng mùa thu.


            Đống sách càng chất càng cao, y như một trái núi.


            Tiện tay Con Trời dơ lên mấy quyển sách, có “Gào thét”, “Faoxtơ”(kịch thơ của  Goethe) và “Nhà thờ Đức bà Pa ri” châm lửa đốt. Cầm một quyển “Hiện tượng học tinh thần” châm lửa đốt. cầm quyển “Thần khúc” và  “Liêu trai” châm lửa đốt. Con Trời đốt rất nhiều sách. Khi định đốt tiểu thuyết của Ban-zắc, vứt trở lại đống sách. Khi định đốt tiểu thuyết của Lép-tôn-xtôi, ném trở lại đống sách. Lại vứt trả lại cuốn “Tội ác vàTrừng phạt”,Ngài nói với hai thanh niên:


- Sách còn lại đều đem hết về nhà ta, mùa đông có thể đốt nhóm lửa.


            Người ta dọn đống sách vào trong nhà đằng sau Con Trời. Cứ dọn một chồng sách, Con Trời lại rút ra một quyển giơ lên to giọng hỏi:


            -  Quyển này của ai? Ngươi bảo Khu chín trăm mười chín chúng ta sản lượng mỗi mẫu 600 cân nhiều hay ít?


            Ngài lại giơ một cuốn sách lên hỏi:


- Dự báo sản lượng mỗi mẫu 600 cân,  ngươi bảo cao hay thấp?


            Ngài giơ một quyển sách hỏi:


            -  Ngươi có bằng lòng ra đồng gieo trồng không?


             Ngài lại giơ một bộ sách đóng bìa cứng đẹp nói:


            - Sách này phản động đến lên trời xuống đất, ngươi bảo một mẫu ruộng liệu có thể  sản xuất được 600 cân tiểu mạch không?


            Đã sang giờ ngọ, đống sách bị Con Trời giơ hết, hỏi hết. Mọi người đều khiêng máy gieo hạt ra đồng gieo giống.


 


Chương 2. LỐI CŨ , TỘI NHÂN LỤC


1.         “LỐI CŨ”


Cứ thế, thuyền trôi theo nước, tôi bắt đầu sáng tác.


            Có giấy, có bút, có mực xanh đen, tôi viết cuốn “Tội nhân lục” được trên đặt cho cái tên sát, hợp hết chỗ nói, yêu cầu tôi viết tỉ mỉ từng ly từng tí của tội nhân khu chín mươi chín, rồi nộp lên một cách như mây đến mưa xuống. Tôi khao khát viết ra một cuốn sách, nhưng không phải như cuốn “Tội nhân lục”. Giờ phút tôi cầm cây bút chấm lọ mực xanh và tập giấy bản thảo do Con Trời đưa cho, hai tay tôi run run. Tôi đã sang độ tuổi nửa trăm, ngoài viết năm cuốn truyện dài, hai mươi mấy cuốn truyện vừa và hàng trăm truyện ngắn, tôi còn có cả mấy tập tản văn. Tiểu thuyết của tôi được dịch ra tiếng Anh, tiếng Nga, tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Ytalia, tiếng Triều Tiên và tiếng Việt Nam. Nhà làm phim Du Hộ Hiểu cải biên theo tiểu thuyết của tôi đã được giải thưởng nghệ thuật phim quốc tế. Lãnh đạo nhà nước sang thăm nước ngoài, đã từng nhiều lần bảo tôi ký tên trên tiểu thuyết nổi tiếng nhất của tôi để họ làm quà tặng cho lãnh tụ và tổng thống nước bạn. Nhưng chính tôi có vinh dự như thế, bởi vì đơn vị không hoàn thành chỉ tiêu cải tạo cấp trên rót xuống, tôi tổ chức các nhà văn, nhà phê bình có tên tuổi toàn tỉnh, tổ chức một cuộc họp thảo luận dân chủ. Cuộc họp bắt đầu từ tám giờ sáng đến một giờ chiều vẫn chưa xong. Muốn chọn ra một nhân sĩ phản động cần phải cải tạo còn khó hơn nước ngoài bẩu ra một tổng thống. Cuộc họp kéo dài suốt ba ngày, các nhà văn nhà phê bình chán ngán giống như nước duyềnh lên vì mưa lớn. Sang ngày thứ ba đã quá giờ cơm trưa hơn một tiếng đồng hồ, ai nấy đói bụng sôi ùng ục, môi lưỡi khô rát, cuối cùng tất cả đều gọi tên tôi nói, anh là chủ tịch hội nhà văn có tiếng tăm, anh bảo ai phản động thì người đó là phản động. Anh nói tên ai chúng tôi đều giơ hai tay hô tán thành.


           


            Tôi biết chắc thời cuộc phức tạp, nước biển mặn đắng, đương nhiên không tuỳ tiện nói tên nhà văn, nhà phê bình nào.


 


            Tôi phát cho mỗi người một tờ giấy, thực hiện chế độ bầu cử bỏ phiếu kín, để mọi người viết lên tờ giấy trắng kẻ thẩm quyền phản động trong con mắt và trái tim của họ, đồng thời nói một cách dân chủ và khôn khéo, nếu các bạn sợ lộ bút tích, có thể viết bằng tay trái, có thể bắt chiếc bút tích của người khác, có thể không chỉ dùng tay trái mà còn nhắm mắt viết mò. Tóm lại, dùng biện pháp cho rằng người khác không nhận ra bút tích của mình để viết tên kẻ phản động trong lòng bạn lên giấy rồi nộp lên.


 


            Bằng phương pháp dân chủ lạ lùng đặc biệt nhất, mọi người đã tự viết tên một người ra tờ giấy. Thu những tờ giấy đã viết tên lại, đương nhiên tên ai nhiều nhất thì người đó trúng tuyển. Nhưng kết quả là, tên tôi đã xuất hiện gần như trên tất cả phiếu bầu.


           


            Tôi được bầu với số phiếu cao nhất.


 


            Do đó tôi đã viết cho lãnh tụ một bức thư liệt kê toàn bộ mục lục tác phẩm, thành tựu nghệ thuật và bày tỏ lòng trung thành của tôi đối với nhà nước, cuối cùng hy vọng cấp trên ở Kinh thành có thể can thiệp vào việc này, xoá tên tôi khỏi danh sách phản động. Cấp trên khẩn trương lắm, nhanh chóng có thư trả lời tôi:


 


            - Thành tựu văn học của anh rất cao, chính vì thế anh có thể đến khu cải tạo viết ra một tác phẩm văn học cách mạng chân chính vì nhân dân.


 


            Hôm tôi đi khỏi tỉnh hội, toàn bộ anh chị em bầu chọn tôi của đơn vị đều đến đưa tiễn. Mọi người cùng nói với tôi, anh là người duy nhất có thể dùng thanh danh, uy tín và thành tựu của mình để chống đối cải tạo. Anh đi rồi, chúng tôi đều sẽ đối xử tốt với người nhà, con cái và bạn thân của anh.


 


2.         “LỐI CŨ ”


 


            Khu chín trăm mười chín nằm ở phía nam sông Hoàng Hà vùng Trung nguyên, còn cách con sông mẹ ấy những bốn mươi mấy ki-lô-mét. Trong vùng rộng lớn bốn mươi mấy ki-lô-mét toàn là bãi cát của sông Hoàng Hà vốn không ngừng cải tạo để lại. Bởi vì hàng ngàn năm nay Hoàng Hà lũ lụt lan tràn, chất đất rất kém, phần đông nông dân bỏ đi nơi khác, đất cát để lại, cỏ dại và hoang vu mênh mông cùng với một số ít thôn bản và nhân khẩu, chính là nơi tốt để xây nhà tù, lưu đày phạm nhân. Nhà tù ở đây từ đời nhà Minh cho đến sau ngày giải phóng đều thịnh vượng phát đạt, phạm nhân tăng một cách kinh khủng. Lúc đông nhất có tới hơn ba vạn năm ngàn người. Các loại phạm nhân tử hình, phạm nhân cải tạo lao động làm việc chủ yếu ở đây là đắp chắc thêm con đê lớn Hoàng Hà, rồi sau đó đào đất dưới lối cũ Hoàng Hà, chôn cát vàng trên mặt xuống dưới đất, biến bãi cát thành đồng ruộng màu mỡ, khôi phục bãi cát thành ruộng cấy. Khi bãi cát rộng hàng vạn mẫu hàng ngàn héc-ta đã biến thành ruộng tốt, nhà nước cũ chấm dứt, nhà nước mới ra đời, nơi đây không còn là nhà tù và bãi xử tử phạm nhân tử hình, mà là nông trường cải tạo lao động, là nông trường lớn để những tù nhân có thời hạn lao động cải tạo ở đây trồng lương thực trồng bông. Sau khi thành lập Nước cộng hoà mấy năm, nơi đây không còn là nông trường cải tạo lao động mà là “khu dục tân”, một từ mới hay hơn, thay cho từ cải tạo lao động, cũng tức là giáo dục đổi mới tội nhân giống như nông trường.


 


            Khu dục tân dựa theo sự phân bố và nhà ở của tù nhân ngày xưa, trên lối cũ Hoàng Hà mênh mông, đặt ra Tổng bộ và phân khu. Tổng bộ ở thị trấn, các phân khu và đất đai chung quanh Tổng bộ, có nơi hàng ngàn mẫu, có nơi gần một vạn mẫu. Có tất cả bao nhiêu đất đai và tội nhân cần phải cải tạo đổi mới, kỳ thực không ai thật sự biết rõ. Có người nói, ở đây có tất cả hơn một vạn tám ngàn bảy trăm người cải tạo. Lại có người bảo, có cả thẩy hơn hai vạn ba ngàn ba trăm người, Trong khoảng hai vạn phạm nhân cải tạo này, có chín mươi phần trăm là giáo sư, học giả, nhà giáo, nhà văn và trí thức trong các ngành các giới, còn có khoảng mười phần trăm là cán bộ và quan chức cao cấp nhà nước. Riêng khu chín trăm mười chín chúng tôi, có tất cả một trăm hai mươi bảy người, chín mươi nhăm phần trăm đều là trí thức.


 


            Khu chín trăm mười chín ở cách Tổng bộ xa nhất, hẻo lánh nhất, sát ven bờ Hoàng Hà nhất. Bởi vì sát bờ sông Hoàng Hà nhất, khỏi cần lo có người bỏ trốn. Đạp lên bãi hoang, bạn đi mười dặm, hai mươi dặm về bên trái, bên phải hay lên phía trước, ngoài phạm nhân của khu khác, bạn khó gặp một người và thú hoang. Cuối cùng bạn đi thêm mười dặm, hai mươi dặm, đồng hoang và cây tạp qua đi, trông thấy đồng ruộng và hoa màu, cứ tưởng có người, có thôn bản, nhưng bạn nhìn thấy vẫn là một khu dục tân khác cùng đám phạm nhân cuốc ruộng trồng lúa. Bọn họ là phạm nhân như bạn, cần phải cải tạo đổi mới.


 


            Qui chế cải tạo là một phạm nhân tố giác một phạm nhân khác có ý định bỏ trốn sẽ được thưởng về thăm gia đình một tháng. Bắt được một kẻ đang chạy trốn sẽ được thưởng về thăm nhà ba tháng. Bắt được ba kẻ chạy trốn, bạn có thể được thả tự do về đơn vị công tác cũ và thành phố bạn ở trước kia. Trong khu dục tân, mỗi người đều mong chờ  tố giác người khác, mong chờ bắt kẻ chạy trốn để lập công. Đương nhiên kẻ chạy trốn có thể đi về hướng bắc, vượt qua sông Hoàng Hà đến các thôn trang mạn bắc sông Hoàng Hà. Nhưng Hoàng Hà bên ấy từ Cam Túc đi qua Thiểm Tây, sau khi đến miền trung Hà Nam, nước lũ mùa mưa dâng cao gầm rú, luồng bùn cát trôi hỗn độn, xưa nay không ai dám cả gan lội nước đi qua. Đến mùa đông, mặt sông ven bờ đóng băng, người có thể bước đi trên băng, nhưng trong lòng sông rộng mấy chục trượng, vẫn là dòng chảy xiết không có băng, nước lạnh thấu xương, không ai có cách đi qua được.


           


            Hoàng Hà là vật chắn thiên nhiên của khu dục tân, giống như một đường biên giới, ai qua tất phải chết. Khu chín trăm mười chín chúng tôi nằm trong vòng sông vây người kẹp. Có người đã từng bỏ chạy, nhưng anh ta lại bị phạm nhân khác bắt đưa về. Nếu ở đây anh ta tăng tội một nấc, thì người ta đã cải tạo thành người mới về quê thăm gia đình. Có kẻ nhận định, cuối thu đầu đông, sông Hoàng Hà nước cạn, định lội sông qua. Kết quả bơi chưa được bao xa, đã bị chết đuối giữa dòng, xác trôi dạt vào bãi cát dưới hạ du hai mươi mấy dặm.


 


            Cũng có người quả nhiên bỏ trốn thành công, nhưng về đến nhà, vợ con vì sợ hãi hoặc giác ngộ, lại đưa chồng trở lại  khu dục tân. Cuối cùng người đó bị giải từ khu dục tân vào nhà tù. Vợ người đó về từ giáo viên thường lên chức hiệu trưởng, từ trưởng khoa lập công lên chức trưởng phòng.


 


            Từ đó trở đi không còn ai muốn bỏ trốn.


 


            Huống hồ, đời sống ở đây đúng là sướng hơn nhiều đời sống của phạm nhân trong nhà tù. Được ăn no, mặc ấm, không khí trong lành tươi mới như đào, như lê tháng sáu tháng bảy từ trên cây vừa hái về. Càng huống hồ, nhiều người sống ở đây mùa đông sưởi nắng, mùa hè hóng gió mát. Một năm bốn mùa chỉ làm việc lúc mùa màng bận mải, khi nông nhàn thì như đi nghỉ mát. Chẳng hạn như tôi, ở đây không chỉ có thể đi dạo, hít thở, tán chuyện, đánh bài, nằm ngủ, đồng thời tôi còn có thể viết truyện. Nếu không phải người nào cũng phải nói sản lượng mẫu không thể đạt đến 600 cân, thì gần như mỗi người đều còn có thể  xem sách mình muốn xem, nghĩ những chuyện riêng tư mình muốn nghĩ.


 


            Nhưng, mọi người đều mắc tội sai phạm. Tội sai phạm đó là ai cũng bảo sản lượng mẫu không thể đạt 600 cân.Vậy thì sự việc sẽ khác đi, đã thai nghén sự thay đổi, cát biến thành đá, gió hiu hiu chuyển thành mưa bão.


 


 


3.         “TỘI NHÂN LỤC”


 


            Trong bình lặng buổi chiều ngày 26 tháng 12, đầy rẫy các cuộc tranh nổi đấu chìm giữa giai cấp tư sản và giai cấp vô sản. Nhìn bề ngoài mọi người đang lao động cải tạo, đồng thuận với trào lưu, xuôi theo dòng thác. Nhưng dưới cái bình lặng bề nổi, giai cấp tư sản đang ngấm ngầm rủa sả và đánh lén giai cấp vô sản. Ví dụ nghệ sĩ pi-a-nô trẻ đẹp, tôi phát hiện khi chị ta ra đồng đã đút vào trong túi quyển “Trà hoa nữ ”. Đây là cuốn tiểu thuyết phản động nhất của nước Pháp tư bản chủ nghĩa, ca tụng một con đĩ. Nữ nghệ sĩ không những không tự giác nộp lên trên cuốn truyện phản động này, mà còn dám đem nó ra đồng, lúc mọi người lao động nghỉ giải lao, chị ta nấp một chỗ lén lút xem cuốn sách phản động. Chị ta đọc chăm chú, nước mắt rưng rưng, hơn nữa ánh mắt cứ đăm đắm nhìn như dán mắt vào bức tranh đi kèm vẽ minh hoạ con đĩ Magelite phấn son lòe loẹt, hàng mấy chục giây không chịụ dời. Từ việc này có thể thấy tư tưởng của nữ nghệ sĩ hủ bại và dơ bẩn biết chừng nào. Để quyến rũ đàn ông, con đĩ Magelite bao giờ cũng cài trên người một bông hoa trà đỏ. Trên người cô ta lúc nào cũng toả mùi kem hoa tuyết như hoa trà. Mái tóc của cô ta bao giờ cũng xoắn tít buông xoã như thác nước, còn mái tóc của nữ nghệ sĩ ngày nào cũng rủ chấm vai, y hệt dòng thác. Việc này chứng tỏ cái gì nhỉ?


 


            Tôi đề nghị, cấp trên phải đặc biệt chú ý hành vi và biểu hiện của giai cấp tư sản thối nát này của nữ nghệ sĩ. Con đê ngàn dặm, vỡ bởi tổ mối. Tôi tuyệt đối không thể để người đàn bà sành điệu đặc sệt của giai cấp tư sản, gậm nhấm dần và thay đổi khu dục tân của chúng ta.


 


4.         “LỐI CŨ ”


 


            Cấp trên yêu cầu tôi viết một cuốn “Tội nhân lục”, có nghĩa là đòi hỏi tôi ghi chép lại toàn bộ lời nói hành động của đồng đội trong khu chín mươi chín mà họ không nhìn thấy, không nghe thấy với điều kiện là tôi sẽ rất nhanh chóng thành người mới, được về nhà. Tôi sẽ viết lại những điều tai nghe mắt thấy, có những đoạn tôi cất trong ngăn kéo của mình, có những đoạn tôi nộp lên trên. Những đoạn nộp đi là công tích và sự trung thành của tôi trong đổi mới, những đoạn để lại là những ghi chép và tư liệu sống để sau khi tôi cải tạo xong sẽ viết một bộ tiểu thuyết. Tôi không biết cái nào quan trọng hơn đối với tôi, giống như không biết mạng sống của một nhà văn và mạng sống của tác phẩm nhà văn viết, cái nào quan trọng hơn cái nào. Thế nào tôi cũng có thể viết, có thể lấy danh nghĩa viết một cuốn tiểu thuyết cách mạng để viết cuốn “Tội nhân lục”chuẩn bị nộp lên trên trước mặt tất cả phạm nhân trong khi họ không có chút bút mực, cũng có thể trước mặt cấp trên, với danh nghĩa viết cuốn “Tội Nhân lục”để tôi ghi chép tư liệu sống và suy nghĩ cho cuốn tiểu thuyết tương lai của mình. Tôi là người tín nhiệm nhất của Con Trời của khu chín trăm mười chín. Con Trời tín nhiệm tôi như tin vào tai mắt và ngón tay của Ngài.


           


            Đã bắt đầu gieo giống.


            Không còn ai mè nheo chuyện sản lượng mẫu không đạt được 600 cân. Không còn ai há cái mồm hôi thối của kẻ trí thức nói như đánh rắm tum tủm, nào là hư báo, thổi phồng, phản khoa học. Mọi người bảo:


             - Khoa học là một bọng nước dải, là cứt dẫm lên bẩn nhoe nhoét, tốt nhất là vùi xuống ruộng.


 


            Đất được chia cho các trung đội, bình quân mỗi người bảy mẫu. Mỗi trung đội đều có hơn hai trăm mẫu đất hỗn hợp bùn cát và đất sét. Khoảnh nhỏ có mấy mẫu, khoảnh to mấy chục, cho đến hàng trăm mẫu. Giữa đất với đất là những ao, chuôm, hồ do ở thấp đọng nước mà thành và bãi chua mặn bỏ hoang khô cứng trắng xoá. Ruộng đất kẹp giữa những ao hồ hoang dã này. Mười dặm hai mươi dặm không có một bóng người. Để gấp rút gieo cấy trong một tuần xong toàn bộ ruộng đất, bốn trung đội của khu chín mươi chín, cứ bảy tám người một nhóm bám giữ máy gieo hạt, còn lại đều kéo dây chão ở hai bên. Trước kia sản lượng mẫu 200 cân, hạt giống mỗi mẫu nửa bao khoảng 40 cân. Bây giờ đòi hỏi mỗi mẫu 600 cân, hạt giống phải gieo dầy, mỗi mẫu là một bao giống 150 cân. Trên bình nguyên hoang dã, sang mùa vụ này, nóng bức đã qua đi, giá lạnh vẫn chưa đến. Trong thu, gió mang theo mùi chua mặn và bùn đất từ bên kia sông Hoàng Hà thổi sang bên này, đầu và mặt người mát mẻ, nhưng thân kéo chão máy gieo hạt, nên bức toát mồ hôi, y như tắm chưa lau khô đã vội mặc quần áo.


 


            Trung đội một của chúng tôi ở phía nam khu những mấy dặm, đi qua đất trũng chua mặn trong vòng ba dặm, một cánh đồng hình tam giác năm mươi mấy mẫu đất phủ lên vùng hoang dã. Ruộng đất đã cày xới, đất mới màu đỏ vàng rực rỡ. Ở nơi chung quanh đều là đồng chua cát mặn xám xịt, mọi người hì hục kéo chão gieo giống, cứ từng bước từng bước từ đầu này ruộng đến đầu kia, rồi lại từ đầu kia ruộng quặt lại đầu này. Cứ thế đi qua đi lại, liên tục không dừng nghỉ, đang đi đang động, song lại như không đi không động, chẳng khác nào bầy chim đang bay, song như ngưng đọng dưới bầu trời mênh mông tít tắp không bờ bến. Tôi là kẻ giữ máy rung gieo hạt, mà nông dân gọi là thợ lái máy gieo.Việc ấy không khó hơn viết tiểu thuyết, dúi một hàng bốn răng máy ăn sâu trong đất hai tấc, để trục moay-ơ ngẩng lên ba mươi độ, nhờ vào sức kéo máy gieo hạt của mọi người, lắc đồng đều cán máy làm cho hạt mạch men theo lỗ máy rơi vào bốn răng máy cắm xuống đất. Máy đi qua, hạt giống được gieo vào đất. Tôi chỉ học hai lượt đi về là biết gieo hạt, học bốn lần là thành thạo. Nhìn người kéo chão trước mặt, tôi cứ ngỡ  nhìn con lừa bịt mắt kéo cối đá.


            Người đánh lừa hỏi:


            - Đều mệt cả rồi  chứ?


            Họ đáp:


            -Mệt rồi, năm mươi cân giống có thể sản xuất 200 cân, 150 cân không có thể đạt sản lượng 600 cân một mẫu hay sao!


            Người đánh lừa bảo:


            - Khát nước thì ra đầu bờ mà uống.


            Họ nói: 


            - Sách thu hết rồi, tối nào bọn mình cũng chơi tú-lơ-khơ.


            Người đánh xe lừa nói:


            - Con Trời là người tốt, không đốt hết sách.


            Họ kể:


            -Nghe đâu, nghe đâu mấy hôm trước khu dục tân bên kia có một giáo sư bỏ trốn bị người ta bắt về, cởi quần chụp lên đầu, bảo ông ta đội quần đếm sao trời qua ống quần.


           


            Gieo giống từ lúc mặt trời đứng bóng cho đến khi nắng xiên khoai, ai nấy mệt bã người, khô quắt lại như mảnh vải mềm hoặc như cây cỏ qua đông, thế là ngồi bệt giữa ruộng nghỉ, tháo giầy ra, hất đất trong giầy đi, lại từ trong đất ấy hất con sâu chui vào trong giầy bị dẫm nát bét. Tôi đi xem vai người kéo bị chão cọ phồng rộp máu, rộp nước, tôi lấy gai nhọn chọc vỡ, nặn hết máu và nước, khiến người bị chọc cứ kêu oai oái giữa đất trời.


            Người thanh niên chủ động tranh đi tìm sách cho Con Trời vốn là nhân viên thực nghiệm của Phòng thực nghiệm của một trường đại học. Sau khi giáo sư hướng dẫn của cậu bị quy là đối tượng cải tạo, ông nói ta cao tuổi rồi không thể đến khu dục tân, thầy trò một phận, con đi thay cho thầy được không. Cậu nuốt nước mắt lên gặp nhà trường. Trên hỏi, em quyết định đi thay thầy giáo thật sao? Cậu gật gật đầu, nói thầy trò một phận, bố con một phận, em không có cách nào khác báo đáp thầy giáo hướng dẫn em. Sau đó cậu đến khu dục tân chín mươi chín và về trung đội chúng tôi. Khi nghỉ giải lao, cậu ra sau một bụi cây gai bờ ruộng tiểu tiện. Bụi cây gai cách ruộng bên này xa, cậu phải đi một đoạn mới đến bên bụi gai. Nhưng vừa đến đấy, cậu liền đứng sững.


           


            Đột nhiên cậu nấp vào một bụi gai khác.


            Lại đột nhiên từ đó cậu chạy về, cậu chạy trong ruộng như một con hươu nhảy giữa cánh đồng. Cậu thở hổn hà hổn hển kéo tay tôi, lại chạy hơn 800 mét đến bụi gai đó. Tôi hỏi


            - Chuyện gì vậy?


- Có kịch xem hay lắm.


            Mặt cậu đỏ tưng bừng như ánh mặt trời sắp lặn. Để chạy nhanh hơn, cậu đã bỏ giầy ra cầm trong tay như cầm hai cái mô hình thuyền. Bởi vì cậu ngã nên một chiếc văng đi,  cậu liền vứt luôn cái cầm trong tay trên ruộng, lao người lên phía trước như ném chiếc giầy đi.


            Những người gieo hạt không biết đã xảy ra chuyện gì, đều chạy theo cậu, đuổi cậu như đuổi bắt kẻ trộm. Trong khi chạy, cậu đột nhiên đứng lại, hình như chợt nghĩ đến việc gi, cậu nhìn tôi hỏi:


- Tố giác một lần được thưởng về nhà một tháng phải không?


            Tôi gật đầu hỏi:


            - Có kẻ chạy trốn phải không?


            Cậu ta cười:


- Còn nặng hơn chạy trốn.


            Sau đó cậu quay đầu  thanh minh với mọi người.


            - Này, chuyện hôm nay em phát hiện ra, em tố giác đấy nhé! Mọi người không được ai tranh phần với em.


            Tuyên bố xong, cậu đưa tay ra hiệu, sau khi ai nấy yên tĩnh, cậu rón ra rón rén bước lên. Trời đã cuối hè đầu thu, cây du và cây hoè hoang dã có gai cùng những cây gai dại khác mọc chung quanh cây du dại và cây hoè gai, cứ từng khóm từng vồng, như những đám khói nhấp nhô giăng trên mặt đất, vốn màu đen nhưng vì héo rụng theo mùa, nên trong màu xanh đen dầy, có lá cây gai bắt đầu rụng, bụi gai rậm rạp đã thưa thoáng đi nhiều. Trong mùi sực nức của bãi hoang xanh lục, có mùi héo vàng rơi rụng mùa thu. Tán bụi cây gai cao ngang đầu một hai người, giống như đám người họp đứng chen chúc tại chỗ. Mọi người đều bước theo chân cậu nhân viên thực nghiệm, cậu nhanh, mọi người cũng nhanh, cậu chậm mọi người cũng chậm. Khi đến trước tán bụi gai kia, cậu từ từ dừng lại, giơ chân ra hiệu cho mọi người đều tụt giầy như mình. Ai nấy đều tháo giầy, cầm trong tay theo cậu, đi chân đất đến gần bụi gai.


            Đã đến sát.


            Người nào cũng lom khom chui từ bụi gai này đến bụi gai kia rộng bằng mấy gian nhà. Nhưng cuối cùng không thấy gì hết, chỉ có cỏ dại giữa các bụi gai bị người đè dẫm nát từng mảng.Còn có cả cỏ dại bị nhổ lên dải thành chiếu nằm bị thân người đè thành lốt. Còn lại là mùi hăng hắc của cây cỏ để lại giữa các khóm gai dại. Cậu nhân viên thực nghiệm đứng trước đệm cỏ, mặt tưng hửng và đầy vẻ nuối tiếc như người mất sổ gạo. Cậu đá vào tán cỏ chửi đổng:


             - Mẹ  kiếp!


            Tất cả giáo sư, thầy giáo và trí thức các kiểu các loại khác cũng chửi theo cậu:


- Mẹ kiếp!


            Ai cũng nhìn ra xa xa, chỉ thấy hai chiếc máy gieo hạt của trung đội hai và ba cùng đám người cải tạo đang gieo hạt trong nắng chiều tà, như hai đàn lừa hoặc bò quanh đi quẩn lại.


 


            5. “LỐI CŨ ”


 


            Cho đến lúc trời tối, nhân viên thực nghiệm vẫn còn thẫn thờ hối tiếc bởi không bắt được quả tang phạm nhân thông dâm đáng bắt trong bụi gai. Nét mặt cậu cứ xị ra như cái thớt. Mãi về sau cậu vẫn nhăn nhó, cúi đầu, hùng hục kéo dây chão máy gieo hạt về phía trước, khiến chiếc máy cứ lồng lên chỉ chực nhảy khỏi ruộng.


           


            Hôm sau, khi vẫn gieo hạt tại đó, chốc chốc cậu lại chạy đến bụi gai đi tiểu. Đến trước bụi gai, cậu lại rón ra rón rén, cẩn thận, nhút nhát nhìn sâu vào trong, hy vọng có thể tóm được màn kịch hôm qua nhìn thấy.


            Nhưng thường là cậu ta hớn hở hào hứng khi đi, song lại buồn thỉu buồn thiu khi về.


            Một giáo sư đứng tuổi hỏi cậu:


- Rút cuộc cậu đã nhìn thấy gì?


Cậu im lặng.


Vị giáo sư đứng tuổi sốt ruột nói:


- Cậu tưởng ta không biết hay sao? Chẳng phải đã có kẻ thông dâm trong đó.


            Cậu nhân viên thực nghiệm trợn mắt:


- Nhưng em là người phát hiện đầu tiên.


            - Cậu phát hiện ở đâu? Bắt thông dâm phải bắt quả tang, trai trên gái dưới, cậu có chứng cớ tố giác không?


            Vị giáo sư đứng tuổi cười gằn


            - Cậu phát hiện có kẻ thông dâm trong bụi gai, người bên cạnh cũng có thể phát hiện thông dâm trong bụi gai khác.


            Vừa nói,vị giáo sư vừa đi về những khóm gai phía đông, Ông đi đàng hoàng chững chạc, tự nhiên thoải mái, đi mấy bước, ông còn ngoái lại bảo:


             – Ta phải phát hiện tố giác, tết năm nay ta có thể về nhà đón xuân.


           


            Bỗng nhiên, người ta tản ra, đi đến những bụi gai chung quanh. Bỗng nhiên bỏ lại máy gieo hạt và bao hạt giống cho tôi, không còn ai kéo máy gieo giống nữa. Tất cả đều đi đến các bụi gai, khu đất trũng, mương rãnh ở một hướng nào đó. Trông dáng như giải tán đi đại tiện, tiểu tiện, kỳ thực đều là đi bắt kẻ thông dâm, hy vọng chỗ mình đến đang có một cặp trai gái cải tạo cởi quần áo nằm trên bãi cỏ, hoặc nấp tránh mọi người, ôm nhau trong bụi hoang. Lúc này, ông giáo sư đã đến kịp thời, đứng sững trước một đôi trai gái, ông ngạc nhiên quát to:


            - Trời ạ, chúng ta đến đây để cải tạo, mà các người lại dám trộm gà mò chó, trai ăn cắp gái làm đĩ thế này sao!


            Sau đó ông lệnh cho đôi nam nữ mặc quần áo tử tế, đi theo ông. Ông dẫn đôi trai gái sợ tái mét mặt, toàn thân run lẩy bẩy về nộp cho Con Trời.


            Ông đã lập công trước mặt Con Trời.


           


            Trước tết xuân mấy ngày, ông có thể được thưởng về nhà ăn tết, đoàn tụ với vợ con.


            Cứ thế người ta tản ra, đi đến bụi gai này, quay sang chỗ trũng kia, lại đến chung quanh ruộng ba trung đội khác gieo hạt tìm kiếm. Mà đã đi là đi suốt cả buổi, đến khi mặt trời đứng bóng, mọi người lại lục tục từ bốn phương tám hướng trở về. Sau khi gặp nhau, không ai hỏi ai rốt cuộc đã nhìn thấy gì, đã phát hiện gì. Mặt người nào cũng nở nụ cười tê tái, ngượng ngập và thất vọng.


            Một vị giáo sư không có chuyện gì cũng kiếm chuyện để hỏi:


- Đại tiện xong rồi chứ?


            Một giáo sư khác cười:


- Mình lâm râm đau bụng.


            Một người nữa nói với đám đông:


- Hôm nay uống hơi bị nhiều nước, cứ buồn đi tiểu tiện.


           


            Mọi người lại bắt đầu im lặng kéo chão gieo giống, không còn trêu đùa và lười nhác, không còn ngó ngó nghiêng nghiêng lơ đễnh nữa.


           


            Cứ thế đến ngày thứ sáu, cuối cùng không còn bắt được đôi thông dâm nào nữa. Nhưng hơn hai trăm mẫu ruộng chia cho chúng tôi phải trồng tiểu mạch đã sắp gieo xong nhanh hơn so với trung đội khác. Xong việc, nhưng người nào cũng mệt ra bã, nằm lăn ra đất. Về đến nhà là ngã vật lên giường. Tôi cũng thế. Bởi lái máy gieo hạt cứ lắc lên lắc xuống liên tục, rung đều xuống đều, hai cánh tay tôi tê dại thành hai thanh củi không thuộc về mình. Tôi véo vào thịt cánh tay như véo vào hai đoạn chân lợn tay chó không có tri giác. Giữa lúc đang đêm ngủ say như chết, thì cậu nhân viên thực nghiệm lay tôi dậy, ghé vào tai giục rối rít.


            - Nhanh lên, em phát hiện trung đội bốn có năm cô không về ngủ.


           


            Tôi ngớ người ngồi dậy, nhờ ánh trăng lọt vào cửa sổ, tôi xỏ giầy, kéo cậu ấy ra bên ngoài, đứng trong bóng cây trước cửa, nghe cậu ấy nói, lần nào trong bữa cơm, khi mọi phạm nhân đều từ ruộng về nhà ăn, cậu ấy liền quan sát trai nào gái nào ngồi ăn với nhau, hai bên thân thiết đến mức vượt quá người thường. Cậu ấy nói, ít nhất cậu đã nắm chắc mười đôi trai gái bữa nào không ngồi chung bàn, cũng ngồi xổm, còn trông thấy nam gắp thức ăn cho nữ, nữ bỏ vào bát nam màn thầu ăn không hết, hoặc tiếc không ăn. Cậu ấy nói để chứng thực quan hệ của mười đôi phạm nhân nam nữ thân thiết không bình thường, tối nay, sau khi ăn vội ăn vàng cơm tối, cậu nấp ở góc tường trước nhà tập thể nữ, quan sát xem cô nào không về nhà tập thể, hoặc có về nhà tập thể, nhưng lại đi ra.


            - Cả thẩy có năm người.


            Cậu ấy khẽ bảo tôi.


            - Bây giờ đã nửa đêm, tất cả hai mươi bảy phạm nhân nữ, nhưng chỉ có hai mươi hai ở trong nhà,


            Đêm đã khuya, tối om om như một giếng nước cạn. Ánh trăng trên đỉnh đầu trắng lạnh như đóng băng trên trời. Từ trong nhà tiếng ngáy vọng ra mệt mỏi, nhão nhoét như tương đổ trên đường đất ngày mưa. Tôi nhìn mặt cậu nhân viên thực nghiệm trong đêm, như nhìn bức tranh hình bóng lờ mờ vì chưa vẽ xong.


- Tại sao cậu không ra ngoài bắt?


            - Đang nửa đêm, một mình em bắt được họ, họ lại cãi phắt, không nhận thông dâm, mà vu cho em hãm hại thì sao. Anh cũng đi, anh sẽ làm chứng.


            Tôi suy nghĩ:


- Vậy sau khi chúng ta tố giác, thì coi là của ai?


            - Em nghĩ cả rồi.


            Cậu nói.


            - Bắt được một đôi coi là công của hai người, bắt hai đôi, anh và em mỗi người một nửa, bắt được ba đôi, công của chúng ta bốn sáu, anh bốn phần, em sáu phần, xét đến cùng không ai bỏ công sức bằng em.


           


            Cậu ấy công bằng, tôi hết do dự, chợt nghĩ liền cùng cậu ấy đi ra ngoài khu doanh trại. Đi qua cổng, thấy trong nhà ngủ của Con Trời vẫn sáng ánh đèn. Trong nhà có tiếng xoèn xoẹt như kéo cưa gỗ, hình như Con Trời đang làm gì trong nhà. Đương nhiên, chúng tôi không làm Ngài giật mình, chúng tôi nhón cao ngón chân, nhẹ nhàng đi qua cửa và dưới cửa sổ của Ngài.


           


            Dưới tường vây phía đông của khu doanh trại, hai chúng tôi đã nhìn thấy một đôi ngồi ở đó, rón rén bước đến, đột nhiên soi đèn vào, chúng tôi lại nhìn thấy hai phạm nhân trai khác của trung đội chúng tôi cũng đến đó rình bắt kẻ thông dâm. Chúng tôi đi về phía sau tường vây, lại nhìn thấy dưới tường có bóng người lay động, rê ánh đèn vào, lại nhìn thấy có một nam phạm nhân của trung đội ba phục trên bãi cỏ. Tôi hỏi làm gì thế? Anh ta đáp, nghe nói trong khu có gian tình, hy vọng  mình bắt được có thể lập công. Ba người chúng tôi cùng đi sang một cánh rừng trước mặt. Người vẫn chưa đến bìa rừng, đã có bốn ánh đèn pin cùng đồng thời chiếu đến. Trong ánh sáng, cả bốn cùng nói một lúc:


-  Tại sao lại là một đống nam phạm nhân.


           


            Trong đêm ấy, khi trăng lặn sao thưa, ai cũng thấy lành lạnh, cảm thấy trời sắp sáng nên quay về. Mọi người đi về khu với hai bàn tay không, mới phát hiện có tất cả sáu mươi mấy phạm nhân nam đi lùng bắt kẻ gian, chiếm già một nửa quân số khu chín trăm mười chín, cao tuổi nhất là sáu mươi hai, nhỏ tuổi nhất là hai mươi mấy. Họ đi thành một hàng dọc dài dãi dài dài, y như một con rồng trườn trên bãi hoang đêm.


                       


(còn tiếp)


Nguồn: Tứ thư. Tiểu thuyết của Diêm Liên Khoa. Vũ Công Hoan dịch.


Nhà văn Vũ Công Hoan gửi www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 10.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »