tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27809629
Tiểu thuyết
12.09.2012
Ngọc Giao
Cầu sương

TỰ BẠCH


Tôi, tuổi già, khó ngủ:


                                 Khuya tìm Liêu trai đọc


                                 Nghe gió vọng hồn ma


Thực vậy,tôi có thói quen ngồi dưới cây liễu vườn nhà, đọc Liêu trai những đêm khó ngủ. Ma, người đều không đến, càng thấm cái sầu đất trích của Tư mã Giang Châu. Chợt, một hôm lục tìm kho sách cũ, thấy rơi ra một tập sách đã nát bìa long gáy. Đó là cuốn “Cầu sương”, bìa trong còn mang tên “Thiếp phụ chàng” hay “Cây trúc đào quái dị”, in năm 1952. Tay nâng niu cuốn sách,lòng bâng khuâng nghĩ nhiều về tác phẩm này, trong đó đã chết rồi một gái hồng nhan, sống nửa người, nửa hồ ly ma chướng. Sách mới ra mắt độc giả Thủ đô chừng hơn tháng ,dư luận người đọc đã nói đến Hạnh, cô gái hồng nhan, cô gái “Liêu trai”. Rồi thì một hãng phim Hà Nội bắt tay vào chuyển nó thành phim bản; rạp hát Kim Phụng, của cố nghệ sỹ nhân dân Sỹ Tiến cũng chuyển nó thành cải lương Nam Bộ, danh ca đệ nhất Bắc Hà Bích Hợp thủ vai nàng Hạnh.


1954. Các gánh hát Bắc Việt chạy vào Nam.


Định luật ngàn đời: tất cả đều chìm vào quên lãng. Nàng Hạnh “Liêu trai” của tôi coi như đã khuất rồi. Tôi chợt nhớ đến nàng Hạnh của tôi, người đàn bà đẹp đã phụ chồng, được chồng cho sống một mình bên cạnh một ả nữ tỳ trong núi rừng Việt Bắc. Ả nữ tỳ ít khi hé miệng, những đêm trăng thường lẻn ra suối, mài lưỡi dao sắc lạnh chờ hại chủ,trong nhiều năm tháng bom đạn ngút trời.


Tôi đề nghị cho cuốn “Cầu sương” được hồi sinh. Cuốn sách được hạnh phúc nằm trong tay bạn đọc, tôi coi đó là một niềm vui cuối cùng, giữa lúc tuổi đời đã qua dài. Tôi nghĩ rằng những bạn đọc thân kính của tôi có thể từ những năm xưa đã đọc tôi, nay còn gặp lại, âu cũng là duyên văn tự. Cái anh chàng trẻ tuổi ngày nào lăn vào nghề cầm bút, 1929, chao ôi, gần trọn kiếp phù du, nay đã là một ông già đầu râu trắng bạc, vẫn chưa chịu bỏ nghề. Tôi tha thiết mong cuốn sách này là một kỷ vật, một “nhánh liễu Chương đài”, với tấm lòng kính luyến tôi trao dâng bạn đọc, coi như một chén quan hà nơi trường đình đoạn chót, để rồi vĩnh viễn chia tay như kinh Phật dậy :”Ta từ cõi không mà đến, lại tìm nơi cảnh ảo mà về”.


Tôi còn muốn cùng các bạn hàn huyên, nhưng tuổi thừa, sức thiếu, choáng mệt rồi. Tôi xin nghiêng mái tóc bạc – thân yêu, rất thân yêu – Kính chào bạn đọc cố hữu của tôi.


 


                                                               NGỌC GIAO


                                                     Tháng nóng Hà Nội, 1993.


 


I.                     Khai từ


Câu chuyện trúc đào


Tòa nhà kiến trúc lối biệt thự ở khu bắc thủ đô Hà Nội, đứng âm thầm giữa khoảnh vườn có cây cổ thụ, các loài dây leo, vẩy ốc bám chằng chịt khiến nó càng thêm u tịch. Tường mốc sân rêu, những cánh cửa sổ trên lầu cao màu sơn đã úa, ít khi được mở. Khách qua đường, có kẻ thì thào bảo rằng đó chính nhà ma. Sớm chiều, tuy vậy, nếu ai lưu ý sẽ thấy một thiếu phụ dáng thon vóc hạc, tóc dài da trắng, quanh năm vận đồ đen, thấp thoáng trên bao lơn tầng gác cao chót vót lơ đãng nhìn ra mặt nước Hồ Tây, nhất là nhìn xuống rặng cây trúc đào nở hoa như rỏ máu bên chuồng chim câu trắng.


Một buổi xế chiều mùa hạ. Thiếu phụ áo đen từ phòng ngủ ở lầu cao, uể oải xuống phòng khách dưới nhà vì nàng vừa nhận được tấm danh thiếp lạ.


Chủ nhân chưa xuống hết cầu thang, khách ngồi trong phòng và đang ngắm lối bài trí cực kỳ mỹ lệ.


HẠNH. - Chủ nhân biệt thự, trẻ, đẹp một vẻ kiêu sa.


TRÂM. - Khách, hơn tuổi Hạnh một chút, đẹp một vẻ kín đáo và nhuần nhị.


HẠNH. dáng đang mệt mỏi, thấy khách vội đổi nét mặt tươi vui, niềm nở: Kìa, khách vào nhà chậm đón, xin bà chị tha lỗi nhé. Mời bà ngồi.


Hai người ngồi xuống ghế.


TRÂM. nhìn quanh, chậm rãi. - Tôi vẫn định đến thăm ông bà mà cứ đau yếu mãi, nhức đầu luôn thôi. Ông bà mới dọn đến đây.


HẠNH. - Vâng, sao bà biết chúng tôi mới đến đây. Ở phố này vắng vẻ, như người ở ẩn, chưa bạn bè nào biết cả. Thế mà bà chị đã biết rồi…


TRÂM. lơ đãng. - Thưa bà, nhà tôi bảo tôi mới rõ…


HẠNH. chau mày … Ông nhà ta?...


TRÂM. Vẫn nhìn quanh để nhớ lại. - Mà sao ông bà lại mua tòa nhà này nhỉ? Ồ, cũng lạ!


HẠNH. - Đó là ý nhà tôi.


TRÂM. Giọng bùi ngùi. - Cái nhà này, phải, tôi còn nhớ lắm, trước đây mười lăm năm, đã có một lịch sử khá gọi là ghê gớm…


HẠNH. (kinh ngạc) - Thưa bà, một lịch sử ghê gớm? Cái gì thế ạ?


TRÂM. ngắm nhìn lên gác. - Nếu tôi nhớ không nhầm thì một gian buồng ở tầng gác thứ hai bị phá mà chưa ai chữa lại, phải không bà?


HẠNH. - Vâng, có lẽ hồi Nhật đóng quân ở đây, nhà bị bom đạn trúng phải chăng.


TRÂM. lim dim mắt. - Tôi lại nhớ, ở một phòng gác thứ ba, trên tường có ba vết bàn tay máu. Ngày nay, nếu chửa quét vôi thì vết tích bi thảm đó vẫn chưa nhòa.


HẠNH. hoảng sợ. - Trời ơi, một vụ ám sát thưa bà?.


TRÂM. càng lơ đãng. - Hơn thế nữa kia, một vụ tự sát! (cúi xuống, giọng xa xôi). Mà tự sát bao giờ cũng đáng sợ hơn ám sát.


(Trầm ngâm, khẽ thở dài). Ờ.., ờ… người ta yêu nhau… Người ta không lấy được nhau… đến nỗi rằng người con gái mài dao, một sớm… (Bỗng ngẩng lên, tỉnh táo). A này! Bà Hạnh nhỉ, rặng trúc đào ở góc vườn, giáp tường hoa bên phải ấy, bây giờ lên tốt lắm phải không?


HẠNH. Kinh ngạc, lẩm bẩm như nói một mình. Rặng trúc đào ở góc vườn bên phải! Rặng trúc đào, (nhìn vào khách). Vâng, rặng trúc đào lớn lắm, hoa nở đẹp vô cùng. Nhưng thưa bà làm sao ạ?


TRÂM. Vọng về dĩ vãng… Ngày ấy… Người con gái mài dao một sớm mùa xuân. Người con gái đã quyên sinh, xác nằm dưới gốc trúc đào, máu oan nghiệt đã thấm vào gốc rễ để bây giờ dâng lên cành lá cho hoa nở thắm cả góc vườn biệt thự này.


HẠNH. sợ hãi. - Thảo nào cứ tối đến nhìn xuống rặng trúc đào, tôi lại thấy một cảm giác gì như kinh hãi. Thế mà, nhà tôi…


TRÂM. nhìn thẳng vào Hạnh, cười cay đắng - Ông nhà ta hay đứng bên rặng cây ấy chứ gì, mà ông đứng hàng giờ, ông Cung đứng rất lâu, những đêm khuya vắng.


HẠNH. - Chính thế. Có những đêm nhà tôi lên phòng thí nghiệm, vâng, chính ở tầng gác thứ ba, trên tường vẫn còn in vết máu. Có lúc nhà tôi đứng nhìn mãi vào những vết tích ghê rợn ấy, không nhúc nhích, như người bị thôi miên. Có lúc nhà tôi ra cửa sổ nhìn xuống rặng trúc đào, chẳng nói năng gì. Tôi lấy làm lạ, hỏi thì nhà tôi có nói qua về một câu chuyện tình duyên trắc trở đã xẩy ra tại nhà này, nhưng tôi cũng cứ cho là câu chuyện mươi năm cũ, nên rồi chẳng lưu ý nữa.


TRÂM. (cười chua xót) - Bởi vì đó chỉ là một sự thường như khi người ta ngắm cây cảnh vườn hoa!


HẠNH. - Thế rồi sao nữa? Người con gái thất tình, đã quyên sinh. Thưa bà, thế là thế nào. Ô hay, câu chuyện quái dị đó đã xảy ra ở đây, chính ở cái nhà âm u, lặng lẽ này, thật thê thảm quá. Bà Trâm, hôm đầu tiên, nhà tôi dẫn tôi đến xem tòa nhà này trước khi mua, tôi đã thấy rợn cả người, không muốn ở. Vì, đấy bà xem…


TRÂM. - Vâng, tôi biết cả, tôi biết từ lâu lắm…


HẠNH. - Nhà có tám chín buồng, mà buồng nào cũng lạnh như nhà tu kín. Ngoài vườn cây cối um tùm, phố gần đấy có cái giáo đường không lúc nào thấy một bóng người; đằng sau nhà, chiều chiều đứng trên sân thượng trông thấy cả Hồ Tây, cảnh buồn chết cả ruột đi thế này.


TRÂM. - Nhưng ông nhà ta ưa cái nhà này lắm. Tôi đoán vậy.


HẠNH. - Bà đoán vậy, tại sao?


TRÂM. - Vì tính ông điềm đạm, ưa tĩnh mịch. Ở đây, có khác nào đi nghỉ mát miền sơn cước, chỉ thiếu có tiếng suối reo vượn hót nữa mà thôi.


HẠNH. - A kìa, tôi đang định xin bà cho biết rõ hơn về rặng cây trúc đào, về vết máu trên tường và người con gái quyên sinh, thế mà lạc chuyện suýt quên mất.


TRÂM. cười - Nói chơi đấy mà, có quái gì quan trọng đâu. Vâng ở đời có chuyện gì là quan trọng, kể cả cái tình nghĩa vợ chồng, vĩnh viễn nhất mà cũng là mong manh nhất. (Bỗng ôm trán) Ô, từ chỗ xe điện đỗ đi đến nhà ta đây có mấy bước cũng nhức cả đầu. (Nhìn ra cửa sổ) Hôm nay, coi chừng muốn nổi cơn giông. Cứ thay đổi tiết trời một tí là ốm đau ngay.


HẠNH. - Bà nhức đầu, nhà sẵn thuốc, để tôi đi lấy (đứng lên).


TRÂM. (xua tay) - Không sao. Nhức qua một tí, can gì mà uống thuốc, phiền bà quá. Bà ngồi xuống cho, tôi sắp xin phép bà về đây.


HẠNH. - Thuốc ở ngay phòng bên, có gì là phiền, bà dạy quá.


Hạnh sang phòng bên.


TRÂM. nhìn chung quanh, mặt hiện nét đau khổ vì một chuyện xa xôi, giọng nhỏ yếu - Cái nhà quái đản này! Sao hôn nay mình lại vào đây nữa! Ngày xưa, hơn mươi năm qua rồi, mình đã đứng ở gian phòng này bấy giờ ở trên gác cao kia có ba vết bàn tay máu, rặng trúc đào đang rụng lá vì dưới đó chôn di vật của khối tình oan nghiệt… Tám chín năm nay! Rặng trúc đào kia vẫn xanh lá đỏ hoa, như là bao nhiêu cuộc đời chưa tắt, như là bao nhiêu cuộc tình duyên chưa chết. Nhưng em Đào..., em Đào của tôi… đã là ma, con ma oan khuất ở nhà này. (gục mặt vào thành ghế, khẽ nấc lên).


HẠNH. ra, cầm thuốc và cốc nước lọc đứng sững nhìn khách lắc đầu ái ngại - Khổ chưa, bà nhức đầu đến thế mà cứ không chịu dùng viên thuốc.


TRÂM. vội ngẩng lên, mắt còn ngấn lệ - Phiền bà quá. Cái bệnh nhức đầu làm tôi thành hư nết, cứ đến cơn đau là tự nhiên nước mắt ứa ra.


HẠNH. (đưa thuốc) - Mời bà uống đi. Tôi cũng hay đau ốm, quen dùng thuốc này tốt lắm.


Trâm uống thuốc.


HẠNH. - Bà không đi xe hơi nhà lại đi tàu điện, lên xuống mệt.


TRÂM. ngừng uống, vẫn cầm cốc nước lọc trên tay - Xe hơi, nhà tôi dùng (thở dài). Ông ấy đi suốt ngày. Có khi đang giờ làm việc, tùy phái cũng hớt hải đến nhà tìm. Thế mà về lại kêu ầm lên là làm việc nhiều mệt quá. Thì ra mãi rồi tôi mới biết, bà Hạnh ạ, ông ấy mệt vì sáng rượu, trưa tiệc, chiều thể thao, tối cô đầu, đêm khiêu vũ. Tệ quá, có mấy khi ông ấy ăn nhà, ngủ nhà đâu. Nhưng cũng chả trách làm gì, đàn ông họ có địa vị cao phải có bạn bè nhiều, giao du rộng, có phải thế không bà Đốc?


HẠNH. cúi xuống cố ý tránh cái nhìn của khách - Vâng chính thế đấy ạ.


TRÂM. - Hồi mười một giờ sáng hôm nay, tùy phái cũng rối rít đến nhà mời đến văn phòng, hình như có việc gì quan trọng lắm. Chẳng biết ông ấy ngồi nằm ở đâu, cho đến mãi hai giờ cũng chẳng thấy về cơm nước. Có hỏi, ông ấy kêu ồn lên là lắm việc, thế rồi mình không cần hỏi nữa, lâu mãi cũng thành một thói quen; chẳng ai buồn can thiệp đến đời sống của ai. (cười nhạt) Tôi nghĩ như thế càng hay bà Hạnh ạ. Đàn ông, họ càng được rộng chân càng yêu quý vợ. Ấy là tôi nói hạng đàn ông có lương tâm như ông Đốc nhà ta chẳng hạn. Có phải thế không bà?


HẠNH. ngượng nghịu - Vâng, nhưng mà…


TRÂM. - Ông Đốc nhà ta chẳng bao giờ thiết ngủ một đêm ngoài cái giường thân thiết của gia đình, chẳng bao giờ để khuyết bát đũa của mình trên bàn ăn cạnh bà vợ đẹp mà ông nâng niu chiều quí, cũng chẳng bao giờ ông đi rong phố như người ta để chọn những chiếc khuy, cho đến chiếc mùi soa, bít tất. So sánh với ông Đốc thì nhà tôi thật là hư nết, thật là đoảng vị.


HẠNH. cố bình tĩnh - Tôi tưởng ông Chánh nhà không quá đáng như bà nói.


TRÂM. cười dò xét - Thế nghĩa là giá có ông ấy ngồi đây thì ông ấy cải chính đến kỳ cùng với chị em mình. Mà bà chị có ý bênh vực như thế, hẳn ông ấy càng lên nước lắm.


HẠNH. đỏ mặt - Tôi không bênh vực thì ông Chánh cũng có quyền cải chính. Tôi thường nghe người ta ca tụng ông nhà ta rất nhiều về cái đức tính vui vẻ, nhã nhặn, lịch thiệp, dễ tính và… rất mực phong lưu.


TRÂM. cười - Rất mực phong lưu! Danh từ hay quá nhỉ! Ấy chỉ vì thế, chính vì thế mà người ta ca tụng, thực ra người ta chế riễu mà thôi.


HẠNH. - Tôi tưởng người ta cố ý hiểu nhầm ông nhà, hoặc vì ghen tị với địa vị ông, hoặc vì…


TRÂM. thở dài - Không đâu! Tôi hiểu nhà tôi lắm. Ngót hai mươi năm nay rồi làm chi mà không hiểu lòng chồng. (Ngừng một lát, giơ cốc nước lọc lên, vừa nhấp một chút vừa nhìn như soi lòng cốc). Vâng thưa bà, làm gì mà tôi chẳng hiểu lòng chồng. Ăn ở với nhau là do thói quen, do quy ước, và lẽ cố nhiên là do một dàn năm sáu đứa con (Nhìn thẳng vào mặt Hạnh) À, có lẽ bà chưa gặp nhà tôi đấy nhỉ. Buổi chiều hôm ấy, chúng mình, do một bà bạn giới thiệu, biết nhau ở nhà Thủy Tạ. Hình như nhà tôi chạy đi bàn khác, rồi… rồi…


HẠNH. luống cuống - Dạ, hình như sau đó, một lúc ông nhà ta lại quay về ngồi với chúng mình…


TRÂM. - … Rồi thì thôi đấy nhỉ, có lẽ nhà tôi không có dịp nào gặp bà chị nữa, tôi chắc vậy. Gớm chết, cái tính người! Dễ quen bất cứ ai, mà cũng dễ quên lắm đấy! Người ta chê trách ông ấy là vô tình, tôi thì… tôi cho nhà tôi vô tâm. Vâng, thực là vô tâm, thích đùa nghịch với cuộc đời như là thích đùa rỡn với trường đua ngựa, với một cuộc thể thao, một canh bạc sa lông, hay là… ồ, cái tính nhà tôi, phóng phiếm quá lắm kia, bà Hạnh ạ.


HẠNH. ngồi bẻ ngón tay, tỏ vẻ băn khoăn, khổ sở. Từ nẫy, Hạnh vẫn lảng tránh cặp mắt Trâm nhìn nàng như soi mói, như chế riễu - Tôi cho rằng người có dòng máu cao quí, có tư tưởng rộng rãi trong cuộc đời mới mẻ ngày nay đều tự do, phóng khoáng; như vậy, càng được người ta yêu quý chứ sao.


TRÂM. - Đó cũng là một điều nhận xét, một ý kiến hay (nhìn Hạnh, cười héo hắt) mà bà bạn có nhã ý ban cho đức ông chồng phóng đãng của tôi. (Nhìn ra đường, lắng nghe) Đấy, hình như xe điện đã lên rồi (đứng dậy) xin bà cho phép tôi về nghỉ.


HẠNH. - Bà hãy ngồi chơi đã, câu chuyện đang nói dở…


TRÂM. - Vâng, câu chuyện đang vui. Nhưng xin bà cho tôi về. Nhà tôi lạ lắm kia, có khi đi cả ngày đêm, lại có khi đang giờ làm việc cũng về tắm gội và ngủ bù đêm trắng. Thật là thất thường, chẳng biết thế nào mà đoán. Ấy tôi đến đây mà cũng phải viết mấy chữ để ở nhà cho nhà tôi biết.


HẠNH. - Bà chị thực là người hiền phụ ai mà theo kịp. Xin bà để cho người nhà ra gọi xe.


TRÂM. - Phố này vắng lắm, chờ gọi được chiếc xe mất cả ngày giờ.


HẠNH. - Chính vì thế mà từ hôm dọn đến phố này, tôi chẳng muốn đi chơi đâu cả.


TRÂM. cười nhạt - Cảnh ông bà Đốc cứ như tổ chim yến thế này, chẳng muốn đi đâu là phải. Ông Đốc đi làm đúng giờ, ăn đúng buổi, ngủ đúng giấc, lại nâng hẫng bà chị như ngọc như hoa, còn tìm thấy cái hoan lạc ở đâu hơn nữa. Duy có cảnh chúng tôi thì… (ngoảnh ra cửa) Đấy, tàu điện lên rồi, xin bà tôi đi kẻo nhỡ. (ra cửa).


HẠNH. theo ra, nói với - À, bà Chánh!


TRÂM. dừng lại - Bà dạy điều gì nữa ạ.


HẠNH. Ngập ngừng - Hôm nào rỗi, mời bà quá bộ đến chơi. Còn câu chuyện ấy, tôi chưa được rõ…


TRÂM. (làm bộ ngơ ngác) - Câu chuyện gì bà nhỉ? Cứ khi nào nổi bệnh nhức đầu là tôi lại sinh ra đãng trí.


HẠNH. - Câu chuyện… câu chuyện họ yêu nhau, không lấy được nhau… rồi thì rặng trúc đào, vết bàn tay máu ấy mà!


TRÂM. (chau mày, ủ dột, khẽ đáp) - Vâng, xin hẹn một ngày nào tiện dịp, tôi sẽ thuật kỹ câu chuyện thê thảm đó bà nghe. Bây giờ thì xin phép, tôi về.


Ngoài đường, gió lại bốc lên, đập mạnh vào cánh cửa, thổi bay tà áo hai người đàn bà.


TRÂM. lảo đảo lùi vào bên trong cánh cửa. A! Khí nóng u uất mãi, bây giờ mới nổi cơn giông.


HẠNH. - Gió thổi dữ quá. Nửa đường đổ mưa, giây điện rơi xuống thì nguy lắm. Bà hãy vào ngồi chơi đã.


TRÂM. một tay đẩy cánh cửa ra, gió thốc ùa vào rất mạnh, bay tung tà áo mỏng - Mưa gió càng mát mặt. Đã lâu oi nồng khó thở, chịu không nổi nữa, bây giờ đi ngoài gió mưa một chốc càng hay. Lạy bà, tôi về.


Khi đó, bóng tối theo mưa gió hắt vào căn phòng vắng lặng.


Hạnh ra cửa sổ, nhìn theo người đàn bà đi trong giông bão. Gió mưa càng thổi lộng mãi vào mặt Hạnh. Nàng mệt mỏi, cố đứng tựa đầu vào cửa kính, nhìn lá rụng mưa rơi.


Chuông nhà thờ cửa Bắc đổ hồi rộn rã.


Hạnh ôm mặt khóc nấc lên.


Vàng bay mấy lá năm hồ hết


Hờ hững ai xui thiếp phụ chàng.


Tản Đà


II. Truyện


I- Nắng ngút cháy trên con sông rộng chảy xuyên rừng Việt Bắc. Nắng tháng Tám rám da bồng, và rám cả gương mặt héo hon của người đàn bà từ nãy ngồi trong quán nước trên bến vắng ngắm nhìn đàn cò qua sông.


Đàn cò đã sang sông. Ở bên kia rừng gồi đang tỏa lên làn khói cỏ cằn ai đốt.


Hạnh cúi đầu, soi bóng mắt trong lòng bát nước chè tươi sánh màu vàng. Gió rừng gồi bên kia nẻo giang đầu đưa tới chỉ đủ làm rung mấy sợi tóc rủ xuống cặp má.


- Mình ơi, mãi chẳng thấy đò sang nhỉ.


Hạnh chớp chớp, mắt nàng bị chói bởi ánh nắng vàng đang theo đợt sóng giạt vào bờ. Ánh vàng lấp loáng trên tóc và đọng trên nếp áo lụa thiên thanh. Hạnh thốt rùng mình nghĩ đến nghiệp duyên oan trái, nàng ngước nhìn người yêu ngồi sát cạnh.


Con đò đầy hành khách đang lượn theo xoáy nước trườn mình trên sóng mạnh, chậm chạp tiến vào bờ. Hạnh trả tiền quà bánh, giục Hải xuống đò. Bà hàng cười bảo:


- Ông bà chả vội. Lúc lâu nữa mới lại có chuyến sang. Bến này vắng khách, lái họ chả cần, trừ phi có quân đội qua sông họ mới răm rắp vâng dạ chở ngay, còn không thì cứ chờ đợi chán.


Từ nãy, Hải vẫn ngồi lặng lẽ, trầm ngâm với vị thơm ngon của mẩu thuốc lá Phi-líp vô cùng quý giá mà chức vụ và địa vị hắn đã cho phép hắn nghênh ngang tận hưởng. Hút xong điếu thuốc, hắn đứng lên bảo Hạnh:


- Nào, xin mời bà xuống đò cho.


Hạnh đứng theo lên, vuốt vạt áo nhầu:


- Người ta đã chở đâu mà xuống.


Hải nghiêm mặt vỗ vào con dao găm đeo kềnh kễnh bên lưng, rồi nắm cánh tay tình nhân bước xuống những bậc đá thoai thoải dốc. Thấy Hải có bộ mặt hiên ngang, râu Mỹ, quần áo ka ki Mỹ, vóc người cao lớn, đeo dao găm oai phong như một vị chỉ huy, lại đi với người đàn bà sang đẹp, anh lái vội bỏ điếu cày, nhảy xuống đò, đẩy mạnh sào.


Nắng ngả sang chiều, dịu màu vàng điệp trong sóng nước. Rừng gồi, dọc theo nẻo giang thôn quạnh vắng, rung rinh trong ánh hoàng hôn. Đàn cò đang sải cánh về rừng.


Hạnh và hắn sang bờ, nắm tay đi sát vào nhau. Mặt trời đã chìm khuất cuối sông. Sao Hôm mọc trên ngọn núi lóng lánh như hạt châu từ bãi cát sông Ngân rơi rớt xuống. Khí núi tiết ra và hơi sương thu theo gió hun hút thổi se lạnh da mặt đôi tình nhân. Bước chân người đàn bà động rất nhẹ trên con đường nhỏ ẩm sương. Đôi lúc tiếng ho của Hạnh khẽ vang trong cái đìu hiu của núi rừng.


- Mình ơi, em sợ lắm.


Nàng phều phào thở, càng níu chặt cánh tay người tình, hồi hộp lắng nghe cả tiếng chân mình dẫm lên cỏ khô xào xạc.


- Mình! Đi bên anh, mình còn sợ nỗi gì. Chỉ còn chặng nữa ta sẽ nằm trong cánh tay nhau. Hạnh ơi, tại sao chúng mình cứ khổ vì nhau mãi thế này!


Nghe nói, nàng càng nắm chặt cánh tay người yêu và ngước mắt nhìn lên. Trước mặt nàng, sừng sững ngọn núi Đèo cao ngất. Trên sườn núi, ngôi đền mái sụt tường nghiêng, đứng trơ vơ dưới vòm cây ẩn hiện trong sương như con quỷ rừng rũ tóc, sắp vươn tay bóp cổ khách qua đường.


Hạnh ghê sởn cả người. Hắn khẽ nói bên tai nàng.


- Có vì nhau qua rừng vượt núi thế này mới nhớ lại những lúc ở thủ đô cũng vì nhau mà hai ta phải lén lút tìm trăm phương để gần nhau chốc lát.


Hắn lại mỉm cười, ghé bên tai nàng:


- “Muốn tắm mát lên ngọn con sông đào. Muốn ăn sim chín hãy vào rừng xanh”. Đêm nay chúng ta vào rừng để cùng ăn sim chín, có nguy hiểm gian lao đôi chút, cũng chẳng nên phàn nàn, phải không mình?


Nàng chỉ mỉm cười không đáp.


Ngôi đền ghê rợn đã khuất xa, và ở bên kia núi Đèo chót vót có ánh đèn nhà ai le lói trong sương đêm.


Hai người đã tới con đường dốc nhỏ đưa xuống một vùng thung lũng. Ánh lửa rải rác, chỗ này chỗ khác tỏ ra đây là một làng sơn cước có sự sinh hoạt của người dân. Hạnh đỡ hồi hộp lo âu, dừng chân lại nghỉ, ngắm những vệt lửa chập chờn trong thung lũng để nghĩ đến những mái nhà sàn, những đàn gia súc, những cô sơn nữ xinh xắn và khỏe mạnh. Khi đó, vành trăng đột ngột từ đỉnh núi nhô lên, lơ lửng trong hơi sương nhợt nhạt như gương mặt một người vừa thoáng hiện trong giấc mộng. Nàng ngây ngất trước cảnh đẹp dị thường, tưởng chừng đã được ngắm ở đâu cái cảnh trăng sáng trong sương.


Trăng càng lên cao, càng bồng bềnh bơi trong sương gió, nàng thốt reo lên:


- Đẹp quá, anh có thấy thế không?


Người tình không đáp, xiết chặt nàng vào đôi cánh tay và cúi xuống. Ngực nàng rướn lên, cặp môi hé mở như cánh hoa chờ uống ánh trăng ngàn. Bàn tay nàng mải mê nắn cái vai chắc khỏe của bạn tình rồi đưa lên vuốt tóc chàng. Bàn tay thon mềm, nõn nuột, lồng vào tóc kẻ được yêu, lẳng lơ như con bướm trắng rỡn đùa cùng trăng gió. Hai người nới khỏi tay nhau, đi xuống con đường nhỏ gập ghềnh đá núi. Ở phía xa xa bỗng có tia đèn sáng di chuyển khá nhanh. Nàng nói:


- Mình trông kỹ xem, hình như có người phóng xe đạp bấm đèn “pin” đi tới. Có nên tránh đi không?


Hắn đáp hơi gắt gỏng:


- Mình nhút nhát thế thì sống làm sao được. Tại sao phải tránh hết mọi người?


“Tại sao? Tại chúng mình có tội!” Hạnh toan đáp vậy, nhưng lại không dám nói. Nàng vẫn bước bên người yêu, mắt vẫn đăm đăm theo tia sáng biếc chập chờn lúc tỏ lúc mờ mỗi lúc một khuất chìm vào lòng thung lũng.


Đến một dòng suối nhỏ, hắn chẳng nói năng gì, bế xốc nàng lên tay, lội băng băng sang bờ bên kia, cười bảo:


- Đến nơi rồi. Thiên đường của hai ta đó. Mình trông xem, có trời tìm thấy chúng mình.


Nàng ngẩng lên thấy chiếc nhà sàn ở giữa, hai bên mấy lớp nhà ngang vây kín. Mặc bạn tình ngơ ngẩn, Hải gõ bốn tiếng vào thân cây vầu bên cổng. Kế đó, một người đàn ông soi đèn ra mở cửa. Nom hắn chẳng khác con đười ươi thường thấy trong màn ảnh, nàng bất giác lùi lại.


- Mình đừng sợ. Nó là thủ túc của anh, vào sinh ra tử đã nhiều phen rồi đấy. Nhờ trời, nó vừa câm vừa ngố, chúng ta sẽ tha hồ nói chuyện.


Hắn đỡ cánh tay nàng bước lên sàn nứa. Một chiếc màn trắng nõn đã mắc sẵn ở góc nhà. Giữa sàn, trên lá chiếu hoa in khay đèn thuốc phiện đã chờ đón chủ. Hải cởi sơ mi, tháo giầy, nằm ngay xuống chiếu, sửa qua ngọn lửa đèn dầu lạc, rồi dúng que diêm vào chén thuốc phiện đầy. Hắn làm công việc đó một cách tự nhiên, khẩn cấp như một người nghiện đã đến lúc toát dương, cần phải hút.


Hạnh kinh ngạc không ngờ hắn bê tha đến thế, và coi thường mình như vậy. Nàng vẫn tưởng người đàn ông dù chơi bời bừa bãi đến đâu cũng không nỡ để vợ hay tình nhân biết mình đã nghiện và có ảnh người đàn bà khác trong túi áo. Lúc này, tất cả những lời tố cáo của Trâm lại vẳng bên tai Hạnh, khiến nàng hối tiếc và ngao ngán. “Ngót hai mươi năm nay rồi, làm gì không hiểu lòng chồng”. Đó là tiếng thở dài đau xót của Trâm giữa “câu chuyện trúc đào” ở Hà Nội, một buổi chiều giông bão. Chao ôi, tòa nhà ma quái… Tiếng chuông nhà thờ Cửa Bắc… Người đàn bà dối lừa chồng để ngoại tình… Cơn ghen của người vợ nửa đời đau khổ nức nở trôi vào mưa gió, chiều hôm ấy… Thế rồi thì những kẻ tội lỗi vẫn phạm tội lỗi… Cho đến ngày thủ đô khói lửa, người đàn ông phụ vợ, người thiếu phụ gạt chồng lại như hai cánh lá trôi giạt theo sóng phù sa mà vượt lên miền núi rừng này để cùng nhắm mắt thắt chặt thêm giây oan nghiệt…


- Kìa, mình cởi áo dài ra. Góc bên phải có buồng tắm đó. Tắm ngay trên sàn nứa, mà lại có ống tre bương dẫn nước suối từ sườn núi vào trong vại. Mình tắm đi sẽ biết cái thú của dân sơn cước ở nhà sàn. Trong buồng tắm có sẵn bộ quần áo ngủ, cả ki-mô-nô nữa đấy. Tắm rồi chúng mình sẽ ăn bữa cơm rừng, thức một đêm rừng, yêu một mối tình rừng…


Hải hút xong điếu thuốc buông dọc tẩu, nhỏm nửa người lên, giơ tay kéo nàng ngồi xuống cạnh:


- Hạnh của anh!


Nàng nghiêng đầu, xòe ngón tay che kín má, nàng cố tránh cặp môi và đôi mắt đa tình của hắn. Đã hơn một năm tội lỗi, lòng Hạnh bốc cháy trong đôi mắt, cặp môi kia. Nàng vùng đứng dậy, chạy ra cầu thang. Hải ngó theo cười khanh khách, rồi sầm mặt, nằm xuống tiêm thuốc hút như thường. Phẫn uất, nàng bước hết mấy bực thang tre, rồi mệt mỏi, ngồi xuống tảng đá bên chum nước suối sẵn cho khách rửa chân sạch sẽ để lên sàn.


II


Hơi sương loãng dần trong ánh trăng. Hạnh ngồi lắng nghe cái tịch mịch triền miên muôn kiếp của lâm tuyền, càng thêm bỡ ngỡ tại sao mình lại lạc lõng đến nơi này “Vì Hải! trời ơi, Hải!”.


Lần đầu, nàng thấy rùng mình khi thốt gọi cái tên ân tình đó. Ngót hai năm yêu Hải đến si cuồng, Hạnh đã giẫm lên lễ giáo, gạt nghĩa tao khang, coi thường dư luận chỉ vì hắn.


Tòa biệt thự sân rêu tường mốc, cây cối um tùm mà Hạnh coi là quái đản bên giáo đường Cửa Bắc đã bao nhiêu tháng ngày bầu bạn với nàng. “Thực là địa ngục”, Hạnh ghê sợ tòa nhà ma quỉ đó, đã kêu gào, đã quằn quại nhưng rồi cũng cam chịu, mệt mỏi sống giữa cảnh giầu sang và sự nâng niu trìu mến của chồng.


Cung yêu Hạnh, chiều chuộng nàng đến nỗi bạn hữu nàng phải ghen thèm. Nàng đã đòi chồng mua xe hơi để sau ba tháng lại bắt bán đi, lỗ bao nhiêu cũng được. Nàng đã ngỏ ý đòi chồng mua cỗ bài mạt chược về giải trí với dăm ba bà bạn nhưng rồi lại kêu đánh bài lắm nhức đầu, không thích nữa. Cung sẵn lòng coi ý muốn của vợ là biểu hiện của tình, và thâm tâm anh nghĩ rằng những sở thích đó dù sao chỉ là thú chơi của một người đàn bà nhan sắc. Cho nên, trước dáng điệu kiêu căng, nũng nịu, oán hờn của nàng, người chồng đúng mực gần như khô khan kia chỉ mỉm cười khi nghĩ tới câu nói nịnh đầm của một văn sĩ Pháp: “Ý muốn của người đàn bà đẹp còn mạnh hơn bão Thái Sơn và sóng trùng dương”.


- “Ồ, có lạ gì, những ý muốn bình thường, bồng bột ấy. Chiều nhau một chút cho xong”.


Anh hết lòng nuông Hạnh. Duy có một điều anh cương quyết trái ý vợ yêu. Ấy là đã nhiều lần Hạnh căn vặn hỏi tại sao anh cố tìm cách mua kỳ được tòa nhà ma quái đó, anh đều im lặng; đã nhiều lần nàng xin anh bán nhà ấy mua nhà khác, anh chỉ lắc đầu; đã nhiều lần nàng hỏi tại sao anh có những giờ đứng một mình trên tầng gác thứ ba, nhìn xuống rặng trúc đào dưới vườn và tê tái trước mấy vệt máu trên tường mà anh đã hạ lệnh không cho gia nhân được quét vôi che lấp đi di tích bi thảm đó, anh chỉ thở dài, vẻ mặt càng bí mật, đăm chiêu.


Thái độ đấy khiến Hạnh hồi mới lấy nhau khó chịu tức tối, cho anh là gàn dở. “Cái lão đốc Cung chuyên môn khảo sát vi trùng ấy, ai mà chịu được. Hắn thích vi trùng hơn thích cô vợ đẹp như tiên. Hắn nhìn ngắm vợ, ai không biết tưởng rằng âu yếm lắm, nhưng hắn đang giương kính để nghiên cứu vi trùng vừa đọng vào đôi môi của vợ hắn mà thôi”. Hạnh đã khổ sở vì những lời chế riễu, mỉa mai của bạn. Và từ ấy, Hạnh bắt đầu nhận thấy lòng yêu chồng đã giảm nhiều.


Vừa đúng lúc, Hải bước vào cuộc đời nàng. Dáng điệu phong lưu, thân hình tráng kiện cân đối của người đàn ông dẫu tuổi đã bốn mươi mà trai tráng không ăn đứt ấy đã được nàng lưu ý ngay tự buổi đầu gặp gỡ.


Hải quen đỏm dáng, chải chuốt từ làn sóng tóc đến những móng tay. Nhờ trời được vẻ mặt khôi ngô, trán vuông, mũi dọc dừa, mắt đen, môi hồng, răng trắng, lại thêm một sức khỏe dồi dào, nên anh chàng, ở nhà thì luôn luôn nằm ngồi, đi đứng trước gương to, ở sở thì soi vào cửa kính để luyện nụ cười, khóe liếc, lối hôn, điệu tán, cách ăn mặc và cử chỉ hào hùng, si đắm như hệt Rudolph Valentino, Clark Gable. Hắn giỏi thể thao, lái xe hơi kiểu cách, nói tiếng Pháp như một người Âu quý phái, nhìn đàn bà như quyện hút lấy tâm hồn người ta, bắt tay ai hứa hẹn thì tưởng sắp phải nhường vợ, sẻ nhà, tiêu bạc vạn mà vẫn coi đó là vinh dự. Đặc biệt, hắn có tài chiều lòng đón ý đàn bà rất giỏi. Hắn đã đo lường, tính toán: nếu hắn cần một chiếc quạt trầm hương, một chiếc mùi soa lụa đẹp trao đi, thì thu vốn lại, anh chàng buôn tình ấy phải được nhận một vật gì đáp tặng: hoa thịt tươi ngon, sự đó cố nhiên, mà còn vàng bạc dúi tay là khác. Thường đùa rỡn bạn phùng trường tác hí, với cả đàn bà quanh bàn rượu hay bên khay đèn thuốc phiện, hắn cười nói lớn: “Trong Ái tình tự điển, chỉ có động từ thu-nhận, mà không có động từ ban-phát. Nếu cần cho, thì đó chỉ là cách ném lật quân bài tháu cáy lên chiếu bạc để rồi vét trắng tiền làng mà đứng dậy”. Dùng chiến thuật đó, Hải chiếm nhiều ưu thắng ở tình trường.


Hạnh đã mắc vào trận đồ của hắn, như con muỗi vướng vào lưới nhện. Con nhện độc dăng tơ một chiều hè tại nhà Thủy Tạ, nơi gái trai Hà Nội thường hẹn hò, và chiều hôm ấy Hạnh đã mắt trôi theo khói, môi đắm trong men. Con nhện độc, lần sau nữa, lại dăng tơ độc một chiều thu tại bãi Đồ Sơn lúc khách đã vãn. Tối đó, Cung để vợ ở lại một mình, anh lái xe về Hải Phòng làm việc với mấy ông bạn bác sĩ già về một chương trình y học, không ngờ trên dải cát vàng trăng dãi đã có con nhện độc thu chiếc muỗi vào những răng càng nhọn sắc.


Từ đó, người vợ sẻ tình thường cô đơn ngồi ngắm trăng bên cửa sổ tòa nhà ma quái nọ.


Hạnh đang ngồi đọc thư một mình trong biệt thự. Tiếng giày của ông chồng khắc khổ, nghiêm nghị ở bệnh viện về khẽ dận trên sân sỏi, nhẹ bước trên thang gỗ rồi rón rén vào phòng Hạnh. Khuôn mặt rắn rỏi thoáng lộ nét yêu đương chân thật, bác sĩ Cung âu yếm vuốt đôi vai tròn đẹp của vợ, cúi hôn tóc và cổ vợ, giọng nồng nàn:


- Mình ở nhà có chơi đàn không? Có bạn đến thăm không?


Và không chờ nàng đáp Cung đã bước sang phòng tắm, vừa rửa tay vừa ngoảnh đầu mỉm cười bảo nàng:


- Mình cứ ngồi đấy, tôi sửa soạn tiêm thuốc cho mình.


Hạnh ngao ngán thở dài, thầm nghĩ: “Anh ấy săn sóc bệnh trạng, sức khỏe mình hơn là để tâm đến tấm lòng khát khao của người vợ trẻ. Trời ơi, nếu mãi thế này, mình sống sao được nữa, mà sống để làm gì!”.


Cứ thế ngày này sang tháng khác, người vợ đẹp khát thèm ân ái nọ trước mắt ông chồng thày thuốc chỉ còn là một con bệnh yếu tim, thiếu máu, sưng gan, lệch dạ con, cần phải chiếu điện, cần phải tiêm nhiều.


“Tội nghiệp! thực là tội nghiệp!”. Hạnh thầm kêu như vậy, nhân một lần Cung đánh xe đưa nàng vào bệnh viện để chiếu điện chụp hình tim phổi. Loay hoay mươi phút, anh reo lên như đứa trẻ: “Phổi tốt lắm. Tim hơi tồi nhưng tiêm trúng thuốc, khá lắm rồi, khá lắm rồi”. Chưa bao giờ người chồng thầy thuốc trang nghiêm ấy vui mừng, sung sướng như lúc này. “Thực là tội nghiệp!” nàng càng đau khổ, ăn năn. Và nghĩ: “Quang tuyến điện tìm thấy bệnh trong tim mình, sao không nhận rõ… hình bóng Hải nằm trong đó”. Nàng rùng mình: “Ồ, nếu anh ấy trông thấy Hải!”. Nàng bỗng cúi mặt tránh ánh mắt long lanh vui sướng của Cung. Nàng trông ra vườn bệnh viện, mấy loài hoa trắng, vàng rung rinh dưới nắng. Hạnh sực nghĩ đến những lúc buồn ngồi tẩn mẩn bứt bông hoa, xé cánh ra, thường thấy đài hoa vàng phấn nhô lên, giống đầu con chó. Nàng đã ví con chó kia là Hải. Con chó vàng nằm trong lòng hoa. Lòng hoa chính là trái tim nàng mà Hải nằm trong đó. “Cũng may quang tuyến điện không chụp được con chó Hải!”. Bất giác, Hạnh mỉm cười. Cung nắm tay nàng ánh mắt càng long lanh: “Mình mừng lắm phải không? Mình mừng là phải. Mình đau yếu, tôi vui sao được. Sức khỏe là hạnh phúc, sức khỏe là tất cả ý nghĩa đời người…”. Cung nói như một bác sĩ có lương tâm an ủi bệnh nhân trước khi lên bàn giải phẫu. Hạnh cắn môi: “Tội nghiệp!”, rồi để Cung ở lại làm việc, mổ xẻ mấy người đàn bà chửa ngoài dạ con, đau buồng trứng đang rên rỉ ở phòng bên. Nàng ra khỏi nhà thương, lững thững qua các phố.


Đến một phố vắng, thốt nhiên có tiếng gọi tên nàng. Nàng giật mình ngẩng vội lên, thấy Hải đứng trên gác tòa nhà quét vôi xanh, đang chải tóc.


Đã từ lâu, hắn thuê căn gác đó, bài trí rất sang, dùng làm nơi hẹn hò gái điếm, đấy cũng là cái lồng son, ngoài chim di chim sẻ, còn có thể lừa bẫy cả những vàng anh, bạch yến rất dễ dàng. Bữa nay, vừa tiễn một xử nữ ra khỏi cổng, tình cờ anh chàng trông thấy Hạnh. Nàng nép mình vào hắn, hồi hộp bước lên thang. Cửa phòng khóa trái. Kể từ hôm ấy, người đàn bà tội lỗi, say tình còn đi lại mãi lầu hoa. Đôi mắt, đôi bàn tay, làn môi hắn cùng giọng nói êm ru lúc nào cũng hiện lả lơi trong tâm trí nàng, say đắm. Bên hình bóng yêu đương ấy, Cung hoàn toàn xa lạ trong lòng người vợ phụ tình. Anh vẫn săn sóc, nâng niu người vợ đẹp với bàn tay người thầy thuốc. Đôi kính trắng, vẻ trang nghiêm càng khiến người vợ trẻ nhìn rõ từng sợi bạc ngả trên mái tóc chồng.


Đã khuya, sau mấy câu chuyện nhạt nhẽo và đọc lướt qua mấy nhan đề nhật báo, Anh đưa vợ sang phòng ngủ, tự tay pha cốc nước cam, chờ vợ uống xong anh cúi hôn trán nàng, rồi lên gác. Cầu thang dài xoáy trôn ốc đưa ngược mãi lên, có vẻ trơn dốc như lối lên trời trong hang động. Ánh đèn đỏ quạch hắt bóng Cung lên tường, cao lênh khênh, lừ lừ tiến, ghê rợn như quỷ nhập tràng trên màn ảnh.


Đã một lần trông thấy vậy, nàng phải đưa vội tay bịt chặt mồm cho khỏi thét kêu lên. Do thế, nàng càng khiếp sợ chồng. Nàng biết chồng mình lên phòng ngủ riêng ở tầng gác thứ ba, đứng hàng giờ tựa lưng vào chỗ tường in vết máu, hút thuốc lá, nhìn xuống ngọn trúc đào. “Thế nghĩa là làm sao? Người đâu mà khó chịu và khó hiểu! Tức chết mất thôi!”. Hạnh nắm tay đập xuống nệm giường, uất giận. Nhiều đêm, ghen với một bóng hình vô ảnh, nàng nảy ý nghĩ: mai chờ Cung đi vắng, mình sẽ chém gẫy rặng cây quỷ quái, rồi lên gác đục thủng bức tường ma. Nhưng rồi nàng lại xua ý nghĩ kia đi. Nàng sợ cặp mắt sắc lạnh của chồng và biết đâu rồi chẳng có sự trừng phạt yêu chướng nữa. Muốn tự giải thoát khỏi vòng oan nghiệt tù đày, con chim vàng anh lại tìm đến chiếc lồng son cạm bẫy. Tuyệt nhiên Cung chẳng rõ tí gì về tội tình của vợ. Ngày giờ ở nhà thương, anh không biết mệt với lưỡi dao giải phẫu đưa nhẹ trên da bụng, lật từng lớp mỡ, rạch từng thớ thịt, cắt bỏ miếng dạ dày, thiến bên buồng trứng, cưa hẳn một cánh tay đứt lắt lẻo vì trúng mìn, chắp vá cả bộ xương sọ, quai hàm bị viên đạn phá vỡ. Về đến nhà, Cung lại chăm nom nàng, chưa kịp cởi áo ăn cơm, đã luộc kim tiêm, rồi giục cởi áo cánh, rồi di đầu ống nghe vào ngực, vào lưng, vào bụng nàng. “Khá lắm rồi! Mình cố ăn, ngủ đều cho thật khỏe. Khi đó chúng ta sẽ chung phòng, chúng ta sẽ có một đứa con, mình sẽ làm mẹ, vui lắm nhỉ. Bây giờ mình còn yếu, nên kiêng cữ. Tôi tin ở lòng mình. Mình hiểu tôi, mình yêu tôi. Chúng ta tin ở lòng nhau…”. Đôi mắt, giọng nói anh bộc lộ hết tình yêu thương nồng ấm mà một người chồng có tư cách, tự trọng chỉ có thể nói khi đã thành thực biết đau nỗi đau, và vui niềm vui của người bạn đời. Người đàn bà tội lỗi càng cúi gục đầu. “Chúng ta sẽ có một đứa con. - bây giờ còn yếu nên kiêng cữ… tôi tin ở lòng mình…”. Lời nói hiền hậu chung thủy ấy xoáy vào lòng. Nàng mang mang sợ hãi và hối hận, nghĩ rằng nên trốn Hải, ghét Hải, để quay lại với thiên lương người vợ, với thiên chức người mẹ. “Đứa con của chúng mình.” Cũng đã một lần, hắn thầm thì trên môi nàng hoài vọng cuồng dại đó, giữa lúc chăn xô, gối lệch, gió lên lộn cánh buồm tình.


Nàng ăn năn xấu hổ, lảng tránh mắt Cung nhìn mình lúc đó như đã tránh mắt Trâm - người đàn bà đến đánh ghen rất lịch sự với mình buổi chiều giông tố ấy.


Đứa con! Sẽ là máu Cung, tình Hải hay tội nàng? “Trời, nếu có đứa con, mình sẽ chỉ còn cách chết mà thôi”. Nàng ôm mặt hãi hùng khi người chồng quen thường lệ đã lừ lừ lên thang gác, bóng hắt chếch vào tường như quỷ nhập tràng vụt hiện trong tòa nhà ma quái, càng khiến nàng hãi hùng hơn nữa. “Nhất định mình phải xa lánh Hải, nhất định phen này… Mình không nỡ lừa chồng mãi. Nhỡ ra…”.


Nhưng rồi quả khế chua cây vườn cấm vẫn là miếng mồi ngon cho loài rắn cạp nong hoa. Con rắn vẫn qua rào gai vào ăn vụng quả, cho người đàn bà thêm tội với chồng, cho nàng Ê-Va tội thêm với Chúa ở cái thủa xưa Trời sinh ra một khu vườn tối chưa có vết chân người, và ở cái thủa nay Hải thuê căn gác quét vôi xanh, có cửa sổ căng rèm lụa trắng, có đi văng ném gối hoa và có gương tư mã treo cả bốn mặt tường lồng ánh đèn xanh diễm lệ. “Chao ôi, mình chưa thể nào xa lánh Hải. Đành chịu thua số mệnh!”. Nàng âm thầm nhủ vậy mỗi lần thiên lương thức dậy để rồi lại chết lịm vào thú tính.


Thế rồi loạn lạc tơi bời.


Người đàn ông phụ vợ, người thiếu phụ gạt chồng lại như hai chiếc lá trôi giạt theo sóng phù sa vượt lên miền núi rừng này, cùng nhắm mắt thắt chặt thêm sợi dây oan nghiệt.


III


Hơi sương loãng dần trong ánh trăng trong. Hạnh ngồi bên chum nước suối dưới nhà sàn, lắng nghe cái tịch mịch triền miên muôn kiếp của lâm tuyền.


- Hạnh! Vì mình đấy! Tại mình mà tôi hút bữa thuốc chẳng còn biết gì là thú nữa.


Nàng càng thêm lạnh giá cả lòng. Không ngoảnh lại, nàng cũng biết Hải đang bước xuống thang. Ánh trăng trộn vào bóng lá dãi xuống chiếc áo Nhật Bản rộng dài lốm đốm hình lá trúc khiến Hải có vẻ một hoàng tử Phù Tang trong rừng anh đào một đêm dạ hội.


- Gớm! Chỉ có thế mà cũng giận hờn. Anh thử xem mình có bạo không, thế mà gan đáo để, dám một mình ngồi giữa đêm rừng. Từ nãy đã thấy con ma trành nào hiện lên chưa, có cọp báo nào đến thăm không? Thôi đi mình! Yêu đã khổ, lại còn làm khổ nhau nữa.


Giọng ngọt ngào đắm say của hắn, bây giờ như tự bao giờ, làm cho đàn bà chẳng giận dỗi được mãi. Hải quyến rũ đàn bà tựa hồ một pháp sư bắt quyết âm binh, một nhạc công Ấn Độ dùng nhạc thôi miên rắn độc. Với sự khéo léo, dẻo mềm, pha vào đó một chút thông minh, một tài năng kịch, hắn đã thành công chẳng những ở tình trường mà còn ở cuộc đời danh, lợi. Bất luận nơi nào, Hải cũng áp dụng sở trường riêng để làm quen tất cả đàn ông lẫn đàn bà, nhất là đàn bà. Và hắn sẽ bán được giá hời những cái bắt tay chặt chẽ nhưng hời hợt đó, trong xã hội giao tình và giao tế.


Hải quan niệm cuộc đời là một trận đồ bát quái có lúc cần đóng trò Hàn Tín, cho nên Hải đã ngang nhiên cầm quạt phẩy ruồi sau lưng một vị quan chức giữa buổi hội đồng chính trị. Hải đã liều làm kẻ trung thời Cộng hòa chiến quốc một phen, nhưng cái vai tuồng kia sắm hỏng. Hải đành tạm nghỉ, không chơi trò ấy nữa. Giữa lúc thủ đô khói lửa, mỗi khu phố đều thấy người ta dựng chiến hào thì Hải nhân cơ hội rủ luôn Hạnh rời Hà Nội đi du ngoạn miền Việt Bắc, cho Cung mọc sừng thêm và mặc Trâm cùng đàn con dại ngoi ngóp trong loạn lạc.


Hải ngồi bên nàng thầm thì:


- Sương rừng độc lắm, mình hãy khoác áo cho đỡ lạnh!


Vừa nói Hải vừa cởi áo khoác lên lưng Hạnh rồi quàng tay ôm lấy người yêu thầm thì:


- Mình có hiểu tại sao tôi mua lại lớp nhà này của gia đình gã Thổ già không? Chính vì mình. Trong khi mình ở bên chồng thì tôi cô độc với tên đày tớ điếc, ngày đêm nghĩ đến mình, ghen với mình, còn biết lấy ai làm bạn, nếu chẳng là ngọn lửa nha phiến. Tôi không nghiện, tôi chưa nghiện. Tôi cần làm bạn với phù dung để mỗi khi khêu lửa đèn tôi tưởng thấy nhan sắc mình ngay trước mắt cho vợi hận.


Giọng Hải gần như nức nở. Mặt Hải úp xuống vai Hạnh, bàn tay Hải như gió vờn khiến nàng ớn rùng mình.


Trăng đã lên cao. Mây trắng bồng bềnh trôi. Dãy núi dài, rừng cây lúc này nom tựa hình người đàn bà lõa thể nằm chân co chân duỗi, gối mây nõn và ngửa mặt soi gương trăng. Hạnh thốt bóp chặt bàn tay Hải, ngả mình và ngửa mặt, hé làn môi nhãy bóng uống sóng tình gợn trong mắt Hải và đê mê uống lời hương mật. Hải ra hiệu cho tên thủ túc điếc vừa thoáng hiện trong bóng lá, đi lom khom, chậm chạp như con vượn già chơi trăng sáng. Được lệnh, hắn nhảy vút qua cửa sổ vào trong nhà sàn, rồi mang dâng chủ cây đàn Hạ-uy-di.


Chơi đàn là nghề mọn của hắn. Nhặt khoan, khúc đàn như gió giục mây vần, gợi cho người đàn bà đa tình đa cảm nghĩ đến những đảo dừa mây chìm sóng nước, trên đó những người thủy thủ từ chân trời xa lạc đến vòng tay những cô gái toàn thân bốc lửa tình, cùng nhảy bài man rợ, say hát tình yêu man rợ, để rồi lại ngậm ngùi ly biệt, cô gái về nằm khỏa thân dưới gốc cây dừa sưởi nắng, lữ khách lại ra khơi…


Nàng ớn rùng mình, bóp chặt bàn tay hắn, rồi má tựa vai kề, nỗi hờn giận của người đàn bà nhẹ dạ tan theo sóng nhạc. Nàng thổn thức gục vào đùi Hải; một lúc ngước lên, người đàn bà càng thấy se lòng vì giọt nước mắt rỏ xuống mình, Hải cúi ướp môi vào mắt Hạnh. Người đàn bà càng xúc cảm ôm lấy người tình mà khóc. Hải đã sắm trọn vai trò sở đắc mà hắn vẫn nghĩ “yêu tình đầu chính là kết liễu tình sau chót; yêu tình sau chót ấy là trở lại tình đầu”. Và anh chàng tặc lưỡi: “Tựu chung… vẫn không yêu. Mà yêu để đi đến đâu? Chẳng đến đâu cả, nếu không bực mình, lỗ vốn”. Buôn chuyến tình này, Hải muốn ăn to nên đã cắn răng gởi vợ con vào chỗ chết để theo hàng. Hải lén lút theo vợ chồng Hạnh ra hậu phương, chính là một cách áp tải xe hàng quý giá. Hải thường nghẹn ngào với nàng mỗi khi đón nhau ở chợ hay quán nước: “Mình ơi, tôi xa lìa tất cả để theo mình…”. Nàng đã khóc và đền đáp tình yêu của hắn bằng cách thừa cơ chồng bận công tác vắng mở va li vét tế nhuyễn riêng dâng Hải.


Về khuya rượu càng ngút dâng men, hắn ngả mình xuống chiếu, gối vào đùi Hạnh, tiêm thuốc hút. Hơi men chầm chậm lắng cho khói phù dung tỏa trong người Hải. Hạnh chẳng nói năng chi. Cảm giác của nàng không hoàn toàn khó chịu như lúc ban đầu. Nàng nhớ lại những trang sách đã đọc để được an ủi rằng hầu hết văn nhân nghệ sĩ kim cổ Đông, Tây đều biết đùa với chất lửa ma chơi quỷ sứ này để khơi đào ở nó tinh túy tiềm tàng.


- Có phải thế không mình? Thốt nhiên, hắn nói một câu buông lửng trong khói thuốc.


Hắn không nói tiếp, bởi anh chàng còn nung nấu nghĩ đến chiếc vali vàng bạc, kim cương.


Hút đã đủ gây hào hứng cho cảm giác, hắn ép Hạnh nằm xuống cạnh mình.


Trang sách Thánh kinh mở rộng: lạy Chúa tôi, con rắn thuở hỗn mang lại phá rào gai vào ăn trộm trái cây chua vườn cấm, A men!


IV


Cung gò lưng, áp bụng, gục sát đầu xuống mà ngoi ngóp đạp xe lên con đường đồi dốc.


Nắng tràm đốt cỏ đồi, lúa ruộng. Nắng rợn lên thành đợt lửa bay lung linh như phá vỡ cả thinh không. Đường đá gan gà gồ sống lưng trâu quằn mình như con trăn rừng rãy chết mỗi lần có trận gió tây bốc bụi. Đó đây, trên chặng đường xa, mấy quán nước không người thấp như chuồng lợn, bám chặt vào đất núi, ngay mái cỏ tranh cũng bốc khói, lửa nắng như sắp thiêu thành tro. Những cây thông ném hoa sắc nhọn xuống sườn đồi, lá đỏ dựng ngược lên như tóc quỉ và lớp vỏ mốc nứt vỡ ra, nhựa tiết mùi nồng khét sắp hóa thành những ngọn bùi nhùi đốt cháy cả một góc trời hỏa ngục.


Đường không có một bóng người giữa buổi nắng trưa. Cung vẫn đạp, mắt hoa sao nắng, thái dương giật giật. Da mặt cánh tay và bộ đùi khô chắc đầm mồ hôi bụi bậm.


Hết leo dốc đến đổ dốc, anh mở phanh ngực áo cho gió lộng vào, hai vòng bánh cao su đặc quay tít đưa bác sĩ Cung xuống đoạn đường vòng chảo vắt quanh mấy sườn đồi trụi.


Đồi trụi nối nhau trùng điệp chạy mênh mông tới chân trời. Trời cao thăm thẳm thản nhiên giót lửa xuống mặt đất, vô tư lự như đứa trẻ nghịch tinh đùa ác: đốt lửa hun tổ chuột hay tổ kiến để mà vỗ tay reo.


Bất chợt hình bóng người vợ trẻ đẹp ùa đến tâm trí anh. Và anh nhìn đâu cũng thấy khuôn mặt nàng hiện lên ở đó, với nụ cười rạng rỡ và làn tóc mây buông bên má. Lòng nao nao, anh nghĩ giờ này Hạnh một mình, đang làm gì cho khuây khỏa ở cái làng sơn dã tiêu điều bên con sông kia? Và người chồng thầy thuốc ấy còn lo lắng chẳng biết mấy hôm nay nàng có chịu sai gọi ông y tá ở phòng thuốc liên xã đến tiêm nốt mấy ống thuốc bổ không, hay lại sợ đau chờ mình về nũng nịu.


- Ờ, giá được bát chè đỗ đen, hay chai bia ướp đá thì thú tuyệt.


Cung vừa đạp, vừa vuốt mồ hôi bò xuống bụng. Nghĩ đến Hạnh, người chồng thấy thêm chút sức để chống với nắng lửa đường xa. Gương mặt kiều diễm của nàng lại càng làm anh nao nao nhớ lại những ngày tháng tốt đẹp nhất của cuộc đời mình.


Lấy nhau đã bảy tám năm rồi, anh chưa bao giờ thấy yêu thương Hạnh như bây giờ: cảnh lang bạt kỳ hồ dễ khiến người ta sót thương, gần gũi và tha thứ cho nhau. Có điều Cung cám ơn trời là từ ngày gia đình anh cùng bạn hữu lên Chiến khu, Hạnh nhờ gió núi nên hồng hào khỏe mạnh; một buổi chiều dạo chơi mát qua trụ sở Hợp tác xã, Hạnh ghé vào cân, anh đã reo mừng chẳng kém hôm chiếu điện ở nhà thương Hà Nội biết rằng tim phổi vợ tốt. “Thế mà lên được bốn cân”. Thật là tuyệt vời, một tiến bộ phi thường, không nhờ khoa học, mà chính nhờ khí trời nắng gió, rau quả tốt tươi có đúng không mình?”. Cung vui mừng quá đã thốt ra bằng tiếng Pháp rồi hôn má nàng ngay trước mấy bà lái vốn là tay triệu phú thủ đô, lúc đó đang cân ngô thóc, đánh đống cao như núi trên bãi chợ. Họ lườm nguýt vợ chồng anh và chờ hai người đi khỏi, họ chửi ngay bằng những từ độc vẫn quen dùng.


Cung cố đạp, cổ khô, bụng đói. Mồ hôi chảy qua môi, anh đưa lưỡi liếm; chất mặn trôi vào cuống họng, nhắc anh nhớ đến bữa vừa rồi Hạnh chẻ rau muống đứt tay, anh đã hút giọt máu tươi của vợ trước khi bôi thuốc quấn băng. Máu tay Hạnh đã mặn như mồ hôi người chồng đang say nắng, lúc này trôi thấm vào máu ở tim anh. Bao năm trời, làm một bác sĩ giải phẫu nổi danh, anh đã nhìn rõ ruột gan tim óc, máu huyết con người qua quang tuyến và dưới lưỡi dao mổ xẻ, nhưng là một người chồng trang trọng và chung thủy yêu vợ đến héo lòng mà chẳng nói ra lời - anh vẫn không “trông thấy” và không hiểu được tâm hồn người vợ anh hằng xiết bao yêu quý. Anh vẫn chỉ là đứa trẻ thơ nhút nhát khi nhìn người lớn đứt tay, chảy máu cam.


Lửa nắng vẫn ở chân mây dồn cuộn lại như cơn hồng thủy, hỏa táng cả trần gian tội lỗi, hệt bức tranh kinh thánh Sodorne Chúa trời thiêu hủy hết người, trừng trị tội tham dâm, hiếu sát.


Anh váng vất xuống xe, tìm một gốc cây ngồi thở. Thân cây cô độc sống trơ vơ giữa cái bát ngát của đồi trụi, trời cao. Cái cây mang cả một thế kỷ trong lòng, nó cúi nhìn bao nhiêu cuộc hóa sinh của loài sâu kiến - anh như một kẻ lữ hành cô độc dưới lửa trời, ngồi đây lắng nghe tiếng lá cây reo kể chuyện đời dâu bể, rằng xưa trên đồi hoang vắng mênh mông này đã có những đoàn vó ngựa khua trong máu, rằng xưa đã có một lão tướng ngã xuống bóng mát này buộc một vết thương rồi lại xốc kiếm theo hướng bắc đi tiếp…


“Hạnh! Hạnh ơi!...” khát se cuống họng, nóng trườm khắp thịt da, anh như lên cơn sốt với nhiệt độ điên cuồng, người chồng yêu kính vợ thầm thì kêu tựa hồ một tín đồ cơ đốc cầu Đức mẹ nơi đất thánh.


(Hải! Mình ơi!... - Chính vào giây phút ấy Hạnh đang quằn quại trong tay kẻ tình nhân, yêu đến điên cuồng đọa lạc, ngày cùng ngâm mình trong suối mát, đêm cùng nằm bên ngọn đèn thuốc phiện và khỏa thân trong ánh trăng rọi vào sàn).


Anh vẫn gò lưng đạp, mồ hôi thánh thót rỏ xuống làn môi khô rộp nhắc anh nghĩ đến chất máu mặn ở tay vợ.


Sang chiều, trời nhạt nắng và dịu mây. Đứng ở biên giới mà lòng bỗng nao nao trước cảnh thôn xóm: tre xanh, mái mốc, gà kêu trong bụi, chó sủa đầu đường. Bên kia con sông nước chảy dạt dào, từng toán người ở chợ chiều về đang leo qua đoạn cầu tre vắt chênh vênh, vẽ vào bóng tà dương một bức tranh thực là đẹp.


Anh ghếch xe đạp vào cột giàn mướp trước một quán phở, cà phê của gã chủ quán tóc lật, răng vàng đang cởi trần xào sáo, coi bộ tay anh chị của ngõ Sầm Công Hà Nội thời Tư Dậu và Hàn Bái.


Quán chật người ăn, mùi cà phê xuông trộn mùi phở lợn bốc theo những mẩu chuyện ồn ào của mấy ông lái chó, lái gà, lái lợn. Họ đánh chén, ba hoa bên những người bộ đội đang ngồi lầm lì xỉa răng uống nước để rồi lại lặng lẽ lên đường.


Anh ăn liền hai bát phở, và tráng miệng một bát chè đỗ đen, một chai bia nhỏ, như đã ao ước dọc đường cháy nắng: Chè đỗ đen và bia cổ vàng là hai món anh rất thích vào cữ nóng. Dùng món đó để được nhớ Hạnh, vì từ ngày ra ở hậu phương, hễ anh đi công tác xa hay ở phòng thuốc trên phủ bộ về là Hạnh đã có sẵn hai món ấy, dù phải sai người làm đi chục cây số kiếm mấy chai bia đắt giá.


Tối ấy, Cung vào trong làng ngủ tại nhà một ông bạn thú y già. Thực ra, ông bạn thú y chẳng có nhà cửa. Cũng như phần lớn những người tản cư ra Chiến khu, ông “Đốc chó” được người ta cho ở cạnh chuồng trâu. Nhưng đây là chuồng trâu nhà bá hộ, lại được ông đốc thú y tuyên truyền cho gia chủ biết cách chăn nuôi gia súc, vệ sinh gia súc, nhờ vậy chuồng trâu cũng sạch sẽ gần bằng gian phòng ông trú ngụ.


Cung dắt chiếc xe đạp rỉ vào, anh cúi đầu dưới mái chiếc cổng tre nối liền với mái chuồng gà lợn, rồi bước lên tấm gỗ ván thôi làm cầu che rãnh nước bùn chảy ra miệng giếng khơi dưới cây khế chua vàng chĩu quả. Con chó cái từ trên thềm chồm xuống khiến đàn chó con đang nhay vú mẹ cũng lăn cả xuống sân, sủa thi với mấy con ngỗng gào inh ỏi.


Ông bạn già vội ngoảnh lại, dụi cặp mắt kèm nhèm và nhận ra bác đốc Cung ông bèn bỏ rổ khoai mặc đứa con nhai ngấu nghiến cả vỏ, lập cập bước tới chào đón khách.


- Bác đốc, bác từ đâu lại mà nhem nhuốc bụi bậm thế này. Ồ ồ…


Ông thú y nghẹn lời như ban nãy nghẹn khoai lang, không nói hết cái ý và cái tình thương bạn: “Có ai ngờ, ở Hà Nội mới ngày nào chức vụ như thế, tài năng như thế, cơ nghiệp như thế, mà bây giờ…”.


Ông đỡ xe đạp dựa vào cọc chuồng trâu, rồi cầm tay bạn bước lên thềm:


- Nghỉ uống chén nước, rồi ra giếng tắm rửa, chẳng mấy khi anh em đến thăm nhau ăn với nhau miếng cơm rau cà nhé.


Đứa con côi bụng ỏng trốc đầu, vừa lúc ấy, sặc khoai kêu ú ớ. Ông chạy ra vuốt ngực con, cho con chiêu nước vối, sực nhớ rằng hết gạo không tiền, hai cha con vừa bóp bụng ăn khoai trừ bữa tối. Mắt ông lờ đờ khổ não, mời Cung ngồi xuống chiếc giường tre ọp ẹp, nắm bàn tay bạn:


- Bác đến muộn thế này, tất chửa ăn cơm. Tôi đi… để tôi đi…


Ông toan nói “đi vay gạo”, nhưng Cung đã thấy rổ khoai và biết bạn nghèo lúng túng vội ngắt lời:


- Cám ơn bác tôi hơi mệt, không muốn ăn cơm. Lát nữa xin chủ nhân đây vài gáo nước tắm qua, rồi chúng ta ra quán ngoài kia nói chuyện, kẻo ngồi nhà nóng lắm.


Tắm xong, Cung giục ông thú y dắt con ra phố làng, lúc đó đèn sáng, các hàng cơm, quán nước, hiệu cao lâu, cả rạp hát cải lương Sài Gòn nữa, vui như một thành thị nhỏ.


Trăng mười tư tròn như chiếc đĩa treo lơ lửng trên những khóm tre già vặn mình ken két, lả ngọn xuống những vũng ao bèo tấm, dưới đó đàn đom đóm đang lên giữa tiếng ếch nhái kêu ngoài ruộng nước và tiếng cóc nghiến răng bờ bụi tối.


- Trăng đỏ thế kia thì còn là loạn mãi.


- Lại chết đói như dạo tháng ba năm nọ mất thôi!


- Đấy là điềm bệnh dịch!


Trong phố làng, người đi lại đông như dạ hội. Họ bàn tán về hiện tượng của trời. Nhưng họ chỉ dám bàn tán nhỏ, kẻo người ta một lần giải thích, hai lần cảnh cáo, ba lần cho đi giác ngộ về cái tội mê tín, dị đoan.


Ông thú y được cơ hội tiết ngay nỗi hận về thời thế và nghề nghiệp:


- Bác đã thấy chưa, chuồng trâu lẫn chuồng người, cống rãnh phân tro trút cả xuống ao xuống giếng. Người tự diệt, trời có giết người đâu. Tôi đã đi từng nhà giảng dạy về cách giữ vệ sinh, nào họ có nghe mình, cho mình là gàn dở.


Rồi phẫn nộ quá đà, ông “đốc chó” quát lên một câu:


- Chó quá!


Một người tay cầm gậy vừa đi tới nghe thấy vậy, dừng ngay bước, quắc mắt nhìn con người khoa học đang lên cơn thịnh nộ. Hắn toan hỏi tội ông “đốc chó” mắng ai là chó, vì chính danh hắn là Cửu Cẩu làm trên huyện bộ, nhưng khi nhận được mặt bác sĩ Cung, một người mà hắn thường gặp luôn ở các hội đồng quan trọng, nên hắn vội cúi chào Cung chào cả người vừa chửi chó, rồi đi thẳng.


Chọn một tửu điếm phong quang nhất, Cung mời cha con ông thú y vào. Cung gọi lấy cà phê sữa cho mình, và bảo làm mấy món ăn đặc biệt cho bạn già nhắm rượu.


Cha con ông thú y ăn như là nhịn ăn đã nửa tháng nay. Cung ngậm ngùi và chua xót nhận thấy tất cả ý nghĩa cuộc đời trong bát phở mà thịt lợn sề thay thịt bò tươi, bánh cuốn nát thay bánh phở, xào trộn theo vị giác của những con người ngồi chen chúc quanh nồi cháo chúng sinh đang nóng bỏng.


Ông thú y đánh trơn đĩa phở xào và dốc cạn cút rượu, ngẩng lên lau mồ hôi đọng trên vầng trán nhăn đen xạm.


- Bác xơi cà phê kẻo nguội, ngồi nhìn cha con lão ma đói này ăn phải không? Phở tồi, nhưng xơi mãi cháo, bữa nay được nếm mùi thịt bánh, cũng ngon.


Rồi đó, ông bạn già cười hồn nhiên, râu vểnh lên, đầu mũi cao to đỏ sọng như quả cà chua nẫu, coi ông chẳng khác bức tượng Lý Thiết Quài đang co chân lảo đảo đứng trên vách đất mà chủ nhân chạy loạn đã cố mang nó theo.


Lòng Cung se lại nghe tiếng cười của bạn, lại buồn hơn nữa khi nhìn cái thân hình xanh ỏng của đứa trẻ mồ côi.


Ông bạn già lao đao đứng dậy, cõng đứa trẻ lên lưng lừ lừ đi ra cửa. Cung trả tiền hàng, bước ra theo. Ông thú y còng lưng xuống cõng con, chẳng nói năng chi, đầu râu gục vào sát ngực, lùi lũi bước. Ông đi ở giữa đường mặc thiên hạ tránh; ông cứ húc vào mặc thiên hạ rủa. Rằng mù, rằng điếc, rằng say, ồ cái lũ người! Ông đi mãi ra khỏi phố làng. Bây giờ, không vướng vào người nữa, ông hếch mắt nhìn trăng.


- Đấy, mả nhà tôi.


Và ông nức nở nói bằng tiếng Pháp, như một người lính lê dương trong một cơn say, sực nhớ rằng mình cũng còn có một người vợ ở nước nhà:


- Cuộc đời khốn kiếp này đã đánh cắp của tôi một người vợ tốt, chỉ vì chúng tôi nghèo. Tôi không thể lấy thuốc tiêm chó dại để tiêm cho vợ, tôi không thể đi xin một số tiền bố thí để nuôi con. Đất đã chiếm vợ tôi. Người đã bỏ quên tôi. Tôi khổ lắm, bác Cung ơi! Giá tuần lễ trước, bác ghé qua đây thì vợ tôi đã được mang ơn bác mà sống sót. Tôi khổ lắm…


Ông thú y khóc rống lên, rung động đôi vai yếu làm đứa trẻ trên lưng ông sẽ rún rẩy như cưỡi ngựa.


Anh bùi ngùi an ủi, kéo ông thú y về. Ngõ trúc tiêu sơ như chiếc phễu hút ánh trăng đỏ quạch. Ông cúi đầu qua mái chuồng lợn thấp, vào nhà ôm chặt đứa con côi mà ngáy rống. Anh lạ nhà, khó ngủ. Bên hàng xóm cách tường đất mỏng, có tiếng xay gạo đều đều như mưa khuya. Ngoài sân tối, đâu đấy tiếng gà con lạc mẹ kêu chiêm chiếp, lẫn tiếng sừng trâu xua muỗi đập cột chuồng. Mặt ao sau vách, váng bèo luôn luôn vỡ động bởi những quả sung chín rụng và tiếng cãi cọ day dứt của cặp vợ chồng nào.


- Dậy đi trâu thằng cu hời!


Bừng mở mắt anh đã thấy lũ chó mèo đùa rỡn bên giếng nước.


Ánh sáng ban mai lùa qua khe tấm giại rọi vào chiếc chõng tre: ông thú y đã so ro ngồi đó tự bao giờ với chiếc điếu cày, ấm nước. Cung còn ngái ngủ, lim dim mắt ngắm cái thân hình khổ não của bạn già. Bạn già chẳng nói năng chi, đầu gối gần chấm mang tai, đỡ chiếc cằm có chòm râu nhọn hoắt. Đầu ông, mặt ông thụt vào đầu gối, và lưng ông co gù hẳn lại, trông như con ba ba sắp rụt đầu vào mai mốc. Anh sực nhớ những ngày chủ nhật, vợ chồng mình đến mời vợ chồng ông thú y đi ăn cơm hiệu khách hoặc được mời ăn cơm Huế tại nhà ấy, do bà thú y làm bếp. Những bữa ăn thân mật ấy chứng tỏ tài nấu nướng thật tế nhị của người đàn bà đẹp đáng kính. Ông thú y lấy vợ vì tình yêu, vì gốc rễ hoàng gia quý phái. Nhưng người đẹp chẳng được sống mãi. Ông thú y góa bụa bây giờ âm thầm ngồi đó, ngắm cảnh ao bèo, cống muỗi mà nhớ con sông Hương đang trôi vào dĩ vãng.


- Kìa, bác dậy đấy à. Có ngủ được không?


Anh bước khỏi giường:


- Không ngủ được thì cũng cố nhắm để tưởng mình ngủ thật. Ai dại gì mà mở mắt cả năm canh.


Ông thú y cười:


- Thế nghĩa là tôi ngáy to như bò rống khiến bác phải cố bưng tai mà ngủ chứ gì. Nhưng đêm nào tôi cũng chỉ ngủ đến canh ba, rồi trở dậy ngồi đây uống nước và hút thuốc lào vặt cho đến lúc mặt trời hửng sáng. Quen cái lệ ấy rồi, bác ạ.


Sau đấy, Cung chẳng quên ép bạn già nhận món tiền gọi là giúp đỡ nhau đôi chút để rồi lại dắt chiếc xe đạp rỉ chui qua mái chuồng lợn thấp, ra ngoài ngõ.


Anh cứ gò lưng đạp mãi, ngày này qua ngày khác, từ Quân y viện đồng bằng đến Quân y viện đường rừng, nắng lửa mưa dầu, da cháy xém, tóc râu tua tủa, vậy mà anh vẫn cứ lầm lì cố đạp, và cố đạp. Những đêm nằm nghe mưa rơi, những lúc vác xe đạp vượt cầu tre, những buổi chiều sương đổ, hay lúc ngồi bên những bệnh nhân cụt què đau ốm anh càng thấy yêu nhớ Hạnh thấm thía.


“Nếu không có Hạnh lúc này có lẽ mình sẽ chẳng còn nghị lực mà làm việc!” - đã nhiều lần anh thầm kêu lên như vậy.


(còn tiếp)


Nguồn: Cầu sương. Tiểu thuyết của Ngọc Giao. NXB. Thế giới. Hà Nội,1953. Bản này đã được tác giả chỉnh lý năm 1991.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 25.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 25.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 24.06.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
xem thêm »