tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30446242
Tiểu thuyết
08.09.2012
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

Trong dinh cơ của Tổng thống quân thứ Quảng Nam Nguyễn Tri Phương hôm nay ông tiếp một người khách lạ, hay nói cho đúng hơn là một kẻ thù: đô đốc Rigault de Genouilly. Hắn mặc quân phục hải quân đô đốc, đeo hết huân chương trên ngực. Bên cạnh hắn là một thông ngôn người Việt cũng mặc theo lối nhà binh Pháp. Cả hai người ngồi trên ghế gỗ có khảm xà cừ. Tên thông ngôn ngồi phía sau viên đô đốc, đối diện là quan Tổng thống Quân thứ cũng mặc võ phục triều đình và cũng có viên võ quan hầu cận kiêm phiên dịch ngồi phía sau. Bên ngoài, hai hàng tiêu binh cầm giáo dài đứng nghiêm trông rất oai vệ. Người lính hầu cận già bưng khay nước trà ra, rót đầy tách rồi kính cẩn lui vào. Nguyễn Tri Phương giơ tay: – Xin mời đô đốc dùng trà. Cám ơn Genouilly nói tiếng Việt lơ lớ, có lẽ hắn đã học vài tiếng xã giao khi sang xâm chiếm nước ta. Sau khi uống cạn tách trà, Nguyễn Tri Phương chủ động nói trước: – Bản chức muốn biết ngài đô đốc đề nghị có cuộc gặp này với mục đích gì?


            Người thông ngôn của đô đốc Pháp dịch lại cho hắn nghe. Hắn mỉm cười cố ra vẻ thân thiện trong khi đôi mắt xanh lè của hắn vẫn không rời diễn biến trên nét mặt vị tướng mà hắn đã nghe danh từ lâu. Hắn nói: – Thừa lệnh Hoàng đế Nã Phá Luân đệ tam, tôi đến đây với thiện chí mong muốn thiết lập mối bang giao thân hữu giữa hai nước Pháp – Việt… Nghe người võ quan phiên dịch lại quan Tổng thống quân vụ cười khẩy: – Người xưa có nói “tiên lễ, hậu binh”, trước hết tỏ thiện chí trong mối giao hảo, còn nếu bị từ chối thì mới dùng đến binh đao. Còn các ngài thì làm ngược lại là “tiên binh, hậu lễ”. Các ngài hành động ngược đời như vậy thì làm sao người ta tin vào thiện chí của các ngài được? Tên thông ngôn lại dịch cho tên đô đốc nghe. Hắn cười lớn: – Ồ. Cái đó tôi không biết. Không ngờ quý quốc lại có câu nói hay như vậy. Nhưng đó là chuyện đôi bên chưa hiểu nhau nên xin bỏ qua. Còn hôm nay, tôi đề nghị gặp ngài là để có mấy yêu cầu như sau: Một là, quý ngài cho phép các giáo sĩ được tự do truyền đạo Gia-tô. Không nên bắt bớ giam cầm, thậm chí giết người theo đạo. Hai là, quý ngài nên mở cửa buôn bán với nước ngoài, trước hết là nước Pháp chúng tôi. Ba là, nước Pháp muốn được quý ngài nhường cho một phần đất để đóng quân bảo vệ quyền lợi nước Pháp ở đây.


Sau khi nghe viên võ quan dịch lại xong, Nguyễn Tri Phương nổi giận nhưng ông cố kìm lại, nói gằn giọng: – Ngài đô đốc, ngài ra tối hậu thư cho chúng tôi đó à? Viên đô đốc vội xua tay như để thanh minh: – Ồ! Tướng quân hiểu lầm rồi. Tôi đến đây là để thương thảo, bàn luận với tướng quân những điều mà Hoàng đế nước Pháp yêu cầu chớ đâu phải là tối hậu thư! – Bản chức thừa lệnh triều đình trấn giữ trấn Quảng Nam. Những gì liên quan đến đất này, bản chức trọn quyền quyết định. Còn những đề nghị của Hoàng đế nước Pháp mà ngài đô đốc vừa truyền lại là không thuộc thẩm quyền trả lời của bản chức. Nhưng bản chức có thể trả lời chung cho ngài đô đốc rõ điều này: Những đề nghị của Hoàng đế nước Pháp là xâm phạm chủ quyền nước Việt Nam về cả nội trị lẫn ngoại giao, thì triều đình và nhân dân Việt Nam chúng tôi không thể chấp nhận được. Ngài đô đốc có diễn giải thế nào chăng nữa nó cũng là một tối hậu thư buộc triều đình chúng tôi thực thi như một kẻ đầu hàng! Đó là điều sỉ nhục không thể tha thứ được! – Nguyễn Tri Phương nói vẻ mặt giận dữ. – Tướng quân chắc chưa hiểu được thiện chí của nước Pháp. Chung quanh Việt Nam các nước như Miến Điện, Nam Dương, Mã Lai, Phi Luật Tân đều có mặt người Anh, người Hà Lan đến khai hoá văn minh, giúp đỡ làm ăn mua bán từ lâu rồi. Nay nước Pháp đến Việt Nam cũng là với mục đích đó. Tướng quân chắc cũng biết nước Pháp là một cường quốc và Hoàng đế nước Pháp kiên quyết thực hiện các yêu cầu của mình, kể cả phải dùng võ lực – Viên đô đốc nhấn mạnh từng tiếng một. Nguyễn Tri Phương trả lời cứng cỏi: – Thì các ngài đã dùng rồi đó! – Đó cũng là điều bất đắc dĩ chớ thực tâm chúng tôi vẫn muốn thương lượng với các ngài… – Viên đô đốc mỉm cười thanh minh. Các ngài muốn thương lượng trên thế mạnh à? Các ngài nhầm to rồi. Nước Việt Nam có gần bốn ngàn năm lịch sử, mọi kẻ thù xâm lược từ phương Bắc tới đều bị dân tộc Việt Nam đánh bại. Dân Việt Nam chúng tôi có câu: “Giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh!” và điều đó đã chứng minh trong lịch sử. Nếu các ngài cố tình không hiểu lịch sử Việt Nam, các ngài cũng sẽ phải trả giá! – Tôi vừa đi qua trận địa của các ngài. Vũ khí các ngài đã quá cổ lỗ, không thể chống lại vũ khí tinh xảo của nước Pháp… – Viên đô đốc cười nhạt. Nhưng chúng tôi còn thứ vũ khí khác. Đó là tinh thần quyết tử để giữ gìn bờ cõi Tổ quốc Việt Nam của nhân dân chúng tôi. Thế hệ chúng tôi chống các ngài không được, thì con cái chúng tôi sẽ tiếp tục chiến đấu cho đến ngày đất nước này không còn bóng một tên xâm lược nào, dù cuộc chiến đấu đó, có kéo dài đến chục năm, trăm năm cũng không làm dân tộc chúng tôi nao núng. Các ngài hãy suy nghĩ về điều đó! – Tôi rất tiếc là không thực hiện được điều mà Hoàng đế nước Pháp truyền đạt cho tôi trước khi sắp mãn nhiệm kỳ phục vụ hải quân Pháp ở Viễn Đông. Tôi e rằng người thay thế tôi sẽ không nhẹ tay trong việc thực thi nhiệm vụ của mình. Mong các ngài sớm tìm ra những biện pháp thích hợp để tránh những đổ máu vô ích. – Tôi cũng rất tiếc mà nói với ngài đô đốc rằng: Chúng tôi, những người Việt Nam yêu nước, sẵn sàng đánh trả mọi kẻ thù bất kể chúng từ đâu đến, để bảo vệ bờ cõi Tổ quốc thân yêu của chúng tôi. Ngừng một lúc, Nguyễn Tri Phương nói thêm khi ông đứng lên: – Nếu không còn gì để nói nữa thì chúng ta có thể kết thúc cuộc nói chuyện tại đây được rồi. Xin chào ngài. Viên đô đốc cũng đứng lên giơ tay ra bắt. Nguyễn Tri Phương cũng đưa tay bắt nhưng nét mặt ông không vui. Ông quay sang viên võ quan phiên dịch: – Tiễn khách! Nói xong, ông phủi áo đi thẳng vào nhà trong. Viên đô đốc Pháp cảm thấy bẽ mặt khi chỉ có viên võ quan phiên dịch tiễn mình ra cổng. Trước khi lên ngựa, có một số binh sĩ hộ tống chờ sẵn, Genouilly nói với viên võ quan phiên dịch:


            – Tôi muốn nhờ ngài nói lại lần cuối cùng với tướng quân Nguyễn rằng tôi rất cảm kích trước thái độ thẳng thắn cương trực của ngài. Nhưng xin khuyên ngài đừng bỏ lỡ cơ hội mà nước Pháp – thông qua tôi làm đại diện – đã nêu ra trong cuộc hội đàm vừa rồi, để tránh những tổn thất cho cả hai phía chúng ta! Tạm biệt!


            Viên đô đốc nhảy lên ngựa với một động tác thuần thục của con nhà lính thâm niên, dù tuổi đã lớn. Toán lính hộ vệ chạy lốc thốc theo sau hướng về phía bãi biển


***


            Trở lại sân đình làng.


            Cuộc tập võ của đội nông binh đã xong. Anh em quây quần nghe Lịch nói chuyện: – Bữa nay tập vậy là được rồi. Anh em mình giải tán để về còn lo chuyện đồng áng ruộng nương. Anh quay sang thanh niên ngồi gần đó nói: – Nè cậu Tám, đám ruộng nhà cậu đã gặt xong chưa? Người thanh niên tên Tám nghe Lịch hỏi vội vàng nói: – Cũng còn cả mẫu nữa anh Hai à! Lúa chín rục quá rồi, sợ gặt không kịp… – Được rồi – Lịch nói với mọi người – Ngày mai nghỉ tập, anh em đội mình sẽ sang gặt giúp gia đình cậu Tám. Anh em mình trong mùa lúa này chủ yếu là giúp cho bà con vùng mình thu hoạch hết cho gọn. Anh em đồng ý không? Tất cả hô vang: – Đồng ý! – Vậy là tốt rồi – Lịch cười rất tươi:– Cậu Tám về nói với hai bác nhớ chuẩn bị cơm nước cho cả đội ăn nghe chưa? Chúng ta phải gặt hết lúa mới thôi. Để còn tranh thủ giúp bà con khác nữa. Ai còn ý kiến gì thêm không? – Thấy không ai nói gì, Lịch tiếp:– Nếu không có, giải tán! Anh em rã hàng ra vui vẻ cười nói suốt trên đường làng về nhà. Nhường, Quảng ở lại đây mình có chuyện muốn bàn riêng với hai cậu một chút. – Sẵn sàng thôi – Quảng nói – Mà có chuyện gì vậy anh Hai? – Chuyện luyện tập ấy mà – Lịch cười nói – Bây giờ công việc của đội nông binh mình là giúp dân thu hoạch lúa cho kịp kẻo chuột bọ phá hại. Vậy là thì giờ tập luyện sẽ rất eo hẹp. Do đó, mình tính như vầy hai cậu coi có được không? – Tính sao anh Hai? – Nhường hỏi. – Bây giờ cũng là mùa trăng… Mình gặt có khi cả ban đêm mới kịp giúp cho bà con thu hoạch hết lúa… Nhơn đó, tụi mình tranh thủ tập cho anh em ở ngoài đồng… Ruộng khô, tập cũng không trở ngại gì. Được không? – Được quá chớ anh Hai! – Quảng vui vẻ nói – Với lại cũng nên tập đánh giặc cả ban đêm nữa, để rủi sau này có giặc, ban ngày ban đêm gì mình cũng đánh được, vì anh em có luyện tập đã quen rồi. – Tôi nhứt trí với lời cậu Quảng nói. Đã gọi là đánh giặc thì đâu có kể đêm ngày gì. Có khi đánh đêm lại thuận lợi cho anh em mình nữa. – Nhường nói với vẻ mặt tươi tỉnh. Đi đêm quen rồi phải không – Quảng cười châm chọc. Thì cậu cũng vậy chớ nói ai? Nhường đáp trả. Cả hai cùng cười lớn. Vậy là tốt rồi Lịch cũng cười theo.


            Vừa lúc ấy, Nghĩa và Mận đến. Họ đi có vẻ vội vã. Mặt hai cô lấm tấm mồ hôi. – May quá gặp cả ba anh ở đây – Nghĩa nói qua hơi thở gấp – Em với Mận vừa ghé qua nhà anh Hai mới biết các anh tập ngoài này… – Có gì lạ không, Nghĩa? – Lịch hỏi. – Nhiều chuyện lắm anh Hai à! – Nghĩa nói – Chuyến rồi, em với con Mận chở trái cây lên Sài Gòn bán ở cầu Ông Lãnh. Ở trên đó bà con rục rịch tản cư, vì bọn Phú-lang-sa đóng lâu nay ở Thị Nghè, dạo này tàu chiến của nó về đó đông lắm, nên chúng có vẻ đang chuẩn bị đánh lớn ta. Tin tức đó lọt ra ngoài nên bà con tính chuyện chạy tản cư trước để tránh thiệt hại. Chợ búa vắng lắm. Dưới bến sông chợ thường là xuồng ghe tấp nập, nay đã thấy thưa thớt. Trên sông thấy một số đồng bào chở đồ đạc tản cư bằng xuồng, ghe. Nghĩa và Mận cặp tam bản chở đầy khóm, chuối, dừa xiêm cặp vào bến chợ Cầu Ông Lãnh. Nghĩa lên bờ, dặn Mận: – Em ở lại coi chừng, chị vô chợ một chút.


            Mận gật đầu: – Chị cứ đi đi. Nghĩa bươn bả vào mấy bà mối bán buôn trái cây ở đây. Nghĩa trông thấy đã vắng bớt người. Cô ghé lại một bà trạc ngoài năm mươi, miệng nhai trầu bỏm bẻm: – Dì Bảy! – Nghĩa chào bà. – Kìa cháu Nghĩa. Cháu mới lên hả? – Bà tên Bảy hỏi. Cháu chở một ít trái cây lên cho dì đây. – Nghĩa cười nói. Trời ơi! Dạo này chợ buôn bán ế ẩm lắm. Cháu thấy đó, mấy gian sạp bên người ta bỏ trống ba bốn ngày nay rồi… Bà Bảy thở dài. – Sao lạ vậy dì? – Mấy bữa rày – bà Bảy nói – người ta thấy tàu sắt Tây dương vô sông Sài Gòn nhiều, chở theo bọn ma ní, Phú-lang-sa, súng ống trên tàu to đùng bự chảng. Họ đồn bọn Tây dương ở Thị Nghè sẽ không nằm yên nữa mà sẽ đánh Cây Mai, Kỳ Hoà… Do đó mà số bà con lo sợ tản cư đi để tránh tai họa… Dì cũng nấn ná vài hôm coi nếu thấy không buôn bán được, dì cũng phải đi chớ biết tính sao? Bà Bảy nói mấy câu sau cùng với vẻ ngao ngán ra mặt, khiến Nghĩa cũng hết sức băn khoăn… Nghĩa nói: – Cháu lỡ chở một ít trái cây lên, thôi cháu để lại cho dì, giá vốn cũng được, không cần lời lãi gì. Dì giúp cháu nghe dì. Cháu đã nói vậy thì dì cũng ráng lấy giúp cho cháu. Thôi dọn lên đi rồi về cho sớm. Con gái con lứa đi buôn xa, thân gái dặm trường tình hình này có nhiều nguy hiểm lắm đó! Nghĩa mừng rỡ: – Được… được. Cháu sẽ đưa lên cho dì ngay. Nghĩa quày quả trở xuống bến hối Mận: – Tìm được mối dì Bảy rồi. Thôi tụi mình đưa hàng lên cho dì rồi về, ở đây lâu cũng bất tiện lắm, Mận à! – Sao vậy? – Mận lo lắng hỏi. – Để lát nữa sẽ nói cho nghe. Thôi đưa hàng lên đi. Hai cô gái lật đật cho trái cây vào thúng rồi bưng, gánh lên sạp trái cây dì Bảy. Bỗng từ xa, hướng Thị Nghè đã nghe tiếng súng đì đoàng vọng lại. Dì Bảy hối thúc: – Đó mấy bữa nay, cứ chừng giờ này lại nghe tiếng súng hướng đó. Chắc chúng mò ra cướp bóc gì đó không biết. Mau lên đi rồi về hai cháu. Sao binh triều mình đóng gần đó lại để cho chúng tự do hoành hành vậy dì Bảy? – Mận hỏi. – Ối, nói làm chi cho thêm buồn. Ai đời, giặc chỉ có mấy trăm thằng loe ngoe mà mấy ổng đứng giương mắt ếch dòm chúng làm gì thì làm, không ai đụng tới cái lông chưn chúng nó. Mà quân mình thì đông đến vài chục ngàn chớ đâu có ít… Thật là không hiểu nổi mấy ông lớn của mình chủ trương cái gì kỳ cục vậy đó! Bà Bảy lấy ruột tượng ra đếm một số quan tiền đưa cho Nghĩa: – Cháu cầm lấy rồi về đi cho kịp con nước. Cám ơn dì Bảy. Tụi cháu về đây. Hai cô gái vội vã đi xuống bến sông…


***


            Nghĩa đã kể hết chuyến đi buôn của mình lên Sài Gòn cho Lịch và Nhường, Quảng cùng nghe. Nét mặt Lịch trở nên đăm chiêu suy nghĩ. Vốn tính nóng nảy bộc trực, Quảng nói trước với giọng bực bội: – Vậy là chúng nó sắp đánh mình tới nơi rồi, anh Hai thấy sao? Mình cũng thấy như cậu. – Lịch gật đầu. – Nhưng em cũng hết sức thắc mắc không hiểu sao triều đình ta lại để yên cho bọn Tây dương nó hoành hành như chỗ không người vậy, anh Hai? – Nghĩa nói, vẻ mặt đầy buồn rầu. – Em đã về nhà chưa? – Vừa ghé bến em đến bác Hai tìm anh ngay, chứ đã qua nhà đâu… – Vậy thì em với Mận về nhà đi cho nhà yên tâm, kẻo lại mong – Lịch nói – Còn chuyện em vừa nói, có lẽ anh phải đi Định Tường gặp quan lãnh binh coi ý thế nào về việc triều đình “án binh bất động” trước lũ giặc Tây dương đang ngạo mạn phá phách dân mình ở ngay chỗ đầu não xứ này như vậy? – Vậy thì xin phép ba anh, tụi em về. Nghĩa và Mận toan đi, chợt Nghĩa nhớ ra móc trong giỏ bàng ra gói thuốc rê Gò Vấp: – Chút xíu nữa em quên. Em với con Mận có mua mấy bánh thuốc rê Gò Vấp về biếu mấy anh hút chơi. – Cám ơn quá! – Quảng mau mắn trả lời, còn châm chọc Mận bánh nào gởi cho Huỳnh Tấn không đó, Mận? – Có chớ – Mận mỉm cườiNhưng em không nhờ anh đưa đâu. – Phải để cho người ta trao tận tay nhau, để rồi còn… còn gì gì nữa chớ, Quảng! – Nhường cười nói chêm vào. Quảng cười nhưng trong mắt thoáng buồn. – Cứ chọc người ta hoài – Lịch cười vui nói – Để hai cô về cho sớm, kẻo muộn. Hai cô gái nhanh nhẹn đi lối tắt qua cánh đồng về xóm. Lịch đứng lên nói: – Ngày mai hai cậu kéo anh em đi gặt lúa giúp cho cậu Tám, còn mình sẽ đi gặp quan lãnh binh coi tình hình thế nào rồi tính tới nữa. Vậy được chưa? Đồng ý. Anh Hai cứ đi lo phần việc của anh, còn ở nhà tụi này sẽ bảo đảm vụ gặt lúa không riêng gì nhà cậu Tám – Nhượng nói tiếp – Coi nhà nào chưa gặt xong là tụi này nhào vô giúp liền. Còn chuyện luyện tập, chắc chắn sẽ giữ đều. Trời trăng này, tập ngoài ruộng mát lắm! – Mình tin tưởng hai cậu. Bây giờ chia tay nhá!


            Họ vui vẻ đi về theo lối riêng từng người trong xóm…


***


            Trương Định tiếp Lịch ở gian nhà nhỏ nằm trong khu vườn dừa rộng gần thị xã Mỹ Tho. Đó là sở chỉ huy của ông. Ông buồn rầu nói với Lịch: – Theo tin của thám tử về báo thì giặc Phú-lang-sa đã tấn công chiếm chùa Kiểng Phước, Cây Mai xây thành đồn lũy để lúc nào thuận lợi sẽ chuẩn bị tấn công đại đồn Kỳ Hoà. Điều đáng buồn là cho đến nay triều đình vẫn chủ trương phòng thủ để nghị hoà. Ngày hôm qua, ta đã gặp Trấn thủ Nguyễn Hữu Thành ở Mỹ Tho…


            Trấn thủ Nguyễn Hữu Thành mặc áo gấm ngồi dựa vào chiếc gối lớn trên ghế tràng kỷ trong dinh của ông. Bên cạnh người lính hầu luôn tay quạt cây quạt lông mặc dầu trời không nóng lắm. Ông ta cười nói: – Tôi đã nói với ông ý của Hoàng thượng rồi. Bọn Tây dương ỷ có tàu to súng lớn, nhưng đường sá xa xôi tiếp viện khó khăn, ta cứ kiên quyết phòng thủ chúng không phá thành được thì chẳng chóng thì chầy chúng cũng phải rút chạy thôi. – Xưa nay trong sử sách đều ghi rõ không có quân xâm lược nào chịu rút lui nếu chúng không bị đánh cho tơi tả, thưa ngài! – Trương Định nói có vẻ bực. – Nhưng ông lãnh binh chắc cũng hiểu điều này: xưa khác, nay khác. Giặc Tây dương ngày nay võ khí của họ tinh xảo hơn ta nhiều, nếu gây chiến thì ta khó giành phần thắng mà dân tình lại chết chóc nhiều. Hoàng thượng là bậc đại mưu, đại trí, nhìn xa trông rộng, nhân đức của người sâu hơn biển, cao hơn núi, cho nên trăm kế triều thần bàn luận, người chọn kế bàn hoà để giữ cho con dân nước Việt khỏi cảnh máu đổ đầu rơi… Còn về võ quan các ông có ý khác với Hoàng thượng, thì cũng phải thôi, nhưng tôi xin nhắc cho ông nhớ: đạo thần tử là phải phục tùng lệnh vua, phép nước. Ai dám chống lệnh thì phải xử theo quân pháp. Ông là lãnh binh chỉ huy hàng trăm hàng ngàn binh lính, chắc ông hiểu hơn tôi chớ?


            Nói xong câu đó, Trấn thủ Thành cười có vẻ đắc chí, còn Trương Định thì cúi đầu suy nghĩ không nói gì. – Nên tôi khuyên ông hãy trở về lo việc dinh điền, dạo này là mùa lúa chín đang cần gặt hái. Còn chuyện nước, ông để mặc tôi định liệu. Ai có phận nấy, ông hiểu ý tôi chớ? Trấn thủ Thành lại cười lớn rồi giục tên lính hầu: – Quạt mạnh lên nữa mày! Nóng quá!


***


            Trương Định buồn rầu nói với Lịch: – Ta còn chờ ý kiến của quan Thống đốc Quân vụ đại thần Nguyễn Tri Phương được triều đình cử vào Sài Gòn, sau khi ông đã chống trả quyết liệt với quân Tây dương ở Quảng Nam Đà Nẵng năm rồi. – Ngừng một lúc, Trương Định nói tiếp – Ông cho xây dựng đại đồn Chí Hoà với lực lượng lấy từ các nơi đến. Không hiểu đây có phải chủ trương “hoà để thắng” của triều đình hay không. Ta thật chưa hiểu… – Bẩm đại nhân, hôm trước ở đội nông binh của làng có hai cô gái đi buôn ở Sài Gòn, khi về họ có nói lại, bọn giặc ở Thị Nghè đã gây hấn khiêu khích ta sau khi được một số tàu chiến đến tăng viện, mà không thấy quân ta đả động gì. Dân chúng đồn rằng giặc sắp tấn công lớn, nên đã bỏ nhà cửa tản cư để tránh giặc, chợ búa vắng tanh, buôn bán ế ẩm… Không lẽ quan Thống đốc Quân vụ không biết chuyện đó hay sao? Lịch nói dè dặt, đôi mắt anh nhìn Trương Định để xem phản ứng của vị lãnh binh họ Trương ra sao trước tin tức đó. Trương Định cau mày nói: – Như vậy là bọn Tây dương đã có âm mưu đánh chiếm Sài Gòn, sau đó có thể sẽ mở rộng ra toàn cõi lục tỉnh phía Nam… Triều đình không có kế sách đối phó thì chúng ta sẽ có cách của chúng ta, quyết không để cho lũ mọi rợ Tây dương muốn làm gì thì làm. Chú về cho anh em luyện tập ráo riết chờ lệnh của ta. Phải cho bọn Tây dương biết rằng người Nam chúng ta không phải là kẻ hèn nhát tham sống sợ chết. Trên đời này không có cái nhục nào bằng cái nhục mất nước, chú Lịch à! – Trương Định ngừng một lúc rồi nói – Trước mắt chú về giúp dân gặt hết lúa khẩn trương để phòng khi chinh chiến xảy ra dân còn có thóc gạo ăn. Sau đó, chú cho anh em chuẩn bị sẵn sàng, khi có lệnh của ta là phải hành binh ngay. Chú nhớ chưa?


            Bẩm đại nhân, tôi nhớ. Vậy thì chú về đi. Mọi việc bây giờ phải làm khẩn cấp mới kịp! – Trương Định tiễn Lịch ra đến cửa, ông nhìn Lịch bằng ánh mắt trìu mến rồi nói: – Non sông xã tắc ngày nay trông cậy vào những thanh niên trung cang nghĩa khí như chú, chớ trông vào cái phường giá áo túi cơm nhan nhản khắp nơi từ triều đình đến các tỉnh thành thì cái họa mất nước đã treo trước mắt rồi không thể tránh khỏi đâu chú! Lịch cúi chào Trương lãnh binh rồi đi thẳng xuống bến sông, nơi chiếc tam bản chèo đôi đang buộc vào chân cầu đợi chàng trở về sông Vàm Cỏ.


***


            Đêm trăng sáng trên cánh đồng lúa chín, đội nông binh của Lịch dưới sự điều khiển của NhượngQuảng, cùng một số dân làng có cả nam lẫn nữ đang gặt lúa rào rào, xen lẫn tiếng cười nói vui như ngày hội.


            Bỗng từ trong đám phụ nữ một giọng hò trong trẻo nổi lên như thách thức các chàng trai trong đội nông binh đáp lại:


Hò ơ…


Nghe anh hay chữ em hỏi thử một đôi lời:


Vậy chớ trong các thứ dầu, dầu chi là dầu không thắp?


Trong các thứ bắp, bắp chi không luộc không rang?


Trong các thứ than, than chi không quạt?


Trong các thứ bạc, bạc chi là bạc không đổi không mua?…


Anh mà đối đặng thì mới biết ai thua phen này…”


            Câu hò vừa dứt trong tiếng cười rúc rích của các cô thôn nữ khiến các chàng trai thêm bối rối không biết phải đối đáp ra sao thì Quảng đã nhanh nhẩu đáp lại:


        Hò ơ…


Trong các thứ dầu có nắng dãi mưa dầu là dầu không thắp.


Trong các thứ bắp có bắp giò bắp cẳng là bắp không luộc không rang.


Trong các thứ than, có than hỡi than hời là than không quạt.


Trong các thứ bạc, có bạc tình bạc nghĩa là bạc không đổi không mua.


Anh đà đối đặng, vậy em tính ai được thua phen này?”


            Giọng hò của Quảng ấm và truyền cảm vang đi rất xa khiến đám trai tráng hởi lòng hởi dạ như vừa trút được gánh nặng. Họ cười nói râm ran. Có anh chàng nào nói: – Không ngờ anh Quang lại hò hay quá trời! Vậy mà lâu nay giấu nghề kỹ quá hen! Tiếng một người khác động viên: – Hò nữa đi anh Quảng! Cho chị em biết mặt cánh đàn ông con trai mình cũng “ngon” như ai, đừng có coi thường mà “lầm” chết!


Được anh em động viên, Quảng phấn khởi cất giọng hò tiếp trêu chọc:


        Hò ơ…


Phải lứa phải đôi thì em ừ đi cho rảnh.


Chớ em đừng có đỏng đảnh mà mang tiếng đèo bòng.


Hò ơ…


Bốn mùa xuân hạ thu đông. Ngày qua tháng lại coi chừng bị ế chồng em ơi!”


            Có nhiều tiếng cười sau câu hò trêu chọc của Quang. Bỗng phía bên kia có giọng nữ:


       “Hò ơ…


Thà em lấy chồng nghèo mà biết nên biết phải.


Có cặp chơn biết chạy, có hai tay trắng biết làm ra.


Em không ham nơi quyền quý xa hoa,


Mai sau sanh chuyện, coi thường mẹ cha, em buồn…”


            Tiếng hò đối đáp kéo dài tận khuya cho tới khi cánh đồng lúa chín chỉ còn trơ lại những gốc rạ ướt đẫm sương đêm. Những chiếc cộ chất đầy bó lúa vừa mới gặt xong, được những con trâu khoẻ mạnh kéo đi dưới sự điều khiển thành thạo của các chàng trai trong đội nông binh đưa về tận sân nhà Tám, giở xuống chất ngồn ngộn cao hơn mái nhà. Cứ như vậy cho đến khi tiếng gà gáy sang canh ba thì chuyến cộ lúa cuối cùng cũng kết thúc.


***


            Huỳnh Tấn lên ở Sài Gòn trong gia đình một người bà con có cửa hiệu buôn bán thóc gạo, hải sản đường bờ sông gần chợ Cầu Muối.


            Hàng ngày Tấn thường hay thả bộ ra chơi ngoài chợ, tận mắt chứng kiến cảnh làm ăn mua bán của người Hoa, người Ấn… Sự mua bán làm giàu của họ đã đập vào mắt người thanh niên vùng thôn quê, khiến nẩy sinh trong lòng anh ta ước mơ được làm giàu, được sống trong nhung lụa, kẻ hầu người hạ, hơn là sống trong cảnh chân lấm tay bùn của người nông dân làm ra hạt gạo nhưng suốt đời cực khổ. Đang thu xếp hành lý, thực ra chỉ là giỏ bàng đựng mấy bộ quần áo thì người chú họ vô bảo Tấn:


      – Cháu ra ngoài này tiếp khách với chú.


            Tấn “dạ” một tiếng rồi nhét nhanh bộ quần áo cuối cùng vào giỏ theo ông chú ra ngoài. Ở ngoài phòng khách đã có người ngồi đợi. Ông chú họ vui vẻ giới thiệu: – Đây là cháu Huỳnh Tấn của tôi, nó đang ở Tân An… Còn đây là ông biện Chín làm thông ngôn cho ông Tham tán quân vụ khi giao thiệp với người Phú-lang-sa. Người khách vội đứng lên giơ tay ra nắm lấy tay Tấn ra vẻ rất lịch sự:


            Rất hân hạnh được làm quen với anh.


            Ông ta mặc áo dài khăn đóng, quần lụa, mang giày Gia Định trông vẻ người sang trọng, quí phái. Tấn hơi bối rối trước cử chỉ lịch sự của ông thông ngôn, chỉ ấp úng nói: – Chào bác!


Người chú họ nói với khách:


            Cháu tôi nó học hành khá nhưng là chữ của thánh hiền, lại biết chút võ nghệ, hiện là trong đội nông binh của quan Lãnh binh Trương Định. Tôi có biết danh ông lãnh binh. – Ông biện Chín gật đầu nói. – Cháu nó lên Sài Gòn thăm tôi và cũng định tìm công việc làm ăn trên này… Nhưng tôi là dân buôn bán, tối ngày bận công chuyện làm ăn, nên chưa giúp gì cho cháu được. Nay may mắn được ông biện đến chơi thiệt là quý hoá! Nhơn dịp này tôi giới thiệu cháu Tấn với ông, để ông coi có điều gì có thể giúp cháu được không. Gia đình chúng tôi sẽ rất biết ơn ông. – Người chú họ vui vẻ nói. Ông biện cười lớn: – Ông Hai nói vậy là chưa coi tôi là chỗ thâm giao với ông đó. Cậu Tấn là cháu ông – xin lỗi – tôi cũng coi như là con cháu tôi. Thời buổi bây giờ thiệt khó nói trước được điều gì, nhưng tôi xin hứa sẽ cố gắng hết mình để giúp cho cháu. Nhưng ông Hai cũng biết rồi đó. “Mưu sự tại nhân, thành sự tại thiên”. Mọi việc đều do ý trời, không phải người muốn là được đâu. Phải không? Ông Chín nói chí phải! – Ông chú họ của Tấn cũng cười vui theo – Nhưng theo tôi thì người đỡ đầu tiến cử cũng hết sức quan trọng. Như chuyện bên Tàu thời Chiến quốc, ông Quản Trọng nếu không được người bạn thân là Bảo Thúc Nha tiến cử với Tề Hoàn Công thì Quản Trọng làm sao có thể làm tể tướng nước Tề được? Tôi nói vậy ông biện thấy có đúng không nào? – Ông Hai nói vậy là đúng quá rồi! Nhưng việc gì cũng phải từ từ, “dục tốc bất đạt”, ông bà xưa đã nói như vậy rồi – Ông biện nhìn Tấn nói tiếp – Tôi xem tướng mạo cậu Tấn đây – nói xin lỗi – đúng là “ngọc ẩn non Côn, vàng chìm sông Lệ”, tương lai hậu vận sẽ thành đạt vinh hiển không sao kể xiết được. Nhưng còn tùy thuộc vào thời vận nữa. Biết nắm lấy thời cơ thì sẽ chuyển nguy thành an, chuyển bại thành thắng, chuyển nhục thành vinh… Mà tôi tin cậu Tấn sẽ thừa sức hiểu điều tôi vừa nói. Tấn có vẻ cảm động sau lời khen của biện Chín: – Cháu cám ơn bác rất nhiều về những lời vàng ngọc của bác chỉ giáo vừa rồi. Cháu cũng hy vọng sau này được gặp lại bác và… trăm sự cũng nhờ bác đỡ đầu cho. – Rất sẵn sàng – Biện Chín cười ranh mãnh – Nhưng nhớ “công thành danh toại” rồi đừng quên lão già này nghe! – Dạ cháu đâu dám – Tấn nói giọng vui hẳn lên – Ngày xưa, chỉ nhờ có bát cơm Phiếu Mẫu cho ăn lúc đói, mà Hàn Tín còn đền ơn cả ngàn vàng khi “vênh vang huê hạ” trở lại đất Hoài Âm… Cháu cũng cố gắng học tập gương người xưa đối với những người cưu mang dẫn đường chỉ lối cho mình. – Khá lắm! Khá lắm! – Biện Chín khen – Khẩu khí đúng là của bậc anh hùng thời nay. – Bây giờ, xin phép bác biện và chú Hai cháu phải đi về cho kịp con nước, vì có hẹn với người đến rước rồi. Tấn cung kính vái chào biện Chín rồi vào trong xách túi bàng đựng quần áo ra cổng. Biện Chín nhìn theo đắc ý nói với chú của Tấn:  – Cậu này không phải tay vừa đâu! Có cơ hội có thể là người chọc trời khuấy nước, danh tiếng để đời cho coi. Mừng ông có người cháu sẽ làm vẻ vang dòng họ Huỳnh của ông sau này đó! Ông chú của Tấn cùng lão biện Chín cười ha hả khoái chí. Người chú họ của Tấn đâu có biết lão biện Chín đã ngầm làm gián điệp cho bọn Pháp từ lâu và lão hy vọng sẽ lôi kéo Tấn vào con đường phản bội khi có dịp sau này.


***


            Lãnh binh Trương Định nhận được lệnh của Thống đốc quân vụ đại thần Nguyễn Tri Phương, người được vua Tự Đức phái vào Nam trấn giữ thành Gia Định – Sài Gòn cùng với Tham tán quân vụ Tôn Thất Cáp cho xây dựng hệ thống phòng thủ lấy đại đồn Chí Hoà làm trung tâm phòng ngự. Người lính mang quân lệnh Nguyễn Tri Phương đi ngựa đến tư dinh của lãnh binh họ Trương – ngôi nhà nhỏ mà ông đã gặp Nguyễn Văn Lịch – xuống ngựa vào trình cho Trương Định phong thư có đóng dấu ấn Thống đốc quân vụ bên ngoài. Trương Định xé thư ra đọc rồi nói: Phiền chú về báo với Nguyễn tướng công tôi sẽ thực thi ngay quân lệnh của ngài. Người lính cúi chào Trương Định rồi ra nhảy lên ngựa phóng một mạch về hướng đường cái! Trương Định đi tới đi lui suy nghĩ. Cuối cùng ông quyết định sẽ triệu tập các đơn vị quân triều đình và các đội nông binh do ông tổ chức chỉ huy khắp các tỉnh Tân An, Định Tường, trong đó có đội nông binh Nguyễn Văn Lịch để tham gia chiến đấu bảo vệ Sài Gòn – Gia Định theo lệnh của Nguyễn Tri Phương. Ông vào án thư thảo thư triệu tập rồi giao cho người lính hầu cận: – Chú đi ngay xuống các đơn vị truyền lệnh triệu tập của ta cho các quản cơ, đội trưởng. Tình hình khẩn cấp, không được chậm trễ! – Tuân lệnh! Người lính hầu nhận thư cho vào túi áo, cúi chào Trương Định rồi ra tàu ngựa thắng yên xong, phi nhanh ra cổng…


***


Năm 1861.


            Đô đốc Charner được phong làm Tổng chỉ huy quân lực Pháp ở Viễn Đông, kiêm Đại sứ đặc mệnh của chánh phủ Hoàng gia Pháp có toàn quyền chỉ huy tấn công xâm lược Lục tỉnh Nam Kỳ. Viên đô đốc già tóc đã bạc gần hết nhưng với bộ quân phục đô đốc trông hắn vẫn còn nhanh nhẹn, mạnh khỏe.


            Đứng trên vọng gác cao của đồn giặc đóng ở Thị Nghè, hắn dùng ống nhòm ngắm toàn cảnh chiến lũy phòng thủ của quân Nam do Nguyễn Tri Phương chỉ huy xây dựng trên một năm. Đặc biệt đại đồn Chí Hoà – trung tâm khu vực phòng thủ nơi Nguyễn Tri Phương đặt đại bản doanh chỉ huy, viên đô đốc già chú ý quan sát thật kỹ, hắn thấy đúng là một hệ thống phòng ngự khổng lồ với dãy chiến lũy hầm hào dài hàng mấy ngàn mét, có các đồn nhỏ vây quanh, chi viện cho đại đồn khi bị tấn công. Quân lính triều đình khá đông, có đến hàng vạn người đang tiếp tục củng cố công sự phòng ngự, kẻ xúc đất, người khiêng cây đi lại, ở xa trông như đàn kiến đang xây tổ.


            Hắn trở xuống vào phòng chỉ huy, nơi các võ quan đã ngồi chờ. Khi thấy viên đô đốc già bước vào, tất cả mọi võ quan đều đứng phắt dậy chào. Hắn giơ tay ra hiệu mọi người ngồi xuống. Hắn lấy giọng trịnh trọng tuyên bố:


            Hôm nay, tôi triệu tập các ngài đến họp ở đây để thông báo các ngài một quyết định quan trọng: Ngày mai, 24 tháng 2 năm 1861, chúng ta sẽ đồng loạt tấn công đại đồn Chí Hoà, sẽ chiếm toàn bộ Sài Gòn – Gia Định, sau đó tiếp tục đánh chiếm toàn bộ tỉnh Biên Hoà, Tân An, Định Tường. Giờ khai hoả sẽ là bốn giờ sáng. Bây giờ các ngài trở về đơn vị chuẩn bị theo bản kế hoạch mà Bộ tham mưu đã giao cho các ngài từ hai tuần trước để nghiên cứu. Các mũi tiến công không thay đổi. Các ngài đã rõ chưa? – Rõ! Tất cả các võ quan đều nhất loạt hô to đáp lại.


            Vậy là tốt rồi! Chúc các ngài hoàn thành nhiệm vụ mà Hoàng đế đại Pháp vĩ đại đã giao cho các ngài. Giải tán!


            Tất cả các võ quan vội rập chân nghiêm chào viên đô đốc rồi lần lượt ra về.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »