tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29440732
Tiểu thuyết
07.09.2012
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

Trước sân đình làng.


            Từ sáng sớm nghe tiếng loa, tiếng trống thúc giục dân làng đi xem thí võ đài để tuyển chọn nhân tài dưới sự chứng kiến của quan Lãnh binh Trương Định và các bậc kỳ lão trong làng. Dân chúng kéo đến mỗi lúc một đông, đủ cả già trẻ gái trai đứng thành vòng chữ U quanh sân. Trước thềm đình bày sẵn bàn ghế, trên đó có trầu rưọu, thuốc lá để các quan chức ngồi thị sát dùng khi giải lao. Ngồi giữa là Lãnh binh Trương Định. Ông dáng người thanh tú. Khuôn mặt với vầng trán cao rộng, đôi lông mày đen nhánh hơi xếch với chiếc mũi dọc dừa, miệng rộng, môi dưới dày hơi trễ xuống, trông ông có vẻ nhà văn hơn nhà võ. Ông mặc bộ nhung phục màu xanh đen với thắt lưng màu xanh lục. Ngồi cạnh ông là ông Sáu, thầy dạy võ theo môn phái võ sư Ngô Kha ở Bình Định, sau chính biến Tây Sơn sợ bị Gia Long trả thù, ông đổi tên họ trốn vào Nam, định cư ở đất Tân An mở lớp dạy võ và chữ nghĩa thánh hiền, vì theo ông văn võ phải đi đôi với nhau, cạnh thầy Sáu là các vị hương chức trong làng, trong số này có những ông đầu đã bạc nhưng vẫn còn quắc thước. Đám võ sinh – phần lớn đều là học trò thầy Sáu Bình Định – ăn mặc thật gọn, đầu bịt khăn cho tóc búi khỏi đổ xuống, áo ngắn tay, vạt áo dài phủ mông, lưng thắt sợi dây vải hay dây gai. Quần áo họ bằng vải nhuộm màu dà hay màu xanh đậm. Họ xếp thành hai hàng đứng trước đám đông dân chúng đang háo hức chờ xem cuộc biểu diễn võ thuật của các môn sinh lò võ mà triều đình tổ chức hai năm một lần, để tuyển lựa nhân tài bổ sung cho đội ngũ quân triều. Trong số võ sinh tham dự ta thấy có Lịch, Nhượng, Quang, Huỳnh Tấn và cũng ngạc nhiên thấy có cả Nghĩa, Mận và một vài cô gái khác. Họ cũng ăn mặc võ phục như các bạn nam, nhưng đẹp hơn, hấp dẫn hơn, đơn giản vì họ là con gái rành chuyện kim chỉ vá may từ bé. Tiếng người cười nói râm ran trong đám dân chúng đến xem bỗng im bặt, khi thấy một người ăn mặc theo lối võ quan triều đình bước ra dõng dạc tuyên bố: – Hôm nay theo lệnh của quan lãnh binh về đây mở cuộc thao diễn để tuyển chọn nhơn tài ra phò vua giúp nước, tôi xin tuyên bố cuộc thao diễn sẽ chia làm hai phần: Phần thứ nhứt là biểu diễn cá nhơn các môn quyền cước, rồi tới binh khí. Phần thứ hai là biểu diễn đối kháng từ quyền cước đến binh khí. Cần lưu ý, đây là cuộc thao diễn, hết sức tránh sát thương trong lúc tranh tài cao thấp. Ai vi phạm sẽ bị trừng trị theo quân lệnh của triều đình. Các võ sinh nghe rõ chưa?


            Nhiều tiếng hô dõng dạc: "Dạ, rõ" vang lên trong đám võ sinh đang chăm chú theo dõi từng lời của người võ quan. Nghe tiếng đáp dõng dạc dứt khoát của đám võ sinh, người võ quan có vẻ hài lòng, ông nói tiếp: – Lần thao diễn này có khác hơn các năm trước là có sự tham dự của các nữ võ sinh. Trong việc bảo vệ non sông xã tắc ai cũng có bổn phận không kể gái trai, huống chi trong lịch sử dân tộc ta suốt mấy ngàn năm không thiếu những gương nữ kiệt anh thư như bà Trưng, bà Triệu… Do đó lần thao diễn này có cả nữ võ sinh tham dự cũng nhằm tuyển chọn nhơn tài theo lệnh triều đình. Một lần nữa, theo lệnh quan lãnh binh, bản chức tuyên bố: nam trước, nữ sau theo danh sách đã liệt kê sẵn. Tiếng hoan hô của đám đông dân chúng nổi lên ầm ĩ. Tiếng trống cũng nổi lên một hồi báo hiệu đến giờ thao diễn. Một anh lính trẻ đọc bản danh sách gọi tên người thứ nhứt:


            Ngô Đức Nhường! – Nhường đứng trong hàng nghe đọc tên mình, chàng hô: "Có mặt!" rồi bước ra giữa sân vòng tay cúi đầu chào quan khách rồi bái tổ biểu diễn quyền cước. Trương Định chăm chú nhìn Nhường biểu diễn quyền cước với những động tác mạnh mẽ, dứt khoát, nét mặt ông tươi tỉnh tỏ vẻ hài lòng. Ông quay sang nói nhỏ với ông thầy Sáu ngồi cạnh: – "Nó đánh coi được quá chớ?". Ông thầy Sáu nghe ông Lãnh binh họ Trương khen học trò mình cũng cảm thấy tự hào, ông đáp lại: – "Thằng đó chịu khó lắm đại nhân à!". Nhường đã biểu diễn xong bài quyền. Chàng bái tổ cúi đầu chào, mặt lấm tấm mấy giọt mồ hôi. Tiếng vỗ tay ào lên với lời khen trong đám dân coi: – "Khá lắm!" Người lính trẻ lại đọc vang: – Võ Văn Quảng! Quảng hô đáp lại: – "Có!" rồi đĩnh đạc bước ra giữa sân cúi đầu chào các vị chức sắc, và bái tổ bắt đầu biểu diễn. Trương Định vẫn chăm chú theo dõi từng động tác của Quang cũng như Nhượng lúc nãy. Nét mặt ông biểu hiện sự hài lòng. Trong lúc đó Lịch vẫn chú ý nhìn Trương Định, người võ quan mà chàng đã nghe danh từ lâu nay mới nhìn rõ mặt. Chàng cảm thấy mến tư thế của Trương công trong sự chú ý theo dõi từng miếng thế của Quảng biểu diễn trên sân. Quảng đã biểu diễn xong bài quyền trở về bái tổ và cúi chào quan khách. Tiếng vỗ tay hoan hô nổi lên. Trương Định hài lòng nói nhỏ với thầy Sáu: – "Được lắm!". Người thầy có học trò được khen cũng nở nụ cười đáp lễ, ánh mắt vui hẳn lên. Quảng trở về chỗ cũng thấy vui vui vì mình đã biểu diễn không sai sót gì. Người xướng danh gọi tiếp: – Huỳnh Tấn! Huỳnh Tấn nghe gọi vội đứng tách ra hô: – "Có mặt!" rồi đĩnh đạc bước ra giữa sân cúi đầu chào quan khách, bắt đầu bài quyền ruột của mình. Động tác tiến thoái của Tấn dứt khoát, nhanh nhẹn, khéo léo khiến chung quanh vỗ tay khen ầm ĩ. Trương Định cũng rất chú ý đến chàng võ sinh có nét mặt khá đẹp trai và bản lãnh quyền cước tỏ ra rất điêu luyện không thua kém ai. Ông gật gù tán thưởng mỗi khi Tấn biểu diễn những động tác khó một cách thành thạo. Ông quay sang thầy Sáu: – Thằng này chắc mai sau sẽ làm nên sự nghiệp đây! Thầy Sáu sung sướng đáp: – Đại nhân quả có con mắt tinh đời. Nó là một trong những môn sinh khá nhứt của tôi đó. Được người xem cổ vũ hoan hô, Huỳnh Tấn càng phấn khởi biểu diễn hết mình. Dứt bài quyền, Tấn trụ bộ bái tổ, cúi đầu chào quan khách rồi trở về. Tiếng hoan hô lại vang lên một lúc đến khi người xướng danh hô lớn gọi võ sinh tiếp theo mới ngưng: – Nguyễn Văn Lịch! Lịch lên tiếng đáp: – "Có mặt!" rồi ung dung bước ra giữa sân cúi đầu chào quan khách và khán giả. Tiếng hoan hô bỗng nổi lên ầm ầm như vỡ chợ. Từ lâu bà con ở đây đã nghe danh tiếng giỏi võ của Lịch, người học trò cưng của thầy Sáu. Trương Định cũng tỏ ra rất chú ý đến Lịch, vì ngay từ phút đầu khi Lịch bước ra sân, ông đã thấy ở người thanh niên này có vẻ mặt khôi ngô, thông minh, cương nghị, một phong thái ung dung tự tin. Lịch bắt đầu biểu diễn. Trong số nữ võ sinh không ai không nhìn Lịch với đôi mắt thán phục, nhứt là Nghĩa. Trong mắt cô thôn nữ này, Lịch là một thần tượng không ai so sánh được. Ngoài sân, Lịch vẫn tiếp tục bài quyền mà anh hết sức luyện tập công phu. Nhứt là những động tác xoay mình đá "liên hoàn cước" hết sức đẹp mắt và lợi hại, khiến Trương Định không thể không vỗ tay hoan hô với lời khen: – "Hay lắm! Tuyệt lắm!". Từng nét mặt của thầy Sáu, các vị chức sắc và dân làng quanh sân, đều biểu lộ niềm vui và sự thán phục tài nghệ của anh thanh niên dân chài quê mình. Lịch đã kết thúc bài quyền của mình. Tiếng hoan hô lại nổi lên kéo dài. Lịch cúi chào đáp lại thịnh tình của quần chúng dành cho anh, nhưng khi anh chào quan khách toan về chỗ thì Trương Định vẫy anh lại. Anh hồi hộp đến trước vị võ quan triều đình mà anh rất ngưỡng mộ lâu nay. Trương Định móc ra nén bạc đưa cho Lịch: – Ta thưởng cho chú biểu diễn bài quyền vừa rồi. Khá lắm! Lịch đỏ mặt lúng túng trước ân huệ của quan lãnh binh. –  Cám ơn đại nhân. Nhưng Lịch không dám nhận. Đến lượt Trương Định lại lúng túng trước sự từ chối bất ngờ này. Trong thâm tâm, ông rất có cảm tình trước thái độ khiêm tốn của Lịch. Ông mỉm cười quay lại thầy Sáu: – Thầy có ý kiến gì với chú em này đi. Ông thầy Sáu nhìn Lịch với đôi mắt trìu mến: – Thầy hiểu con. Nhưng đây là tấm lòng của Trương đại nhân đối với con, thầy cho phép con nhận để không phụ lòng tốt của đại nhân. – Dạ… Con xin vâng lời thầy. Xin cám ơn đại nhân. Lịch đưa hai tay ra nhận nén bạc từ tay Trương Định. Cuộc hội ngộ đầu tiên giữa hai con người anh hùng của nhân dân vùng đất lịch sử đồng bằng sông Cửu Long sau này trong cuộc chen đấu chống quân xâm lược thực dân Pháp nửa cuối thế kỷ XIX đã diễn ra như vậy.


***


            Một đoàn tàu chiến của quân Pháp và Tây Ban Nha đến trước cửa biển Đà Nẵng. Đó là một ngày vào cuối tháng 9 năm 1856.


            Viên đô đốc chỉ huy hạm đứng trên mũi chiếc tàu chỉ huy Catina dùng ống nhòm quan sát trận địa chiến lũy quân ta bố trí dọc theo bờ biển Quảng Nam – Đà Nẵng từ Hải Châu ngoài mé biển vào tới Phúc Ninh, Thạch Giản… Trước lũy có đào hố cắm chông nhọn, trên ngụy trang bằng cỏ khô. Có một số khẩu đại bác thần công nghếch nòng về phía biển… Trong trận địa quân ta, quan Kinh lược Nguyễn Tri Phương được triều đình Huế cử vào làm Tổng thống quân thứ Quảng Nam – Đà Nẵng chỉ huy lực lượng phòng ngự, đang cùng một số võ quan đi kiểm tra thanh sát dọc theo chiến lũy. Ông dừng lại trước khẩu thần công thì viên võ quan chỉ huy khẩu đội chạy lại nghiêm chào và chỉ tay về phía biển: – Bẩm tướng quân, phía ngoài biển có tàu chiến Tây dương xuất hiện, không biết chúng định làm gì. Xin tướng quân định liệu.


            Người võ quan chỉ huy pháo đội đưa ống nhòm cho Nguyễn Tri Phương. Ông giơ ống nhòm lên ngắm một lúc rồi nói: – Nó chưa làm gì thì không được nổ súng trước. Đây là lệnh triều đình. Nghe chưa? – Bẩm tướng quân, xin tuân lệnh! Người chỉ huy pháo đội rập chân đứng nghiêm chào khi Nguyễn Tri Phương vội vã đi về doanh trại của mình. Ông đã cảm thấy tình hình không ổn. Có thể địch sẽ nổ súng, nhưng chủ trương triều đình là cố giữ hoà khí với Tây dương, không được nổ súng dù bị kẻ địch khiêu khích. Về đến chỉ huy sở, ông vào phòng trong thay bộ võ phục rồi trở ra lại chỗ thư phòng nơi treo nhiều bản đồ phòng ngự duyên hải và một số binh khí. Người lính hầu già bưng vào khay trà, rót ra tách rồi lặng lẽ lui ra. Ông nhấp một ngụm nước trà rồi lại đứng trầm ngâm nhìn lên tấm bản đồ với ánh mắt đăm chiêu lo lắng với câu hỏi trong đầu: "Bọn Tây dương mang tàu chiến đến trước biển Đà Nẵng diễu võ dương oai để làm gì đây?". Ông trở lại án thư lấy giấy bút thảo sớ dâng lên nhà vua báo cáo tình hình và xin triều đình cho phép đánh trả khi bị tấn công. Viết sớ xong, ông gọi lính hầu: mmmmmmmmmmmmmmmmmmmm
            Bay đâu? Người lính hầu già trở vào chắp tay: – Bẩm tướng công cho gọi? – Nhà ngươi đưa sớ này cho quản Long bảo dùng ngựa lưu tinh đem về triều đình dâng lên hoàng thượng gấp. Nghe chưa? – Thưa vâng! Người lính hầu cầm phong bì của Nguyễn Tri Phương đưa, kính cẩn chào lui ra. Ông lại đứng lên đi tới đi lui trong thư phòng với vẻ mặt đăm chiêu suy nghĩ. Bỗng có nhiều tiếng đại bác nổ ầm ầm ở ngoài vọng vào nghe rõ mồn một. Ông vội vàng vào trong mặc lại bộ võ phục. Cũng vào lúc ấy một viên võ quan chạy vào báo cáo qua hơi thở gấp: – Bẩm tướng quân, giặc đã bắn vào trận địa thần công của ta! Xin tướng quân… Nguyễn Tri Phương cau mày giận dữ ra lệnh: – Đánh trả lại ngay! Chuẩn bị đánh quân đổ bộ! – Tuân lệnh!


            Một tiếng nổ ầm chát chúa ngay doanh trại chỉ huy. Người võ quan vội nhào tới lấy thân mình che cho ông Tổng thống quân thứ Quảng Nam bị sức gió viên đạn nổ đẩy ngã xuống trong cụm khói lửa bao trùm lên. Nhiều cột khói đen trùm lên trận địa đại bác thần công của ta sau những tiếng nổ ầm ầm làm rung chuyển trận địa. Một số pháo thủ ta trúng miểng đạn gục ngã. Một vài khẩu thần công bắn trả bằng cách pháo thủ nhét đạn vào đầu nòng rồi đốt bùi nhùi… Tiếng nổ dữ dội phát ra nhưng đạn ta không bay tới tàu chiến địch ngoài khơi xa mà chỉ nổ ở bãi biển cách trận địa vài trăm mét. Một số dân làng dắt nhau bỏ chạy. Nhà của họ trúng đạn địch bốc cháy ngùn ngụt, khói đen bùng tỏa một góc trời. Một quả đạn pháo rơi trúng vào đám dân bỏ chạy. Sau tiếng nổ ầm chát chúa, xác người chết, bị thương nằm ngổn ngang trên mặt đất còn khét mùi khói súng.


            Khi Tổng thống quân thứ Nguyễn Tri Phương với cánh tay bị thương băng bó ra đến trận địa thì tàu giặc không bắn nữa. Chúng lần lượt nối nhau rút ra ngoài khơi xa trông như những chấm đen di động. Ông đứng nhìn theo vẻ mặt đầy căm uất, đau đớn…


***


            Trở lại sân đình. Cuộc thí võ đã chuyển sang giai đoạn đấu đối kháng. Tiếng trống vẫn nổi lên từng hồi thúc giục. Nhường đấu với Quảng. Cả hai đều trổ hết tài nghệ quần thảo với nhau để giành chiến thắng trong tiếng hò reo cổ vũ của người xem. Trương Định luôn mỉm cười tỏ vẻ hài lòng. Cả các vị hương chức làng xã cũng vui vì trai tráng trong làng họ đã làm hài lòng vị lãnh binh mà họ vẫn ngưỡng mộ về tài đức. Cuối cùng, bằng một thế võ hiểm, Nhượng quật ngã Quang trong tiếng hoan hô rầm rộ. Cả hai chạy đến chào quan khách rồi lui về chỗ. Gương mặt họ đẫm mồ hôi nhễ nhại. Bây giờ đến lượt Lịch thi đấu với Huỳnh Tấn. Đây là một cuộc đấu mà tất cả người xem chờ đợi vì họ biết cả hai gần như ngang tài ngang sức, hứa hẹn một trận đấu đẹp mắt, hấp dẫn. Hai võ sinh cúi chào quan khách trong tiếng hoan hô rầm rộ. Họ bắt đầu xông vào nhau, giở các thế võ đã học được ở thầy và sáng tạo thêm cho riêng mình khiến cho cuộc tỉ thí thêm căng thẳng, hồi hộp. Tấn vốn biết Lịch giỏi hơn mình và khi nãy lúc biểu diễn đường quyền cước Lịch đã được quan lãnh binh ban thưởng, nhưng lần này thì Tấn quyết chứng minh mình vẫn có thể hạ được Lịch cho thiên hạ biết mặt. Trái lại, Lịch cũng biết Tấn háo thắng, háo danh, hắn sẽ không nương tay với anh, kể cả những miếng đòn hiểm nhưng Lịch không ngại, anh đủ sức hoá giải các đòn thế của Tấn muốn hạ mình. Đúng là một trận đấu rất ngoạn mục, phần lớn Tấn ra đòn bằng tay và chân, nhưng Lịch đều khéo léo né tránh được. Tiếng hoan hô của người xem cùng tiếng trống thúc giục đã làm cho cuộc đấu trở nên hết sức sôi động, quyết liệt. Trương Định quay qua nói nhỏ với ông thầy Sáu: – Đúng là cặp "lưỡng hổ tranh hùng", nhân tài đất nước là hai chàng trai này đây. Xin chúc mừng thầy đào tạo được những học trò xuất sắc! Ông thầy Sáu cũng rất xúc động trước lời khen của quan lãnh binh: – Cám ơn đại nhân có lời khen – Nhưng rồi giọng ông trầm lại – Xem ra thằng Tấn quyết hạ thằng Lịch cho bằng được, máu ăn thua trong người nó nhiều quá! Vậy là… không được! Trương Định cười vui: – Tuổi trẻ luôn "háo thắng" mà thầy! Để coi "mèo nào cắn mỉu" nào. Ngoài sân, Tấn có vẻ đã thấm mệt. Những miếng đòn ra đã không còn mạnh mẽ, nhanh nhẹn như trước. Trái lại, Lịch vẫn tỏ ra sung sức như hồi mới vào trận. Và rồi sau khi né cú đá nghịch của Tấn, Lịch nhẹ nhàng hạ Tấn bằng một thế võ hiểm riêng của chàng sáng tạo và dày công khổ luyện, khiến Tấn ngã lăn trên sân. Tiếng vỗ tay ào lên như sấm dậy. Lịch vội đỡ Tấn đứng lên. Nét mặt Tấn có vẻ sượng sùng nhưng Lịch đã nói khẽ: – "Xin lỗi nhé!". Cả hai cúi chào quan khách. Trương Định hết sức hài lòng. Ông nói với thầy Sáu: – Tôi sẽ phong cho Lịch chức đội trưởng nông binh làng này, anh ta rất xứng đáng!


            Bây giờ đến lượt nữ võ sinh biểu diễn binh khí.


            Nghĩa cầm cây kiếm ra cúi chào quan khách rồi bái tổ bắt đầu biểu diễn. Bằng những động tác đâm ngang chém dọc, lưỡi kiếm trong tay Nghĩa tỏ ra hết sức lợi hại trong thế công lẫn thế thủ đã làm cho người xem hết sức phấn khởi thích thú. Họ hò reo cổ vũ làm không khí sôi động hẳn lên. Trương Định, ông thầy Sáu, các vị chức sắc tỏ ra hết sức hài lòng. Lịch cũng rất chăm chú theo dõi đường kiếm của Nghĩa. Rõ ràng Nghĩa đã cố công khổ luyện mới biểu diễn có sức hấp dẫn và thuyết phục này. Kết thúc phần biểu diễn bằng động tác rún chân bay lên rồi sà xuống rạp người lưỡi kiếm tạo thành một dòng lấp loáng quanh người, Nghĩa đã làm người xem hết sức khâm phục. Tiếng hoan hô vang dậy. Nghĩa nét mặt đỏ bừng, mồ hôi lấm tấm trên mặt, cô cúi chào rồi trở về chỗ của mình. Nét mặt Trương Định vui vẻ hẳn ra. Ông không ngờ trai gái vùng này lại có những đường quyền, đường kiếm điêu luyện đến vậy.


            Từ xa, một người lính trong quân triều đang phóng ngựa như bay trên con đường làng về hướng sân đình nơi đang có hội võ. Và bây giờ đến lượt Mận biểu diễn trường côn.


            Cây côn trong tay cô gái cũng tỏ ra hết sức lợi hại khi tiến, khi lui, khi nhanh, khi chậm đã làm cho người xem rất hài lòng. Tiếng hoan hô lại nổi lên rầm rộ khiến cho Mận hết sức phấn khích, cây côn trong tay cô lại biến hoá nhanh như cây thiết bảng ở tay Tôn Ngộ Không trong truyện Tây du ký. Người lính phi ngựa chậm lại khi tới ngã rẽ vào sân đình. Mận đã thu côn về bái tổ cúi chào quan khách. Tiếng hoan hô cổ vũ nổi lên trong đám người xem, trong đó có nét mặt tươi tỉnh của Huỳnh Tấn. Anh ta tỏ ra thích thú với sự tiến bộ về võ thuật của người yêu. Người lính buộc ngựa vào gốc cây bàng gần cổng đình rồi nhanh nhẹn đi vào sân, đến chỗ Trương Định ngồi, nói nhỏ: – Bẩm đại nhân, có thư của quan Trấn thủ gởi ngài. Trương Định tiếp phong thư người lính đưa, xé ra xem. Trong khi đó người lính trở ra ngoài, mở dây buộc ngựa rồi nhảy lên phóng như bay theo đường cũ… Xem xong thư, Trương Định cho vào túi áo rồi đứng lên nói: – Bổn quan có việc phải về Định Tường gấp, không thể ở lại dự hết cuộc hội thi này. Xin có lời cáo lỗi các vị chức sắc. Riêng với các thí sinh dự hội hôm nay, bổn quan có lời khen về sự cố gắng rèn luyện và biểu diễn thành công làm rạng danh môn võ cổ truyền của dân tộc. Riêng Nguyễn Văn Lịch, từ thời khắc này bổn quan phong cho chức Đội trưởng đội nông binh làng này. Quý vị đồng ý chớ? Tiếng hoan hô của quần chúng vang dậy. Nguyễn Văn Lịch bước ra cúi đầu: – Cám ơn đại nhân. Lịch tôi sẽ cố gắng không làm phụ lòng đại nhân đã chiếu cố. – Xin cáo từ quý vị – Trương Định giơ tay vẫy chào rồi lui ra. Người lính hầu đã dắt ngựa tới. Trương Định nhảy lên ngựa bằng động tác thuần thục, ra roi cho ngựa phi nước đại phóng nhanh ra đường làng.             Người lính hầu cũng vội phóng ngựa theo sau. Bóng hai thầy trò nhỏ dần trên con đường hun hút xuyên cánh đồng rộng mênh mông vàng rượm mùa lúa chín. Trong khi đó ở sân đình những anh em võ sinh đã xúm lại công kênh Lịch lên, hoà cùng tiếng reo hò vang dậy của dân làng chào đón người đội trưởng mới của nông binh và là người chiến thắng vẻ vang nhứt trong cuộc thi võ đài lần này.










 




Chương Hai


Năm 1858. Nòng súng đại bác trên tàu chiến Pháp và Tây Ban Nha chĩa thẳng vào trận địa quân triều đình phòng thủ dọc theo duyên hải Quảng Nam – Đà Nẵng chờ lệnh nổ súng. Quân Pháp và quân Tây Ban Nha đi lại trên những tàu chiến đã dàn thành hàng ngang ngoài khơi Đà Nẵng. Một số lính vận chuyển đạn đại bác đến chất bên cạnh các khẩu pháo. Một số đang lau chùi vũ khí, loại súng trường kiểu cổ, bắn từng phát đạn, bắn xong lại lắp thêm viên khác, nên có số lính đeo những dây băng đạn chéo qua người. Bọn lính Pháp ăn mặc theo kiểu quân phục thời Nã Phá Luân đệ nhất, áo xanh quần trắng. Quân Tây Ban Nha cũng có quân phục riêng của quân đội Hoàng gia Tây Ban Nha, vì thời đó Tây Ban Nha có đội hải thuyền mạnh đã xâm chiếm nhiều thuộc địa ở châu Mỹ Latinh từ vùng vịnh Mêxicô đến tận Chilê. Ở châu Á, Tây Ban Nha đã chiếm Phi Luật Tân làm thuộc địa từ thế kỷ trước. Lần này chúng cũng đưa một số tàu chiến tham gia với hải quân Pháp tấn công Đà Nẵng. Trên kỳ đài của chiếc pháo hạm chỉ huy, đô đốc Rigault de Genouilly mặc quân phục đô đốc hải quân, đang giơ ống nhòm quan sát trận địa quân ta. Lá cờ tam tài xanh trắng đỏ tung bay trên đỉnh cột cờ pháo hạm.


            Rigault de Genouilly nói với viên võ quan phụ tá với vẻ mặt không vui: – Nếu Đà Nẵng là một vị trí có tầm quan trọng về mặt quân sự thì Sài Gòn ở vùng đất phía Nam lại có thể là một trung tâm thương mại lớn sau này. Người châu Âu sẽ lui tới buôn bán ở đây. Xứ này rất giàu, có đủ mọi sản vật, sông Sài Gòn lại nối liền với nội địa châu thổ sông Cửu Long, tài nguyên vô cùng phong phú có thể xuất cảng được. Tôi đã đề nghị hoàng thượng cho đánh chiếm Sài Gòn thuận hơn đánh ở đây… – Thưa đô đốc, nhưng Đà Nẵng lại gần triều đình Việt Nam, nếu ta chiếm đây sẽ uy hiếp trực tiếp họ Viên sĩ quan phụ tá lễ phép nói ý kiến của mình. – Nhưng cũng gần với sự tăng viện to lớn mà triều đình Việt Nam có thể huy động để chống lại ta. Rigault de Genouilly nói nghiêm chỉnh. – Thưa đô đốc – viên sĩ quan phụ tá nói: – Theo những tin tức mà các nhà truyền giáo và những người Việt bí mật làm việc với ta thì triều đình Việt Nam không có chủ trương kháng chiến, mà gần như họ chỉ lo chú trọng phòng thủ với lập luận rằng chúng ta ở xa đến đây, nếu kéo dài quá nhiều ngày sẽ gặp khó khăn về tiếp tế lương thực, thuốc men, vũ khí… ta sẽ không thể tiếp tục chiến đấu được phải rút hết về nước thôi! Đó là lập luận “bất chiến tự nhiên thành” của họ, thưa đô đốc! Genouilly cười lớn đầy vẻ ngạo mạn: – Rồi họ sẽ phải trả giá cho cái lập luận ngu xuẩn đó! Nước họ có chiều dài dọc theo ven biển cả ngàn hải lý, ta không đánh được chỗ này sẽ tấn công chỗ khác. Còn lương thực ư? Ông nên nhớ xứ Đàng Trong rất giàu sản vật, chỉ sợ ta không đủ quân ăn cho hết đó thôi. Rồi hắn đưa ống nhòm lên cho viên sĩ quan phụ tá: – Ông xem đi. Coi cho rõ sự phòng thủ của họ, liệu có chịu nổi đạn đại bác của chiến hạm ta không?


***


 


            Ở trận địa phòng thủ quân ta ở Đà Nẵng với chiến lũy đắp dài. Các khẩu thần công được che bằng các mái tranh, lá dừa, nòng súng vẫn chĩa về phía biển. Các pháo thủ từ khi nghe tiếng mõ báo động đã sẵn sàng những cây bùi nhùi để khai hoả. Mỗi khẩu thần công có một đội trưởng chỉ huy với chiếc cờ lệnh đuôi nheo trong tay, luôn đốc thúc pháo thủ lau chùi quả đạn, sẵn sàng khai hoả khi có lệnh. Ở các xóm vạn chài gần trận địa pháo triều đình, rút kinh nghiệm lần bắn phá hai năm trước, họ bắt đầu bồng bế dắt díu nhau vào núi, vào rừng lánh nạn. Đa số là người già, đàn bà và trẻ con. Một số dân làng tuổi trung niên và trai gái khoẻ mạnh khác gồng gánh bánh trái, dừa chuối ra trận địa động viên ủy lạo quân sĩ ở chiến lũy và các pháo thủ các khẩu thần công…


            Trên pháo hạm chỉ huy. Thưa đô đốc – viên võ quan phụ tá trả ống nhòm lại cho Genouilly – Đại bác họ cổ lỗ như vậy làm sao bắn có hiệu quả? Nhưng tinh thần binh sĩ của họ xem ra cũng hăng hái đấy chứ? – Để rồi ông coi. Không có tinh thần nào chống nổi đạn đại bác đâu! Truyền lệnh cho các pháo thủ, chuẩn bị nhả đạn! Tất cả chuẩn bị! Viên phụ tá hô lớn. Tên lính cầm cờ hiệu vội đánh tín hiệu bằng cờ cho các tàu chiến khác chuẩn bị pháo kích!


            Genouilly quan sát lần cuối rồi ra lệnh: – Bắn! Viên phụ tá hô theo: – Bắn! Lập tức hàng loạt đạn đại bác trên tàu chỉ huy và các tàu khác đồng loạt nổ rền cả vùng biển vốn yên tĩnh. Khói trắng từ các khẩu đại bác làm mờ hẳn các pháo thủ đang nạp đạn hối hả. Trong trận địa quân ta. Mấy quả đạn nổ chớp lửa quanh khẩu thần công, làm sạt một góc chiến lũy. Khói đen mù mịt, mùi thuốc súng cay xè. Một số pháo thủ bị miểng đạn pháo trúng làm chết và bị thương. Một số nhà dân bốc cháy… Khói lửa ngút trời… Cảnh tượng này diễn ra giống như trận pháo kích từ năm 1856, nhưng cường độ dữ dội và ác liệt hơn nhiều. Từ các chiến hạm địch đã thấy thòng xuống biển một số thuyền nhẹ chở đầy quân đổ bộ trang bị súng trường có gắn lưỡi lê sáng chói. Mỗi tên lính đều có dầm bơi. Chúng bắt đầu bơi vượt sóng tiến vào bờ.


            Trong khi đó các khẩu đại bác trên tàu vẫn tiếp tục bắn vào chiến lũy ta, gây thêm thương vong cho võ quan và binh lính triều đình. Những chiếc thuyền đổ bộ của giặc đã vào đến bãi cát ven biển. Những tên giặc hò reo nhảy xuống dàn hàng ngang, vừa bắn vừa hò hét xung phong tiến vào chiến lũy ta. Các khẩu thần công ta cũng gây cho địch một số thương vong. Một đụn khói đen chớp lửa chụp lên mấy tên giặc đang chạy khiến chúng ngã lăn trên bãi cát giẫy chết nhưng một số khác vẫn hò hét xông lên. Trong chiến lũy quân ta, viên võ quan chỉ huy thét lớn: – Chuẩn bị đánh giáp lá cà! Vừa thét, ông vừa rút gươm ra giơ cao như một hiệu lệnh. Lập tức các anh lính ném những khẩu súng đã bắn hết đạn, cầm lấy những thanh mã tấu đã chuẩn bị sẵn trong ngách hào chiến lũy. Những đôi mắt căm thù rực lửa nhìn những tên lính Pháp đang chạy về phía trận địa mình. Khi chúng còn cách chiến lũy ta chưa đến mười thước, bỗng có tiếng hô dõng dạc của viên võ quan chỉ huy: – Diệt hết lũ Tây dương!


            Nhiều tiếng thét hưởng ứng: “Sát”, rồi từ trong chiến hào những người lính dũng cảm của triều đình vung mã tấu đồng loạt nhảy ra, xông vào lính địch đánh giáp lá cà dữ dội.


            Trận chiến đã kết thúc sau khi để lại chiến trường hàng trăm binh sĩ đôi bên chết và bị thương. Quân triều đình rút sâu vào rừng núi phía trong. Cờ ba sắc của Pháp đã cắm được trên nóc đồn tiền tiêu của quân ta vùng duyên hải Đà Nẵng còn ngổn ngang xác chết và khói lửa nghi ngút chưa tắt…


***


 


            Lịch đang ngồi với NhườngQuảng trên bãi cỏ nghỉ giải lao sau buổi luyện tập với đội nông binh ở sân đình làng. Quảng hỏi: – Mấy hôm nay sao không thấy Huỳnh Tấn tập với anh em mình? Tấn xin nghỉ vài hôm đi Sài Gòn có chuyện riêng gia đình. – Dạo này không thấy Tấn hăng hái luyện tập, không biết có chuyện gì không anh Hai? – Nhường hỏi. – Chắc không có chuyện gì đâu – Lịch nói – Mà anh em mình có làm gì cho anh ta buồn đâu? – Tôi thấy có đó! – Quảng nói với cái nháy mắt hóm hỉnh. – Chuyện gì? – Lịch nhìn Quảng có vẻ không hiểu. Anh không thấy hôm anh được quan lãnh binh phong chức Đội trưởng, anh em rất vui, nhưng tôi để ý thấy Tấn hơi buồn đó. – Mình cũng chẳng để ý. Thiệt ra, mình thấy trong mấy anh em mình ai làm Đội trưởng cũng được. – Đâu có dễ như vậy anh Hai – Nhường nói giọng nghiêm túc – Dầu lãnh một chức nhỏ nào trong quân ngũ, cũng đều phải có tài có đức chớ! – Một cây làm chẳng nên non” hay “một con én không làm nổi mùa xuân” đâu, nếu không có anh em đồng tâm hiệp lực giúp cho. Ngoài ra, còn phải kể đến dân chúng. Người xưa có nói “thiên thời, địa lợi, nhơn hoà”, mà xét cho cùng “nhơn hoà” là quyết định. Không có dân là không có nước. Thời nhà Hồ, Hồ Quý Ly, Hồ Nguyên Trừng đều là những người có tài, nhưng vì dân không ủng hộ, nên chỉ một năm thôi, cả triều Hồ – cha con đều bị tướng nhà Minh Trương Phụ bắt sống, đúng như lời Hồ Nguyên Trừng đã nói trước đó: “Tôi không sợ giặc, chỉ sợ dân không ủng hộ ta!”. Ý dân là ý trời mà! – Anh Hai nói chí lắm! Quảng gật gù đồng ý. Thôi, đến giờ tập rồi – Lịch đứng dậy nói – Cậu Quảng, nhớ dạy cho anh em đánh cận chiến dùng tay không cướp binh khí giặc. Nhớ chưa? – Nhớ rồi! Anh Hai yên tâm đi! – Nói rồi Quảng hô lớn: – Hết giải lao rồi. Anh em tập họp lại. Mau lên! Các chiến sĩ nông binh đang nghỉ quanh đó kẻ nằm, người ngồi nghe Quảng gọi lập tức đứng dậy chạy vào sân, xếp đội ngũ chờ lệnh.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »