tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29440764
Tiểu thuyết
07.09.2012
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng

 Kính tặng:


- Hương hồn cha:
             Nhà giáo-Liệt sỹ Nguyễn Kim Xuyến.


- Cán bộ, chiến sỹ Quân báo Nam Bộ, Quân Khu 8,
 Phân Liên  khu Tây Nam Bộ


đã giúp tôi trưởng thành qua hai cuộc kháng chiến
 thần thánh của Dân tộc.


DL.


 


 


Lời giới thiệu của nhà văn Vũ Hạnh


Viết về danh nhân, anh hùng của đất nước mình, ngoài sự bày tỏ tấm lòng tri ân đối với các bậc tiền nhân đã có công sức lớn lao nuôi dưỡng Tổ quốc bền vững, còn là góp phần truyền tiếp thêm lòng yêu nước và tự hào dân tộc cho thế hệ trẻ. Nghị quyết 23 của Bộ Chính trị đã nhấn mạnh việc quan tâm về đề tài chiến tranh cách mạng và đề tài lịch sử. Với sự chỉ đạo gần đây Hội đồng Lý luận và Phê bình văn học nghệ thuật thuộc Ban Tuyên giáo Trung ương đã có văn bản thúc đẩy “sáng tác và quảng bá tốt các tác phẩm văn học, nghệ thuật về đề tài lịch sử có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao sẽ có tác động rất sâu rộng, giáo dục, bồi dưỡng chủ nghĩa yêu nước, truyền thống dân tộc cho nhân dân”.


Tác phẩm Nguyễn Trung Trực- Khúc ca bi tráng của nhà văn Dương Linh có thể là sự đáp ứng tích cực cho kỳ vọng Ban tuyên giáo Trung ương. Bởi lẽ, từ thời mở cõi về đất phương Nam, khá nhiều danh nhân anh hùng vẫn chưa được tôn vinh đúng mức, và một trong những con người kiệt xuất là Nguyễn Trung Trực chưa được thể hiện qua một công trình văn học xứng tầm. Con người sinh sống bằng nghề chài lưới, có học nhưng nghèo nàn ấy đã là nhân vật giàu có vô hạn về lòng yêu nước, về phẩm cách sống, về sự bất khuất kiên trung và trong điều kiện khốn khó của quê hương mình đã lập được những kỳ công vang dội một thời.


Hai câu thơ của Huỳnh Mẫn Đạt:


Hỏa hồng Nhựt Tảo oanh thiên địa


 Kiếm bạt Kiên Giang khấp quỷ thần


đã nói lên sự vĩ đại của người anh hùng áo vải, dân chài ở tuổi 23 từng sống và chết theo một đạo lý tuyệt vời và đã ra đi ở tuổi 30 nhưng mãi là người bất tử trong lòng dân tộc. Hàng năm, vào lễ giỗ của Người, cả triệu người dân phương Nam đã tụ tập đến để bày tỏ lòng thành kính tri ân.


Tác giả Dương Linh không chỉ là ngòi bút lịch lãm có nhiều tác phẩm giá trị, đặc biệt là các kịch bản thời ông tập kết ra Bắc mà còn có nhiều ưu thế trong sự sáng tạo nên công trình này: ông là con dân Nam Bộ nên thể hiện được sắc sảo ngôn từ cùng các sinh hoạt địa phương, là chiến sĩ nhiều năm trong quân ngũ cách mạng nên thông thạo cách vận động chiến đấu. Ông là một trí thức uyên bác, đọc rộng, hiểu nhiều nên việc thể hiện lịch sử ngoài sự phong phú còn tính trung thực đáng quý.


Xin trân trọng giới thiệu với bạn đọc.


 


   TP Hồ Chí Minh, ngày 02 tháng 9 năm 2012


                                                    Nhà văn Vũ Hạnh










 




 


Chương Một


Năm 1856.  Sông Vàm Cỏ. Một buổi sáng tinh sương. Mặt trời chen qua đám mây giăng ngang chân trời phía đông buông ánh sáng xua tan lớp sương mù còn phủ kín những đám lá dừa nước ven sông. Những chiếc thuyền buôn bắt đầu xuôi ngược trên dòng sông hiền hoà thơ mộng.


            Tiếng người cười nói râm ran phá tan không khí tĩnh mịch của vùng quê đồng bằng châu thổ.


            Một người thanh niên cởi trần, dáng người cao ráo, vạm vỡ, màu da nâu bóng với khuôn mặt chữ điền, đôi lông mày đen nhánh hơi xếch lên thanh tú. Đặc biệt là đôi mắt rất sáng, ánh lên vẻ thông minh đôn hậu, nhưng cũng đầy khí phách kiên cường. Bằng một động tác thành thạo, anh vung tấm chài xoè rộng ra như cái nấm khổng lồ chụp xuống dòng nước gần đám lá ven sông.


            Thằng bé con chèo chiếc tam bản, cũng tỏ ra là tay chèo giỏi, kềm mái chèo giữ chiếc tam bản khỏi chao đảo sau cái nhún vung chài của người thanh niên. Chú bé còn ở tuổi thiếu niên nhưng qua động tác kềm mái chèo điệu nghệ ra dáng đã thạo nghề sông nước của dân chài lưới vùng Nhựt Tảo.


            Một chiếc xuồng chở đầy trái cây bơi lướt qua. Cô gái ngồi bơi phía sau, đội chiếc nón lá, cổ quấn chiếc khăn rằn, nét mặt có vẻ đẹp mặn mà của con gái vùng quê, hỏi vọng sang tiếng rất trong trẻo:


            Anh Hai ơi! Đi chài sớm vậy đã được nhiều tôm cá chưa?


            Cũng tàm tạm cô Nghĩa à! – Anh thanh niên tên là Lịch, cười đáp vui vẻ – Cô đi chợ nào đó? – Em xuống Tân An. – À, anh Hai ơi! Nghe đâu có gánh hát bội của ông bầu Thưởng sắp về hát ở làng mình đó. Anh có đi coi không? – Cô gái kềm dầm cho xuồng chậm lại nói. – Nếu cô rủ thì tôi đi – Lịch cười nhìn cô gái với ánh mắt trêu chọc – Lâu quá chưa có ai rủ đi coi hát xướng gì đâu! À, mà chừng nào hát đó? – Tối mai, ở sân đình. Nhớ đi nghe anh Tư! – Ừa. Cô đã mời thì tôi đâu dám chối từ chối. – Anh hứa thiệt chớ? Anh không đi em giận đó!


            Sau câu nói là tiếng cười giòn tinh nghịch, rồi không đợi Lịch nói gì thêm, cô gái vung mạnh mái dầm. Chiếc xuồng lao nhanh theo dòng nước xuôi về phía trước. Lịch đứng nhìn theo mỉm cười một mình. Tiếng nói của chú bé chèo phía sau cắt ngang dòng suy nghĩ của anh: – Anh Hai đi coi hát, cho em theo coi với nghe! Em cũng mê hát lắm!


            Kéo mẻ chài cuối cùng, xem lại trong khoang tam bản thấy tôm cá đã khá, bỗng Lịch nghe có tiếng kêu cứu thảng thốt từ chiếc ghe chài lớn đậu bên kia sông vọng ra: – Cướp, cướp! Bớ làng xóm ơi! Bớ… Tiếng kêu bỗng im bặt đột ngột, dường như người kêu đã bị bịt miệng. Không chút chần chừ, Lịch bảo chú bé đưa tay chèo cho anh chèo sang chiếc ghe chài cho nhanh. Chiếc tam bản dưới đôi tay khoẻ mạnh, gân bắp cuồn cuộn của chàng trai làm nghề chài lưới, lao vọt lên rẽ nước tiến về chiếc ghe bị cướp.


 Trên chiếc ghe chài, ba bốn anh làm công đã bị trói gô lại một góc, miệng bị nhét khăn đau đớn nhìn bọn cướp hoành hành. Một tên cao lớn mặc đồ đen theo lối võ sinh, có bộ râu quai nón và cặp mắt rất sắc ẩn dưới đôi lông mày rậm, có dáng là đầu đảng đang dí lưỡi dao găm vào cổ ông chủ ghe trạc ngoài năm mươi người Hoa, da mặt trắng nhợt ra vì sợ hãi: – Tiền vàng cất đâu? Nói mau! – Dà… dà… – Ông chủ ghe lắp bắp – Có bao "diêu" mấy ông lấy hết "dồi"… Còn lâu nữa… Tên đầu đảng quay lại hất hàm ra lệnh cho mấy tên đàn em lâu la đứng xớ rớ gần đó: – Tụi bây lục soát hết trong mui này cho tao! Rồi hắn cười gằn với chủ ghe:


            Mày buôn bán lúa gạo bao nhiêu năm trên con sông này, tao rành quá mà! Bọn đàn em nó lục được tiền vàng mầy còn cất giấu thì tao mổ bụng mầy ra xem lá gan mầy bao lớn mà dám nói láo với tao! – Ái dà… "lừng" có giết ngộ… Tội nghiệp mà ông lớn! –  Ông chủ ghe sợ quá lắp bắp cầu xin.


            Chiếc tam bản của Lịch đã vượt quá nửa sông hướng về chiếc ghe chài. Mồ hôi vã ra trên nét mặt nâu bóng của anh. Vì nước ròng chảy xiết, anh phải chèo hết lực mới đưa được chiếc tam bản vượt lên dòng nước ngược. Anh nói với chú bé:


            Tới nơi, em cứ ngồi dưới này giữ ghe, để anh lên trị bọn cướp dám liều mạng cướp ngày trên sông này nghe!


            Coi chừng, sợ tụi cướp đông đó anh Hai! – Chú bé tỏ ra lo lắng. – Nó có đông cũng thây kệ. Anh đủ sức trị mà! – Lịch cười tự tin. Chiếc tam bản vẫn băng băng rẻ nước lướt tới… Một tên lâu la còn trẻ, mặt mũi non choẹt, đứng gác trước mũi ghe, thấy tam bản vượt qua sông tiến về phía ghe chài. Nó hốt hoảng vội ló đầu vào cửa mui kêu lớn: – Đại ca, có người tới! – Nhiều không? – Tên râu quai nón quay lại hỏi. – Dạ, có một người lớn với một thằng con nít! – Được! Hắn ra lệnh cho một thằng đen nhẻm mình trần trùng trục đang lục đồ trong góc gần đó. – Tư Hổ! Mầy ra giải quyết cái thằng nào dám đến phá cái chuyện làm ăn của bọn mình. Mau đi!


Tên Tư Hổ "dạ" rồi cầm thanh mã tấu lật đật chui ra. Phía bên trong cái mui gần sau lái, hai tên lâu la lôi ra một cô gái trẻ, mặt nhợt không còn hột máu, lắp bắp van xin: – Em lạy các anh… tha cho em. Một tên lâu la có cái thẹo bên má cười sằng sặc: – Để hỏi đại ca của qua có tha cho em không, chớ qua không dám… – Đại ca ơi! Con bé này "ngọt nước" lắm đòi tha cho nó nè! – Trói nó lại! Chút nữa đưa về, tính sau! Tên đầu đảng nói giọng sắc lạnh. Ông chủ ghe thấy con gái bị bắt toan chồm lên, thì bị bàn tay gân guốc của tên đầu đảng ấn xuống. – Muốn sống, ngồi im! Ông già nghẹn ngào: – Ông lớn ơi! Tha con gái ngộ "li", ông lớn đòi bao "diêu" ngộ cũng chịu mà! Đừng bắt nó li, tội nghiệp ngộ mà!


            Chiếc tam bản đến sát mũi chiếc ghe chài. Tên lâu la đứng gác trước mũi quát lớn: – Không được ghé lại! Nhưng vụt một cái, Lịch đã vọt lên mũi ghe, rồi bằng một thế võ anh đá bay tên lâu la xuống sông, trong lúc hắn đang hốt hoảng không kịp đối phó. Vừa lúc đó tên Tư Hổ trong mui cũng ra tới. Thấy Lịch đá bay tên đàn em xuống sông hắn cũng hơi chờn, nhưng thấy Lịch chỉ tay không còn hắn có cây mã tấu trong tay, hắn cũng bớt sợ, hùng hổ lướt tới vung mã tấu chém một nhát thật mạnh. Lịch rạp người né khỏi, rồi cũng bằng một thế đá hiểm, anh đá văng cây mã tấu của tên Tư Hổ, đồng thời giáng cho hắn một quả đấm thôi sơn vào mặt. Tên Hổ ngã xuống sàn ghe, máu mũi ộc ra đầy mặt. Lịch nhặt cây mã tấu giơ lên. Tên Tư Hổ quỳ lạy như tế sao: – Xin anh tha mạng… Xin anh tha mạng!... – Tha cho mầy để rồi mầy đi ăn cướp nữa phải không? – Lịch cau mày quát. – Dạ đâu dám nữa anh Hai ơi! Cũng tại gia đình nghèo khổ quá, anh em rủ rê nên theo họ kiếm ăn… Tư Hổ mếu máo trả lời trông rất thảm hại.  Cầm đầu mày là thằng nào? – Lịch hỏi. – Dạ thưa thằng Sáu Bảnh! Nó đang ở trong mui… – Thằng nào dám đến đây phá đám đó? – Tên cầm đầu cướp tên Sáu Bảnh có bộ râu quai nón đã vọt ra hét lớn. Nhưng hắn cũng kịp thấy Lịch đang cầm cây mã tấu của Tư Hổ, còn tên này mặt mũi đầy máu đang quỳ trước Lịch xin tha mạng. Trong mui hai tên lâu la nữa nghe tiếng động trước mũi đã chui ra hỗ trợ cho thủ lĩnh.
– Tụi bây "chơi" thằng đó cho tao! – Tên Sáu Bảnh hô lớn. Hai tên đàn em nghe lệnh lập tức xông vào. Mỗi đứa trên tay cầm đoản đao. Một cuộc giáp chiến diễn ra ngay sàn mũi chiếc ghe. Tư Hổ sợ quá bò ra phía chót mũi ghe né tránh. Lịch chẳng chút nao núng, vung mã tấu đánh lại. Tiếng binh khí chạm nhau nẩy lửa. Nhưng chỉ trong khoảnh khắc, Lịch đã lần lượt cho hai tên lâu la rơi xuống sông bằng những thế đá hiểm hóc, chúng không sao chống nổi! Lúc bấy giờ Sáu Bảnh, thủ lãnh của bọn cướp nhảy vào. Lưỡi kiếm trên tay hắn lấp loáng ánh mặt trời lúc này đã gần như xua tan lớp sương mù buổi sáng trên sông. Biết tên này thuộc hàng cao thủ, Lịch cũng hết sức thận trọng, không dám khinh suất. Họ đánh nhau từ trước mũi ghe dần dần lên tới trên mui. Tiếng binh khí chạm nhau chan chát toé lửa. Tên Tư Hổ mặt tái nhợt ngồi yên theo dõi cuộc đấu của hai người. Trong mui. Ông chủ ghe người Hoa đã được con gái cởi trói, hết sức lo lắng khi nghe tiếng chân dậm thình thịch ngay trên nóc mui và tiếng binh khí chạm nhau. Họ không biết số phận họ sẽ ra sao, nếu bọn cướp thắng thế. Trên mui. Lịch đã đánh văng cây kiếm của Sáu Bảnh và tên này đã bị thanh mã tấu của Lịch kề cổ. Hắn nhắm mắt chờ chết… Nhưng Lịch đã dừng lại hỏi: – Sao mày đi ăn cướp? – Hỏi làm gì? – Sáu Bảnh nói rắn rỏi – Giết thì giết đi! – Ta không giết người vô cớ – Lịch cười nhạt – Nói đi. Tại sao đi cướp? – Tại nghèo khổ, bị áp bức! – Sáu Bảnh trả lời. – Không phải ai nghèo cũng đi ăn cướp như mày. Kiếm nghề lương thiện làm ăn không được sao? – Lịch buông Sáu Bảnh ra. Trong lòng anh cũng cảm thấy nể cái khí khái không sợ chết của Sáu Bảnh. Con người can đảm khí khái này nếu có thời cơ cũng có thể làm nên sự nghiệp có ích cho đời. – Muốn làm người lương thiện cũng đâu phải dễ, anh. – Giọng Sáu Bảnh đã dịu, không gay gắt như trước: – Tôi đã đi ở đợ cho Bá hộ Vĩnh, chăn trâu cắt cỏ. Buổi trưa mệt quá, nằm ngủ quên, trâu bị trộm lùa đi mất một con. Vậy là Bá hộ Vĩnh, vu cho tôi thông đồng với ăn trộm, bắt trâu của lão đem bán… Tôi hết sức kêu oan, nhưng lão không nghe, bắt bỏ tù tôi một năm, sau khi chịu bao nhiêu kềm kẹp khảo tra đủ thứ cực hình. Ra tù không ai mướn làm hết, không có gì ăn, đói làm sao không đi ăn cướp mà sống? Nhưng tôi chỉ ăn cướp của nhà giàu rồi chia cho dân nghèo, những người có hoàn cảnh khổ như tôi. Tôi nói hết rồi, anh muốn giết thì giết đi, tôi không còn gì nói nữa. Sáu Bảnh nói mấy câu cuối cùng giọng đanh lại khảng khái. – Mầy đã giết người lần nào chưa? – Lịch hỏi, mắt anh nhìn thẳng vào Sáu Bảnh chờ câu trả lời. – Tôi chưa giết ai. Chỉ kề gươm vào cổ là họ đã giao hết của cải rồi. – Sáu Bảnh nói giọng thật thà. – Vậy là lần này tao tha cho mày – Lịch nói. Bỗng lúc đó tiếng mõ hồi một báo động vang lên sau lái ghe. Thì ra ông chủ ghe chài đã bò ra phía sau đánh mõ cầu cứu làng xóm – Mày với anh em chạy đi kẻo không kịp. Nhớ đừng để cho tao gặp mày ăn cướp lần nữa đó! Sáu Bảnh nhìn Lịch bằng đôi mắt cảm phục biết ơn, rồi lượm cây kiếm toan chạy đi, bỗng dừng lại: – Xin anh cho biết quý danh để mai sau còn báo đáp ơn tha mạng. – Tao là Hai Lịch ở Bình Đức. Thôi chạy đi.


            Sáu Bảnh, Tư Hổ cúi chào Lịch rồi nhảy xuống sông lội vào bờ, nơi đó có mấy lâu la rơi xuống nước lúc nãy cũng đã lội vào chờ ở đó. Cả bọn cùng chắp tay xá Lịch lần cuối rồi biến nhanh vào đám lau sậy um tùm mọc theo ven sông… Đằng xa đã thấy mấy chiếc xuồng chở dân tự vệ nghe tiếng mõ báo động đang bơi nhanh về phía chiếc ghe chài. Ông chủ ghe người Hoa bước đến chắp tay xá Lịch, với giọng lắp bắp xúc động: – Cám ơn… Cám ơn… Không có hảo hán thì ngộ chết "dồi". Tiền của mất, con gái bị bắt "li"… thì ngộ chết luôn dồi… – Có gì đâu mà ông chủ nói vậy. Chẳng qua nghe ông chủ kêu cướp, tôi đến giúp đánh đuổi chúng nó, bởi tôi ghét bọn trộm cướp phá hoại xóm làng… Thôi chào ông chủ nghe! Lịch toan quay đi thì ông chủ ghe lấy mấy nén bạc cung kính đưa cho Lịch: – Có chút quà mọn đền ơn lày, xin hảo hán nhận cho. Lịch cười xua tay: – Ông đừng làm vậy, tôi không nhận đâu. Tôi chỉ nhắc ông chủ đi buôn bán nhớ đề phòng cẩn thận, nhứt là chớ đậu ghe ở chỗ vắng người. Thôi, chào ông nghe. Dứt lời, không đợi ông chủ ghe nói thêm điều gì nữa, Lịch nhanh nhẹn nhảy xuống chiếc tam bản chú bé đã cặp sát mạn ghe chài chờ, cầm lấy chèo đẩy mạnh… Chiếc tam bản lao ra xuôi theo dòng nước, bỏ lại ông chủ ghe đứng nhìn theo với vẻ mặt xúc động, biết ơn…


***


           


Đêm.


            Trước sân đình làng đã thấy lao xao đông người tụ họp để chờ coi hát bội. Một cái rạp dựng vội bằng lá dừa. Sân khấu là mấy bộ ván gỗ của dân làng cho mượn. Một cái bàn với hai chiếc ghế đẩu đặt ở giữa. Hai bên cánh gà chỉ buông xuống vài tấm vải nhuộm xanh trống hơ trống hoác, và lũ trẻ đã chen nhau ngồi quanh đó, đa số đầu cạo trọc lóc. Chiếc trống chầu to được kê ở giữa sân. Bên cạnh là hàng ghế dành cho chức sắc trong làng. Người cầm chầu sẽ là vị chức sắc cao nhứt làng xã. Xa ngoài cổng đình, tiếng trống thúc giục mời gọi người xem vang lên từng chập. Từ các ngõ xóm, đường làng, nhiều bó đuốc sáng rực. Tiếng người cười nói râm ran phá tan bầu không khí tịch mịch về đêm ở làng quê. Đêm đi coi hát bội ở nông thôn Nam Kỳ thời ấy vui như đi trẩy hội, và thật sự cũng là ngày hội.


            Anh Lịch ơi! Có nhà không đó?


            Lịch đang chít khăn chuẩn bị đi coi hát thì có tiếng người gọi bên ngoài. Giọng người kêu nghe rất quen. – Có đây. Nhường đó hả? Vô chơi đi! Nét mặt Lịch vui hẳn lên. Ngô Đức Nhường là bạn cùng làng và cũng là bạn học võ với ông thầy Sáu người gốc Bình Định vô mở trường dạy võ ở vùng Nhựt Tảo này. Nhường còn gọi là Hai Nhường có vóc dáng người trung bình, nước da bánh ít, môi dày, mắt to, giọng nói ấm, khi cười má lúm đồng tiền nhỏ bên trái. Nhường hôm nay tóc búi gọn, mặc áo kiểu võ sinh màu chàm, có thắt lưng lụa cùng màu. Theo sau Nhường là hai người bạn học võ nữa là Võ Văn Quảng, còn gọi là Bảy Quảng, Huỳnh Tấn và Tư Hội. Quảng người thấp lùn có bề ngang, tướng đi hơi ngả về phía trước, mặt hơi tròn, nhưng đôi mắt lúc nào cũng như cười, khiến người tiếp chuyện cảm thấy thoải mái dễ chịu. Còn Huỳnh Tấn thì có nước da trắng trẻo, khuôn mặt lưỡi cày, môi thâm và đôi mắt không lúc nào đứng yên, luôn đảo qua lại như muốn dò xét người nói chuyện với mình. Tấn cũng rất diện, theo kiểu võ sinh nhưng áo bằng lụa màu mỡ gà, thắt lưng màu xanh lục. – Chào chư huynh đệ! – Lịch cười nói to, giọng rất vui – Hôm nay diện đi coi hát phải không? – Đến rủ anh cùng đi đó! – Nhường nói giọng vui vẻ – Nghe nói đêm nay gánh bầu Thưởng diễn tuồng "Tiết Giao đoạt ngọc" hay lắm. – Thì mình cũng chuẩn bị đi đây, thôi anh em vô nhà uống nước rồi đi. Còn sớm mà! – Lịch cười nói. Cả bốn chàng trai bước vào nhà.


            Bà Hai – mẹ Lịch – ở buồng trong bước ra. Nét mặt bà có vẻ đẹp phúc hậu nhưng cũng rất cương trực, nhứt là đôi mắt bà rất sáng. – Chào các cháu. Đi coi hát phải hôn? – Dạ. Chào bác. Dạ. Chào bác… Nhiều tiếng chào của các chàng trai đáp lại bà Hai. Nhượng hỏi: – Bác Hai có đi coi hát không? – Bác cũng ưa lắm. Nhưng bữa nay trong mình không khoẻ, thôi để hôm khác. Họ còn hát ở đây lâu mà! Uống nước đi các cháu. Bà lấy bình tích gốm để trong vỏ bình bằng dừa rót ra ly mời đám bạn của Lịch. – Anh Hai. Nghe nói sáng qua anh đánh bọn cướp ghe chài phải không? – Võ Văn Quảng hỏi. – Ai nói vậy? – Lịch mỉm cười hỏi lại. – Ối chuyện đó bà con ở đây đều biết hết rồi… – Quảng mỉm cười nói. – Biết hết sao còn hỏi? – Lịch nhìn Quảng nói vui. – Nhưng chỉ biết chung chung thôi. Muốn nghe anh kể mới hay. – Có gì đâu mà kể. Họ nghèo rồi còn bị làng xã binh nhà giàu ức hiếp, nên túng quá làm liều… – Lịch nói với giọng thông cảm. – Nhưng lẽ ra anh nên bắt giao cho làng trị tội mới phải chớ! – Huỳnh Tấn nhìn Lịch bằng con mắt dò xét. – Họ nhảy xuống sông lội hết, mình tôi làm sao bắt được? Tôi tin họ không dám làm bậy nữa đâu! – Anh tin họ cải tà quy chánh thiệt à? – Huỳnh Tấn hỏi lại giọng nghi ngờ. – Tôi tin. Bởi vì họ khi cướp được tiền bạc, họ đâu có dành hưởng riêng cho mình mà còn đem chia cho những người nghèo khổ khác. Với lại, họ không giết người. – Cha, sao giống anh hùng Lương Sơn Bạc quá! – Bảy Quảng cười lớn nói chêm vào.


            Cho nên tôi nghĩ rằng họ còn có lương tâm và tôi cho rằng trong bọn họ nếu quốc gia hữu sự họ cũng có ích cho làng nước lắm – Lịch nói tiếp, giọng đầy tự tin. – Anh Hai nói có lý. Cướp cũng có ba bảy đường, chớ không phải giống nhau hết đâu! – Nhường nói, vẻ thông cảm. Tiếng trống chầu ngoài sân đình vọng lại nghe rõ mồn một. – Thôi anh em mình đi đi. Nghe trống chắc là họ đã hát rồi đó. – Quảng nói. – Ừa, chúng mình đi thôi. Lịch nói xong, quay lại bà Hai: – Thưa má, con đi nghe má.


            Cả bọn – năm chàng trai chào bà Hai rồi kéo nhau ra ngoài. Bà Hai quay vào toan khép cửa thì có tiếng gọi phía ngoài: – Bác Hai ơi! – Ai kêu đó? – Bà Hai hỏi. – Cháu đây mà! – Cô gái bước vô mỉm cười chào bà. – Kìa, cháu Nghĩa! Không đi coi hát sao mà còn ở đây? Bà Hai nhìn Nghĩa đầy trìu mến. – Cháu có hẹn với anh Hai đêm nay đi coi hát. Ảnh đâu rồi bác? – Nghĩa nói giọng xởi lởi vui vẻ. – Ờ, nó với mấy đứa bạn vừa ở đây mới đi rồi đó. – Bà Hai nói, vẻ ngạc nhiên, mỉm cười: – Chắc là nó quên đã hẹn với cháu rồi. Cái thằng…! – Vậy là mấy ảnh chưa đi xa đâu. Thưa bác cháu đi. – Vô nhà uống miếng nước rồi hẵng đi. Nghĩa. Chưa chắc hát đâu. Bà Hai mời thật tình. Bởi bà thấy mến cô gái dễ thương nết na này. – Thưa bác, để lúc khác nghe bác. Con Mận còn chờ cháu bên ngoài… Cháu đi nghe bác Hai. Nghĩa nói rồi nhanh nhẹn ra ngoài. Bà Hai nói với theo: Hôm nào có rảnh nhớ ghé bác chơi nghe, Nghĩa! Có tiếng "dạ" trong trẻo của Nghĩa nhưng cô gái đã lẫn vào trong bóng đêm ngoài ngõ…


            Trên sàn diễn ngoài sân đình. Tiết Giao đang lăn lộn kêu đau: – Ối nàng ôi! Sao nó đau bên này. Ôi, ôi nó lại đau bên kia, chắc ta không sống nổi nàng ôi! Hồ Nguyệt Cô quýnh quáng không biết phải làm sao, nét mặt lo lắng đau khổ: – Chàng ơi! Thiếp biết phải làm gì để giúp cho chàng hết đau đây?          Rồi Nguyệt Cô quỳ lạy cầu trời khấn Phật phù hộ cho người tình qua khỏi cơn đau đến bất ngờ này. – Cầu xin Hoàng thiên Hậu thổ giúp cho Tiết lang qua cơn bệnh ngặt nghèo. Tiết Giao vẫn lăn lộn càng lúc càng kêu la thảm thiết: – Nàng ơi! Chắc ta chết mất! Nàng ở lại mạnh giỏi nghe. Ối, lại đau bên này, ối đau bên kia… Nguyệt Cô nâng đầu Tiết Giao nhìn vào mắt người tình, hai giọt lệ nàng tuôn rơi lã chã: - "Tiết Lang ơi! Dù có phải hy sinh đời thiếp, thiếp cũng sẵn sàng, miễn làm sao chàng được sống trên cõi đời này…".


            Phía dưới khán giả. Ở hàng ghế đầu có mấy vị chức sắc đã ngồi đông đủ. Một ông có lẽ là hương cả hay hương chủ gì đó bịt khăn đóng áo dài ngồi cạnh cái trống chầu. Thỉnh thoảng ông lại "tùng" một cái khen lớp diễn hay. Rất nhiều khuôn mặt rám nắng của nông dân chăm chú theo dõi diễn biến của lớp diễn. Lúc Tiết Giao lăn lộn giả đau, có nhiều tiếng cười ồ thích thú, nhứt là trong đám khán giả thanh niên. Lịch đứng cạnh Nhường, Quảng, Tấn và Hội bên góc phải sân đình. Chàng chăm chú theo dõi lớp Tiết Giao giả đau lăn lộn, chàng cau mày tỏ vẻ khó chịu. Khác với Nhường, Quảng và Tấn cười vui thích thú trước thủ đoạn của Tiết Giao lừa Hồ Nguyệt Cô. Bỗng chàng chợt thấy phía bên góc trái sân đình, nơi rất nhiều cô gái chen chúc nhau đứng xem, trong đó có Nghĩa và Mận nhờ ánh đuốc của người nào đó chợt loé lên trong khoảnh khắc. Tự nhiên, Lịch nhớ lại lời rủ đi xem hát của Nghĩa… Trên sàn diễn, Tiết Giao đã đoạt được ngọc của Hồ Nguyệt Cô, đang giễu cợt người nữ tướng bị mắc mưu của mình, rồi quất ngựa phóng đi, bỏ lại Nguyệt Cô đau đớn quằn quại vì mất viên ngọc tu luyện ngàn năm mới từ hồ ly hoá được kiếp người. Nhưng đau hơn cả là tình yêu bị lừa dối… Trong số khán giả nữ có tiếng cười vô tư, nhưng cũng có tiếng khóc nghẹn ngào cảm thông với nỗi đau của nàng Nguyệt Cô bị lừa bởi một Tiết Giao đẹp trai nhưng ma mãnh Sở Khanh, đã đoạt mất viên ngọc quý đẩy Nguyệt Cô từ kiếp người trở lại kiếp thú.


            Hát đã vãn. Khán giả lần lượt rời sân đình ra về. Những ngọn đuốc bây giờ không còn nhiều như trước, vì mảnh trăng hạ huyền treo lơ lửng trên bầu trời buông ánh sáng lờ mờ đủ soi con đường làng ngoằn ngoèo hun hút ẩn hiện dưới những hàng cây trong thôn xóm. Hai Lịch ngồi trên bờ mẫu với Nghĩa. Dưới chân họ những đám cỏ non mượt như nhung. – Anh Hai à. Hồi nãy coi hát em thương nàng Hồ Nguyệt Cô quá. Con Mận đứng bên em nó cứ sụt sịt khóc. Tội nghiệp! Nghĩa nói giọng cảm động. Anh cũng vậy. Trong chiến đấu người ta có thể dùng mọi mưu mô thủ đoạn để giành thắng lợi, nhưng không nên dùng những thủ đoạn hèn hạ đê tiện như anh chàng Tiết Giao đối với Nguyệt Cô vừa rồi… – Anh nghĩ vậy thiệt sao anh Hai? – Nghĩa ngước đôi mắt ngây thơ nhìn Lịch, mỉm cười hỏi. – Anh nói thiệt đó – Lịch cũng mỉm cười trả lời – Bởi vì anh nghĩ nam nhi là đấng trượng phu quân tử, đối với phụ nữ là phận quần vận yếm mang, khi người ta đã tin tưởng trao thân gởi phận cho mình thì mình không thể lừa dối phụ bạc người ta, lấy đi cuộc sống làm người bắt người ta trở về kiếp thú như Tiết Giao đã làm với Nguyệt Cô, mà Tiết Giao chắc chắn đã biết Nguyệt Cô vốn là con chồn tu luyện ngàn năm mới có ngọc quý… – Nhưng Tiết Giao đã vâng lời mẹ mà làm chuyện đó chớ đâu phải… – Nghĩa thử hỏi vặn lại. – Không thể đổ thừa như vậy được, Nghĩa à! Làm người ta phải biết trọng chữ "tín" dù là chữ đó đứng cuối trong "tam cang ngũ thường". Có nhân nghĩa mà không có tín thì con người đó cũng không ra gì đâu! – Lịch trầm ngâm nói. Vẻ mặt chàng lúc này dưới ánh trăng mờ đầy góc cạnh, quắc thước lạ.


            Cũng vào lúc ấy, trên đống rơm ngoài đồng, Huỳnh Tấn ngồi với Mận, cô gái có vóc dáng chắc nịch khoẻ mạnh, gương mặt tròn với đôi mắt bồ câu. Họ cũng nói chuyện với nhau về tích hát vừa rồi. Mận nhìn Huỳnh Tấn nói: – Hồi nãy tội nghiệp Nguyệt Cô mất ngọc đau đớn quằn quại, em thương quá không ngăn được nước mắt… Sao người ta lại quá nhẫn tâm với người con gái như vậy? – Sao lại nhẫn tâm? – Huỳnh Tấn hỏi lại. – Thì anh biết rồi đó. Gạt người ta lấy ngọc, người ta thương mình thiệt, mình thương người ta giả vậy là không nhẫn tâm sao? – Anh nghĩ khác – Huỳnh Tấn cười – Đã đánh nhau thì không từ thủ đoạn nào, kể cả thủ đoạn em cho là nhẫn tâm đó, để giành lấy thắng lợi. Đối với người đàn ông thì vinh quang là trên hết. – Vậy đối với em anh cũng nghĩ vậy sao? – Mận hỏi. – Không, đối với Mận, anh nghĩ khác chớ. Nếu sau này anh có được vinh quang mà không có em thì cái vinh quang đó anh cũng thấy không có nghĩa lý gì –  Huỳnh Tấn vừa nói vừa âu yếm vuốt tóc Mận. Không hiểu sao Tấn rất thích mái tóc đen mượt óng ả của cô gái vùng quê Cần Đước này.


            Anh nói thiệt lòng mình chớ? – Mận hỏi với ánh mắt ngây thơ tin tưởng. – Thiệt! – Huỳnh Tấn cười – Nếu em không tin thì anh xin thề. – Thôi đi anh. Em tin. – Mận nói. Huỳnh Tấn kéo sát Mận vào lòng vừa hôn tới tấp lên mái tóc, lên má nàng. Tay Tấn bắt đầu sờ soạng vào ngực vào đùi Mận… Mận xô tay Tấn ra: – Đừng… anh! – Anh thương em thiệt tình mà! – Tấn nói gấp gáp trong hơi thở nóng ran. Nhưng Mận cố vùng ra, rồi đứng dậy. – Ta đi về thôi, anh. Khuya lắm rồi… Mai em còn đi chợ sớm với chị Nghĩa. Nhưng bất ngờ Huỳnh Tấn kéo mạnh tay làm Mận ngã xuống đống rơm. Anh ta ôm siết Mận nói trong hơi thở dồn dập – "Anh thương em… Anh thương em mà Mận" trong lúc Mận vùng vẫy chống đỡ quyết liệt.


            Trở lại chỗ Lịch và Nghĩa. – Hồi chiều em nghe ba em nói, ngày mai ông Lãnh binh Trương sẽ đến làng mình đó. – Nghĩa nói. – Có nghe nói ổng về làm gì không? – Hình như có mở võ đài để kén chọn nhơn tài ra giúp nước. Ba em đã giới thiệu học trò mình cho ông Trương, trong đó có tên anh đó. – Nghĩa nói với vẻ tự hào. Lịch cau mày có vẻ suy nghĩ rồi nói với Nghĩa: – Dạo này anh nghe người ta đồn là bọn Tây dương kéo pháo thuyền đến Hội An – Đà Nẵng ngoài miền Trung, cử sứ bộ tới gặp triều đình đòi đình chỉ việc giết người theo đạo Thiên Chúa, cho họ tự do truyền đạo, mở cảng cho họ tự do buôn bán… – Nhưng vua mình có chịu vậy không anh? – Không thấy họ nói chuyện đó. Nhưng theo chỗ anh biết chắc là khó, bởi triều đình đâu có quên chuyện ông Lê Văn Khôi khởi quân làm loạn có sự giúp đỡ của những giáo sĩ đạo Chúa như Cố Du… – Lịch nói giọng buồn buồn. – Vậy là chắc khó rồi! Nghĩa chép miệng thở dài đứng dậy: – Thôi khuya rồi chúng mình về đi anh. Mai em còn đi chợ sớm– Lịch gật đầu rồi cũng đứng lên theo. Họ men theo bờ mẫu trở lại con đường làng quen thuộc dưới ánh trăng hạ huyền mờ ảo. Ở bên đống rơm. Mận đã vùng khỏi tay của Huỳnh Tấn, cô đứng lên sửa lại mái tóc xõa tung nói với vẻ giận: – Nếu anh tiếp tục làm vậy, em không đi chơi với anh nữa đâu! Huỳnh Tấn nói giả lả chữa thẹn cho hành động của mình vừa rồi: – Anh xin lỗi Mận. Đừng giận anh. Chỉ vì anh quá thương em. – Thương mà làm như vậy là anh khinh em, coi thường em. Người con gái chỉ có chữ trinh là giá đáng ngàn vàng. Nếu để mất rồi thì ai còn coi mình ra cái gì nữa. Nếu anh thiệt lòng thương em thì hãy giữ cho em để đến khi mình cưới nhau, đêm động phòng em mới xứng đáng là vợ của anh. Mận nói chậm rãi, nhưng rõ ràng Mận rất giận hành động vừa rồi của Huỳnh Tấn. – Thôi, khuya quá rồi. Em đi về đây. Nói rồi Mận bỏ đi một nước. Huỳnh Tấn chạy theo năn nỉ: – Đừng giận anh nữa nghe Mận. Anh xin lỗi em mà. Anh thề sẽ không bao giờ làm vậy nữa đâu. Nhưng Mận vẫn rảo bước đi nhanh. Tấn lẽo đẽo theo sau.Và cứ như thế họ đi về phía xóm dưới cuối làng.

(còn tiếp)



Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012. www.trieuxuan.info



 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »