tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24294717
Tiểu thuyết
09.10.2018
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng


Nhà bà Năm ở Hòn Chông. Không khí vùng biển buổi sáng mát rượi dễ chịu. Bà Năm cùng Thắm cho heo ăn trong chuồng nuôi sau bếp. Một đàn heo con chen nhau ăn trong máng trông thật vui mắt. Bà Năm nói với giọng không vui: – “Đêm qua má gần như không ngủ được. Cứ trằn trọc hoài…”. – “Con cũng vậy đó má – Thắm mỉm cười xác nhận – Chỉ có Út Hết nó ngủ ngon lành, thấy mà ham”. – “Tuổi trẻ “ăn chưa no, lo chưa tới” luôn là vậy – bà Năm mỉm cười có vẻ thông cảm – Mấy hôm nay không biết ở chợ Rạch Giá đã có chuyện gì xảy ra hay chưa mà má thấy trong bụng không yên khi nhớ đến thằng Tèo, thằng Sáu Nhỏ ở dưới…”. – “Con cũng có ý nghĩ như má – Thắm vừa đổ cám heo vô máng cho heo ăn vừa nói với bà Năm – Hôm trở xuống Rạch Giá, anh Hai có nói với con thế nào lũ giặc cũng sẽ trở lại Rạch Giá, chớ nó không bỏ đâu. Thôi thì đành giao số phận cho ông Trời, sống chết cũng đều có số cả, má à”. – “Má cũng mừng là hai đứa con và Út Hết kịp về đây với má vui cửa vui nhà một chút – ngừng lại một chút, bà Năm thở dài nói tiếp – Nếu không có hai con, không biết má sẽ sống ra sao trong những ngày hết sức căng thẳng này”. Đúng lúc ấy, Út Hết về tới, nói nhanh, nhưng vẻ mặt đầy lo lắng: – “Má ơi, chị Hai ơi, sáng nay con đi ra ngoài bến, có người ở Rạch Giá về nói thấy có tàu giặc ngoài khơi bắn đại bác vô chợ Rạch Giá, chắc là đang đánh lớn ngoài đó rồi. Con lo cho anh Hai, anh Sáu quá!”. – “Đó, mấy hôm nay, nhứt là tối qua má thấy bồn chồn trong bụng không ngủ được, bây giờ thì rõ rồi – bà Năm thở dài – Cầu xin Trời Phật ủng hộ cho hai đứa ngoài đó được bình yên trở về đây”. Bà Năm bước trở vô nhà. Út Hết đến bên Thắm nói với vẻ lo lắng: – “Nghe người ta nói bọn Tây dương này nó ác lắm. Nó sẽ trả thù vụ đồn Sơn Đá của nó bị ông Hai Trực tiêu diệt. Bây giờ chị em mình tính sao đây, chị Thắm?”. – “Còn tính gì nữa, Út! – Thắm thở dài nói – Tất cả đành chờ ở số phận”. – “Hay chị để em một mình xuống đó dò coi tình hình hai anh thế nào?” – Út Hết nói với vẻ quả quyết. – “Không được đâu, Út! – Thắm nhìn Út Hết – Nếu giặc nó đổ bộ lên chợ, người chúng tìm đầu tiên là con gái đó. Nhiều người nói như vậy khi họ còn ở ba tỉnh miền Đông bị giặc chiếm, họ bỏ chạy về dưới này. Thôi, em vô lo cơm nước đi. Cho heo ăn xong chị vô sau”.


            Trong nhà, bà Năm đang thắp hương van vái trước bàn thờ ông Năm. – “Cầu xin Trời Phật ủng hộ hai đứa con tôi dưới chợ được bình yên về đây”. Bà Năm cắm ba cây nhang lên vùa hương ở bàn thờ, cúi đầu xá ba xá thành kính. Mỗi khi van vái thắp hương như vậy, bà mới thấy thanh thản trong lòng một chút. Đó cũng là thói quen của bà Năm mỗi khi lòng bà mẹ ở vùng biển này gặp phải những bất thường trong cuộc sống tâm linh.


            Cuộc tấn công quân Pháp vào thành Sơn Đá tiếp tục. Viên sĩ quan Pháp vừa vung vẩy khẩu súng lục vừa hò hét “Xung phong!”. Phía sau hắn là số lính Pháp, mã tà, ma ní cũng hò hét chạy theo, hướng về phía thành Sơn Đá. Trong lỗ châu mai nhìn ra, ông Miên thấy tên sĩ quan Pháp này còn rất trẻ, chắc cũng cỡ trạc tuổi ông và chưa bao giờ ông thấy bọn xâm lược này đáng căm thù đến xương tủy, bởi một lẽ giản đơn chúng đang giẫm lên mảnh đất ông cha người Việt để lại, tàn sát người Việt, đặt lên đầu họ cái ách đô hộ thống trị tàn bạo. Ông quay lại phía sau cau mày ra lệnh: – “Tất cả chuẩn bị chiến đấu! Hãy để cho bọn địch đến gần mới được nổ súng!”. Phía bên ngoài, kẻ địch vẫn hùng hổ tiến về phía thành lúc này vẫn im lặng như thành bỏ hoang đứng sừng sững thách thức. Viên sĩ quan Pháp chạy dẫn đầu toán quân vung vẩy khẩu súng lục mỗi lúc một rõ dần trong ánh mắt ông Miên, đến gần như ông thấy những cái nút đồng lấp lánh trong màu áo xanh đậm của bọn sĩ quan quân viễn chinh Pháp lúc bấy giờ. Ông nghiến răng đưa mũi súng vào tầm ngắm rồi nghiến răng bóp cò. Một tiếng nổ đanh gọn vang lên. Viên sĩ quan đang chạy bỗng khựng lại, chới với rồi bật ngửa ra phía sau. Lập tức một loạt súng từ trong thành bắn ra khiến một số tên gục ngã. Chúng hốt hoảng chạy lùi lại, nằm xuống lợi dụng địa hình những gò đất mấp mô nấp nổ súng bắn trả.


            Trong thành, ông Miên chạy đến từng anh em dặn dò: – “Phải tiết kiệm đạn! Chuẩn bị đánh giáp lá cà!”. Từng khuôn mặt nghĩa quân, họ còn rất trẻ đầy những nét căm hờn. Nghe lệnh ông Miên, họ coi lại cơ số đạn từng khẩu súng. Mỗi khẩu còn chưa đến chục viên. – “Vậy là anh em mình chỉ còn bắn diệt đợt xung phong lần nữa của bọn địch thôi! – một nghĩa quân có đôi lông mày rậm cười có vẻ khoái chí – Được bắn súng là sướng rồi, phải không anh em?”. – “Đúng quá! Cả đời mới cầm được khẩu súng trong tay, trước đây có nằm chiêm bao cũng không thấy!” – một nghĩa quân khác nói. – “Mấy hôm nay tập luyện mà chưa được bắn thấy ngứa tay quá!” – một nghĩa quân khác nữa góp vào câu nói. – “Được bắn rồi thấy đã quá phải hôn?” – một nghĩa quân nói. Mỗi người một câu, không khí nhộn nhịp hẳn lên, coi như không có bọn giặc đang bắn vào thành với nhiều tiếng nổ với mọi góc độ khác nhau. Ông Miên vẫn căng mắt quan sát địch qua lỗ châu mai. Ông thấy rõ một viên sĩ quan Pháp ở phía trước chạy nhanh đi qua bọn lính nằm bắn nói điều gì không rõ, nhưng ông đoán chúng sắp sửa xung phong vào thành lần nữa. Thành Sơn Đá với cấu trúc bằng đá tảng từng khối lớn, súng trường bắn không ăn thua, hoạ chăng chỉ có súng lớn, không hiểu sao đến lúc này những khẩu đại bác trên tàu chúng ngoài biển vẫn chưa bắn vào đây.


            Ở nhà ông già nông dân người Miên che giấu tên lính kèn Duplessis từ hôm hắn chạy khỏi thành Sơn Đá khi bị Nguyễn Trung Trực đánh chiếm. Nghe tiếng súng nổ, tên lính kèn này đang ở trong buồng vội chạy ra xem thì bị ông già Miên đưa tay chặn lại: – “Ê! Không được ra. Cứ ở yên trong buồng. Để tui coi cho!”. Tên Duplessis ngoan ngoãn trở lại buồng qua cử chỉ của ông già nhiều hơn là hiểu lời ông nói nhưng nét mặt hắn tỏ vẻ phấn khởi, vì hắn tin rằng những tiếng súng ấy báo hiệu quân Pháp đang trở lại tái chiếm Rạch Giá. Ông già Miên lên cây me phía sau nhà nhìn về hướng thành Sơn Đá. Nét mặt lão tỏ vẻ thất vọng vì thấy trên nóc thành lá cờ đại bái của nghĩa quân vẫn kiêu hãnh bay phấp phới. Tiếng súng vọng lại mỗi lúc một nhiều hơn, dữ dội hơn.


            Trở lại cuộc chiến thành Sơn Đá. Sau khi được tăng viện thêm quân, lũ giặc Pháp lại tiếp tục tấn công vào thành. Chúng chia làm hai cánh vừa chạy vừa bắn, vừa hò hét xông lên, sau khi đạn đại bác ngoài tàu chiến bắn yểm trợ phía trước thành. Cứ sau một cột khói dựng lên với tiếng nổ vang dội là toán lính giặc vọt lên phía trước, nằm bắn để yểm trợ cho tốp lính phía sau. Cứ như thế, cự ly giữa bọn giặc với thành Sơn Đá mỗi lúc một gần hơn.


            Trong thành Sơn Đá, một nghĩa quân đã bắn đến viên đạn cuối cùng. Anh nghiến răng giơ khẩu súng đập mạnh vào vách đá. Khẩu súng gãy làm đôi. Ang quăng luôn vào xó vách. Noi gương anh, các nghĩa quân khác sau khi bắn hết đạn, cũng đập gãy súng không cho giặc chiếm lại. Tất cả đã sẵn sàng gươm, giáo, mã tấu, đoản đao… để đánh giáp lá cà khi giặc xông vào thành.


            Phía bên ngoài thành. Thấy trong thành không bắn ra phát súng nào nữa, gã trung úy Pháp phán đoán nghĩa quân cố thủ trong thành đã bắn hết đạn, hắn quyết định chớp thời cơ, ra lệnh tấn công vào thành với tiếng thét lớn: – “Xung phong!”. Sau tiếng hô của gã sĩ quan chỉ huy, bọn giặc nhất tề xông lên, vừa bắn vừa chạy hò hét. Cự ly giữa bọn giặc và nghĩa quân trong thành đã gần lại đến mức khi cửa thành mở ra, hai bên xông vào đánh giáp lá cà với tiếng hô “Sát!” vang dội của nghĩa quân. Ông Miên với thanh gươm trong tay đã chém gục tên lính Pháp vừa xông tới dùng lưỡi lê đâm ông. Cả nghĩa quân và bọn giặc quần nhau với những gì có trong tay. Tiếng binh khí choảng nhau, tiếng kêu la của bọn lính Pháp, ma ní, mã tà bị thương tạo thành một âm thanh hỗn loạn. Ông Miên vừa xông đến chém gục một tên ma ní, thì ông cũng bị một viên đạn vào đùi, máu chảy lênh láng ướt ống quần, khiến ông phải tựa vào vách đồn mới đứng được. Biết mình không thể thoát ra khỏi sự trả thù hèn hạ của giặc nếu để chúng bắt, ông quay gươm đâm vào cổ tự vẫn, giữ trọn khí tiết của một chỉ huy nghĩa quân anh hùng. Gần như tất cả nghĩa quân do ông Miên chỉ huy giữ thành Sơn Đá đã hy sinh hết bởi cuộc chiến không cân sức, giặc quá đông còn họ chỉ là một lực lượng nhỏ, nhưng họ cũng bắt bọn giặc phải trả một giá rất đắt khi chiếm lại thành Rạch Giá này. Tử thi nghĩa quân và xác giặc nằm la liệt trước cửa và trong thành khiến cho viên sĩ quan Pháp chỉ huy cuộc tấn công khi nhìn thấy cảnh tượng khốc liệt này, đã phải ôm đầu kêu lên: – “Ôi lạy Chúa! Thật là khủng khiếp!”.   


Ông già Miên trên cây me mắt chợt sáng lên sung sướng khi thấy lá cờ tam tài quân Pháp đã thay lá cờ đại bái của nghĩa quân bay phấp phới trong nắng sớm. Lão nghĩ như vậy quân Phú-lang-sa đã chiếm lại Rạch Giá rồi. Công nuôi giấu tên lính kèn người Phú-lang-sa trong nhà lão tránh được sự trừng trị của nghĩa quân khi họ chiếm thành Sơn Đá, chắc chắn lão sẽ được tiền thưởng lớn, mà nhà lão thì nghèo quá! Lão vội tụt xuống khỏi cây me để báo tin này cho tên lính Pháp trong nhà. Lýnh quýnh thế nào lão trượt chân té lúc gần đến gốc cây. Mặt nhăn nhó vì đau đớn, nhưng lão cố gượng dậy đi cà nhắc vô nhà để báo cho tên lính kèn biết tin, chắc lúc này hắn cũng đang sốt ruột lắm đây... – “Ông lớn ơi! – lão già Miên nói to, với người Miên, lính Pháp nào cũng là “ông lớn” – Thành Sơn Đá đã bị mấy ông lớn chiếm lại rồi! Tui thấy cờ ông lớn bay trên nóc thành ấy!” – Lão vừa nói vừa ra điệu bộ. – “Thiệt vậy sao? – Tên kèn hiểu ra, mừng rỡ nhảy cẫng lên vui sướng – Ôi lạy Chúa, con sống rồi!”. Hắn đưa tay làm dấu thánh giá, rồi bất ngờ ôm chầm lấy lão già Miên hôn chùn chụt vào má, vào mặt khiến lão già Miên ngạc nhiên hoảng hốt, đứng đờ người ra!


            Ở trận địa đập cản Tà Keo. Từ sáng sớm, đại bác trên các tàu địch nã liên tục vào đập, vào các ụ súng thần công, các vị trí phục kích của nghĩa quân dọc hai bờ kênh. Những cột khói dựng đột ngột lên trên cản, trên dòng kênh và hai bờ kênh như trận tấn công vào Lục Dục lúc trước. Trong gian chòi bỏ hoang, Trực dùng làm nơi ở tạm chỉ huy nghĩa quân ở đập cản Tà Keo. Trực đang nói chuyện với Tư Hội. Anh này đầu quấn băng trắng, nói với Trực: – “Anh em hy sinh vì đạn pháo của địch cũng nhiều. Đạn dược gần như không còn. Mình tính sao đây, anh Hai?” – Trực cau mày suy nghĩ– “Đánh hay rút?”. Tiếng đại bác địch vẫn nổ dồn dập vào trận địa nghĩa quân, khiến Trực phải mau chóng quyết định. Trực nhìn Tư Hội với ánh mắt lo lắng: – “Nếu để bọn giặc vượt qua được Tà Keo thì Rạch Giá nguy mất”. – “Nhưng hiện nay anh em mình khó giữ được Tà Keo – Tư Hội nhìn Trực với ánh mắt dò xét – Theo tôi nghĩ anh cho anh em rút, củng cố lại lực lượng rồi sẽ đánh chúng nó cũng không muộn mà. Anh Hai nghĩ sao?”. Trực chưa kịp trả lời thì một quả đạn đại bác nổ “ầm” gần nơi Trực đang nói chuyện với Tư Hội. Đất cát bay rào rào vào cả chòi. Sau tiếng nổ, một nghĩa quân chạy vào báo: – “Anh Hai. Rạch Giá thất thủ rồi! ­– anh ta ngừng lại thở rồi nói tiếp – Giặc ngoài biển tràn vô đông lắm, chúng đã chiếm lại thành Sơn Đá”. – “Ông Ba Ky thế nào rồi? – Trực cau mày lo lắng hỏi – Có tin tức gì về ổng không?”. – “Dạ, nghe nói ông Ba đã rút quân chạy về vùng Kim Quy ở U Minh Thượng rồi” – Anh lính nghĩa quân đáp. – “Còn mấy ông như Búp, Tư, Miên, Ngàn… Họ rút về đâu?” – Tư Hội hỏi cũng với vẻ mặt lo lắng. – “Dạ nghe nói ông Tư, ông Miên đã hy sinh… Còn các ông Ngàn, ông Búp địch đánh rát quá, không hiểu có rút kịp theo ông Ba Ky về U Minh Thượng hay không, cũng chưa biết tin tức…” – anh nghĩa quân trả lời. – “Còn quản Cầu với anh em mã tà ra sao?” – Trực hỏi với sự quan tâm đến lực lượng này. – “Dạ, nghe nói họ chạy được về hướng Hòn Chông rồi”. Anh nghĩa quân nhìn Trực trả lời có vẻ mệt nhọc. Trực cau mày suy nghĩ rất căng thẳng. Rạch Giá đã thất thủ, nếu cố thủ Tà Keo nào được ích gì, lại lâm vào thế “lưỡng đầu thọ địch”. Tình hình này đòi hỏi Trực phải đi đến quyết định dứt khoát, khi bên ngoài tiếng súng địch mỗi lúc mỗi rộ lên nhiều. Anh nhìn Tư Hội nói chậm rãi: – “Anh Tư. Anh cho anh em mình rút về Hòn Chông trước khi địch kịp đến đây!”. – “Còn anh Hai?” – Tư Hội nhìn Trực đầy vẻ lo lắng. – “Tôi sẽ đánh cản hậu cho anh em rút an toàn! – Trực nói giọng cương quyết. – “Không được đâu, anh Hai – Tư Hội nói giọng tha thiết – Anh nên rút với anh em. Còn việc cản hậu anh để cho tôi”. – “Anh bị thương rồi… Anh phải đi trước với anh em cho an toàn” – Trực nói dứt khoát. – “Anh Hai… – Tư Hội nhìn Trực nói giọng khẩn khoản – Anh là linh hồn của anh em. Anh không thể…”. – “Đây là lịnh! Không bàn cãi nữa!” – Trực nói bằng giọng cương quyết khiến Tư Hội bối rối, đánh phải chấp hành. – “Anh ở lại bảo trọng nghe anh Hai”. Tư Hội nói với giọng xúc động. – “Anh cứ yên chí – Trực cười đầy tự tin – Tôi không sao đâu. Ta sẽ gặp nhau ở Hòn Chông mà!”. Họ siết tay nhau thật chặt trước khi Tư Hội đi nhanh ra ngoài.


            Bọn Pháp hành quân dọc theo kênh. Chúng tiến từng bước dè dặt. Mặt từng tên láo liên quan sát động tĩnh chung quanh, tay ôm chặt súng… Vừa qua đập cản Tà Keo, bất thình lình một loạt súng nổ từ trong các bụi rậm ven bờ. Tốp đi đầu bị thương ngã vật ra. Tốp đi sau vội nằm rạp xuống bắn trả dữ dội. Nhưng đáp lại chỉ là sự im lặng đáng sợ, chỉ nghe tiếng gió thổi lào xào trong các bụi cây lá dọc theo kênh… Một lúc sau, gã sĩ quan Pháp mang hàm đại úy, có lẽ là tên chỉ huy cánh quân, nhổm lên quan sát. Trận địa quân khởi nghĩa vẫn im ắng, không rõ họ còn ở trong đó hay đã rút đi rồi. Có lẽ tên sĩ quan chỉ huy cho rằng nghĩa quân đã rút, nên hắn đứng thẳng dậy khoát tay ra hiệu cho bọn lính đang núp sau các bụi cây, mô đất tiến lên.


            Ở chỗ nấp kín đáo sau gốc cây, mọi hành động của tên đại úy Pháp không qua khỏi đôi mắt quan sát theo dõi của Trực. Anh bảo chú bé Tâm đang núp gần đó: – “Em đưa cây súng cho anh!”. Chú bé Tâm vội đưa cây súng trường đã nạp sẵn đạn cho Trực. Trực cầm lấy, giương súng lên nhắm vào gã sĩ quan Pháp vừa đứng dậy đang khoát tay ra hiệu cho bọn lính tiến lên, siết mạnh cò. Đây là lần đầu tiên Trực bắn cây súng trường lấy được trong thành Sơn Đá. Một tiếng nổ đanh gọn khô khốc vang lên. Gã sĩ quan kêu lên một tiếng, ôm tay ngã vật ra. Máu đỏ chảy ướt cánh tay áo hắn. Viên đạn của Trực đã bắn trúng cánh tay hắn. Một loạt súng giặc nổ dồn dập về hướng Trực. Đạn bay rào rào. Chỉ có vài tiếng súng phía nghĩa quân đáp trả yếu ớt. – “Còn đạn không Tâm?” – Trực cau mày hỏi. – “Dạ hết rồi. Viên đạn anh vừa bắn là viên đạn cuối cùng đó!”. Không nói, Trực nghiến răng đập mạnh khẩu súng vào gốc cây. Khẩu súng gãy làm đôi. – “Các anh em. Rút!” – Trực hô lớn ra lệnh rồi chạy vọt lên trước. Theo sát anh còn có chú bé Tâm. Còn các nghĩa quân theo sau Trực biến mất vào rặng cây lá um tùm bên bờ kênh, bọn Pháp mới ngóc đầu dậy bắn đuổi theo… Nhưng đã quá muộn, Trực đã dẫn nghĩa quân rút an toàn về hướng Hòn Chông.


            Những toán quân Pháp, có cả mã tà, ma ní tiến vào khu chợ Rạch Giá. Chúng đi tới đâu ngọn lửa bốc lên tới đó. Cũng như những lần trước ở Sài Gòn, Gia Định, Tân An, Gò Công đều diễn ra cảnh cướp bóc, hãm hiếp, giết người… Nhưng lần tiến vô thị xã Rạch Giá này tỏ ra ác liệt hơn hết, bởi lẽ nơi đây chúng mang ý định trả thù trận thất bại đồn Sơn Đá với 5 võ quan Pháp, hơn 58 tên lính bị tiêu diệt, bị thu toàn bộ vũ khí trên dưới 100 súng, chỉ trong một trận đánh dưới sự chỉ huy của người anh hùng Nguyễn Trung Trực. Trận thất thủ đồn Sơn Đá – Rạch Giá đất Kiên Giang đã gây nỗi kinh hoàng cho quân đội viễn chinh của hoàng đế đại Pháp, trong khi chúng chiếm ba tỉnh miền Tây không tốn một viên đạn! Sự căm thù thể hiện rõ trên nét mặt của tên thiếu tá Ansart khi đến góc phố chợ nơi vừa diễn ra một trận đụng độ giáp lá cà ác liệt giữa bọn Pháp và tốp nghĩa quân do ông Búp chỉ huy. Xác chết quân sĩ hai bên còn nằm ngổn ngang đủ các tư thế, chưa có ai thu dọn. Một sĩ quan Pháp có râu quai nón, da hơi sậm, tóc quăn, có có lẽ là dân đảo Corse, Tây Nam nước Pháp, chạy đến giơ tay chào báo cáo: – “Thưa thiếu tá, chúng tôi bắt được chục tên phiến loạn. Xử trí bọn này ra sao, thưa thiếu tá?”. – “Chúng nó đâu rồi?” – Gã thiếu tá cau mày hỏi. – “Thưa, ở đằng kia!”. Theo hướng tên sĩ quan chỉ tay của tên sĩ quan đảo Corse, mười nghĩa quân trong đó có ông Búp, máu còn ri rỉ chảy trên thái dương, hầu hết đều bị thương. Họ bị trói thúc ké ngồi bên vệ đường. Canh giữ họ là hai tên lính ma ní súng lăm lăm trong tay, nét mặt tên nào tên nấy đều tỏ ra hậm hực giận dữ, sẵn sàng nhả đạn để trả thù cho đồng bọn vừa bị giết trong trận đánh vừa rồi. Tên thiếu tá Ansart đi lại chỗ nghĩa quân bị bắt, cau mày hỏi: – “Trong đám tụi bây thằng nào chỉ huy?” – Tên lính thông ngôn đi theo dịch lại. – “Tao đây!” – Ông Búp cố đứng dậy, trả lời dõng dạc. – “Mày có biết chống lại quân đội Pháp là tìm đến cái chết không?” – tên thiếu tá hỏi. Ông Búp nhìn thẳng vào tên Aunsart gằn giọng: – “Tao biết!” – Gã thiếu tá cười khẩy: – “Mày biết sao còn làm cái chuyện ngu xuẩn đó?”. – “Vì chúng mày cướp nước tao, bắn giết, hãm hiếp đồng bào tao – ông Búp nói gần như quát lớn. Tội ác chúng mày trời không dung, đất không tha. Tao tiếc là chưa giết được hết chúng mày để trả thù cho đồng bào tao”. Tên thiếu tá cười nham hiểm: – “Ta vẫn coi chúng mày là những kẻ bị Nguyễn Trung Trực lừa đưa vào chỗ chết. Nếu mày khai ra Nguyễn Trung Trực hiện giờ ở đâu, ta sẽ trả tự do cho tất cả về nhà làm ăn với vợ con. Chính Trực phải chịu trách nhiệm về cái chết của các sĩ quan và binh lính Pháp ở đồn Sơn Đá, chớ không phải bọn mày!”. Ông Búp cười khinh bỉ: – “Chúng mày đi cướp nước tao, tất cả dân Việt tao đều căm thù, đều muốn giết tất cả chúng mày, không riêng gì ông Trực. Ông Trực là một người anh hùng, đừng mong tao phản bội ổng. Nghe chưa?”. Tên Ansart hiểu ngay là không thể lay chuyển được ý chí của những nghĩa quân đối với thủ lĩnh của mình. Hắn phẩy tay, cau mày ra lệnh cho tên sĩ quan đảo Corse: – “Đem tất cả bọn này ra bờ sông hành quyết. Chặt đầu chúng cắm dọc theo sông để răn đe kẻ nào muốn chống lại quân đội Pháp. Thi hành ngay!”. Hắn bỏ đi về hướng thành Sơn Đá, lúc này đã phấp phới lá cờ tam tài trên nóc thành, trong khi bọn lính thúc báng súng áp giải những nghĩa quân bị bắt trói trong đó có ông Búp đi trước, đi về hướng bờ sông...


            Đầu của những nghĩa quân và dân thường sau khi bị giặc hành quyết đã bị đóng vào cọc cắm dọc theo bờ sông, trong khi khói lửa còn bốc lên ngút trời ở khu phố chợ bị đốt, tạo thành một khung cảnh hết sức rùng rợn bi đát. Đó là sự trả thù hèn hạ của lũ giặc sau khi chiếm lại thị xã Rạch Giá vào những ngày cuối tháng 6 năm 1868. Nhưng cũng ngay đêm hôm đó, có hai người lặng lẽ lội theo bờ sông gỡ những thủ cấp nghĩa quân và thường dân đem về chôn cất. Dọc theo sông chỉ còn những cây cọc đứng trơ trọi bên bờ sông hoang vắng… Họ là ai, nghĩa quân hay dân chúng đi làm việc nghĩa ấy? Câu hỏi đó đã chìm trong sự quên lãng của thời gian...


            Lão cai tổng Ngươn đã hồi cư trở về nhà cũ ở ngoại ô Rạch Giá. Khi chiếc ghe cặp bến, lão vội nhảy lên bờ đi vội như chạy về nhà. Bước vô nhà hắn đã thấy một cảnh tượng như một nhà hoang. Tất cả đồ vật quý mà lão không chở đi được đều bị cướp sạch. Ngay bàn thờ nhỏ để tượng Chúa Giêsu cũng bị kéo đổ xuống đất. Tượng Chúa gãy cổ nằm chỏng chơ trên nền gạch. Lão vội quỳ xuống lượm lên, mắt đỏ gay, miệng lẩm bẩm: – “Ôi lạy Chúa! Lũ quỷ dữ Luxiphe nào đã gây ra cảnh tượng này? Chúa hãy trừng phạt nó đi!”. Lão kiếm giẻ lau sạch bụi đất, ráp tạm tượng lại đặt lên bàn rồi quay lại nói với bà vợ đang lúi húi dọn dẹp dưới bếp: – “Bà coi nhà, tôi lên trình diện với quan lớn ở trên đồn một chút nghe!”. – “Ông có việc cứ đi đi!” – Bà vợ ở dưới bếp nói vọng lên.


            Một lúc sau, ở thành Sơn Đá, lão cai tổng khăn đóng áo dài đàng hoàng, bước vào chỗ thiếu tá Ansart ngồi sau bàn làm việc của Chánh Phèn để lại. Bên cạnh có Chôm thông ngôn. Lão cai tổng cúi đầu chào Ansart, dáng điệu khúm núm ra mặt: – “Bẩm quan lớn, tôi là cai tổng Ngươn đến trình diện theo lệnh của quan lớn”. Viên thiếu tá vui vẻ đưa tay ra hiệu: – “Tốt. Mời ông ngồi”. Lão cai tổng khép nép ngồi vào ghế bên cạnh, dáng vẻ còn thiếu tự nhiên. – “Thời gian quân phiến loạn Trực chiếm thành Sơn Đá này, ông ở đâu?”. Lão cai tổng làm ra vẻ mặt thiểu não nói: – “Dạ bẩm quan lớn. Tôi có biết tin tên Trực luyện tập trong Tà Niên chuẩn bị đánh thành Sơn Đá này, tôi vội báo cho quan Chánh biết, nhưng ổng không tin, cho rằng tôi chỉ nghe tin đồn nhảm, chớ làm gì tên Trực dám đánh đồn này. Tôi sợ quá không dám ở lại, đưa vợ con đi tránh ở nhà quê. Ơn Chúa, mọi việc đều tốt lành. Nay biết quan lớn đã dẹp bọn phiến loạn, tôi về để xin trình diện với quan lớn”. Tên thiếu tá mỉm cười: – “Bản chức có lời khen ông đã trung thành với nước Pháp. Tiếc là ông Chánh đã quá chủ quan, mất cảnh giác, nên ông ấy phải trả giá. Bản chức sẽ báo lên cấp trên khen thưởng và thăng chức cho ông”. Lão cai tổng sướng quá, đứng bật dậy chắp tay cúi đầu nói lí nhí: – “Đội ơn quan lớn!”.


            Đúng lúc ấy, một thượng sĩ Pháp ở ngoài bước vào giơ tay chào Ansart rồi báo cáo: – “Trình thiếu tá, hạ sĩ Duplessis – lính kèn thành này chạy thoát được cuộc tấn công vừa qua, được một gia đình người Miên che giấu, nay về trình diện thiếu tá”. – “Cho vào!” – Ansart vui vẻ ra lệnh. Tên lính kèn Duplessis ở ngoài bước vào. Theo sau là lão già Miên. Duplessis nghiêm chào Ansart. – “Tôi, hạ sĩ Duplessis xin trình diện thiếu tá!”. – “Tốt” – Ansart gật đầu rồi nhìn lão già Miên đang đứng xớ rớ e sợ gần đó – “Có phải lão già này che giấu khi anh chạy trốn lúc thành thất thủ không?”. – “Thưa thiếu tá, đúng vậy!” – Duplessis xác nhận. Ansart rời khỏi ghế mỉm cười vui vẻ bắt tay lão già Miên, khiến lão hết sức bối rối giơ cả hai tay nắm lấy tay viên thiếu tá. – “Cám ơn – Ausart nói – Rất cám ơn tấm lòng trung thành của ông với nước đại Pháp, thể hiện bằng sự dũng cảm cứu mạng sống người lính Pháp trong lúc quân phiến loạn chiếm đồn”. Rồi Ansart ra sau gọi lớn: – “Mang rượu ra đây!”. Một tên lính hầu cận vội vàng vào trong bưng ra khay rượu. Đích thân Ausart mở chai Bordeaux rót đầy ly đưa cho ông già Miên rồi rót tiếp các ly mời Duplessis, lão cai tổng Ngươn, phiên dịch Chôm và viên thượng sĩ đứng gần đó. Ansart giơ cao ly rượu, giọng phấn khởi: – “Nào, xin các vị chạm cốc mừng ngày chiến thắng chúng ta trở lại đất này. Xin mời!” – Tất cả cùng chạm ly uống cạn. Viên thiếu tá vỗ vai lão già Miên ra điều thân mật, động viên: – “Ta sẽ cho ông làm trưởng ấp – hắn móc trong túi ra một túi nhỏ đựng mấy đồng bạc trắng – Còn đây là số bạc ta thưởng cho ông vì lòng dũng cảm và trung thành với nước Pháp”.             Không cần phiên dịch, lão già Miên cũng hiểu, sướng quá nước mắt ràn rụa, vội quỳ xuống giơ tay lấy túi bạc lắp bắp không ra tiếng: – “Đội ơn ông lớn! Đội ơn ông lớn!”. Đây là món tiền mà cả đời lão có nằm mơ cũng không thấy được.


 


            Bọn giặc tổ chức lùng sục tìm bắt Trực cùng các chỉ huy nghĩa quân suốt ngày đêm sau khi chúng chiếm lại thành Sơn Đá và thị xã Rạch Giá. Từng tốp lính mã tà, ma ní xông vào nhà dân. Một tên mã tà có để ria mép hách dịch túm lấy một ông già đang nằm đắp chiếu trên giường, dựng dậy, quát: – “Này ông già, ông có biết tên Trực trốn ở đâu không?”. – “Trời ơi! Tôi già cả bệnh hoạn vầy, có đi đâu mà biết” – Ông già nói trong hơi thở nhọc mệt. – “Đ.mẹ! ­– tên mã tà chửi thề – Đi gặp thằng cha con mẹ nào cũng nói không biết. Bộ nó có phép tàng hình hay sao mà không ai biết hết vậy?”. – “Ông Trực đâu có dại gì mà ở lại đây để mấy ông tìm bắt – ông già bực mình nói – Muốn kiếm bắt ổng, các ông vô rừng U Minh mà kiếm bắt. Ở đây không có đâu, hỏi mất công!”. – “Đ.mẹ! ­– tên mã tà lại chửi thề – Thằng cha già này muốn chết hả?”. Tên lính mã tà xô mạnh ông già té lăn vô vách rồi bỏ đi một nước qua nhà khác lùng sục tiếp, mà không cần biết khi bị xô mạnh như vậy ông già đó thương tích ra sao, sống hay chết. Không khí khủng bố bao trùm thị xã Rạch Giá và vùng ngoại vi lân cận. Đồng thời chúng treo giải thưởng cho ai bắt hoặc giết được ông Trực sẽ được món tiền lớn năm ngàn quan tiền.


            Chợ búa nhóm họp lèo tèo. Bọn lính giặc vẫn đi tuần tra lùng sục ngày đêm vào tận ngõ ngách hẻo lánh gây vô vàn tội ác với dân ta.


            Ông Ky cùng toán nghĩa quân rút khỏi Rạch Giá về rạch Kim Quy vùng U Minh Thượng, đóng tạm ở nhà dân. Hằng ngày những tin tức bọn giặc khủng bố giết hại dân chúng để trả thù thành Sơn Đá thất thủ, liên tiếp đến với ông qua những người dân đi chợ về kể lại. Ông cũng cảm thấy hết sức lo lắng do không biết tin ông Trực cùng với các ông Hai Nhượng, Tư Hội, quản Cầu, xã Lý, hai chị em cô Điều, Đỏ sống chết ra sao. Riêng tin ông Tư, ông Miên, ông Búp hy sinh thì ông được biết sau khi rút về đây. Với tâm trạng lo lắng không yên, ông Ky đến gặp ông Ngàn, cũng đóng quân tạm nhà dân gần đó. Ông Ngàn đang ở trần ngồi khâu lại cái chài bị rách. Mấy hôm chạy về đây, nhờ cái chài dân cho mượn này mà ông cũng kiếm đủ cá tôm cho anh em nghĩa quân theo ông. – “Anh Ngàn, tụi mình ra ngoài ta bàn chuyện một chút. Đi”. Ông Ky nói với vẻ mặt không vui. Ông Ngàn vội vơ lấy cái áo bà ba treo trên vách mặc vào rồi theo ông Ky ra ngoài. Hai người im lặng đi dọc theo con đường mòn nhỏ bờ rạch. Ánh nắng ban mai soi rõ gương mặt cương nghị của họ. Họ đến ngồi dưới gốc cây bàng trông ra biển. Gió thổi xào xạc. Một vài lá bàng rơi. – “Từ hôm chạy về đây, không đêm nào tôi ngủ ngon giấc – ông Ky nhìn ra biển, nét mặt buồn buồn mở đầu câu chuyện – Không biết anh Hai Trực bây giờ ra sao, rồi còn anh em mình hy sinh nữa... Tôi suy nghĩ kỹ rồi mới định gặp anh bàn chuyện đây…”. – “Anh Ba cứ nói đi, tôi nghe – ông Ngàn nhìn ông Ky với đôi mắt thông cảm ái ngại, vì ông rất hiểu tâm trạng của ông Ky lúc này”. – “Tôi định đưa anh em về Tà Niên rồi đánh một trận sanh tử với chúng nó. Chớ ở đây hoài sao được? – ông Ky nhìn ông Nhàn với ánh mắt tin cậy – Đó là chưa kể nếu bọn giặc biết chúng ta ở đây nó, cũng sẽ hành quân diệt mình. Đến lúc đó thì bị động lắm! Chi bằng mình bất ngờ đánh nó trước. “Tiên hạ thủ vi cường” mà. Tôi nghĩ vậy, anh thấy có được không?” – Ông Ky nhìn ông Ngàn chờ đợi. – “Anh Ba à – giọng ông Ngàn cũng bùi ngùi – Mấy hôm nay tôi cũng mất ngủ như anh. Năm anh em chí cốt tụi mình ở Tà Niên, nay đã “đi” hết ba rồi... chỉ còn lại anh với tôi. Mà chúng ta đâu phải là cái loại “tham sanh úy tử”! Còn sống ngày nào thì thề không đội trời chung với giặc Tây dương ngày đó. Anh với tôi có chết thì cũng phải có vài thằng giặc chết trước mặt tụi mình mới được!” – Ông Ngàn nói mấy câu sau cùng vẻ mặt vui của người coi thường cái chết. – “Còn tinh thần anh em theo mình thì sao? Liệu họ có còn tinh thần sống chết với lũ giặc không?” – Ông Ky hỏi với nét mặt chưa hết lo lắng. – “Cái đó anh Ba khỏi lo. Anh em đi theo mình toàn là dân chí cốt cả”. – “Tất cả tụi mình chưa được hai chục, chắc phải đi hai xuồng hoặc tam bản mới được. Tối nay xuất phát được chưa?” – ông Ky hỏi. – “Được quá chớ anh! – ông Ngàn gật đầu vui vẻ – Đi đêm vừa che mắt giặc, vừa khoẻ hơn. À, anh Ba có biết tin gì về anh Hai Trực không?”. – “Không – ông Ky lắc đầu – Từ lúc chia tay ổng lên Lục Dục, Tà Keo, tôi ở dưới thị xã rồi rút về đây, mất liên lạc nên có tin tức gì đâu. Rồi còn mấy anh nữa như Hai Nhượng, quản Cầu, xã Lý, hai chị em cô Điều… cũng không biết sống chết ra sao. – ông Ky thở dài – Đúng là không có anh Hai Trực chúng ta như rắn mất đầu...”. – “Tôi cũng nghĩ như anh – ông Ngàn nói – Nhưng thôi, nếu số phận đã định như vậy, thì cũng đành chịu – ông Ngàn nhìn ông Ky với ánh mắt chí cốt. – Nhưng hai anh em mình quyết sẽ quyết chiến tới cùng, có chết cũng là chết vinh hơn sống nhục!”.


            Đêm đó, gần hai chục nghĩa quân lên hai tam bản lớn cùng ông Ky, ông Ngàn trở lại bí mật trở lại Tà Niên. Ông Ngàn đi trước. Tam bản ông Ky đi sau. Hai chiếc tam bản nối đuôi nhau men theo ven biển trở lại rạch Tà Niên. Biển Rạch Giá về đêm lặng yên, chỉ nghe tiếng sóng vỗ nhẹ vào bờ và vài tiếng chim ăn đêm kêu lạc lõng trong đêm tối mênh mông đầy sao…


            Cũng trong đêm tối hôm ấy ở vùng núi rừng Hòn Chông, hàng trăm người với ngọn đuốc cháy đỏ rực trong tay đứng vây quanh một khu đất rộng dưới chân núi. Ở giữa khu đất có đặt một bàn thờ Tổ quốc với lá cờ đại bái của nghĩa quân, khói hương nghi ngút. Hai hàng nghĩa quân, một bên Việt, một bên Miên, khăn áo chỉnh tề tay cầm tầm vông vạt nhọn đứng dọc hai bên như đội tiêu binh danh dự. Đây là buổi lễ kết nghĩa anh em giữa Nguyễn Trung Trực và Thạch Pút, chỉ huy nghĩa quân ở Hòn Chông. Tiếng trống nổi lên báo hiệu đến giờ hành lễ. Tiếng trống vừa dứt thì giàn ngũ âm – nhạc khí của Miên – nổi lên tiếp theo với những âm thanh rộn rã đầy tính lễ hội chào đón Nguyễn Trung Trực và Thạch Pút – cũng còn rất trẻ – sánh vai nhau đi giữa hai hàng tiêu binh đến trước bàn thờ. Họ cùng đốt nhang rồi quỳ lạy bàn thờ Tổ quốc tượng trưng. Sau đó, Trực nói với bà con đứng vây quanh: – “Thưa tất cả bà con và anh em nghĩa quân. Hôm nay, chúng ta làm lễ đón nhận bòn Thạch Pút, người anh hùng chỉ huy đội quân tự vệ Khơ-me Hòn Chông gia nhập vào hàng ngũ nghĩa quân, để chống lại lũ giặc Tây dương đang xâm chiếm nước ta, là kẻ thù chung của hai dân tộc Việt – Khơ-me. Kể từ hôm nay bòn Thạch Pút là người anh em của nghĩa quân chúng ta.


            Tiếng trống, tiếng ngũ âm nổi lên hoà với tiếng hoan hô của những người tham dự buổi lễ, làm cho không khí trở nên sôi nổi ấm cúng. Tiếp theo một nghĩa quân bưng ra cái mâm, trên đó có vò rượu nhỏ, hai cái chén sứ và một lưỡi dao găm sáng loáng. Anh nghĩa quân quỳ xuống dâng cái mâm trên đầu trước Nguyễn Trung Trực và Thạch Pút. Trực thong thả lấy vò rượu đổ vào hai chén đầy rồi cầm lấy dao găm chích vào ngón tay cho máu nhỏ vào hai chén rượu. Xong, Trực đưa dao cho Thạch Pút. Anh này kính cẩn nhận dao rồi cũng chích máu ngón tay mình nhỏ vào hai chén rượu như Trực. Cả hai cầm lấy chén rượu. Người nghĩa quân bưng mâm lui ra một bên. Trực cùng Thạch Pút quỳ trước bàn thờ, giơ chén rượu thề: – “Đêm nay tui với anh Hai Trực kết làm anh em – Thạch Pút nói giọng trang nghiêm, xúc động – Thề trước Trời Phật cùng quyết tâm đánh giặc, sanh tử có nhau. Ai phản bội lời thề sẽ chết vì đao kiếm!”. – “Xin thề!” – Cả hai cùng hô vang rồi chạm chén rượu, ngửa cổ uống cạn trong tiếng reo hò của những người dự lễ, cùng với tiếng trống, tiếng dàn nhạc ngũ âm nổi lên tưng bừng rộn rã vang động cả núi rừng Hòn Chông, chứng kiến tình đoàn kết chiến đấu của hai dân tộc Việt – Khơ-me trước kẻ thù chung.


            Đến gần sáng Trực mới trở về nhà bà Năm – mẹ cai Tèo – nơi chàng tạm đóng Sở chỉ huy nghĩa quân khi rút về Hòn Chông. Khi Trực bước vô cửa đã thấy có người khách chờ anh trong nhà. Thấy anh, người này vội đứng bật dậy cung kính chắp tay chào với giọng tiếng Việt còn cứng ngắc: – “Chào ông Hai. Có nhận ra ngộ “lây” không?”. – “Ôi! Chú Xồi!” – Trực mừng rỡ nắm chặt vai chú Xồi lắc mạnh, theo thói quen khi gặp người thân – “Chú tới đây bao giờ?”. – “Cũng vừa mới tới – ông Xồi cười vui vẻ – “Li” hỏi thăm nghe nói ông về “lây”, bị anh em nghi là dọ thám bắt đưa về “lây ló”!”. Trực cũng cười lây cái vui của ông Xồi. – “Sao, mấy năm nay làm ăn ở đâu mà bây giờ chú lại tới Hòn Chông này?”. – “Sau khi bọn Tây dương chiếm ba tỉnh miền Đông, ngộ bỏ về buôn bán ở Phú Quốc – ông Xồi vui vẻ nhìn Trực nói tiếp – Nghe tin ông Hai đánh hạ thành Rạch Giá, ngộ sướng quá! Ba cái thằng Tây dương làm phách chỉ có ông Hai mới trị nó được”. – “Đâu riêng mình tôi – Trực cười – Còn có nhiều anh em nữa chớ!”. Thật lòng, Trực rất vui khi gặp lại ông Xồi ở Hòn Chông này, biết đâu lại chẳng có dịp nhờ vả ông người Hoa tốt bụng này. – “À, chút nữa quên – ông Xồi nhìn Trực hỏi – Còn cái ông ăn cướp ghe ngộ hồi trước ở sông Vàm Cỏ, bị ông Hai đánh bại, nghe nói sau này cũng theo ông Hai, giờ ở đâu rồi?”. Nghe ông Xồi nhắc đến Sáu Bảnh, Trực thấy xúc động, anh buồn bã trả lời: – “Lúc tôi ra Bình Thuận, anh đó ở lại theo ông Bình Tây đại nguyên soái đánh giặc ở Gò Công, Định Tường, nghe nói hy sinh cùng với ông Trương Định rồi”. – “Tội nghiệp! – ông Xồi nói với giọng thương cảm – Hồi đó nhờ có ổng ăn cướp ngộ mới được gặp ông Hai. Cũng đều do ông trời sắp đặt hết”. – “Chú Xồi có quen vùng này nhiều không?” – Trực nhìn ông Xồi hỏi dò. – “Ngộ là dân dưới này mà! – ông Xồi vui vẻ nói – Rạch Giá, Hà Tiên, Hòn Chông, Phú Quốc, ngộ rành như đường chỉ trong lòng bàn tay. Còn bạn bè người Hoa, người Khơ-me thì nhiều lắm. Đi đâu cũng gặp người quen hết hà!”. – “Vậy thì tốt quá – Trực mừng rỡ thật sự – Sau này chắc có dịp sẽ nhờ đến chú đó!”. – “Ông Hai à! – ông Xồi nói với giọng kính trọng – Ngộ hết sức quý trọng những người anh hùng hết lòng vì dân vì nước như ông Hai. Ngộ nói thiệt lòng đó! Nếu ông Hai có việc gì cần đến ngộ thì dẫu có nhảy vô nước sôi lửa bỏng, ngộ cũng không từ chối. Ông Hai yên chí đi!”. – “Cám ơn lòng tốt của chú – Trực cười nói vui vẻ – Dân chúng đất này ai ai cũng được như chú thì ba thằng giặc Tây dương trước sau gì cũng bị đánh đuổi ra khỏi xứ này thôi!”.


            Đúng lúc đó, quản Cầu, xã Lý, cai Tèo, chị em cô Điều, Đỏ ở ngoài bước vô. Thấy có người khách lạ, họ hơi lượng sượng một chút. Hiểu ý, Trực giới thiệu luôn: – “Đây là chú Xồi – người buôn bán thương hồ – mà tôi quen bảy năm trước ở Tân An... nay mới được gặp lại”. Rồi Trực quay lại ông Xồi: – “Đây là các vị trong hàng ngũ nghĩa quân với tôi”. Ông Xồi chắp tay chào kính cẩn: – “Xin chào quý vị”. Mọi người cùng vui vẻ chào lại: – “Xin chào ông”. – “Chú nay nghỉ ở đâu?” – Trực hỏi ông Xồi. – “Ghe ngộ ở dưới bến đằng kia thôi. – ông Xồi lấy tay chỉ – Cũng sắp về Phú Quốc “dồi”, nhưng nghe nói có ông Hai ở đây, nên ngộ mới tìm đến thăm, tiện thể có chút quà mọn kính biếu ông Hai và các vị dùng lấy thảo”. Ông Xồi lấy túi bàng đựng thuốc men, trà lá đưa hai tay tặng Trực. Chàng đỡ lấy rồi nói vui: – “Cám ơn chú. Chú đến thăm là quý rồi, còn quà biếu chi cho cực vậy!”. – “Hầy, đó là tấm lòng của ngộ mà, ông Hai – ông Xồi đứng dậy – Thôi ngộ xin cáo từ ông Hai và các vị”. Đúng lúc ấy, Thắm và Út Hết bưng mâm cháo gà và mấy cút rượu ra. Thắm vui vẻ nói: – “Xin mời anh Hai và các vị dùng cháo kẻo khuya đói”. Trực nói với ông Xồi: – “Chủ nhà đã có lòng mời, chú Xồi ở lại dùng một chút rồi hẵng về – Trực cười, nói tiếp – Bao nhiêu năm quen biết nhau chưa bao giờ ta được ngồi chung mâm với nhau phải không chú?”. Rượu được rót ra chung nhỏ, Trực đưa lên mời mọi người: – “Nào, xin mời tất cả”. Họ cạn chung rượu rồi ngồi ăn cháo vui vẻ. Trực nhìn ông Xồi: – “Tôi muốn nhờ chú cho mấy người quá giang ra Phú Quốc. Có trở ngại gì cho chú không?”. – “Ồ không sao – ông Xồi cười – Ghe đi biển của ngộ rộng mà… Bao giờ đi, ông Hai?”. – “Chừng nào chú lui ghe?” – Trực hỏi. – “Chiều mai – ông Xồi nói – Cơm nước xong là nhổ sào”. – “Vậy thì tôi sẽ đưa họ đến sớm hơn một chút. Được chớ?” – Trực nhìn ông Xồi hỏi. – “Sao lại không được? – ông Xồi cười vui vẻ – Ngộ nói dồi, ông Hai nhờ việc gì ngộ cũng sẵn sàng mà!”.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info


           


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Bão - Ngũ Hà Miên 16.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 13.10.2018
Bụi đời - Triệu Xuân 13.10.2018
Cõi mê - Triệu Xuân 13.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 09.10.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 09.10.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 05.10.2018
Sừng rượu thề - Nghiêm Đa Văn 05.10.2018
Hòn đất - Anh Đức 14.09.2018
Hồi ký điện ảnh - Đặng Nhật Minh 14.09.2018
xem thêm »