tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24963812
Tiểu thuyết
28.11.2018
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng


Trời chiều. Ở bãi biển Dương Đông. Trực đứng nói chuyện với ông Xồi trước khi ghe ông chở cô Điều, quản Cầu, xã Lý, xã Ngãi vượt biển sang Xiêm mua vũ khí cho nghĩa quân.


            – “Ông Hai à! – ông Xồi nói – Ông Hai cứ yên tâm đi! Ngộ chưa kể với ông Hai về dòng họ ngộ. Ông nội ngộ hồi trước là người theo ông Hồng Tú Toàn, lãnh đạo Thái Bình Thiên Quốc chống bọn Mãn Thanh xâm lược Trung Hoa. Sau khi thất bại, ông nội ngộ chạy sang đây tị nạn, rồi lấy vợ người Việt, sanh con đẻ cháu ở đây luôn. Nghề đi biển buôn bán làm ăn là nghề của dòng họ ngộ mà!”. – “Tôi cũng rất tin tưởng chú đi chuyến này sẽ thành công – Trực mỉm cười nhìn ông Xồi với ánh mắt tin cậy – Anh em nghĩa quân không bao giờ quên công lao chú đã đóng góp nhiều cho công cuộc chống bọn Tây dương của người Nam hiện nay”. – “Ông Hai đừng nói vậy – ông Xồi nhìn Trực nói – Lũ Tây dương là kẻ thù của người Nam mà cũng là kẻ thù của người Hoa. Nó từng kéo binh xâm lược Trung Quốc – quê cha đất tổ của ngộ. Còn bây giờ ngộ ăn cơm gạo đất Nam, lấy vợ người Nam, buôn bán sanh sống ở đất Nam, kẻ thù dân Nam cũng là kẻ thù của ngộ. Ngộ giúp ông Hai, giúp anh em nghĩa quân là bổn phận của ngộ mà!”. – “Cám ơn những lời nói chí tình chí nghĩa của chú – Trực nhìn ông Xồi với ánh mắt tình cảm quý mến – Bữa nay tôi mới hiểu thêm tấm lòng của chú đối với nghĩa quân. Người Nam có câu: “Gia bần tri hiếu tử, quốc loạn thức trung thần”, nghĩa là “nhà nghèo mới hay con thảo, nước loạn mới biết tôi trung”. Có trải qua gian nan thử thách mới hiểu được lòng nhau. Lũ Tây dương là kẻ thù chung của hai dân tộc Việt Hoa. Tôi mong chú đi chuyến này mau sớm trở về “mã đáo thành công”, giúp cho nghĩa quân có thêm võ khí tiêu diệt lũ Tây dương khi chúng kéo quân ra đảo này!”.– “Ông Hai cứ tin ở ngộ. Ngộ không phụ lòng ông Hai đâu!” – Ông Xồi nhìn Trực, nói dứt khoát. Trực xúc động nắm chặt lấy vai ông Xồi lắc mạnh. Đó là cử chỉ quen thuộc của Trực, biểu lộ tình cảm của chàng với những người bạn chí cốt khi chia tay đi làm nhiệm vụ khó khăn nguy hiểm.


            Ông Xồi đi nhanh xuống ghe. Những người như cô Điều, quản Cầu, xã Lý, xã Ngãi đã đứng trước mũi ghe. Họ vẫy tay chào Trực với tiếng nói lớn khi chiếc ghe từ từ tách bến: – “Anh Hai ở lại mạnh giỏi, chờ bọn tui trở về!”. Trên bãi biển Trực cũng vẫy tay chào họ, những người sẽ vượt trùng dương tìm mua vũ khí về cho nghĩa quân, một công việc đầy khó khăn nguy hiểm. Tự nhiên, Trực thấy lòng se thắt lại, chàng cố nén tiếng thở dài khi nhìn con thuyền ra khơi chìm dần trong làn sương mờ đang lan toả trên mặt biển lúc này hoàng hôn đã tắt nắng...


 


           


Buổi sáng. Mặt biển lấp lánh ánh sáng mặt trời. Chiến hạm Goeland đang rẽ sóng tiến ra hòn đảo Phú Quốc. Rivière, sau khi thất bại lần tấn công đầu vào Hàm Ninh, hắn trở về Rạch Giá xin thêm viện binh đã được chấp nhận, nên hắn lại trở ra Phú Quốc để tấn công tiêu diệt nghĩa quân. Cùng đi với hắn lần này có Lãnh binh Huỳnh Tấn, người được Ohier – Tư lệnh quân viễn chinh Pháp – giao nhiệm vụ trọng yếu là phải triệt hạ cho bằng được cuộc kháng chiến của nghĩa quân dưới sự chỉ huy của Nguyễn Trung Trực. Đứng trước mũi tàu cùng với Rivière, Huỳnh Tấn lúc này trong trang phục võ quan quân đội viễn chinh Pháp, phóng tầm mắt nhìn về đảo Phú Quốc hiện ra trong nắng sớm với đỉnh núi Chúa có làn mây trắng bao quanh, nhô cao giữa trời xanh bát ngát trải dài trên mặt biển rộng lúc này lặng yên chỉ gợn vài lượn sóng nhỏ lăn tăn trước mũi tàu. Hắn sẽ phải đối đầu với Nguyễn Trung Trực, người bạn thuở hàn vi cùng học chung thầy dạy võ, từng cùng đội nông binh thử tài cao thấp hội thí võ ở sân đình làng dưới sự chứng kiến của Lãnh binh Trương Định, người từng làm quân Pháp bạt vía kinh hồn với vụ đốt chiếc Espérance ở vàm Nhựt Tảo, sông Vàm Cỏ, và gần đây, hạ thành Sơn Đá kiên cố bằng đá ở Rạch Giá chỉ trong một đêm… Giờ đây lại đang cố thủ ở Phú Quốc, sau khi đã đánh bại Rivière trong lần tấn công đầu tiên vào Hàm Ninh, khiến hắn phải chạy về Rạch Giá xin thêm viện binh... Những ý nghĩ về con người Nguyễn Trung Trực cứ lởn vởn lộn xộn trong đầu tên phản bội Huỳnh Tấn, cho đến khi nghe Rivière nói, hắn mới sực tỉnh: – “Ông lãnh binh có thấy đây là vùng biển đẹp nhất của miền Tây Nam Kỳ không?”.– “Vâng, thiếu tá nói đúng. Biển ở đây đẹp quá!” – Tấn đáp với giọng hơi lúng túng, bị động. – “Nghe nói trước đây ông lãnh binh từng ở chung đội ngũ với tướng Trực. Có phải vậy không?” – Rivière hỏi. – “Vâng – Tấn đáp, lúc này có vẻ chủ động – Trước đây tôi với ông ta học chung với thầy dạy võ trong làng”. – “Vậy theo ông, tướng Trực là con người thế nào?” – Rivière háo hức muốn tìm hiểu con người từng đánh bại hắn. – “Đó là một người rất thông minh, tự tin và quyết đoán. Ngoài ra, Trực rất tinh thông võ nghệ, lắm mưu mẹo và là người rất dũng cảm luôn đi đầu trong các trận đánh, nên được thuộc hạ dưới quyền nể phục, tin tưởng”. Tấn đáp rất thành thật về Trực, vì trong thâm tâm hắn vẫn khâm phục Trực. – “Ông nói vậy có nghĩa là tướng Trực rất hoàn hảo, không có khuyết điểm, nhược điểm gì sao?” – Rivière cảm thấy thích thú khi được là đối thủ của một nhân vật đầy bản lĩnh như Trực, nên hắn cố tìm hiểu thêm. – “Từ khi biết Trực đến nay, đã hơn chục năm – Tấn nói – quả thật tôi chưa thấy điều gì gọi là khuyết điểm ở con người ấy, nhưng nếu có nhược điểm thì đó chính là lòng thương người vô hạn, có khi còn hơn bản thân mình, nhứt là những người cùng chung đội ngũ chiến đấu với ông ta. Điều nổi bật hơn hết ở con người này là sự hiếu thảo đối với song thân, nhứt là đối với bà mẹ. Đó là những gì tôi biết về Trực”. – “Soái phủ Sài Gòn quả không lầm khi chọn ông chịu trách nhiệm chính trong cuộc tấn công tiêu diệt tướng Trực lần này – Rivière cười đểu – Vậy ông đã có kế hoạch tấn công thế nào chưa?”. – “Tất nhiên – có lẽ Huỳnh Tấn cảm nhận được nụ cười đểu khinh miệt kẻ phản bội của Rivière, nên hắn lạnh nhạt trả lời – Tôi sẽ có cách riêng của tôi, nhứt định sẽ chiến thắng trong cuộc tấn công này. Tôi sẽ cho thiếu tá biết sau”. Thấy Tấn tỏ vẻ khó chịu không muốn tiếp tục câu chuyện, tên Rivière cũng rất tinh ý, không gợi chuyện nữa mà bỏ đi chỗ khác. Chiếc Goeland vẫn rẽ sóng tiến về hướng Phú Quốc, và trên mũi tàu lộng gió, tên Lãnh binh Tấn vẫn đứng trầm ngâm nhìn về phía đảo với những mưu mô độc ác thâm hiểm mà hắn sẽ thực hiện trong cuộc chiến sắp tới...


CHƯƠNG MƯỜI HAI


            Buổi sáng ở Hàm Ninh. Dân chúng trong xóm bắt đầu công việc hàng ngày của mình: người vác lưới xuống thuyền chuẩn bị ra khơi, kẻ vác búa rìu vào rừng kiếm củi... Ông già chủ nhà, nơi mà Trực tạm ở trước khi rút qua Dương Đông đang ngồi vá lưới, bên cạnh có con chó vện nằm lơ mơ sưởi nắng... Không khí yên tĩnh nơi xóm chài ven biển, bỗng nhiên bị phá tan bởi hàng loạt đạn đại bác nổ rền vang khắp đầu xóm cuối bãi. Hàng loạt cột khói trắng dựng lên đột ngột cùng với tiếng kêu thất thanh của nhiều người: – “Bà con ơi! Giặc tới nữa rồi!”. Nhiều người hoảng loạn thu vội thu xếp cái gì cần thiết mang theo chạy lên hướng rừng núi.


            Từ ngoài khơi, chiếc Goeland có mặt Huỳnh Tấn và Rivière cùng vài tàu chiến khác liên tục nã đạn đại bác vào xóm chài. Đồng thời, những chiếc xuồng chở đầy lính Pháp, ma ní, mã tà vừa được bổ sung cho Rivière, nỗ lực bơi vào bãi biển dưới sự yểm trợ của đại bác...


            Ông già vội cuộn lưới lại, vác chạy ra giấu vào bụi cây sau nhà, rồi núp sau tảng đá lớn để tránh đạn pháo. Trong xóm vẫn im phăng phắc, không một tiếng súng đáp trả. Lần này đổ bộ vào Hàm Ninh, lũ giặc gần như tiến vào chỗ không người. Sau khi lên bãi cát, chúng chia ra nhiều tốp, vừa nổ súng vừa lùng sục từ đầu xóm đến cuối xóm. Trong một tốp, thấy có tên đội Lượm, giờ đã lên chức quản. Chúng lùa đàn bà, trẻ con – những người không kịp chạy trốn vào rừng núi – tập trung lại một chỗ để điều tra tung tích hoạt động của nghĩa quân. Tiếng kêu khóc của đàn bà, trẻ con và cả những người lớn tuổi khi nhìn thấy nhà cửa của họ bị lũ giặc đốt cháy, khói đen bốc lên cuồn cuộn… Tên quản Lượm dẫn tốp lính mã tà xông vô nhà ông già. Không thấy nhà có của nả gì đáng giá, hắn quay đi ra sau nhà và chợt thấy ông già núp sau tảng đá. Hắn gọi lớn: – “Ê! Bay đâu! Trói đầu thằng cha già này lại!”. Nghe tên Lượm gọi mình là “thằng cha già” một cách xấc xược, hỗn láo, ông già thấy máu nóng trào lên đỏ mặt, ông vội lấy cây mác vót để gần đó. Chuyến này ông quyết ăn thua đủ với lũ tay sai theo giặc giết hại đồng bào của mình. Hai tên lính mã tà nghe lệnh tên quản Lượm vội chạy tới. Một tên có bộ mặt bặm trợn, hăng hái xông lên trước – theo tay chỉ của quản Lượm – nhào tới định khoá tay ông già trói lại. Nhưng bất ngờ hắn rú lên một tiếng thất thanh rồi ngã vật ra. Ông già đã thọc một mũi mác vào bụng hắn chính xác như chọc tiết heo. Ông vội vọt nhanh ra khỏi chỗ núp chạy được một quãng, nhưng mũi súng của tên quản Lượm đã quật ông ngã xuống sau tiếng nổ chát chúa vang lên sau lưng ông.


             Ở một gian nhà cuối xóm, nghe tiếng súng nổ ì ầm đầu xóm, một cô gái, còn trẻ, khá xinh đẹp, nét đẹp của con gái vùng biển, khoảng độ 17, 18 tuổi, hốt hoảng từ phía sau nhà chạy vào nói với bà mẹ trong hơi thở gấp: – “Bọn giặc sắp tới rồi! Làm sao đây hả má?”. – “Con chạy lên núi đi!” – Bà mẹ nhìn đứa con gái với ánh mắt lo lắng. – “Còn má?” – Cô gái hỏi. – “Tao không đi đâu hết!” – Bà mẹ trả lời dứt khoát. – “Sao vậy má?” –Cô gái ngạc nhiên với thái độ người mẹ, cô hỏi với giọng lo lắng. – “Đi vắng nó đốt nhà. Tao ở lại giữ nhà. Con chạy mau đi, kẻo không kịp”. Bà mẹ hối giục con gái. – “Con không đi đâu hết. Con ở lại với má. Mẹ con sống chết có nhau!” –Cô gái nói giọng quả quyết với ánh mắt căm thù. – “Mày ở lại không được đâu!” –Bà mẹ nổi giận thật sự, nhưng kịp nén lại, bà nói giọng tình cảm: – “Lũ giặc này nó ác lắm! Nghe lời má, chạy mau đi con!”. – “Má ơi! Con... – Cô gái khóc – Con không muốn bỏ má lúc này!”. Bỗng tiếng súng nổ rộn lên rất gần như thúc giục quyết tâm bảo vệ con của người mẹ. Bà đẩy mạnh cô gái và quát lớn: – “Nó tới gần rồi đó! Chạy mau đi!”. Không thể nào cưỡng lại được, cô gái đành vọt chạy ra phía rừng sau nhà. Nhưng thật bất ngờ, vừa vọt qua khỏi bụi cây, cô gái bị một tên giặc đột ngột xuất hiện ôm chặt cô quật ngã nhào xuống đất với tiếng quát: – “Chạy đâu?”. Tên giặc ấy không ai xa lạ: chính là quản Lượm. Trông thấy cô gái ngã nhào trong tay hắn đầy sức hấp dẫn của người con gái vùng biển, thú tính trong con người hắn vụt trỗi dậy mạnh mẽ dữ dội. Cô gái vừa chống cự, vừa kêu lớn: – “Má ơi! Cứu con với!”. Người mẹ trong nhà nghe tiếng kêu cứu của con gái, bà vội xách ngay con dao phay chạy ra. Trước mắt bà, tên quản Lượm đã đè ngửa cô gái, giật phăng cúc áo để lộ bộ ngực thanh xuân mơn mởn khiến hắn càng ghì chặt cô gái. Không một giây chần chừ, bà mẹ vung con dao phay chém mạnh vào cổ tên quản Lượm. Hắn ngã ra giẫy đành đạch như cá bị đập đầu. Máu ở cổ hắn tuôn ra như suối. – “Chạy mau con!”. Cô gái vùng dậy cùng bà mẹ chạy biến vào rừng. Hai tên lính mã tà đang lùng sục trong nhà, nghe tiếng người mẹ kêu con chạy, lập tức giương súng bắn đuổi theo. Nhưng bóng hai mẹ con đã khuất hẳn sau màu xanh của rừng núi điệp trùng Hàm Ninh. Hai tên lính mã tà chạy đến chỗ tên đội Lượm bị giết. Nhìn thấy mặt hắn tái nhợt, đôi mắt còn mở trừng trừng, cổ hắn máu vẫn còn chảy đọng vũng chung quanh. Một tên lè lưỡi: – “Ôi! Ghê quá mày ơi!”. – “Thôi đi mày! – Tên lính kia bĩu môi vẻ khinh miệt – Đáng đời thằng phản bội ham gái!”. – “Bây giờ tính sao đây, mậy?” – Tên lính kia hỏi lại. – “Kệ mẹ nó. Coi như tụi mình không biết. Đi theo tao!”. Tên lính kia riu ríu đi theo thỉnh thoảng còn ngoái cổ lại nhìn xác tên Lượm, nét mặt hãy còn đầy vẻ kinh hãi.


            Cũng trong buổi sáng, dân xóm biển Hàm Ninh đã bị giặc lùa về một bãi đất trống chừng vài chục người, gồm có người già, đàn bà và trẻ con. Không hiểu sao không thấy một thanh niên trai trẻ hay đàn ông tuổi trung niên nào trong số bị bắt lùa về chỗ sân bãi này. Có thể họ ra khơi đi lưới hay giăng câu từ rạng sáng trước khi giặc đổ quân lên Hàm Ninh nên tránh khỏi cuộc vây ráp này chăng? Bây giờ, đứng trước đám đông dân chúng bị tập trung ở sân bãi, có bọn lính mã tà ma ní canh gác chung quanh, Lãnh binh Tấn đến trước một bà già, tóc bạc trắng, hỏi: – “Bà có biết đám quân phiến loạn do Nguyễn Trung Trực cầm đầu hiện đang ở đâu không?”. – “Dạ bẩm quan, tui hổng biết” – Bà già nhìn Tấn trả lời nhỏ nhẹ, nhưng trong thâm tâm bà rất căm ghét bọn Việt gian theo lũ giặc Tây dương. – “Vậy tên Trực dẫn quân đến Hàm Ninh lúc trước, bà có biết không?”. – “Bẩm quan, có biết – Bà già nói rành rẽ – Nhưng sau đó các ông “quánh” nhau dữ quá, tui chạy vô rừng trốn. Khi tui về thì các ông rút hết rồi, tui hổng biết nữa!”. – “Các người có làm bánh trái gì cho bọn phiến loạn ăn không?” – Huỳnh Tấn cau mày hỏi. – “Bẩm quan lớn, đâu có – Bà già cố thanh minh – Dân ở đây nghèo khổ, kiếm được bữa nào xào hết bữa nấy, có gạo đâu mà làm bánh cho quân ông Trực ăn”. – “Bà đừng có lẽo lự qua mặt ta!” – Huỳnh Tấn quát lớn: – “Bay đâu? Mang bánh tịch thâu ra đây!”. Hai tên lính khiêng cần xé đựng đầy bánh tét, bánh ít ra đổ đầy sân bãi trước đám đông hoảng sợ ngơ ngác nhìn. – “Cái gì đây?” – Tấn quát lớn, rồi hùng hổ ra lệnh: – “Bắt con mụ đó ra đây!”. Hai tên lính lại chạy vô một ngôi nhà gần đó, lôi ra một người phụ nữ khoảng ngoài bốn mươi, tóc tai rũ rượi đến trước mặt Tấn: – “Đây, con mụ này bị bắt với cần xé bánh trái, mụ còn chối nữa không?”. Huỳnh Tấn chơi miếng khủng bố thí chốt để răn đe những người còn tính chuyện tiếp tế cho nghĩa quân. – “Lôi nó ra ngoài kia, bắn bỏ!”. Hai tên lính vội đến lôi người đàn bà với tiếng quát: – “Đi!”. Mặc cho người đàn bà vùng vẫy, chúng lôi chị đưa ra ngoài bãi biển thi hành lệnh của tên Huỳnh Tấn, trong khi người phụ nữ chỉ kịp chửi tên Việt gian: – “Đồ Việt gian khát máu! Đồ…”. Sau đó, một tiếng súng nổ đanh gọn vang lên phía ngoài bãi biển, khiến mọi người thảng thốt nhìn nhau. – “Các người thấy chưa? – tên Huỳnh Tấn nét mặt hầm hầm nhìn mọi người – Kẻ nào muốn tiếp tế nuôi quân phiến loạn, hãy lấy con mụ đó làm gương! Ta nói cho các người biết: bọn quân phiến loạn chạy ra đây là bước đường cùng rồi! Các người đừng hòng che chở tiếp tế lương thực cho bọn chúng. Người Phú-lang-sa đã lấy hết đất Nam Kỳ lục tỉnh rồi”. Hắn đi qua đi lại trước đám dân chúng kẻ đứng người ngồi vẻ mặt ngơ ngác, hoảng sợ. Hắn nói tiếp: – “Bọn phiến loạn do Nguyễn Trung Trực cầm đầu, làm sao có thể chống lại người Phú-lang-sa trên hòn đảo cỏn con này! Tiện thể đây ta nói cho các người biết: Nhà nước Phú-lang-sa đã treo giải thưởng cho ai bày mưu bắt được Nguyễn Trung Trực thì được thưởng hai trăm quan, còn nếu tự bắt được hoặc lấy được thủ cấp của Trực, sẽ được thưởng năm ngàn quan tiền. Ngoài tiền thưởng, Nhà nước còn phong quan chức bổng lộc khác nữa. Các người nghe rõ chưa?”. Cả đám người dân vẫn yên lặng đưa mắt nhìn tên Việt gian khoác áo quan quân đội viễn chinh Pháp đang diễu võ giương oai trước mặt họ. Trên trời, những đám mây đen đang ùn ùn kéo tới. Gió bắt đầu thổi mạnh. Những đợt sóng biển cuồn cuộn nối nhau chồm vào bãi cát, tung những bọt nước trắng xoá. – “Kể từ hôm nay các người không được trở về nhà, mà sống tập trung ở đây đến khi nào ta tiêu diệt hết đám quân phiến loạn của Nguyễn Trung Trực, các người mới được trở về làm ăn. Các người nghe rõ chưa?” – Tấn nhấn mạnh mấy câu sau cùng với vẻ mặt vênh váo của kẻ đầy quyền lực trong tay, trước những người dân xóm chài bị gán vào tội tiếp tế lương thực cho nghĩa quân.


            Gió mỗi lúc một thổi mạnh. Mưa bắt đầu rơi trên đầu những người dân bị bắt tập trung mỗi lúc một nặng hạt làm mờ hình ảnh của họ trong màu trắng đục… Trời cũng mưa tầm tã kéo dài trên vùng rừng núi từ Dương Đông đến Cửa Cạn.


            Nghĩa quân hành quân lặng lẽ dưới cơn mưa như trút nước. Từ sáng sớm đã thấy súng nổ ở phía bờ biển Dương Đông. Bên ngoài khơi, tàu chiến giặc đã dùng xuồng chở quân đổ bộ vào bãi biển như chúng đã từng đổ bộ ở Hàm Ninh. Nhưng lần này nghĩa quân không tổ chức trận đánh như ở Hàm Ninh lúc trước, chỉ cho vài tay súng thiện xạ như cai Tèo, Sáu Nhỏ và một vài nghĩa quân khác bắn tỉa diệt vài tên giặc, trước khi cùng toàn đội rút khỏi Dương Đông về hướng vùng rừng núi Cửa Cạn...


 


 


            Nghĩa quân tạm nghỉ lại vùng đồi rừng gần Cửa Cạn.


            Hai Nhường cùng với Tư Hội dẫn số anh em chặt cây dựng tạm dãy lán trại lợp bằng lá chuối rừng để tránh mưa. Mưa lớn kéo dài họ không nấu nướng gì được, nghĩa quân chỉ giở bánh tét, bánh ít của đồng bào cho mang theo chia nhau ăn. Tuy hết sức gian khổ nhưng tiếng cười đùa vẫn không ngớt của những anh lính trẻ lẫn những anh lính đã lớn tuổi. Thì ra đối với những người lính trẻ chiến đấu có lý tưởng, thì môi trường nào, dù có gian khổ đến mấy cũng không làm tắt tiếng cười của họ. Trong một chòi lợp lá chuối tạm như vậy, Trực cùng ngồi ăn bánh tét với Hai Nhường, Tư Hội. Cả ba ăn rất ngon lành, vì từ lúc hành quân đến giờ họ chưa kịp ăn. – “Anh Hai à – Tư Hội nói – Đường biển từ Phú Quốc qua Xiêm La mấy ngày đêm, anh có biết không?”. – “Mình cũng chỉ nghe nói thôi – Trực mỉm cười – chớ chưa đi bao giờ. Nếu thuận buồm xuôi gió cũng chỉ ba bốn ngày đêm gì đó. Mà tại sao anh hỏi vậy?”. – “Tôi nghĩ như vầy anh Hai à – Tư Hội chân thật bày tỏ suy nghĩ của mình – Nếu không thể ở đây được nữa, anh Hai có nghĩ chúng ta theo gương Nguyễn Ánh vọt qua Xiêm tạm lánh một thời gian rồi sẽ tính bước trở về lúc có điều kiện thời cơ cho phép?”. – “Tôi chưa nghĩ tới chuyện đó!” – Trực vừa nhai vừa nói cùng với ánh mắt vui vẻ. – “Tại sao anh không nghĩ tới chuyện đó?” – Tư Hội nhìn Trực đợi câu trả lời của anh. – “Vì một lẽ đơn giản: chúng ta là dân Nam, đẻ ra và lớn lên ở đất Nam, nay ta đánh giặc Tây dương là để giữ bờ cõi nước Nam. Nếu có chết cũng là chết cho nước Nam. – Trực mỉm cười nhìn Tư Hội – Anh có nhớ câu ông bà ta từ xưa đã từng nói: “Thà làm thần đất ta, hơn làm ma đất người” không?”. Trực cười rồi nói tiếp: – “Lũ Tây dương có một số thằng cũng bị cho làm “ma nước người” rồi đó!”. – “Anh Hai nói đúng quá! – Hai Nhường gật đầu đồng ý – Chúng ta đi bỏ dân lại cho ai? Ngày trước Nguyễn Ánh đi là để cầu viện quân Xiêm sang đánh Tây Sơn, để khôi phục lại cái vương triều mục nát của mình bị Tây Sơn đánh đổ. Rồi đám năm vạn quân Xiêm La đó bị Nguyễn Huệ đánh cho tan tành chỉ trong một buổi sáng ở Rạch Gầm Xoài Mút, tỉnh Định Tường, Nguyễn Ánh mang tiếng xấu muôn đời là “cõng rắn cắn gà nhà”. Ngừng một lúc, Hai Nhường nhìn Tư Hội: – “Còn chúng ta, nếu số phần trời đất định rồi thì nên sống chết ở đảo nầy thôi. Nhà Trần đánh giặc ba mươi năm mới giữ yên bờ cõi, vua Lê Lợi phải mất mười năm mới đuổi được giặc Minh về nước. Đó là chiến thắng Bạch Đằng giang đời Trần, Chi Lăng đời Lê, lịch sử đã ghi nhận”. Trực nhìn Tư Hội, Hai Nhường, nói tiếp: – “Còn hiện nay chúng ta đánh giặc Phú-lang-sa để giành lại đất nước bị mất vào tay giặc, nếu đời ta chưa làm xong việc đánh đuổi lũ giặc này thì lớp con cháu chúng ta sẽ làm tiếp trong năm năm, mười năm, hai mươi năm, hoặc lâu hơn nữa đến cả trăm năm, đánh cho đến khi nào trên nước Nam sạch bóng quân thù mới thôi. Đó là một điều chắc chắn như mặt trời mọc ở phương Đông – Trực nhìn Hai Nhường, Tư Hội mỉm cười – Hai anh có thấy có đúng như vậy không?”. Hai Nhường gật đầu tán thành: – “Anh Hai nói chí lý. Nước Nam ta thì từ thời các vua Hùng dựng nước đến nay trải qua mấy ngàn năm, biết bao lần bị kẻ thù phương Bắc xâm chiếm, nhưng trước sau gì cũng đều bị ông cha ta đánh bại, giữ vững được cơ đồ. Chúng ta là lớp con cháu hậu sanh, lẽ nào không làm được như ông cha ta hay sao”. Trực định nói tiếp vấn đề gì đó, nhưng chưa kịp nói thì bỗng chú bé Tâm chạy tới báo tin: – “Anh Hai ơi! Chị Hai đang đau bụng sanh ở đàng kia kìa. Anh mau lại đi!”. – “Được, anh sẽ tới ngay!” – Trực đứng bật dậy. Trước khi đi, Trực nhắc Hai Nhường, Tư Hội: – “Hai anh nhớ vẫn cho anh em quấy rối chỗ đóng quân của chúng để nghi binh nghe!”. – “Anh Hai yên tâm – Hai Nhường nói – Tụi tui lo hết rồi”.


            Trong một gian chòi lá rách dột, anh em nghĩa quân lợp lại bằng lá chuối rừng chống mưa. Nghĩa đau bụng chuyển dạ sanh con trên tấm đệm bàng được mang theo khi rút quân khỏi Dương Đông. Phụ giúp cho Nghĩa có cô Đỏ và một bà già ở Dương Đông – anh em, bà con gọi là bà Sáu – khi Nghĩa ở nhờ nhà bà, bà rất thương, nên khi rút quân bà đi theo phụ giúp vì đoán biết có thể Nghĩa sẽ sanh con lúc đi đường, lại là đẻ con so, chưa có kinh nghiệm, rất cần người phụ giúp có kinh nghiệm như bà. Gần chỗ Nghĩa, có mấy anh em nghĩa quân cũng túc trực trong túp lều sơ sài, đang đun nồi nước sôi phục vụ cho việc sinh nở của Nghĩa. Bên ngoài chỗ Nghĩa nằm, có che tấm chiếu đã bị ướt do mưa tạt vào. Cơn đau đẻ khiến Nghĩa rên rỉ quằn quại, mặt tái nhợt, mồ hôi vã ra dầm dề. Bên cạnh, cô Đỏ một tay lấy khăn lau mồ hôi, một tay cầm quạt mo cau quạt lia lịa, cô cũng chẳng biết làm thế nào cho đỡ cơn đau của Nghĩa, còn bà Sáu thì vuốt tóc luôn động viên Nghĩa: – “Ráng chịu đau chút nghe cô Hai! Sắp được rồi đó! Cố rặn thêm một chút, cô Hai!”. Thời gian căng thẳng nặng nề.


            Khi Trực cùng chú Tâm chạy đến thì nghe tiếng khóc oe oe của đứa trẻ lọt lòng trong chòi Nghĩa nằm. Nét mặt Trực bỗng rạng rỡ lên khi nghe tiếng bà Sáu báo tin: – “Con trai!”. Trực mừng quá toan bước vô thì cô Đỏ ở trong bước ra thấy Trực, vội nói: – “Anh Hai chưa vô được đâu! Em đi lấy nước đây”. Trực chợt nhớ ra, chựng lại, chàng bảo bé Tâm: – “Em phụ chị Ba lấy nước đi!”. Tâm “dạ” rồi vọt chạy theo cô Đỏ đến chỗ trại có mấy nghĩa quân đang nấu nước nóng. Riêng Trực đứng đợi với một cảm giác bồi hồi khó tả. Chàng đã làm cha rồi ư?


            Một chiếc ghe chở đầy hàng hoá gồm có gạo, dầu, đường và các thứ tạp hoá khác, đang giương buồm lướt sóng về phía vùng biển Dương Đông. Bỗng họ nhìn thấy chiếc tàu giặc làm vụ nhiệm vụ tuần tra, thực hiện lệnh phong toả Phú Quốc, chặn mọi nguồn tiếp tế từ đất liền ra đảo, hầu bóp nghẹt mọi nguồn tiếp tế cho nghĩa quân. Trông thấy chiếc ghe chở hàng hướng về Dương Đông, tên sĩ quan chỉ huy tàu tuần tra, gã mang lon trung úy, ra lệnh bắn phát súng cảnh cáo thị uy, bắt ghe dừng lại để kiểm soát. Chiếc ghe chở hàng đang giong buồm chạy ngon lành bỗng nghe tiếng súng nổ từ chiếc tàu tuần tra. Đạn cày trên mặt biển, bên cạnh chiếc ghe vọt lên trắng xoá khiến người chủ hoảng hốt trong mui ghe chui ra nhìn thấy chiếc tàu có lá cờ tam tài ba sắc trên cột buồm đang rẽ sóng tiến đến ghe, ông vội thét lớn: – “Hạ buồm mau!”. Hai anh thủy thủ làm công còn trẻ, nghe lệnh ông chủ vội chạy lại cột buồm hạ buồm xuống. Công việc này vừa xong thì chiếc tàu giặc đã chạy đến cặp vào chiếc ghe. Mấy tên lính xách súng nhảy qua ghe. Tên trung úy cũng nhảy qua ghe. Hắn cất giọng hỏi: – “Ghe chở gì? Đi đâu?”. Người chủ ghe cũng trạc ngoài năm mươi, khúm núm đáp: – “Dạ bẩm quan lớn, ghe tui chở một ít gạo muối, dầu chai và vài tạp hoá khác ra Dương Đông mua bán”. – “Có giấy tờ gì không?” – Tên sĩ quan hỏi giọng hách dịch. Ông chủ ghe vội móc túi lấy giấy tờ đưa cho tên trung úy. Gã coi xong, hỏi: – “Ông có biết đã có lệnh cấm mọi việc mua bán từ đất liền ra đảo này chưa?”. Ông chủ ghe vội đáp ấp úng, rõ ràng ông đang hoảng sợ: – “Bẩm quan lớn, tui chưa biết”. Gã trung úy nhìn ông chủ ghe bằng cặp mắt xanh lè của hắn, trông dữ tợn: – “Ta nói cho ông biết, mấy hôm nay có lịnh quan trên cấm ngặt tàu thuyền đất liền ra đảo mua bán, đề phòng có người lợi dụng ra mua bán ngoài đảo để tiếp tế lương thực cho bọn phiến loạn đang còn hoạt động chống đối ở đây”. Gã sĩ quan gằn giọng nhấn mạnh điều hắn sắp nói: – “Ông đã vi phạm lịnh cấm nên số hàng này bị tịch thâu, còn chiếc ghe bị giữ lại ở Dương Đông, chờ lệnh sau!”. Ông chủ ghe hốt hoảng thật sự, ông xuống giọng năn nỉ: – “Dạ bẩm quan lớn, xin quan lớn tha cho vì tui không biết có lịnh cấm, nên mới chở hàng ra buôn bán ở đây bình thường như từ trước tới nay. Nay quan lớn tịch thâu hàng vì lịnh cấm, tui đành cam chịu, còn quan lớn giữ ghe thì chết tui rồi!”. Gã trung úy cau mày ra lệnh: – “Đã nói là lệnh. Không năn nỉ lôi thôi gì cả!”. Tên sĩ quan quay sang bọn lính: – “Kéo ghe này về Dương Đông!”. Ra lịnh xong, hắn nhảy trở lại tàu. Bọn lính vội lấy dây luộc cỡ lớn buộc chiếc ghe vào cọc sau đuôi tàu trước con mắt căm hờn của người chủ ghe. Chiếc tàu quay mũi hướng về Dương Đông. Chạy được một quãng, bọn lính trên tàu vẫy tay chào bọn thủy thủ trên một tàu chiến khác, cũng bắt được một chiếc ghe buôn nào đó đang cùng chạy về hướng Dương Đông. Kế hoạch phong toả chặt chẽ mọi hoạt động ghe thuyền ra buôn bán với Phú Quốc, cắt đứt việc tiếp tế cho dân trên đảo và nghĩa quân đã được bọn giặc thực thi nghiêm chỉnh và có hiệu quả.


 


 


            Nhà bà Năm ở Hòn Chông. Một buổi sáng, ở phía sau bếp, Thắm với Út Hết bên nồi cám heo. Hai chị em trò chuyện với nhau. Út Hết mở đầu câu chuyện trước: – “Chị Hai à. Hôm qua đi xuống chợ Hà Tiên, em nghe người ta nói có đánh nhau lớn ở ngoài Phú Quốc. Em lo quá. Không biết anh Hai với anh Sáu nhà mình có đánh trận đó không?”. – “Có đánh hay không, làm sao chị em mình biết được? – Thắm cời than cho lửa bốc lên, nét mặt Thắm đượm buồn – Mọi việc đều do ông trời sắp đặt hết, Út à!”. – “Tuần nào em cũng vô chùa cầu nguyện đức Phật phù hộ cho hai anh nhà mình tai qua nạn khỏi, sớm về nhà với chị em mình”. Út Hết nhìn Thắm với ánh mắt tình cảm, lo lắng rồi nói tiếp: – “Nhứt là bây giờ chị Hai bầu bì như vậy mà nhà thiếu đàn ông, em thấy nó trống vắng làm sao ấy. Em rất buồn chị Hai à!”. Trước tình cảm chân thành của Út Hết, Thắm rất xúc động, chị nói an ủi động viên cô gái Khơ Me này mà Thắm coi như em ruột mình: – “Từ hôm mấy ảnh theo ông Trực ra đảo, cứ vài ba đêm chị nằm chiêm bao đều thấy anh Hai…”. – “Chị thấy anh Hai, rồi ảnh có nói gì không?” – Út Hết tròn mắt ngây thơ nhìn Thắm hỏi. – “Có chớ! – Thắm mỉm cười – Anh Hai nói, mấy ảnh ở ngoài đảo cực lắm, nhưng mà vui, bởi bà con ngoài đó tuy nghèo, nhưng rất thương những người theo ông Trực dám xả thân vì nghĩa lớn đánh lũ Tây dương giữ yên bờ cõi nước Nam mình… Rồi ảnh còn nói thêm là rất nhớ má, nhớ hai chị em mình… – Thắm lại mỉm cười – Ảnh còn khoe ảnh thấy chị sanh cho ảnh thằng con trai nữa đó!”. – “Ôi nằm chiêm bao như chị sướng quá! – Út Hết cười vui như trẻ con – Còn em chỉ nằm thấy anh Sáu có một lần…”. – “Em thấy anh Sáu, mà ảnh có nói gì với em không?” – Thắm nhìn Út Hết mỉm cười hỏi. – “Có chớ! – Út Hết cũng cười – Nhưng ảnh không nói được như anh Hai đâu”. – “Nhưng mà nói chuyện gì chớ?” – Thắm hỏi dồn. – “Ảnh nói bãi biển ở chỗ Hàm… Hàm gì… em không nhớ…” – Út Hết nhăn mặt. – “Có phải Hàm Ninh không?” – Thắm nhắc khéo. – “Ờ phải rồi đó, chị Hai. Ảnh nói là Hàm Ninh! – Út Hết mỉm cười xác nhận – Ảnh nói yên hàn rồi ảnh sẽ đưa em ra ở ngoài đó. Nhưng em đâu có chịu. Rồi hai đứa cãi nhau”. – “Tại sao không chịu? – Thắm mỉm cười – Út có nhớ câu nói của ông bà ngày trước “thuyền theo lái, gái theo chồng” hay không?”. – “Em không chịu vì em nói em theo ảnh ra Hàm Ninh gì đó, em bỏ chị Hai, bỏ má Năm sao được? Vậy là hai đứa cãi nhau đến khi em giựt mình thức dậy… Chị Hai nghĩ coi chiêm bao như em có buồn không chớ?” – Út Hết nói giẫy nẩy như làm nũng so bì với Thắm. – “Chiêm bao thấy mặt là sướng rồi! Còn cãi cũng chẳng sao Út à! Biết đâu sau này em lại chịu ra ngoài đó với ảnh?” – Thắm cười rất hồn nhiên, vô tư.


            Đúng lúc ấy bà Năm về tới. – “Hai chị em có gì vui mà cười vậy?” – Bà vừa nói vừa lấy trong giỏ ra trái xoài tượng đưa cho Thắm: – “Của nhà ông Bảy cuối xóm gởi cho con đó”. – “Bọn con nói chuyện nằm chiêm bao thấy anh Hai, anh Sáu đó má!” – Út Hết nói, giọng vui vẻ. – “Hèn chi tụi bây cười lớn đến mức bước vô cửa má đã nghe thấy rồi”. Bà Năm cũng cười nhìn hai cô gái. Nhưng sau đó bà nói, giọng lo lắng: – “Ông Bảy có nói cho má biết, lũ giặc Tây dương nó đang bắt bớ ghe thuyền nào ra buôn bán ngoài Phú Quốc để hòng chặn đường tiếp tế cho nghĩa quân ông Trực. Ông Hai Ghi ngoài bến, ghe ổng ra đảo bị giữ hôm qua rồi… Nghe đâu nó đưa về chỗ Dương Đông gì đó. Má lo cho thằng Tèo, thằng Sáu với mấy anh em theo ông Trực ở ngoài đó quá!”.


            Ở Dương Đông, dân chúng ở đây đã bị bọn lính vây bắt đưa về tập trung một chỗ trước sân đình, dưới chân núi. Cũng như ở Hàm Ninh, tên Lãnh binh Tấn oai vệ trong bộ quần áo võ quan Pháp nói với dân chúng, phần lớn là ông bà già, phụ nữ, trẻ con và rất ít người còn trẻ: – “Các người có biết không – tên phản bội đi qua đi lại nhìn mọi người – mấy ngày trước đây các người đã nuôi dưỡng, tiếp tế cho quân phiến loạn do Nguyễn Trung Trực cầm đầu. Các người có biết làm như vậy là phạm tội gì không?”. – “Bẩm quan lớn, – một ông già, tên Năm Bờ, nhìn Tấn nói – dân chúng tui đâu biết phạm tội gì, xin quan lớn cho biết”. – “Được! – Huỳnh Tấn nhìn ông Năm – Ta nói cho các người biết, làm như vậy là các người phạm tội đồng lõa với quân phiến loạn chống lại Nhà nước Phú-lang-sa, mà triều đình đã giao phần đất Nam Kỳ này cho họ cai trị rồi”. – “Bẩm quan lớn – ông Năm Bờ nói – quan lớn nói vậy thì dân chúng biết vậy. Chớ dân chúng tui ở Dương Đông này làm ăn bình thường, bỗng thấy quân ông Trực kéo tới sau khi ở bên Hàm Ninh, họ xin ở nhờ vài bữa rồi đi, làm sao dân chúng tui dám chống lại họ, trong khi họ có gươm giáo, súng ống trong tay?”. – “Chẳng những chứa chấp, mà các người còn tiếp tế lương thực cho họ – Tấn cau mày nhìn ông Năm nói tiếp, giọng gay gắt – Nếu không gọi các người là đồng lõa thì gọi các người là gì?”. – “Dạ bẩm quan lớn, nói vậy là oan cho dân chúng tui quá – ông Năm Bờ nhìn Tấn, nói rành rọt – Dân chúng tui đâu có tiếp tế, mà họ mua bán trả tiền đàng hoàng, sòng phẳng. Mà họ hỏi mua, thì bẩm quan lớn, ai dám không bán? Bây giờ quan lớn quy cho tội đồng lõa thì quả tình oan cho dân chúng tui quá. Xin quan lớn xét lại cho dân chúng tui nhờ”. – “Các người đừng có lẻo lự già hàm lão khẩu! – tên Việt gian bắt đầu nổi cáu – Ta đã biết hết ruột gan các người…”.


            Trong lúc tên Huỳnh Tấn đang nói với số dân chúng bị gom ở sân đình Dương Đông thì trên đường rừng, đồi núi hai nghĩa quân với hai khẩu súng trường trong tay đang tiến về phía Dương Đông. Hai nghĩa quân ấy không ai xa lạ: đó là cai Tèo và Sáu Nhỏ. Họ được coi là hai tay súng thiện xạ bắn tỉa giỏi của nghĩa quân. Họ nhận nhiệm vụ của Hai Nhường giao là quấy rối bọn giặc ở Dương Đông để nghi binh, cho bọn giặc lầm tưởng rằng nghĩa quân vẫn còn hoạt động ở Dương Đông chớ không phải đã rút đi xa. Khi gần đến thị trấn, cai Tèo dừng lại nói với Sáu Nhỏ: – “Sáu, mày đợi tao leo lên cây quan sát coi chúng nó động tĩnh ra sao nghe!”. Sáu Nhỏ gật đầu: – “Anh Hai leo lên quan sát đi!”. Cai Tèo thoăn thoắt leo lên một cây cao trong rừng tới một nhánh de ra, anh dừng lại nhìn xuống phía dưới. Trước mắt cai Tèo hiện ra quang cảnh dân chúng bị gom lại trước sân đình, chung quanh có lính canh gác, và một tên sĩ quan Việt gian đang hò hét với dân chúng, hao chân múa tay trước đám đông dân chúng. Tèo vội tụt nhanh xuống nói với Sáu Nhỏ: – “Nó gom dân lại trước sân đình và một thằng võ quan người Việt hoa chân múa tay nói cái gì đó không biết. Bây giờ mày tính sao, Sáu?”. – “Còn tính gì nữa anh Hai, – Sáu Nhỏ toét miệng cười – anh em mình sẽ khoá miệng thằng đó không cho nó nói nữa là xong!”. – “Nè, mày bắn thằng đó nghe! – Cai Tèo phân công – Còn tao, tao tỉa tụi lính gác bên ngoài. Đồng ý chưa?”. – “Nhứt trí!” – Sáu Nhỏ gật đầu vui vẻ. Trước khi đi theo sự phân công, cai Tèo dặn Sáu Nhỏ: – “Nè, súng tụi mình chỉ còn mấy viên đạn, mỗi viên phải là một thằng giặc, không thì uổng đạn lắm. Xong ta rút về lối cũ. Nhớ chưa?”. Sáu Nhỏ gật đầu. Hai người thận trọng tiến về phía sân đình.


            Trở lại trước sân đình. Sau câu nói như ra lệnh của Lãnh binh Tấn về việc sẽ giam giữ số dân chúng ở Dương Đông, thì ông Năm không nhịn được nữa. Ông đứng dậy nhìn thẳng vào mặt Lãnh binh Tấn với đôi mắt rực lửa: – “Quan lớn cũng là người Nam, sao quan lớn ức hiếp chúng tui quá vậy? Chúng tui tứ xứ đến đây khai sơn phá thạch, tạo dựng cơ ngơi làm ăn sanh sống. Kể từ khi đảo Phú Quốc này có người tới giờ, chưa có ai kể cả bọn hải tặc Xiêm La, Chân Lạp bắt dân Phú Quốc bỏ nhà cửa tập trung một chỗ. Nay quan lớn lấy cớ diệt trừ quân phiến loạn Nguyễn Trung Trực để giam giữ dân chúng bọn tui”. Ông Năm nói lớn, giọng uất ức: – “Quan lớn có giỏi thì lên rừng đánh nhau với ông Trực đi, đừng có “giận cá chém thớt”, bọn tui không chịu đâu!”. Ông Năm quay lại đám dân đang ngồi, nói lớn: – “Bà con ơi! Ta về thôi!”. Dân chúng rùng rùng đứng dậy xô đẩy bọn lính gác phía ngoài để chạy về nhà. Cuộc xô xát diễn ra, mỗi lúc thêm dữ dội. Ông Năm cũng bỏ đi. – “Bắt thằng cha già đó lại!” – Lãnh binh Tấn giận tái mặt ra lệnh.


            Trong lúc đó, ở một chỗ ẩn nấp sau bụi cây, mũi súng của Sáu Nhỏ rê theo tên Lãnh binh Tấn, ngón tay trỏ của anh đã chuẩn bị bóp cò… Bỗng bất ngờ có tiếng súng nổ đanh. Đó là tiếng súng của cai Tèo. Có lẽ anh ta thấy gai mắt khi tên lính theo lệnh Lãnh binh Tấn xông lại bắt trói ông già, đã nổ súng khiến hắn bị trúng đạn, ngã vật ra. Tiếng súng đó khiến Lãnh binh Tấn hốt hoảng, nhanh như chớp, hắn nhoài người ra nằm rạp xuống, đúng lúc ngón tay Sáu Nhỏ siết cò. Viên đạn nổ đã trúng vào đầu tên lính hầu cận nhào lại lấy mình che đạn cho Huỳnh Tấn. Vận may đã cứu hắn thoát chết trong gang tấc. Bọn địch bị rối loạn sau mấy phát súng của cai Tèo và Sáu Nhỏ, hốt hoảng nằm phục xuống bắn trả về hướng có tiếng súng của hai nghĩa quân, lúc này cũng đã rút lui an toàn. Dân chúng nhân cơ hội lộn xộn này bỏ chạy tứ tán. Có vài người dân trúng đạn của bọn lính gục ngã trên đường tháo chạy. Cuộc dồn dân đầu tiên ở Dương Đông của Lãnh binh Tấn đã thất bại. Riêng hắn, sự may mắn đã cứu hắn thoát chết trong đường tơ kẽ tóc. Hắn cắm đầu tháo chạy về bến chợ với đám lính chạy theo hộ tống…


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 12.12.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 06.12.2018
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 06.12.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 05.12.2018
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 03.12.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 28.11.2018
Số đỏ - Vũ Trọng Phụng 28.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
xem thêm »