tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH
Khách thăm: 24722861
Tiểu thuyết
06.11.2018
Dương Linh
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng


Trời chiều ở thị xã Hà Tiên. Cô Đỏ cải trang mặc quần áo nâu sòng, đội khăn cũng màu nâu như ni cô ở chùa đi vào xóm tìm chỗ bà Hai ở theo sự chỉ dẫn của Trực trước khi đi. Vừa quẹo vô hẻm nhỏ sau phố chợ để lên xóm Rẫy, cô gặp một bà cũng đã lớn tuổi từ trong nhà gần đó đi ra. Cô Đỏ vội chắp tay chào: – “Mô Phật, xin bà cho nhà chùa hỏi thăm nhà chú Chín Chài có ở gần đây không ạ?”. – “Ni cô hỏi nhà chú Chín à? – bà già nhìn quanh rồi hỏi nhỏ – Mời ni cô vô nhà tôi một chút”. Bà đi trước, cô Đỏ theo sau. Khi ngồi vào bàn trong nhà, bà già nhìn cô Đỏ: – “Bộ ni cô chưa biết gì sao?”. – “Mô Phật, tui ở xa mới tới, có biết gì đâu?” – Cô Đỏ nói cố ra vẻ bình tĩnh chớ trong lòng rất lo không biết đã có chuyện gì xảy ra với bà Hai. – “Trưa hôm kia… – bà già lại nhìn chung quanh rồi nói tiếp, giọng khẽ đủ nghe giữa hai người – Bọn giặc ở đồn lên đây vây nhà ông Chín Chài để bắt một bà mà chúng cho là mẹ ông Trực, người chỉ huy nghĩa quân đánh thành Rạch Giá vừa rồi. Chắc là có kẻ xấu nào đó chỉ điểm nên bọn Tây dương trên đồn mới tới bắt, chớ lâu nay bà con ở đây đều biết bà Hai là bà con với bà mẹ Chín Chài đến ở nhà dưỡng bịnh, chớ đâu biết bà là mẹ ông Trực”. – “Mô Phật!– Cô Đỏ hỏi – Còn có ai bị bắt nữa không bà?”. – “Không có – bà chủ nhà nói – Cũng may là chú Chín đi chợ, chớ nếu ở nhà chắc là ổng cũng bị bắt rồi”. – “Mô Phật, – cô Đỏ nói – bà có biết bà Hai chúng đưa đi đâu không?”. – “Nghe đâu chúng đưa bả về Rạch Giá rồi – bà chủ nhà nhìn cô Đỏ. Ni cô cũng nên đi ngay đi, ở đây nguy hiểm lắm đó!”. – “Mô Phật, xin cảm ơn bà”. Cô Đỏ chắp tay chào bà già rồi quày quả trở ra, nét mặt căng thẳng, lo âu. Trời tối dần...


            Buổi sáng ở Rạch Giá. Trong phòng làm việc của thiếu tá Ansart ở thành Sơn Đá. Bà Hai đang ngồi đối diện với tên thiếu tá, nét mặt bà tỏ ra rất bình tĩnh, không chút e sợ gì khi đối mặt với kẻ thù. – “Bà có đúng là mẹ của tướng Trực không?” – Ansart nhìn bà Hai bằng ánh mắt dò xét, hỏi, hình như trong đầu hắn chưa quên chuyện ông Lâm Quang Ky đã lừa hắn lúc trước, cũng ngay tại phòng này. Bà Hai không giấu được niềm tự hào người mẹ đã sinh ra người con khiến kẻ thù phải nể sợ: – “Đúng là tui. Các ông đã biết rồi sao còn hỏi?”. – “Tuy biết, nhưng bản chức vẫn muốn bà tự nói ra điều này, phòng có kẻ mạo nhận – Ansart mỉm cười nói: – Hôm nay bản chức gặp bà là muốn nhờ bà viết thư kêu gọi tướng Trực về cộng tác với người Pháp. Ông Trực sẽ có chức vụ, bổng lộc cao hơn nhiều những người cộng tác trước đây với nước Pháp như Tôn Thọ Tường, Đỗ Hữu Phương, Trần Bá Lộc, Lãnh binh Huỳnh Tấn... Họ kém ông Trực về mọi mặt mà còn được nhà nước Pháp cho hưởng chức tước, bổng lộc như vậy, huống chi ông Trực là một danh tướng hiện nay”. Ansart nhìn bà Hai mỉm cười đầy tự tin, nói tiếp: – “Ý kiến bà thế nào trước đề nghị rất thành thật của chúng tôi?”. Bà Hai nhìn tên thiếu tá bằng ánh mắt khinh miệt và trả lời dứt khoát: – “Khi còn nhỏ ở nhà Trực là con tui. Bây giờ con tui lớn, nó là con dân nước Nam. Các ông mang quân qua xâm chiếm nước Nam, bổn phận nó là đánh các ông để cứu nước. Đó là chuyện giữa các ông với nó, mắc mớ gì tới tui mà biểu tui viết thơ kêu nó về đầu hàng các ông? Tui không làm chuyện đó đâu, các ông đừng nói mất công!”. Nghe xong, tên Ansart cười nham hiểm: – “Ngạn ngữ có câu: “Đứa con dù đến tuổi nào, đối với người mẹ cũng vẫn là bé bỏng!”. Ông Trực là tướng với quân sĩ chớ với bà vẫn là đứa con mà bà yêu quý. Có đúng không nào?”. Bà Hai với ánh mắt kiêu hãnh, tự hào: – “Đúng, nhưng chỉ nói đúng có một phần”. – “Sao chỉ đúng một phần? ­– Ansart nhìn bà Hai sau khi nghe Chôm dịch – Bà nói đi!”. Bà Hai nói: – “Đúng. Trực là đứa con mà tui yêu quý nhứt. Tui là người mẹ, không bao giờ muốn thấy đứa con mình yêu quý nhứt lại trở thành tên phản bội đất nước. Các ông binh hùng tướng mạnh mà không làm gì được nó, nay phải cầu cạnh đến bà già này dụ nó về hàng, các ông không thấy nhục hay sao?” – rồi như không giữ nổi sự bình tĩnh, bà nhìn thẳng mặt tên thiếu tá nói giọng bực tức, gay gắt – “Các ông muốn giết tui thì cứ giết, chớ tui không viết thơ biểu nó về đầu các ông đâu!”. Tên thiếu tá Ansart nổi giận khi thấy mình bị làm nhục, hắn tức tối ra lệnh: – “Giam mụ già này lại! Xem mụ còn cứng đầu mãi hay không?”.


            Buổi sáng. Ở xóm Rẫy Hà Tiên. Mặt trời đã lên khỏi ngọn cây từ lâu, nhưng nhà Tám Bội vẫn đóng cửa im ỉm. Hai Lợi như mọi hôm lên rẫy, vai vác cuốc, miệng phì phèo điếu thuốc vấn to gần bằng ngón tay cái, tiện chân ghé vào nhà Tám Bội. Vừa đi vào, Hai Lợi vừa lên tiếng gọi: – “Tám Bội ơi! Có ở nhà không đó?”. Im lặng. Không có tiếng trả lời. Thấy cửa chỉ khép, không khoá bên ngoài, Hai Lợi vừa nói vừa xô cửa bước vô: – “Trưa trời trưa trật rồi mà còn ngủ sao mậy?”. Một cảnh tượng khủng khiếp bày ra trước mắt Hai Lợi khiến anh ta tròn mắt, miệng há hốc, không thốt nên lời được: tên Tám Bội nằm ngửa trên chiếc giường tre hắn thường nằm, cổ họng hắn bị cắt đứt, máu lênh láng trên giường, mắt hắn trợn ngược, miệng há hốc, dường như trước khi chết hắn đã nhận ra người giết hắn, tay hắn còn nắm mấy đồng bạc trắng tiền thưởng. Quanh giường dưới đất còn có mấy đồng bạc nữa nằm lăn lóc... Hai Lợi hoảng hồn kêu lên một tiếng thất thanh rồi ôm đầu chạy ra ngoài, quên cả cây cuốc vác theo. Ai đã giết tên phản bội hèn mạt đã báo cho giặc Pháp bắt bà Hai, mẹ Trực để lãnh thưởng? Câu hỏi đó không có câu trả lời, chỉ biết rằng nhân dân ở Hà Tiên, mảnh đất cuối cùng Tây Nam Tổ quốc – những người dân yêu nước – không bao giờ tha thứ cho kẻ phản bội…


            Cũng buổi sáng. Dinh Soái phủ quân viễn chinh Pháp ở Sài Gòn. Viên đại tá Tham mưu trưởng đứng nghiêm báo cáo tình hình với đô đốc Ohier. – “Sau khi chiếm lại Rạch Giá – viên Tham mưu trưởng nhìn Ohier – nhưng mục tiêu quan trọng nhất lại không đạt được: tướng Trực vẫn còn hoạt động, mặc dù sau đó thiếu tá Ansart có huy động lực lượng tấn công Hòn Chông, nơi Trực lui về cố thủ ở đó…”. Lời báo cáo của viên Tham mưu trưởng được thể hiện qua hình ảnh: Tiếng mõ hồi một báo động vang lên ở Hòn Chông. Tiếp theo là tiếng súng nổ vang lên phá tan bầu không khí yên tĩnh buổi sáng ở vùng rừng núi ven biển. Những toán quân Pháp, ma ní, mã tà, dưới quyền chỉ huy của thiếu tá Ansart chia làm nhiều mũi tiến vào khu dân cư Hòn Chông ven biển. Bọn giặc đi tới đâu ngọn lửa bốc lên tới đó. Từng đoàn người gồm đàn ông, đàn bà, trẻ con, người già mang các đồ đạc gọn nhẹ dìu dắt nhau chạy vô hang động sâu trong rừng núi để tránh giặc. Ở một trận địa phục kích của nghĩa quân, trong số chỉ huy ta thấy bên cạnh Trực có Thạch Pút căng mắt quan sát cuộc tấn công của kẻ địch. Khi tốp đi đầu lọt vào trận địa, lập tức một loạt súng nổ quật ngã gần hết tốp lính đi đầu, số còn lại hốt hoảng chạy dạt về phía sau. Trực nói với Thạch Pút: – “Bòn rút ngay đi. Tôi sẽ đánh cản hậu cho”. – “Anh cũng rút chớ!”. – “Tôi sẽ ra Phú Quốc ngay sau đây. Sẽ cho người liên lạc với bòn sau”. Sau cái siết tay Thạch Pút cùng hai bảo vệ rút nhanh về phía ven biển.


            Bọn lính giặc ở phía sau đã tiến lên gần tới trận địa phục kích. Một trận giáp lá cà diễn ra. Trực chém chết một số tên giặc. Nhưng khi thấy quân giặc tiếp viện khá đông, Trực ra lệnh rút quân. Nghĩa quân đã biến nhanh khỏi trận địa sau khi gây cho địch một số thiệt hại về nhân mạng, số chết, số bị thương nằm la liệt trên trận địa… Nghĩa quân đã xuống một số ghe đi biển ở một bến vắng của Hòn Chông. Buồm những chiếc ghe đi biển căng lên chở nghĩa quân hướng ra Phú Quốc…


            Trở lại văn phòng trong Soái phủ quân viễn chinh Pháp ở Sài Gòn. Viên đại tá Tham mưu trưởng báo cáo tiếp: – “Và theo báo cáo mới nhất, ta đã bắt được mẹ tướng Trực ở Hà Tiên, nhưng Trực cùng đồng bọn phiến loạn đã thoát chạy ra đảo Phú Quốc an toàn”. – “Đúng là một viên tướng giỏi! – Ohier buộc miệng khen – Nếu lôi kéo được ông ta về cộng tác với nhà nước Pháp thì coi như công việc bình định xứ Nam Kỳ này không có gì đáng lo nữa! – Ohier nhìn viên Tham mưu trưởng – Đối với mẹ tướng Trực, thiếu tá Ansart đã xử trí thế nào với bà ta rồi?”. – “Thiếu tá Ansart có cuộc gặp và thuyết phục bà ấy viết thư kêu gọi Trực về cộng tác với chúng ta –viên Tham mưu trưởng nói với vẻ mặt thất vọng – Nhưng bà ấy kiên quyết từ chối, nên tạm thời thiếu tá Ansart cho giam bà ta ở Rạch Giá để chờ chỉ thị của ngài, thưa đô đốc”. – “Hãy điện cho Ansart ý kiến của tôi – Ohier nhìn viên Tham mưu trưởng nói như ra lệnh, thực tế là ra lệnh – Cố gắng thuyết phục bà ấy và đối xử tử tế. Dù còn có ít hy vọng thì đây cũng là con tin cực kỳ quan trọng trong việc thu phục tướng Trực sau này”. – “Thưa đô đốc, còn vấn đề tướng Trực ở Phú Quốc ngài giải quyết thế nào?” – Viên Tham mưu trưởng có vẻ chờ lệnh của thượng cấp. – “Truyền đạt mệnh lệnh của ta. – Ohier cau mày nói giọng khó chịu – Điều động thiếu tá Bouchet Rivière đưa chiến hạm Goeland ra tấn công Phú Quốc – Ohier nhấn mạnh – Lần này bằng mọi giá, không để tướng Trực chạy thoát, rõ chưa?”. – “Rõ! Thưa đô đốc” – Viên Tham mưu trưởng nhận lệnh. – “Ngày nào chưa tiêu diệt được tên tướng giặc nguy hiểm đó, chúng ta sẽ ăn không ngon, ngủ không yên với hắn. – Ohier thở dài, vẻ ngao ngán: – Chỉ có Chúa mới biết hắn sẽ còn giở trò gì, nếu ta để hắn thoát lần nữa!”. Viên đại tá rập chân đứng nghiêm chào rồi lui ra nhanh.


            Khi người nghĩa quân cuối cùng rời khỏi ghe cũng là lúc trời đã rạng sáng, nhưng bóng tối chưa tan hẳn trên bờ biển An Thới, đảo Phú Quốc. Trong lúc nghĩa quân tìm chỗ ngồi nghỉ sau chuyến vượt biển vất vả, mệt nhoài thì Trực đến gặp Hai Nhường, Tư Hội: – “Hai anh cho nhận chìm hết ghe đi!”. Với vẻ mặt ngạc nhiên, Hai Nhường và Tư Hội nhìn Trực. Hai Nhường hỏi giọng không vui: – “Sao lại hủy hết ghe, anh Hai?”. – “Nếu nhận chìm hết, lúc cần lấy đâu ra, anh Hai?” – Tư Hội cũng thắc mắc như Hai Nhường. – “Chúng ta đã ra đây rồi còn đi đâu nữa – Trực giải thích quyết định của mình – Mình còn hành quân đi Hàm Ninh ngay bây giờ. Để ghe lại đây có ai trông coi đâu mà để. Không khéo bọn xấu lại lấy ghe đi làm bậy!”. – “Tôi hiểu rồi” – Hai Nhường, Tư Hội gật đầu. Hai người đi lại chỗ anh em nghĩa quân ngồi nghỉ: – “Anh em trở lại nhận chìm hết ghe đi’. Cai Tèo ngồi gần đó, ngạc nhiên hỏi: – “Sau lại nhận chìm hết, anh Hai?”. – “Chúng ta sẽ hành quân đến Hàm Ninh ngay bây giờ, đâu có ai ở lại trông ghe đâu. Lịnh của anh Hai đó!” – Hai Nhường giải thích. Cai Tèo cùng với các nghĩa quân khác vội cởi trần nhảy xuống lắc ghe cho nước vào nhận chìm mấy chiếc ghe chở họ ra đảo. – “Mình rút về đâu, anh Hai?” – Tư Hội đến bên Trực hỏi. – “Chúng ta cắt đường rừng đi về phía Đông để tới Hàm Ninh” – Trực trả lời.


            Sau khi nhận chìm hết ghe, nghĩa quân theo sự dẫn đường của Trực và các chỉ huy khác như Hai Nhường, Tư Hội bắt đầu theo đường mòn xuyên rừng bạt ngàn để về hướng Hàm Ninh. Nói là đường mòn chớ thật ra chỉ là lối đi ngoằn ngoèo của thợ săn, lâu ngày cây cỏ mọc hoang rậm rạp che mất lối, phải hết sức vất vả nghĩa quân mới vượt qua được...


            Đến chiều, nghĩa quân mới tới Hàm Ninh. Đây là làng chài bé nhỏ nằm dưới chân núi sát biển, dân cư thưa thớt... Trực cùng chú bé Tâm đến ở nhà một ông già vốn là ngư dân sát dưới chân núi. Ông ở nhà một mình, con trai ông đi biển chưa về. Ông vui vẻ nói với Trực: – “Ông ở nhà tui, tui vui lắm – ông cười buồn – Ngặt một nỗi là nhà này nghèo quá, không có gì để đãi khách”. – “Bác cho ở nhờ là quý lắm rồi – Trực cười rất tươi – Tôi từ nhỏ từng là dân chài, làm nghề hạ bạc này ăn uống khổ cực cũng quen rồi, bác đừng ngại”. – “Nhà tui chỉ có mắm – ông già nói vui vẻ – Mấy chú cứ dùng tự nhiên – ông nhìn Trực với ánh mắt cảm tình – Chú từng là dân chài, vậy chú cũng hiểu cái nghề của mình có bao giờ giàu có đâu”. – “Dạ, đúng vậy đó bác” – Trực mỉm cười gật đầu, rồi chàng quay sang nói với chú bé Tâm: – “Em chạy đi gặp anh Hai Nhường, Tư Hội bố trí chỗ ở cho anh em nghỉ xong lại gặp anh nghe”. Tâm “Dạ” rồi chạy đi.


            Và bây giờ thấy Trực và Hai Nhường, Tư Hội ngồi trên mấy tảng đá nhìn ra biển. Mặt biển bao la bát ngát một màu xanh. Từng đợt sóng nhỏ lăn tăn vỗ vào bờ. Đàn chim hải âu bay là là tìm mồi trên mặt nước. Trời chiều biển Phú Quốc thật đẹp. – “Chúng ta đến đây là chốn sơn cùng thủy tận rồi – Trực cười nhưng đôi mắt ẩn một vẻ buồn sâu thẳm – Tôi đã từng đi biển, nhưng chưa thấy vùng biển nào đẹp hơn ở nơi đây”. – “Tôi cũng có ý nghĩ giống anh – Hai Nhường nói, mắt nhìn ra biển – Đất nước mình đẹp như thế này mà không giữ được, để lọt vào tay lũ Tây dương thì tôi thấy đau và nhục quá!”. – “Chung quy cũng tại triều đình nhu nhược sợ giặc Phú-lang-sa như sợ cọp nên đất nước mới ra nông nỗi này – Tư Hội buồn rầu nói – Hồi chúng mới đến Sài Gòn chỉ có mấy trăm thằng đóng ở Bến Nghé, trong khi quân triều đình có đến hai chục ngàn… Vậy mà chỉ lo đắp đồn lũy rồi khoanh tay đứng nhìn, không dám đụng đến sợi lông chân của nó. Để tới khi nó tiếp viện thêm quân tướng, nện cho bể mặt ra mới hiểu: “À chúng mầy là lũ xâm lược” thì đã muộn mất rồi”– Tư Hội thở dài. – “Càng nghĩ càng thấy tức!” – Hai Nhường nói với giọng ấm ức. – “Càn khôn bĩ rồi lại thái. Nhựt nguyệt mờ rồi lại tỏ”. Đó là quy luật muôn đời của tạo hoá – Trực mỉm cười – Đất nước ta đang hồi vận bĩ nên khiến cho trăm họ lầm than. Nhưng phận trai thời loạn thì phải hành xử sao cho “thiên cổ lưu danh”, chớ đừng để người đời nguyền rủa “vạn niên lưu xú” như chuyện Nhạc Phi, Tần Cối bên Tàu. Có phải vậy không?”. – “Đúng quá chớ anh Hai – Tư Hội gật đầu đồng ý – Anh Hai nghĩ coi, hồi đó mấy anh em mình theo quan Lãnh binh họ Trương đánh giặc ở Kỳ Hoà, đốt tàu giặc ở vàm Nhựt Tảo, diệt giặc ở Thủ Thừa… cho đến khi xuống đây hạ thành Sơn Đá biết bao nhiêu lần vào sanh ra tử, anh em mình đâu có sợ chết. Mà còn ông bà mình sợ chết thì đâu có mở mang bờ cõi ra tận đảo Phú Quốc này!”.


            Trong khi đó, cũng trên bãi biển có hai người đi chầm chậm, sóng biển vỗ vào bãi cát vàng óng ánh liếm sát gót chân họ. Đó là cai Tèo và Sáu Nhỏ. – “Ra tới ngoài này mới thấy Phú Quốc mình đẹp quá – Cai Tèo nói – Hồi nhỏ ở Hòn Chông, lớn lên ở Sài Gòn, chỉ nghe nói Phú Quốc chớ có tới đây được đâu”. – “Tui là dân đồng bằng Tân An– Sáu Nhỏ nói vui – nghe nói biển chớ có tới bao giờ đâu mà biết. Còn bây giờ ra đây, tui nghĩ nếu yên hàn tui rủ Út Hết ra ngoài này lập nghiệp. Anh thấy có được không?”. – “Được quá đi chớ – Cai Tèo nói – Mình cũng có ý định sẽ đưa bà già với Thắm ra đảo này làm ăn. Càng lánh xa lũ giặc càng tốt”. – “Vậy là hai anh em mình sẽ ra đây nghen!” – Sáu Nhỏ cười vui. Những đàn chim hải âu lượn trên biển tìm mồi làm cho khung cảnh trở nên ấm áp kỳ lạ…


            Trở lại chỗ Hai Trực với Hai Nhường, Tư Hội ngồi trên bãi biển. Câu chuyện của họ tiếp tục.


            – “Anh Hai à – Hai Nhường nhìn Trực nói – Thế nào rồi chúng cũng sẽ kéo quân ra đây truy đuổi chúng ta. Anh có dự tính chuyện đối phó với chúng theo kiểu nào chưa?”. – “Cũng vì chuyện đó nên mới gặp hai anh để bàn đây – Trực mỉm cười nói – Hàm Ninh này địa thế không cho phép chúng ta tính chuyện lâu dài. Tôi tính như vầy, hai anh coi có được không nghe”. – “Anh Hai cứ nói đi – Tư Hội nhìn Trực với ánh mắt tin tưởng – “Tôi dự đoán chúng sẽ đổ bộ ở đây, ở Hàm Ninh này vì địa thế vùng biển này thuận lợi cho việc đổ quân – Trực mỉm cười vui vẻ – Chúng ta sẽ đánh phủ đầu chúng một trận, nhưng tính chuyện lâu dài thì phải rút qua Dương Đông rồi lên vùng Cửa Cạn lập căn cứ, ở đó có dân, có địa thế hiểm trở “công khả dĩ công, thủ khả dĩ thủ”, chúng khó truy lùng chúng ta được”. – “Chúng tôi đồng ý với anh Hai – Hai Nhường nói – Nhưng còn vấn đề lương thực. Nuôi gần trăm quân đâu phải là chuyện dễ!”. – “Tôi cũng có nghĩ vấn đề đó – Trực nói – Mình ra đây hoàn toàn dựa vào dân mà sống. Chúng ta chưa gặp được các ông quản Thứ, xã Ngãi là các vị chức sắc yêu nước ở Phú Quốc này, chắc chắn họ sẽ có cách giúp chúng ta”. – “Còn chuyện đánh bọn đổ bộ, anh Hai tính sao?” – Tư Hội hỏi có vẻ lo lắng. – “Chắc chắn là chúng chưa biết rõ lực lượng ta – Trực nhìn Tư Hội với ánh mắt vui vẻ – Cho nên vừa đánh vừa phải nghi binh đánh lừa chúng như Trương Phi giữ cầu Trường Bản trong truyện Tam quốc diễn nghĩa”. –“Chuyện đó thế nào vậy anh Hai? Tôi nghe kể lâu quá rồi nên không nhớ”. – “Chuyện là như vầy – Trực kểHồi đó Lưu Bị sai Trương Phi ra trấn giữ cầu Trường Bản đón Triệu Tử Long đi cứu ấu chúa ở Đương Dương về. Nhưng vì không có quân nhiều nên Lưu Bị chỉ giao cho Trương Phi một số ít quân, trong khi Tào Tháo quân đông gấp hàng chục lần. Để đánh lừa Tào Tháo, Trương Phi cho vài tên quân cưỡi ngựa, sau đuôi ngựa buộc nhánh cây. Khi quất ngựa chạy, nhánh cây sẽ làm tung bụi mù lên, khiến Tào Tháo quan sát thấy bụi bốc lên mù mịt cả góc rừng, nghi là có nhiều quân mai phục trên núi. Do đó, khi đón Triệu Tử Long mang ấu chúa vượt qua rồi, chỉ còn Trương Phi một người một ngựa cầm cây xà mâu đứng giữa cầu Trường Bản cản hậu. Tào Tháo không dám tiến đánh mà ra lịnh rút lui vì sợ lọt vào ổ phục kích của quân Trương Phi ở trên núi...”. – “Hay quá! – Tư Hội cười lớn, vỗ đùi khen – Ai còn dám nói Trương Phi là tướng “hữu dõng vô mưu” nữa đâu!”. – “Như vậy, khi địch đổ bộ, Hai Nhường và tôi chỉ huy đánh một trận dằn mặt –Trực nhìn Tư Hội – còn anh thì cho đốt lửa gây nhiều đám khói trên núi, đồng thời cho anh em cầm cờ đi rồng rắn nhiều hướng để đánh lừa giặc cho chúng tin rằng quân ta có nhiều trên núi... Anh hiểu chớ?”. – “Dạ hiểu rồi, anh Hai”. Tư Hội vui vẻ nói. Lần đầu tiên Tư Hội nhìn Trực bằng con mắt khác. Hoá ra Trực không chỉ giỏi về võ nghệ mà còn có sự hiểu biết rộng, một bản lĩnh quân sự sâu sắc và nhạy bén vận dụng kinh nghiệm cổ kim Đông Tây để chống giặc có hiệu quả.


            Trong trại giam của giặc ở Rạch Giá. Một buổi sáng. Bà Hai đang nằm trên chiếc chiếu ở góc buồng giam, bỗng nghe có tiếng loảng xoảng ở cánh cửa sắt. Bà liếc nhìn ra thấy tên lính đang mở khoá, rồi bước vào đứng gần bà nói giọng lễ độ: – “Mời bà đi gặp quan lớn ở Sài Gòn xuống. Ổng nói có quen biết bà đó”. Bà Hai ngồi dậy bới lại mái tóc rồi theo tên lính đi lên phòng cai ngục. Trong lòng bà vẫn phân vân chưa biết quan lớn nào ở Sài Gòn lại nói quen biết mình. Trong tâm trạng phân vân đó, bà Hai chợt giật mình nghe giọng nói quen quen cất lên khi bà bước vào văn phòng cai ngục: – “Chào bác Hai! Lâu nay bác vẫn mạnh giỏi chớ?”. Thì ra đó là giọng nói của Huỳnh Tấn, từ hôm hắn nhận chức lãnh binh người ta lót vào tên đệm chữ “công”: Huỳnh Công Tấn. Hôm nay hắn mặc áo gấm, đội khăn xếp xanh có kim tuyến lóng lánh ra vẻ “ông quan lớn” lắm. Biết hắn là kẻ phản bội đã dẫn quân Pháp bao vây giết Trương Định ở Gò Công, bà Hai rất căm ghét tên Việt gian này, nhưng bà cố dằn cơn giận, ngọt nhạt trả lời: – “Cảm ơn chú. Tui vẫn mạnh”. – “Mời bác Hai ngồi!” – Tên Tấn ra vẻ đối xử thân mật với bà Hai. Bà Hai không nói gì, lặng lẽ ngồi xuống ghế, xem tên phản bội này còn định giở trò gì với bà. – “Bữa nay gặp bác trong hoàn cảnh này, nói thiệt lòng cháu rất buồn – Huỳnh Tấn mở đầu câu chuyện – Lẽ ra cháu nên gặp bác trong cảnh nhà cao cửa rộng, con cháu đề huề thì vui hơn”. – “Chú có chuyện gì muốn nói với tui thì thì nói phứt đi! – Bà Hai nhìn hắn bằng con mắt lạnh lẽo, nói với giọng khinh bạc – Tui già rồi, ngồi lâu mệt lắm!”. – “Ấy, bác cứ bình tĩnh nghe cháu nói cái đã – Tấn cố giữ giọng vui vẻ – Thưa bác, cháu với anh Hai học một thầy, chơi với nhau rất thân, như bác biết rồi đó. Bây giờ mỗi người một phận. Cháu rất thương ảnh là người có tài mà không gặp vận may. Hiện nay người Phú-lang-sa sang đây giúp mở mang khai hoá cho người Nam mình. Họ là một nước văn minh, cái gì họ cũng hơn nước mình. Đem giáo mác, gậy gộc chống lại họ thì chỉ chuốc lấy thất bại. Nếu anh Hai chịu trở về cộng tác với người Phú-lang-sa thì địa vị của ảnh sẽ hơn cháu nhiều lắm. Người Phú-lang-sa họ biết trọng dụng nhơn tài hơn triều đình Huế”. Tấn ngừng lại nhìn bà Hai rồi nở nụ cười cầu tài, nói tiếp: – “Thời thế đã đổi thay rồi. Triều đình còn chịu thua dâng đất cầu hoà, thì một mình anh Hai đâu có “bẻ nạng chống trời” được!”. – “Chú còn nói gì khá hơn không, chớ mấy lời chú nói vừa rồi, từ hôm bị bắt tới nay, tui nghe nhàm tai lắm!” – Bà Hai bắt đầu nổi giận, giọng gay gắt. – “Ấy, bác cứ bình tĩnh mà nghe cháu nói hết đã – Tấn vẫn cố nở nụ cười thân thiện – Cháu biết anh Hai là người con hiếu thảo, chỉ cần bác nói một tiếng là ảnh sẽ trở về ngay. Lúc đó mẹ con trùng phùng, lại có cơ ngơi đề huề cho bác an nghỉ tuổi già. Điều này không phải người mẹ nào cũng có được. Bác thử nghĩ lại coi lời cháu nói có đúng không?”. – “Chú còn nói gì thêm nữa không?” – Bà Hai nổi cáu thật sự. – “Dạ, cháu nói bấy nhiêu chắc bác cũng dư hiểu ý cháu rồi”. Huỳnh Tấn nói lúng túng khi thấy thái độ bà Hai tỏ ra lạnh nhạt không hợp tác. – “Từ hôm tui bị giam trong cái nhà ngục này, tui nghe kiểu nói như chú không biết đến lần thứ mấy rồi – Bà Hai cười nhạt khinh miệt – Tui nói cho chú biết “trời cao có mắt”, những kẻ lừa thầy phản bạn trước sau gì cũng phải đền tội, không súng gươm thì cũng ốm đau bệnh tật “bất đắc kỳ tử”. Nếu khi sống họ không làm gì được thì khi chết bọn xấu đó cũng có người đào mồ cuốc mả, chết cũng không yên được đâu!”. Ngừng một lúc dường như để nén bớt cơn giận, bà Hai tiếp tục nói, giọng có vẻ dịu hơn một chút: – “Con tui nó lớn rồi, nó thừa sức hiểu phận làm trai phải nên làm gì lúc nước mất nhà tan. Tui không giúp được nó thì thôi chớ không đời nào tui xúi nó làm cái chuyện ô nhục để mang tội với đất nước, không dám nhìn mặt bà con lối xóm... Chú đừng nói nữa, tui không muốn nghe đâu!”. Biết không lay chuyển được ý chí của bà Hai, tên Huỳnh Tấn nói giả lả, đánh trống lảng: – “Đó là vì cháu thương bác, thương anh Hai nên cháu mới nói vậy. Bữa nay bác có vẻ mệt, thôi bác nghỉ đi. Lúc nào bác khoẻ, bác cháu ta lại nói chuyện tiếp nữa. Vậy được chớ bác?”. – “Không được đâu chú – Bà Hai lắc đầu – Chú đi một con đường, mẹ con tui một con đường. Có gì mà nói thêm hay bớt?” – Bà Hai đứng dậy bỏ đi ra. Tên lính gác vội theo. Huỳnh Tấn nhìn theo lắc đầu thất vọng.


            Một buổi sáng đẹp trời. Chiếc chiến hạm Goeland do thiếu tá Bouchet Rivière chỉ huy, đã thả neo ngoài khơi vùng biển Hàm Ninh. Viên thiếu tá đứng trước buồng thuyền trưởng giơ ống nhòm quan sát khu vực bãi biển Hàm Ninh, nơi quân Pháp và bọn ma ní, mã tà sẽ đổ bộ. Qua ống nhòm Rivière thấy cảnh vật yên tĩnh với xóm nhà dân thưa thớt ở dọc theo ven biển. Sâu vào phía trong là rừng núi bát ngát một màu xanh… Viên thiếu tá quay sang ra lệnh cho tên thiếu úy pháo binh đứng gần đó: – “Bắn dọn đường đổ bộ!”. – “Tuân lệnh!” – Gã thiếu úy rập chân đứng nghiêm nhận lệnh, rồi quay lại đám pháo thủ khoát tay: – “Bắn!”. Từng cột khói đột ngột dựng lên trên bãi biển Hàm Ninh, sau những tiếng nổ lớn như tiếng sấm đầu mùa. Một viên nổ trúng chiến lũy nghĩa quân dựng tạm gần bãi. Cát đất tung lên mù mịt... Phía trong bãi, trên sườn núi các nghĩa quân phục sau các tảng đá, bụi cây chong mắt nhìn về phía bãi biển sẵn sàng chặn đánh quân đổ bộ. Những chiếc xuồng chở lính được thả từ chiếc Goeland đang ra sức bơi vào bờ. Bãi biển vùng này cạn nên chiếc chiến hạm chỉ đậu ở ngoài xa dùng đại bác bắn dọn đường yểm trợ cho quân đổ bộ. Những tiếng nổ vang đội phá tan bầu không khí tĩnh mịch buổi sáng ở vùng biển Hàm Ninh.


            Trong một hốc đá được bóng cây cổ thụ che khuất, rất dễ quan sát bên ngoài, Trực nói với Hai Nhường: – “Chờ cho chúng vô sâu trận địa anh mới cho nổ súng. Đạn dược ít lắm, chắc ăn mới bắn. Anh nhớ chưa?”. – “Anh Hai yên tâm – Hai Nhường gật đầu, mỉm cười – chúng ta sẽ cho bọn giặc nhớ đời khi chúng đặt chân lên đảo Phú Quốc này”. – “Còn anh Tư – Trực nhìn Tư Hội – Công việc anh bắt đầu rồi đó!”. – “Tôi sẽ làm ngay bây giờ!” – Tư Hội nói giọng hăng hái rồi biến nhanh vào màu lá xanh của rừng núi Hàm Ninh.


            Bọn giặc đã nhảy khỏi xuồng lội vào bờ. Có tên vừa lội vừa bắn. Dẫn đầu là một sĩ quan Pháp. Đại bác trên tàu bắn yểm trợ đổ bộ, bắt đầu chuyển làn vào xóm, khi bọn lính đã vào đến bãi cát. Chúng hùng hổ toả ra làm nhiều mũi tiến vào xóm dân chài lưới. Ngôi nhà đầu tiên bốc cao ngọn lửa khi bọn giặc ập vào.


            Từ chỗ phục kích ẩn sau các mô đất, tảng đá và những bụi cây dại mọc dày, các nghĩa quân căng mắt hồi hộp theo dõi hành động của quân địch và chờ lệnh tấn công của Trực. Đôi mắt Trực cũng căng thẳng nhìn bọn giặc đến gần trận địa phục kích. Những chiếc giày đinh nhà binh hằn rõ dấu chân trên cát, từng bước nhích lại gần. Khi tiếng chân địch đến thật gần, Trực nhỏm dậy vung kiếm thét lớn: – “Sát!” Rồi bằng một động tác võ thuật lão luyện Trực đá bay khẩu súng lục trên tay viên thiếu úy, và lưỡi kiếm của chàng đã lia vào cổ tên sĩ quan Pháp ấy, khiến hắn gục xuống như cây nứa bị phạt đứt ngọn. Nhiều tiếng hô “Sát” của nghĩa quân vang lên với những ngọn giáo mác, mã tấu, tầm vông vạt nhọn… họ lăn xả vào đội hình giặc như mãnh hổ vồ mồi. Bị đánh bất ngờ, bọn lính lớp chết lớp bị thương, số còn lại bỏ chạy về phía bãi biển....


            Trên chiếc chiến hạm Goeland, Bouchet Rivière giơ ống nhòm quan sát trận đánh… Bỗng hắn giật mình khi thấy dọc theo sườn núi Hàm Ninh nhiều toán nghĩa quân ẩn hiện với lá cờ đại bái. Như vậy số quân hắn không thể chiến đấu với số quân phiến loạn đông gấp nhiều lần, nếu cứ tiếp tục tấn công thì thất bại là điều không thể tránh khỏi. Hắn vội ra lệnh cho tên lính thổi kèn đứng bên cạnh: – “Báo lệnh rút lui!”. Tên lính kèn vội giơ kèn lên thổi một hơi dài hiệu lệnh rút lui. Tiếng kèn lanh lảnh vang lên bãi biển Hàm Ninh, trong lúc lũ giặc cố chạy về các chiếc xuồng đổ bộ nằm phơi mình dưới ánh nắng... Chúng chen nhau nhảy lên, bơi trối chết về chiếc Goeland đang đậu ngoài khơi...


            Sau trận đánh ở Hàm Ninh, nghĩa quân rút qua Dương Đông. Thị trấn này lúc ấy còn nhỏ bé, nhà cửa, dân cư thưa thớt. Trực bước vào ngôi nhà nhỏ ở phía cuối thị trấn. Trong nhà đã có Nghĩa và hai chị em cô Điều, cô Đỏ. – “Anh Hai!” – Gần như cả ba cùng thốt lên mừng rỡ – “Ngày hôm qua nghe nói có đánh lớn ở Hàm Ninh, em lo quá”. Nghĩa nhìn Trực bằng ánh mắt đầy tình cảm của người vợ đối với người chồng từ ngoài chiến trận trở về. – “Tụi giặc bị đòn đau đã rút lui rồi – Trực mỉm cuời – Nhưng chắc chắn nó sẽ trở lại”. Rồi Trực quay sang nhìn cô Đỏ: – “Cô ra đây lâu chưa?”. – “Dạ, em cũng vừa mới ra được ít bữa – cô Đỏ nói – Nhờ quá giang ghe ở Hà Tiên”. – “Má tôi ở Hà Tiên ra sao rồi? Cô có gặp má tôi không?”. Trực hỏi với giọng lo lắng, bởi linh cảm khiến Trực có cảm giác bà Hai đã gặp chuyện không may rồi. – “Dạ thiệt là không may anh Hai à. Chúng ta chậm một bước – cô Đỏ nói trong nước mắt – Em tới Hà Tiên hỏi thăm mới hay là có tên chỉ điểm nào đó tố cáo, nên bác Hai bị giặc bắt về giam tại Hà Tiên. Rồi nghe nói, sau đó chúng đưa bác Hai về Rạch Giá để hỏi cung, thẩm vấn gì đó”. Trực lặng người trước tin bà Hai bị giặc bắt. Chàng không nói nên lời, nhưng hai dòng nước mắt từ từ chảy trên gò má, lúc này hơi gầy hóp đen sạm vì vất vả suốt cuộc hành trình ra đảo và cuộc chiến đấu vừa rồi. Lúc này trong nhà im lặng, chỉ còn nghe tiếng sụt sịt khóc của Nghĩa và cô Điều, cô Đỏ… Họ thông cảm chia sẻ nỗi đau của người thủ lĩnh nghĩa quân mà họ rất yêu thuơng, kính trọng.


            Một lúc sau. Trực lau nước mắt, hỏi cô Đỏ: – “Sau đó, cô có nghe thêm tin gì về má tôi nữa không?”. – “Dạ, nghe đâu chúng nó biểu bác viết thơ kêu gọi anh Hai về đầu chúng, nhưng bác không nghe – cô Đỏ nói giọng buồn bã – Cho nên bây giờ chúng còn giam giữ bác ở Rạch Giá…”. – “Tôi biết tánh má tôi lắm! Không bao giờ bà chấp nhận việc làm nhục nhã đó đâu!”. Im lặng một lúc, Trực hỏi cô Điều: – “Mấy việc dặn cô lúc trước, cô làm đến đâu rồi?”. – “Dạ tốt lắm anh Hai à! – cô Điều vui vẻ nhìn Trực nói – Em đã gặp ông quản Thứ và ông xã Ngãi. Họ sẵn sàng giúp đỡ nghĩa quân khi chúng ta ra đây”. – “Vậy cô đi báo cho họ đến gặp tôi ngay bây giờ. Mình không thể ở Dương Đông lâu được đâu” – Trực nói và nhìn cô Điều bằng ánh mắt tin tưởng. – “Dạ, em xin phép đi ngay đây!”. Cô Điều nói xong quày quả đi nhanh ra ngoài. Trực nhìn Nghĩa bằng ánh mắt trìu mến: – “Từ hôm ra đây đến nay, em thấy trong người thế nào?” – “Dạ cũng bình thường – Nghĩa mỉm cười nhìn Trực – Em chỉ lo cho anh ở lại Hòn Chông, lỡ có chuyện gì xảy ra... Nay anh ra đến đây rồi em mừng quá!”. Nghĩa nói tiếp, giọng cảm động: – “Mấy anh ngoài này thường tới lui thăm em, lại có cô Điều, cô Đỏ bên cạnh em cũng đỡ buồn. Mấy anh ở Hòn Chông như anh Thạch Pút, có cùng ra đảo với anh không?”. – “Không em à! – Trực nói giọng xúc động – Chính họ đã chiến đấu phá vòng vây của giặc, tạo điều kiện cho anh em nghĩa quân xuống ghe vượt biển ra đây an toàn. Họ sẽ phân tán nhỏ trà trộn với dân chúng để giặc không phát hiện được, chờ đợi anh em mình trở về… Nhưng tình hình hiện nay rất khó khăn. Bọn giặc sẽ tăng thêm lực lượng ra chiếm Phú Quốc, chúng không từ bỏ hòn đảo xinh đẹp và giàu có này đâu!”. – “Vậy thì anh Hai tính sao?” – Nghĩa nhìn Trực bằng ánh mắt lo lắng hỏi. – “Anh định rút qua sông Cửa Cạn lập căn cứ ở vùng đó, dựa vào địa thế rừng núi hiểm trở mà chống cự lâu dài – Trực nhìn Nghĩa âu yếm – Em cũng phải đi với anh, ở lại đây không tiện. Chúng sẽ đánh Dương Đông trước, nếu chúng muốn chiếm Phú Quốc”. – “Đã gặp nhau rồi thì sống hay chết em cũng đi với anh –Nghĩa nói với giọng dứt khoát, mạnh mẽ”. – “Anh chỉ lo em bụng dạ như vầy mà hành quân băng rừng lội suối sẽ vất vả lắm, liệu em có chịu nổi không?” – Trực nói với giọng lo lắng thật sự. – “Anh đừng lo cho em. Em đủ sức chịu đựng mà! – Nghĩa cười tự tin – Có anh bên cạnh, em không sợ gì hết!”.


            Vừa lúc ấy, cô Điều xuất hiện ngoài cửa. Theo sau, có hai người đàn ông có tuổi, dáng điệu chững chạc, áo dài khăn đóng đàng hoàng. – “Anh Hai, có khách quý tới rồi”. Cô Điều vừa bước vô, vừa cười báo tin với Trực. – “Xin chào hai vị – Trực vui vẻ nói”. – “Xin kính chào ông Thành thủ úy – Cả hai gần như nói cùng một lúc với thái độ kính cẩn”. – “Đây là ông quản Thứ – cô Điều chỉ vào ông đứng tuổi, có để ria mép như Trực – Còn đây là ông xã Ngãi...” – cô Điều chỉ vào ông trẻ và nhỏ người hơn. – “Tôi rất vui khi được gặp hai ông – Trực nhìn hai ông khách với ánh mắt thiện cảm – Trước đây chúng ta biết nhau qua thơ từ chớ chưa hân hạnh được gặp nhau. Xin mời hai ông ngồi”. Họ ngồi vào bàn, luôn đưa mắt nhìn Trực, người thủ lãnh nghĩa quân từng đốt tàu giặc ở Tân An, hạ đồn Sơn Đá –  Rạch Giá, tiếng tăm lừng lẫy khắp cả vùng Nam Kỳ, được dân chúng hết sức ngưỡng mộ và kẻ thù khiếp sợ. Người anh hùng ấy đang ngồi trước mặt họ đây, với thái độ bình dị, cởi mở và dễ mến. Cô Đỏ mang lên ấm trà mời khách, rồi lặng lẽ rút lui vào trong nhà sau. Quản Thứ, người lớn tuổi hơn, nói: – “Thưa ông Hai. Từ khi nhận được tin ông Hai ra đảo, đánh giặc ở Hàm Ninh, chúng tôi rất mong được gặp ông Hai để thoả lòng ngưỡng mộ bấy lâu của chúng tôi. Tôi và ông xã đây, tiền thu thuế của Phú Quốc xin đưa hết cho ông Hai chi dùng cho việc quân. Còn các khoản khác như lương thực, thuốc men xin ông Hai không phải lo. Dân Phú Quốc còn nghèo, nhưng lẽ nào không nuôi nổi nghĩa quân hay sao?”. Ông quản Thứ vừa dứt lời thì ông xã Ngãi đã đặt lên bàn túi bạc và sổ sách, rồi đưa bằng hai tay cho Trực với vẻ kính trọng người thủ lãnh nghĩa quân nổi tiếng. Trực cảm động cầm lấy rồi để xuống bàn, mỉm cười vui vẻ nói: – “Tôi xin thay mặt anh em cám ơn nghĩa cử của hai ông đối với nghĩa quân. Cái băn khoăn lớn của tôi hiện nay là võ khí, nhứt là đạn dược. Một số súng của anh em hiện nay đã hết đạn, mà hai ông biết rồi, súng không có đạn thì chỉ như khúc củi mục”. Trực mỉm cười nhìn quản Thứ và xã Ngãi với ánh mắt tin cậy, nói tiếp: – “Hai ông có cách nào giúp giải quyết chuyện này không?”. – “Dạ thưa ông Hai – Quản Thứ nói – Hiện chúng tôi còn một ít đạn và thuốc nổ, có thể cung cấp ngay cho ông Hai sử dụng. Còn về lâu dài thì phải tính chuyện vượt biển qua Xiêm La mua. Nghe nói ngày xưa đức Thế tổ Cao hoàng đế Gia Long, lúc chưa lên ngôi hoàng đế, bị quân Tây Sơn rượt chạy ra đây, kiếm được thêm võ khí cũng bằng con đường này đó, ông Hai à!”. – “Được vậy thì tốt quá! – Trực lộ vẻ vui mừng nói – Chuyện này tôi giao cho cô Điều lo với hai ông”. Trực nhìn cô Điều hỏi: – “Cô thấy thế nào?”. – “Dạ, chuyện gì anh Hai giao có khó đến đâu, dầu phải nhảy vô nước sôi, lửa bỏng em cũng quyết làm cho kỳ được, để không phụ lòng ủy thác của anh Hai” – Cô Điều nói, giọng chắc nịch. – “Nếu như tất cả mọi người dân Nam được như cô Điều thì bọn giặc Phú-lang-sa chẳng chóng thì chầy nó cũng sẽ bị tống cổ ra khỏi nước Nam mình. Phải vậy không hai ông?” – Trực cười vui vẻ nhìn hai ông khách – “Ông Hai nói đúng quá!”. quản Thứ, xã Ngãi đều vui vẻ cười đồng tình.


            Một buổi sáng. Soái phủ quân viễn chinh Pháp ở Sài Gòn. Ohier gõ gõ cái tẩu thuốc lá ngồi nhìn tấm bản đồ đảo Phú Quốc treo trên tường. Viên đại tá tham mưu trưởng báo cáo tình hình: – “Thưa đô đốc, theo tin ở Rạch Giá điện báo cáo thì trận chiến ở bãi biển Hàm Ninh– Phú Quốc, thiếu tá Bouchet Rivière đã thất bại”. – “Tại sao thất bại?” – Ohier sốt ruột, cau mày hỏi. – “Thưa, theo báo cáo thì do quân phiến loạn của tướng Trực rất đông trên núi, trong khi lực lượng của Rivière đổ bộ lên Hàm Ninh chỉ hơn một đại đội... Khi cuộc đụng độ xảy ra, Rivière sợ bị tiêu diệt hoàn toàn nên ra lệnh rút lui về Rạch Giá xin tiếp viện thêm mới có thể tiếp tục tấn công được, thưa đô đốc”. Viên đại tá tham mưu trưởng nhìn Ohier thăm dò phản ứng trước yêu cầu tăng quân tiếp viện này. – “Rivière nói quân phiến loạn trên núi rất đông, – Ohier cau mày hỏi – nhưng đông là bao nhiêu?”. – “Thưa, theo ước tính của Rivière quan sát qua ống dòm thì phải đến cả trung đoàn quân phiến loạn, bằng chứng là rất nhiều đám khói. Và chúng hành quân ẩn hiện, cờ xí đàng hoàng suốt chiều dài bãi biển Hàm Ninh...” – viên tham mưu trưởng nói. – “Rivière là một tên ngốc – Ohier gõ mạnh cái tẩu lên mặt bàn – Hắn bị tướng Trực đánh lừa rồi! Đến bây giờ ta có thể kết luận tướng Trực rất giỏi nghi binh!”. – “Sao Rivière bị lừa, thưa đô đốc?” – viên tham mưu trưởng có vẻ ngạc nhiên hỏi. – “Cả ông nữa cũng không hiểu ư? – đến lượt Ohier ngạc nhiên nhìn viên tham mưu trưởng. Hắn cầm gậy chỉ lên bản đồ nói – Này nhé, chỉ quan sát hiện tượng đốt lửa và hành quân ẩn hiện trên sườn núi mà nhận định là quân địch rất đông, cỡ trung đoàn thì dễ bị lừa bởi động tác nghi binh của đối phương. Ai kiểm soát được các binh lính xuất hiện trên sườn núi là do nhiều đơn vị hay chỉ một đơn vị chia ra nhiều tốp nhỏ hai ba người cầm cờ đi rồng rắn ở các điểm dễ nhìn cho đối phương quan sát từ xa?”. Viên tham mưu trưởng gật đầu. Ngừng một chút, Ohier nói tiếp: – “Thứ hai là dân số trên đảo ít ỏi, lại ở thưa thớt nhiều nơi, lương thực họ làm ra ăn chưa đủ, phải mua từ đất liền, làm sao họ có thể cung cấp cho đạo quân cả ngàn người như Rivière báo cáo?”. – “Thật khó có thể phản biện lại nhận định hết sức khoa học của ngài, thưa đô đốc”. Viên đại tá mỉm cười gật đầu xác nhận: – “Nhưng trước đề nghị tăng thêm quân của Rivière, ta nên giải quyết ra sao, thưa đô đốc?”. – “Tất nhiên phải tăng thêm quân cho hắn – Ohier nhìn viên tham mưu trưởng – Nhưng để diệt được tướng Trực với đám quân phiến loạn đó, phải tiến hành các bước như sau: Phải dồn dân trên đảo tập trung lại một chỗ, kiểm soát chặt chẽ các bến bãi và trên biển, cắt đứt mọi nguồn tiếp tế cho quân phiến loạn. Chúng sẽ chết đói trên núi nếu không có tiếp tế. Treo giải thưởng cao cho ai bắt hoặc giết tướng Trực, để kích thích sự phản bội ngay trong hàng ngũ bọn phiến loạn như trường hợp của tên Huỳnh Tấn đã làm với Trương Định...”. Rồi dường như sực nhớ ra, Ohier nói tiếp: – “Trong cuộc tấn công Phú Quốc lần này, ta phải giao cho Lãnh binh Tấn, vì tên này thông minh và nhiều thủ đoạn để có thể triệt hạ tướng Trực. Ông nghe rõ chưa?”. – “Tuân lệnh!”. Viên đại tá tham mưu trưởng rập chân đứng nghiêm đúng tác phong quân sự khi nhận lệnh cấp trên.


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng. Tiểu thuyết của Dương Linh. NXB Văn học, 10-2012.


www.trieuxuan.info


           


Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Dưới chín tầng trời - Dương Hướng 16.11.2018
Bão - Ngũ Hà Miên 16.11.2018
Bến không chồng - Dương Hướng 08.11.2018
Trở lại cố hương - Thomas Hardy 07.11.2018
Nguyễn Trung Trực - Khúc ca bi tráng - Dương Linh 06.11.2018
Sông Đông êm đềm - Mikhail Solokhov 02.11.2018
Sóng lừng (VN. Mafia) - Triệu Xuân 02.11.2018
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 29.10.2018
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 25.10.2018
Trả giá - Triệu Xuân 24.10.2018
xem thêm »