tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28869587
Tiểu thuyết
12.09.2012
Ngọc Giao
Đất

Bèo tắc lưỡi rồi lý sự:


- Trời sinh đất thì đất sinh cỏ, cỏ mọc thì thằng làm ruộng phải khom lưng xuống mà nhặt. Có còng xương mới có miếng ăn, can gì mà nhột. Sợ đất thì đi lên đồn mà ở, tha hồ sung sướng.


Chị đấm vào lưng chồng:


- Khỉ ở đâu ấy, bố nó điên hay sao thế? Ăn mấy nói.


Bèo cười như khóc:


- Ừ, điên. Cái cảnh này, chó cũng phải điên.


Và anh nựng con:


- Có phải không, thằng Chó?


Thằng Chó khóc thét lên. Bèo cười, bắt chước cái giọng hay chữ dở của Lý Còng:


- Con tôi nó khóc cái đời này đấy.


Vợ chồng Xã Bèo qua cầu sang sân đình, gồng gánh vào trong xóm.


Bước chân qua cổng cái, Xã Bèo thấy lạnh người vì quang cảnh tiêu điều của xóm làng. Anh đứng sững nhìn bức tường nhà Hội đồng lỗ chỗ nhiều vết đạn tròn như lỗ đáo. Cổng cái vỡ cánh và cũng nhiều vết đạn. Anh nao nao nghĩ đến những ngày gia đình anh yên phận ở rừng thì ở quê hương đã xảy ra bao nhiêu chuyện hãi hùng.


Đứng bên bờ giếng làng, anh sực nhớ lời Lý Còng kể ở đây đã có hai người chết, máu hoà xuống nước giếng sâu.


Khát, anh múc uống một hơi dài. Nước giếng đục và tanh tưởi. Bèo thấy rùng mình, vụt nghĩ đến cái giếng nhà anh Rõi trên đồi Da miền ngược, nước trong như nước suối rừng Dĩnh Thép.


Chị đỡ gầu nước uống, rồi đổ ra rửa mặt, rửa tay, hoan hỉ nói:


- Nhớ mãi nước giếng làng! Uống vẫn mát hơn nước giếng tản cư. Ngọt như nước dừa ấy.


Bèo nhìn vợ:


- Tanh bỏ cha đi thế này! Tưởng nước đấy a? Máu đấy.


Chợt chị khẽ bảo chồng:


- Bóng ai như bóng Trương Dần kia, bố nó?


Bèo nhìn vào con đường nhỏ hẹp ở xóm Đoài, cành tre rủ xuống và giao nhau như cái mui thuyền. Trong bóng lá, Trương Dần mặc sơ mi vàng, quần tây vàng, đi giầy tây lộp cộp, huýt sáo đi ra. Dần đi trước, lũ con theo sau, đứa nào cũng áo quần trắng bốp.


Chị đon đả cúi chào.


Trương từ xa bước tới bờ giếng, thở khói thuốc lá khiến thằng Chó bật ho, rúc đầu vào vú mẹ.


- Thế nào mà lại bò về, hả? Cứ tưởng ông bà thề cương quyết đến cùng.


Xã Bèo giận lắm, nhưng cố nén, vì anh xem chừng cái bộ hắn vác mặt lên thế kia, tất hắn đã giữ chân gì to lắm. Trêu vào chỉ tổ lôi thôi. Nhịn đi cho xong chuyện. Anh chưa biết nói gì, chị vợ đã gượng cười:


- Thưa ông, chúng tôi thấy bà con làng nước chạy hòn tên hòn đạn thì cũng chạy. Rồi thấy người ta về thì cũng bắt chước về, chứ ngu dốt, biết gì đâu.


Trương nuốt khói, phun ra lỗ mũi, mùi thơm ngào ngạt, tỏ rằng ta hút thuốc Mỹ đây:


- Thôi được, ông bà cứ về nhà. Mai tôi nói chuyện. Mà có giấy má gì thì liệu mà đốt, kẻo ở đây gần súng đồn binh lắm đấy.


Bèo nuốt giận, lặng lẽ quảy gánh đi. Hai vợ chồng đã rẽ vào trong ngõ nhà mình, vẫn còn nghe thấy tiếng Trương cười nói ba hoa với mấy gã lính dõng vác súng đi tuần ở đường bờ sông. Bèo nghĩ bụng:


- Thằng chó đểu, gió chiều nào xoay văng chiều ấy. Vừa hôm nào nhặng cả lên về quân sự chính trị, tinh thần cao như đít thổ công, nó khinh mình nhát. Bây giờ nó lại giở trò, lên ngay cái mặt Việt gian, mới thấy mình nó đã vênh váo, mỉa mai. Cha thằng đểu! ông sợ mày không sống được mãi!


Về đến ngõ cụt bên chùa, anh ngẩng đầu lên, cổng nhà vẫn còn nguyên, chỉ xô vẹo đi một tý. Bước qua ngưỡng cổng, lòng anh rộn rã, nhìn dặng chuối, cây vối, vườn chanh...Cây cối vẫn còn nguyên, nhưng cành khô lá úa, đường đi cỏ đã mọc đầy, lá tre phủ kín, kêu rào rạo như rơm khô dưới bàn chân cố chủ.


Bà cụ và lũ trẻ đứng trên thềm nhà cũ, ngẩn ngơ nhìn cỏ mọc như rừng trên mẫu đất vườn rộng mênh mông. Bà chợt giật mình, nhớ ra một việc quan trọng, bà bấm người con dâu. Chị giao thằng Chó cho thằng Đanh ẵm, rồi cầm cuốc, xăm xăm ra chỗ rãnh góc vườn. Bà thầm thì như ăn trộm:


- Chưa mất dấu, may ra còn, mẹ thằng Chó ạ.Chị run tay cuốc, ngực thở rộn và tay hơi run. Chừng vài chục nhát, chị lấy cán cuốc chọc mạnh nghe tiếng động, chị thốt reo lên:


- Còn bà ạ! May chưa!


Bà giằng lấy cuốc, hoan hỉ nói:


- Đưa ta cuốc đỡ nào!


Vài nhát nữa, chân chiếc đỉnh đồng phơi ra. Bà lấy sức nhấc lên. Rồi thì sanh, chảo, nồi, mâm đồng, còn nguyên cả, nhưng đã ngả mầu xám xịt. Có tiếng bên kia bờ rào, cạnh tháp chùa. Hai mẹ con ngồi thụp xuống để che các thứ, cũng sợ sệt như đêm nào đào hố chôn những vật báu này, mấy mẹ con đã hoảng hốt vì nghe tiếng chân ai rậm rịch ngoài ruộng tối.


Trong khi ấy, Xã Bèo đã cởi truồng lội xuống ao xem lại những bó tre mà ngày nọ dỡ nhà, anh buộc kỹ, dìm sâu xuống bùn, dưới bè tre gai. Bè tre gai mất gần một nửa, anh toan chửi mấy câu, nhưng sờ thấy những bó tre nhà cũ dỡ ra còn nguyên vẹn cả, lại mừng thầm. Anh ỳ ạch kéo lên từng bó. Đá, Đanh cũng lội xuống, vừa kéo tre vừa bắt mấy con trê. Mặt chúng đầy bùn, nhưng vui thích lắm.


Tối hôm ấy, gia đình anh lại gồng gánh ra ngoài đình ở tạm với cụ Từ, để ngày hôm sau thuê thêm một người làm cỏ và đổ thêm nền cũ dựng nhà.


Bao nhiêu là người đến hỏi thăm, họ thi nhau kể lể những ngày gian truân đất khách. Những người ở lại cũng thi nhau kể lại nguồn cơn hàng tháng lẩn trên cánh đồng, thổi cơm xó chợ, nhịn đói bụi tre, thò mũi thở trong đầm nước, giấu trẻ con vào lò gạch, bốc cơm nắm ăn bên xác chết, chưa kịp nuốt đã nghe thấy tiếng súng nổ ở làng bên, lại níu nhau mà chạy trốn.


Họ chụm đầu vào nhau trên ổ rơm trong gian giải vũ sau đình, ấm trà mạn đặc và chiếc điếu bầy giữa chiếu.


Bà cụ và vợ chồng Bèo tủi mừng được thấy làng xóm, bà con, và lo lắng những ngày mai bất trắc: nhà cửa chưa có, ruộng nương cỏ mọc, tiền lưng chẳng còn được là bao, làm thế nào sống được. Bà Hương Nhang vốn là tay đảm đang có tiếng, xưa nay quen ngược xuôi các chợ, an ủi vợ chồng anh:


- Cứ về đến làng là không lo chết đói. Bà con sẽ bảo nhau mà buôn cái rau, cái trứng, cứ đem ra chợ bán cho họ là bao nhiêu cũng hết.


Bác Trưởng bạ trùm chăn đơn lên cổ, nói giọng chán đời:


- Cái lối ấy chẳng được mãi đâu. Các “bố” hôm qua đứng đón đường các chợ, cảnh cáo không cho tiếp tế. Lần thứ ba không nghe thì cứ việc cõng sang sông. Đồng áng đã bỏ hoang, buôn bán thì nguy hiểm, gạo nước đắt như vàng, rồi thì ở đâu cũng chết! Các bà, các cô đảm mươi chuyến, nhưng chỉ gập ma một chuyến là đi đứt! Dào ôi!


Bà Hương rẩu môi, lườm bác Trưởng:


- Dễ thường chỉ có ông khôn, chúng tôi dại cả đấy.


Bác Trưởng bật ho, lật ổ rơm nhổ đờm vào, cười khảy:


- Khôn! ối chào ôi khôn! Tránh được ma thì va phải quỷ. Nó bưng lên đồn, om cho một đêm rồi về mà khôn ra phết!


Bà Hương và mấy cô con gái áo cánh trắng lồm lộp ngoài sân giải vũ nhao nhao mắng lại. Có tiếng người quát ở bên ngoài:


- Làm cái gì mà họp chuyện loạn cả làng lên thế. Muốn chết cả đấy?


Cụ Từ thổi tắt ngọn đèn dầu tây nhỏ, nói thầm thì:


- Trương Dần đấy! Thằng cha mò mẫm gớm chưa!


Bèo khẽ hỏi:


- Nó làm gì mà ghê thế?


Bác Trưởng lắc đầu cười trong bóng tối:


- Thời ta thì làm trưởng ban quân sự liên xã, oai lắm! Thời Tây thì làm lý trưởng để tố cáo, cắp súng đi hầu, xoay xu, cũng oai lắm! Lúc nào nó cũng làm quan, quan ôn mà lại! Danh giá cho làng cho nước!


Tiếng súng liên thanh cùng cục nổ như rang bỏng ở đâu gần lắm. Bà cụ và vợ chồng con cái anh Bèo sợ xanh mắt nói:


- Sao vẫn cứ như trước nhỉ? Lạ chưa?


Cụ Từ gục đầu xuống đầu gối xương xẩu, thầm thì:


- Hơn trước ấy! Mới về thì lạ, không ngủ được, chúng tôi nghe đã quen rồi. Tối nào không nghe thấy tiếng pháo đốt cầm canh thì lại nhớ.


Mọi người kéo ra về. Ánh trăng thượng tuần mờ nhạt trong sương lạnh. Họ xuýt soa, khẽ bước trên con đường lát gạch, làm mấy con chó thập thò nằm sau bờ giậu sủa gâu gâu.


Xã Bèo mỏi mệt ngả mình xuống ổ. Tưởng rằng ngủ được ngay, nhưng mắt anh vẫn mở trân trân nhìn bóng tối, nghe giun dế và muỗi cỏ kêu ran. Anh lo phát sốt vì cửa nhà, ruộng đất, lại thêm tiếng súng nổ vô hồi ở các đồn binh quanh đấy, không sao nằm được nữa, nhỏm lên ngồi bó gối, lắng tai nghe. Bà cụ thở dài chép miệng:


- Thế này biết ở đâu cho yên.


Cụ Từ từ nẫy vẫn mò mẫm ngoài sân rón rén vào thổi mồi hút thuốc:


- Quái, hôm nay quân du kích ta hăng hái tợn. Tấn công khắp các nơi. Kỷ niệm kỷ niếc gì hẳn.


Bỗng cụ bấm tay Xã Bèo, bảo ra sân. Bèolập cập theo cụ Từ tới bên chấn song cửa đình, nhìn ra bên ngoài, những đoàn người võ trang áo quần nâu đang rảo bước trên cánh đồng trăng lạnh. Đoàn người lặng lẽ đi rất nhanh, chẳng mấy chốc đã khuất chìm vào bể sương khuya bát ngát.


Cụ Từ lại bấm cánh tay Bèo. Anh nhìn về phía đường xe lửa, một luồng ánh sáng xanh biếc chiếu thẳng lên bầu trời rồi tua ra như nhài quạt, từ từ chiếu chếch trên mặt đất.


Cụ Từ lẩm bẩm:


- Đèn pha ở “bốt” Bình Phiên đấy. Như thế luôn luôn. Đêm nào ta đánh dữ, sáng sớm hôm sau thể nào cũng có cuộc đi càn ở những làng gần bốt...


Tiếng súng như gõ mẹt đều đều trong đêm vắng, điểm tiếng nổ to, Bèo đoán là tiếng lựu đạn. Bỗng phía đèn pha, ánh lửa vút lên đỏ rực, một tiếng nổ sắc và dài như xoáy vào đêm sâu khủng khiếp. Cụ Từ khẽ bảo:


- Moóc chê nã vào làng nào đấy, khổ chưa.


Phía nam lửa cháy ngút trời, tiếng kêu từ đâu xa vọng đến tai anh. Sợ hãi, hoang mang, Bèo nắm chắc lấy hai chiếc chấn song gỗ mọt, tim đập mạnh.


 


III. Chợ Nôm phiên chính. Chị Xã và chị Lý đã mua bán xong, ngồi ở gốc đa đầu chợ.


Gạo rau, không nói gì đến thịt, ở vùng tề tính ra đắt gấp ba lần ở hậu phương.Thế mà người ta vẫn tiêu thụ mạnh. Trước khi tản cư, chợ Nôm đã đầy người tỉnh để làm nhẵn những phản thịt lợn, thịt bò. Bây giờ hồi cư, chợ Nôm cũng lúc nhúc người giầu có để làm cho cái chợ quê mùa này thêm đẹp mắt. Bọn người chưa hết của ấy vừa kén cá tươi gạo trắng, vừa nhăn nhó kêu túng bấn.


Hai người đàn bà ngồi nhìn mớ cá tép, rau già lo lắng đến ngày mai, trước sự đắt đỏ này liệu mình có sống được không. Chị Xã vừa cúi xuống thở dài thì chị Lý trỏ cho chị nhìn về dẫy hàng quà bánh.


- Gớm các bà các cô sao mà lụa là phấn sáp đẹp đến thế. Một dạo đua nhau áo nâu quần vải, bây giờ lại đua nhau sang trọng, y như ở tỉnh ấy thôi!


Chị Xã lạnh nhạt:


- Chuyện! Các bà các cô ấy ăn mặc báo thù ngày ở hậu phương mà lại! Sắp sửa bò ra tỉnh hết. Nghe đồn ngoài Hà Nội bây giờ vui đẹp hơn ngày trước. Đèn như sao sa, kiếm tiền như rác...


Chị ngừng nói, nhìn thấy mấy cô gái làng mình vừa ngày nào còn quần manh áo chiếc, gầy như cá mắm, thế mà ngày nay đã đẹp nõn ra, có gánh hàng vải lụa, thắt lưng kềnh kễnh đựng tiền nghìn tiền vạn làm vốn ngược xuôi Hà Nội, Hải Phòng luôn luôn. Chị Lý thầm thì:


- Họ gan không chạy, ở nhà tuy sợ hãi ít ngày nhưng lại hoá ra vớ đẫy. Có súng ống hẳn hoi đưa họ đi càn khắp các làng, tha hồ thổ phỉ, mạnh ai người ấy bắt lợn dắt trâu, mà hình như bọn họ cũng giết cả người cơ đấy. Ghê chưa, đất làng mình thế mà tự nhiên phát võ.


Chị Xã cười nhạt:


- Chuyện, trai gái thời loạn kia mà, nhưng của ấy cũng chẳng bền lâu. Cứ là ma kêu quỷ oán.


Chị Lý cũng cười, đứng dậy:


- Hãy biết bây giờ người ta sung sướng đã, chả hơn bọn mình.


Chị Xã cay đắng:


- Sung sướng! Sung sướng nỗi gì!


Một bàn tay đập lên vai, chị nhủn cả người: hai ba thằng lính ba-ti-dăng, một thằng lính Tây, đứng sừng sững trước mặt chị như ma hiện.


- Đứng im ta khám xem nào.


Một thằng ba-ti-dăng lục thúng khám người chị, nó rút ra mấy tờ giấy “năm đồng Cụ” rồi quát to:


- Tiêu tiền này thì gớm thật. Lần sau tao tôm được nữa thì ăn súng, nghe không?


Nói, rồi hắn bỏ tiền vào bị. đoạn quay đi, nắn túi, lần lưng người khác. Chị đứng lặng, miệng há hốc, tiếc tiền và sợ. Chị ngồi bệt xuống, mắt mở trân trân nhìn theo mấy chỏm mũ vải vàng, mấy đầu súng nhấp nhô trong cái rừng người thảm hại đang nhốn nháo, lủi nhanh như bầy gà nhỏ thấy diều hâu.


Chị Lý khi đó đã nhanh chân lẩn thoát. Chờ cho bọn lính ra cuối chợ rồi, chị mới dám vào.


- Rõ khốn khổ chưa. Mất bao nhiêu, bác Xã?


Chị Xã rớm nước mắt, cúi nhặt mấy mớ rau già, và bốc mớ tép ôi bỏ vào trong rổ. Mấy người làng chạy đến phàn nàn hộ:


- Bà này mới về không biết. Bận sau phải nhanh mắt thính tai, đứng đây nhưng mắt phải luôn luôn đảo quanh tứ phía. Thời buổi này là họp chợ âm giữa ban ngày, chợ ma chợ quỷ, không mặc áo giấy là đi đứt.


Chị không nói năng gì, đội thúng lên đầu, lủi thủi đi. Chị Lý theo sau, thở dài và kêu ca mãi. Chị vẫn không nói năng gì, rảo bước bên bờ sông, cúi gục đầu lặng lẽ, như anh Xã những khi uất ức. Gió dưới sông thổi thốc lên, chị quên cả lạnh, lòng quặn đau, muốn khóc nấc lên một tiếng.


Đi được quãng xa, bỗng vang mấy tiếng súng liền.


Chị Lý và chị Xã quen như ở hậu phương, ngồi thụp sau ngôi mả xây giữa ruộng, nhìn về phía chợ, thấy người kêu và chạy như đê vỡ. Tiếp theo mấy tiếng lựu đạn nổ quanh chợ, và trên ngọn cây đa chị Xã vừa ngồi ban nãy một lá cờ bay.


Sau đó tiếng loa nói như gào lẫn tiếng người kêu, trẻ khóc.


Một anh con trai mặt mũi đầy bùn chạy đến. Chị Lý vội ngó đầu ra.


- Chú Đĩ đấy à. Làm sao thế?


Anh con trai thở như bò:


- Ghê quá, ghê quá! Hai người Tầu tiếp tế bị lòi gan ruột. Bọn lính ba-ti-dăng vừa đi khỏi thì họ đến. May không xô xát, nhưng các cô hàng vải tha hồ khóc, mất cả dấn vốn rồi. Thằng Cai Quý thật là số đỏ. Hôm nay cái bị của nó ít nhất là hàng vạn “Cụ”!


Ở phía chợ vẫn như ong vỡ. Người tuôn ra các ngả đường và các cánh đồng ruộng khô nẻ. Hai người đàn bà hối hả đội thúng trở về.


Tới cổng, chị Xã thấy nhà đã lợp xong mái rạ. Xã Bèo đang cùng mẹ và hai con nhào bùn rơm trát vách.


Chị đặt rổ rau xuống, thuật lại chuyện bị cướp tiền và vỡ chợ.


Mọi người ngừng tay làm việc, cùng ngẩn ra. Chị kéo vạt yếm lên lau nước mắt. Bèo ngước lên hết nhìn ngọn tre lại nhìn đám mây nổi ngoài chân trời xa tít bên kia luỹ, rồi lừ lừ cúi nhìn những đám cỏ ấu vừa mới hôm qua rũi sạch đã lại mọc đầy sân, anh cáu kỉnh thọc hai tay vào đống vữa bùn, vốc một nắm to, ném vào nan vách đang đắp dở.


- Tiên sư chó! Thế thì quá lắm.


Anh ngồi bệt xuống, nhặt con dao chém mạnh, đất bắn lên cả mặt. Lần đầu tiên, anh chửi đất. Bởi vì lúc này anh nhận thấy rằng chính đất đã làm anh khổ nhục.


- Mẹ kiếp, cá chuối chết đuối vì con. Đã chán đời chưa!


Anh nhặt mồi rơm, thổi mạnh. Tàn rơm đỏ lửa bay lên làm cháy tóc. Bèo rít điếu cày sòng sọc. Hút xong, mắt Bèo đỏ sọng, loáng một vẻ gì dữ dội và liều lĩnh. Que đóm vẫn chưa tắt trong tay. Bèo bạnh quai hàm, hằn rõ hàm răng nghiến chặt.


Chị Xã bưng mâm cơm đặt ngoài thềm. Anh liếc mắt nhìn, thấy có bát tép kho với khế, và chai rượu nhỏ. Anh cần phải uống. Hôm nay dựng nhà như ngày nọ phá nhà, anh cần phải uống, để mà say.


Xã Bèo đã làm vơi một góc chai mà chửa mùi gì. Chưa bao giờ Bèo uống hăng như hôm nay. Bữa rượu phá nhà, anh say để đau với thềm nhà cũ phơi mưa nắng. Bữa rượu dựng nhà, anh say để đau nhiều hơn nữa với mảnh đất mà ngoài sân kia cỏ sắc rũi chưa được nghỉ tay đã mọc, và những thân cây chuối chém tự ngày nào, nằm quắt khô, mục nát như xác chết.


Theo thường lệ, chị thấy chồng tái mặt thì cất vội chai và dằng bát sới cơm.


Bèo ăn căng bụng, ngả luôn mình vào đống rạ.


Tối ấy, sáng trăng. Bèo chợp đi một tý lại dạy, ngồi chẻ tre đan phên liếp. Chị đặt thằng Chó ngủ trong nhà mới, rồi cùng mẹ và hai thằng con cuốc xới đất vườn để mai kia trồng khoai, đỗ. Trăng mờ lạnh. Bà cụ cuốc mạnh cho đỡ rét, lo lắng nói:


- Tết nhất đến nơi rồi! Lấy gì mà sắm sửa.


Bèo ngoảnh ngay ra:


- Bà lo làm quái gì chuyện tết. Việc cần là mai phải làm xong cái chuồng trâu. Nghe chừng cô ả sắp ở cữ rồi. Tản cư khổ sở, chỉ lãi có con nghé đấy thôi.


Thằng Đanh nói:


- Trâu về ăn cỏ đồng nhà mới có mấy hôm đã khá phết. Chả mấy lúc mà bằng cũ.


Anh hởi lòng, khuây ngay phẫn uất ban chiều. Anh lẩm bẩm:


- Ruộng ngoài kia còn đầy cỏ. Vườn nhà còn hoang như bãi tha ma. Bao giờ cho được như ngày trước. Còn là còng xương, gẫy gối.


Tay vót nan tre, tước lạt, Bèo lơ mơ nhớ đến năm gian nhà cũ, chiếu giường ngăn nắp, bàn thờ đủ cả câu đối, hoành phi. Ở dẫy nhà ngang, những cót thóc đầy ăm ắp.


Chung quanh yên lặng.


Mọi người đã xuống ao rửa chân tay đi nghỉ. Bèo cũng đứng lên, lững thững dạo quanh vườn, rồi ra ngoài ngõ. Bâng khuâng, anh nhớ lại ngày nào bao nhiêu người đã giáo gươm, mã tấu, tập trận, lủi nấp, hô gào ở khắp ngõ cụt đường ngang. Vậy mà đêm nay, quanh anh chỉ có tiếng giun dế khóc cái tang thương của làng Nguyệt Đức: con người cam đành, an phận, sợ tối lo mai, trâu bò ngơ ngác ngoài đồng, chó gà côi cút chui bờ, rúc bụi.


Thôn xóm vắng tro. Cành tre ngả ngang đầu không ai muốn phạt. Đường rêu lá phủ. Lèo tèo dăm bẩy nóc nhà mới dựng, khép nép như sợ hãi những gót giầy tàn bạo ngày ngày khua rộn bên ngoài.


Bóng trăng quyện vào bóng lá trong ngõ tối. Xã Bèo đứng lặng, nao nao sợ cái tịch mịch thoi thóp của quê hương mà bấy lâu ở đồi Da, ở rừng Dĩnh Thép anh đã ngẩn ngơ nhớ từng búi tre, khóm chuối, giếng nước, chuôm cá, ao bèo. Bây giờ, anh trở về đây, sống chết trên đất tổ, nem nép như con chim lạc đêm mưa. Bèo bật một tiếng ho như tiếng nấc. Anh khóc không ai biết, chỉ có con chó bên chùa biết cho nên nó sủa mấy tiếng liền. Bèo bước vào, đóng cửa, vụt nhớ đến con mực anh đã cho thằng Đanh đem bán chợ Bùng lấy tiền đong gạo. Buồn nản, Bèo chép miệng:


- Chả ra làm sao cả. Không biết cái đời người nó xoay ra thế nào đây!


Anh vào nhà, nằm vật xuống ổ rơm trên nền đất còn ẩm ướt, vách chưa trát kín, phên liếp chưa đan kịp trống tênh cho sương gió lùa vào. Bèo thiếp dần đi, lông mày cau ríu lại, miệng hé, nếp nhăn hằn trên khuôn mặt.


Hôm nay, Bèo đã trát xong vách, và làm xong chuồng trâu nối liền cùng gian trái.


Anh đứng trước sân, ngắm nghía để tạm bằng lòng vậy. Trước kia, những năm gian, bây giờ thu ngắn lại, còn có ba gian rúm ró. Anh dự định sẽ cắt tre đóng bàn thờ. Anh thấy rằng thiếu giường thì nằm đất, chứ thiếu cái bàn thờ thì thật là vô phúc, nhất là tết nhất sắp đến nơi, ông bà ông vải sẽ ngồi đâu? Xưa nay vẫn coi việc mồ mả tổ tiên là quan trọng, cho nên ngay từ sớm nay, vùng dậy anh đã dặn vợ phải sửa đĩa xôi, nén hương, buồng chuối, đi tảo mộ tổ tiên nội ngoại.


Chị đi tảo mộ đã về. Chị đặt cái rổ đựng xôi chuối lên thềm, hoe hoe mắt. Bèo khẽ nói:


- Lại làm sao thế? Người ta đang bực mình, cứ thế mãi thôi!


Chị lùi lũi bước ra phía sau nhà. Bèo theo ra hỏi:


- Chuyện gì mà khóc?


Chị nấc lên một lúc rồi mới nói:


- Ông cụ bị bắt đi ban sáng mất rồi.


Bèo sửng sốt về cái tin bố vợ bị tai nạn tầy trời ấy. Anh lặng hẳn đi. Chị nghẹn ngào:


- Thằng cai Quý nó thù, vu ông cụ đêm hôm kia chứa bộ đội trong nhà. Mờ sáng hôm nay chúng vây kín ngõ, lôi ông cụ lên bốt. Cai Quý nó đánh ông cụ vỡ cả mặt mũi. Bây giờ làm thế nào, lên bốt thì phải chết đứt về tay nó - Chị lại khóc như khóc bên linh cữu - Người ta bảo nó thù chuyện cũ. Một tay nó đã mượn thế vu cho mấy nhà về tội ấy, bị đem cả ra Nhà Tiền Hà Nội. Ông cụ nhà này cũng đến vậy thôi!


Bèo hồi hộp nghĩ đến Trương Dần: “Nó sẽ bắt chước thằng Quý để hại mình, cùng một loại như nhau hết”. Và Bèo nghĩ đến hôm kia, anh phải dẫn thân đến nhà Trương để gọi là vi thiềng mười đồng bạc cho hắn vào sổ và cấp giấy thông hành. Trương nhận tiền một cách không vui vẻ: “Thôi được, còn khi này khi khác chứ! Tôi làm việc quan bây giờ bận lắm, tốn lắm, không như trước đâu!”. Cùng một lúc, hình bóng thằng Cai Cơ nhăn nhở dọa Lý Còng sẽ kéo xuống “đả cầy” lại hiện ra làm anh lo sợ và uất ức. Chị Bèo thấy chồng không nói năng gì thì dằn dỗi:


- Ông không dám ra bốt nghe ngóng tin tức ông cụ ra sao à! Bố tôi chết thì có can hệ gì đến người ta đâu mà người ta cần - Chị lại khóc như mưa. Bèo vẫn không nhúc nhích. Chị vùng đứng dậy như điên dại - Người ta có máu mủ gì mà người ta thiết! Ông không đi, tôi đi vậy. Chết thì thôi.


Bèo nắm tay vợ gắt:


- Làm cái gì mà rối cả lên. Đàn bà ra đấy để mà... bỏ mẹ à? - Rồi anh thấp giọng - Để còn xem ra sao chứ. Mình mới chân ướt chân ráo bò về, chửa biết bốt bung nó thế nào, ngớ ngẩn lần ra, nó bắn cho một phát thì toi mạng chó. Bà tưởng dễ dàng lắm đấy!


Trong làng, bà con biết tin, kéo vào hỏi thăm. Ai cũng bảo không nên dại dột dẫn thân vào hang hổ. Lý Còng ghé tai anh Xã, bàn nên nhờ cậy Trương Dần:


- Nó thế lực, chỉ nói một câu là xong ngay:


Cụ Từ cũng ghé tai:


- Nhờ Trưởng Nghé, nó thế lực hơn. Nó còn biết ngô ngọng mấy câu tiếng Tây, chứ Trương Dần thì biết nói cóc gì.


Mỗi người bàn một cách. Họ coi Trưởng Nghé, Trương Dần như thánh tướng, giơ tay là có kẻ chết tươi, hé miệng là có người sống lại. Nhưng người ta đều quên rằng muốn nói với Trương Dần, Trưởng Nghé, phải có tiền. Mà tiền thì vợ chồng anh Xã làm gì có. Bà cụ Từ bàn nhỏ với cụ Xã ở ngoài vườn:


- Cụ phải bảo bác Xã chớ có mò mẫm ra. Vô phúc gặp thằng Cai Quý nó tóm cổ, có là trời gỡ.


Thấy vậy bà cụ Xã vội quay vào nhà an ủi con dâu, nhưng trong bụng bà đinh ninh sẽ dặn anh Xã chớ có nghe lời vợ.


 


VI. Ngày qua ngày chị đã cố khuây nỗi thương nhớ người cha mà chị cũng chẳng biết người ta đã dẫn đi đâu rồi.


Chị vẫn làm lụng suốt từ sớm đến đêm mới nghỉ, làm nhiều để mẹ chồng bớt kêu ca, vì nỗi bây giờ nhà lại phải đèo thêm hai đứa em thơ dại. Bà cụ chỉ được một dạo tản cư đổi tâm đổi tính, thương chị hơn chút, nhưng từ hôm về làng, bà lại ghét bỏ, ghẻ lạnh con dâu.


- Nhà một đống người, đào đất ra mà nuôi chúng nó. Chết mất thôi.


Chị không dám hé răng, chờ đêm tối mới dám khóc thầm, nước mắt rỏ xuống đầu thằng Chó.


Ba hôm trước con trâu đã đẻ ra chú nghé tí hon xinh xắn, anh thích mê tơi cả người, suốt ngày bận bịu vì việc kiếm cỏ xin rơm cho trâu no bụng lấy sữa nuôi con nhỏ. Anh chăm nom con vật hơn là chăm nom vợ khi nằm bếp. Cả ngày cuốc xới, vật nhau với đất vườn, lúc nào mỏi mệt Bèo lại đứng trước chuồng ngắm nghé. Đêm nằm, anh cũng mơ tưởng cái ngày mai nghé lớn lên, béo tốt, lớn nhanh như con mẹ nó ngày năm trước. Bèo đỡ gắt, đỡ buồn vì có thêm con vật. Anh nghĩ thầm, chứ không dám nói ra, rằng con trâu đẻ đã khiến anh vui hơn là chị Bèo ở cữ thằng Chó con ngày nọ.


Anh em thằng Đanh chỉ mong cho nghé mau cứng cát để dắt mẹ con nó ra đồng ăn cỏ. Chúng cũng giống bố, thích trâu đẻ và thích chăn nghé hơn là thích mẹ đẻ, thích ẵm em. Bởi vì chúng hiểu một cách giản dị rằng người thì đẻ tốn cơm tốn gạo, chứ trâu, chó hay gà đẻ chỉ thêm lợi lộc mà thôi. Gặp trẻ con ngoài ruộng, anh em nó đã doạ rằng mai kia trâu rừng của chúng nhớn lên thì phải biết, sừng cong, đầu rắn, mình to tướng như voi, bao nhiêu trâu đồng sẽ quỵ. Con mơ tưởng vậy, bố thì nghĩ đó là cái vốn to, biết đâu trời cho khá, sẽ là cả một gia tài. Anh đã tính nhẩm những đêm thanh vắng không có súng nổ ngoài xa: “Chờ cho nghé chịu vai cày, ta sẽ bán quách con mẹ đi. Lấy tiền ấy mà nuôi lợn nuôi gà, rồi thì liệu mà xoay sở cho no ấm. Cũng may ông trời thương, không thì nguy khốn.”


Nhưng tất cả cái chương trình làm ăn ấy bị tan ngay như bọt nước sân mưa khi có súng nổ khắp bốn phương trời, nhất là khi nghe những tiếng đồn làng này bị đốt, làng kia bị bao vây, bọn ba-ti-dăng bắt đi một lúc hàng đàn trâu, bò, lợn, nạn nhân không còn biết kêu ai mà van xin nữa. Những tin sét đánh ấy khiến Bèo tối tăm mặt mũi. Anh vùng ngồi dậy, ra sân đứng, hồi hộp nghe những tiếng nói bên kia luỹ bạt theo gió lộng đồng khuya thoảng vào tai, và sợ hãi cả những con đom đóm rụng vào bóng tối.


Sáng hôm sau, trời hửng nắng làm tan hơi giá rét. Anh bảo con:


- Chúng mày đi trâu chứ. Hôm nay ta cày mảnh ruộng bên kia sông, anh em mày giúp bu đập đất ở ruộng khoai, rồi khơi lạch tháo nước ở vũng vào, thỉnh thoảng trông cái nghé, kẻo nó quấy con mẹ, không cày bừa gì được.


Bèo thu xếp công việc, rồi vác cày đi. Trâu trước, người sau. Cái nghé từ thửa ra đời, hôm nay mới được bước khỏi chuồng, lũn cũn theo sát sau đuôi mẹ, như đứa trẻ tập đi những bước đầu.


Bèo vừa đi vừa ngắm trâu, mừng rằng từ hôm trâu trở lại đồng nhà, cỏ ngon đã lấy lại cho nó tý thịt da. Mắt nó không đỏ ướt nữa, lông không vàng trụi nữa, đẻ xong lại mạnh khoẻ, mỡ màng hơn lúc có mang. Anh đã lẩm cẩm ví trâu với vợ, ngày nọ ở cữ thằng Đanh xong thì cứ mơn mởn nây nây hơn lúc còn con gái - “gái một con mà lại!”


Ra tới sân, anh cho trâu nghé qua cầu sang sông. Sang con sông không sóng gió để người vật cầy xới đất đồng nhà, Xã Bèo cúi nhìn bóng mình in xuống nước, lại sực nhớ ngày nào người vật sang con sông sóng to gió lớn dưới chân núi Thiên Thai nọ, để đi cày bừa đất khách, rừng hoang. Bèo bần thần nhớ đến anh Rõi đồi Da, và anh đoán con người tàn tật câm nín như chiếc bóng kia lúc này hẳn đang ngồi, nhẫn nhục như con chó đá, đan rổ rá từ sớm đến khuya, để thỉnh thoảng lại ngẩng nheo con mắt toét nhìn bà ong chúa vừa đi chơi về, bầy ong quân hôm nay tải lương rất gấp và canh phòng cẩn mật. Lúc này, anh nhớ, như vẽ ra trước mắt, cái miệng há hốc một cách thảm hại của con người tàn tật ấy. Nhớ nhau để lòng ngùi ngùi, buồn bã, thương người nơi xa xôi, và sót cả phận mình ở chốn này.


Đóng vai cày vào vai trâu, Bèo cay đắng:


- Nhưng thà như thế lại hơn, tám phần còn được hai phần an ủi, chứ quay về đồng ruộng, trâu ơi, thân tao chẳng khác thân mày.


Đã lâu ngày trâu bỏ vai cầy nên nặng nhọc bước trên đất rắn, nhưng chỉ một lát trâu lại quen ngay. Đầu nó cúi xuống, cúi thấp mãi xuống và thở phì phì như ngửi đất, cũng như anh Bèo hôm mới trở về vườn đất cũ, anh đã bứt túm cỏ mật đưa lên mũi hít cái mùi thơm của đất cát tổ tiên mình.


- Vắt! vắt! trâu đi! Trâu!


Bèo theo trâu, bước cao bước thấp. Anh thấy cầy đất đồng nhà tuy rắn đanh mà sao lại dễ dàng hơn cầy bừa đất xốp mềm, có khi toàn là cát đỏ, ở nơi mình tản cư. Tiếng thông reo ở những đồi cao quanh mảnh đất rừng Dĩnh Thép đã khiến anh vừa theo trâu vừa lắng nghe để trạnh lòng thương nhớ quê nhà. Thế mà hôm nay, cây đa cổ thụ thả lá vàng xuống lòng con sông Nguyệt Đức này, lại nhắc nhủ anh nhớ đồi thông và đất rừng xa xôi ấy. Anh Bèo nhớ nao nao, nhớ đến gần như muốn khóc.


- Vắt này! Trâu đi!


- Khá nhỉ! Người anh em lại bát đầu công tác đất đấy hở? Mai kia gặt hái, cho đằng này vay mươi thúng nhé!


Bèo nhìn sang bên kia cầu. Mẹ con thằng Đanh đang đập đất ruộng bên cũng ngoảnh sang. Trương Dần diện áo tây, quần trắng, mũ nồi, phì phèo thuốc lá, ngất ngưởng đi qua sân đình, nhăn nhở nói trõ qua sông.


Bèo ghét mặt, nhưng cũng phải gượng chào:


- Ông Lý đi chơi!


Dần nghiêm mặt, vừa đi vừa nói:


- Chơi! Lên đồn đây bố ạ. Này, mai đến phiên bố vác tre lên đồn Chẹm nộp đấy nhá. Con ông cụ mà quên thì...a lê hấp cái đầu ngay. Nhớ chưa?


Bèo không đáp, nhưng chửi một câu trong cuống họng:


- Tiên sư mày! Chó!


Trương đã khuất sau văn chỉ. Bèo vẫn cúi theo trâu, nhớ lại ngày nào cũng cái miệng ấy quát tháo mình các tre, vác cuốc đi làm ụ: “Phải cương quyết, phải tăng gia công tác phá hoại, phải bỏ cái lối lừng khừng phản động đi, không thì a lê hấp, đây cho vào nhà giác ngộ, nghe chưa!”.


Bèo nhắm mắt, đẩy mạnh bắp cầy, nghiến chặt hai hàm răng lại:


- Vẫn cái mõm chó ấy, vừa cắn kẻ trộm vừa sủa bóng trăng. Quân thế đấy!


Con nghé le te chạy xuống ruộng rúc đầu vào bầu sữa mẹ. Trâu đang kéo cầy, tự đứng lại, dạng hai chân cho con rúc sữa, mắt lim dim cúi nhìn con.


Bèo nghỉ tay, sang bờ ruộng bên, ngồi xuống cỏ, cầm ấm đất lên tu, thổi mồi rơm, rít điếu cầy.


Một con sáo sậu ở cành đa xà xuống đậu lưng trâu, hót líu lo. Bèo cười bảo vợ:


- Thằng Trương dần thực là con sáo sậu, hót lối nào cũng thánh, không ai theo kịp nó!


Anh em thằng Đanh rón rén rình bắt sáo. Nhưng vèo một cái, sáo đã bay lên cành đa, hót véo von.


Ở đằng xa, một đoàn người đi lại. Bụi đường lầm vẩn dưới bước giầy săng đá và bước chân một đàn năm sáu trâu bò.Hai tên lính Pháp và bốn thằng lính dõng vác súng lùa đàn vật theo dọc bờ sông, qua cầu sang bãi. Giầy người, móng vật khua lóc óc trên cầu gạch. Lũ người ấy đứng lại bên gốc đa. Bốn thằng lính dõng được lệnh tiến thẳng tới chỗ vợ chồng con cái Xã Bèo, súng trên vai, con mắt đảo điên, hung dữ. Tên lính mặt sần sùi như đế giầy đanh, sấn lại nắm lấy giây buộc mũi trâu, sừng sộ nhìn anh Bèo, nói giọng Nghệ An khó hiểu:


- Mệ mày, ông bắt trâu lên bốt thịt đây, có tiền lên đó mà chuộc lại.


Nói rồi tháo bỏ cầy, lôi trâu đi tuồn tuột. Vợ chồng Bèo chết lặng. Mắt mở, mồm há, trống ngực đánh hơn trống cướp, choáng váng như muốn ngã.


Con trâu đã bị lôi mạnh đến chỗ bờ cao. Nó không chịu leo lên. Tên dõng Nghệ đá thốc một cái vào bụng, trâu nhẩy lồng, làm đất sụt rơi xuống ruộng.


Thốt nhiên, chị vùng chạy theo, nói như điên:


- Các ông nói hộ cho. Cơ nghiệp còn có con trâu, bắt đi mất thì chúng tôi chết mất.


Dõng Nghệ trừng mắt quát:


- Mặc tổ cha chúng mi. Nó bắt cả đàn trâu kia kìa. Ban nãy một con mụ già lẽo đẽo theo khóc đòi trâu, nó nổi hung vừa cho một phát chết tươi. Thế là cả lũ im thin thít, mi có muốn chết uổng mạng thì cứ theo đi coi nè!


Dõng Nghệ lôi trâu tuồn tuột. Nghé theo đuôi mẹ, ngóc mõm rúc vào vú mà nhay sữa.


Bèo thấy vợ liều thân thì cũng liều mạng, tất tưởi chạy theo sau. Anh nói thều thào như khóc:


- Lạy các ông, xin các ông sinh phúc sá tội cho chúng cháu…


Chị kêu gào thảm thiết:


- Trời cao đất dầy ôi! Chúng tôi làm nên tội tình gì mà oan ức thế này, chúng tôi thấp cổ bé họng, chúng tôi yếu đuối, sao lại ăn hiếp chúng tôi như thế, trời cao đất dày ôi!


Con trâu đã bị lôi lên gốc đa, đứng lẫn với đàn trâu bò đang an phận gậm cỏ non trên bãi. Tên lính Pháp hất hàm ra hiệu bảo mấy thằng lính dõng đánh lũ vật đi.


Trâu bò dồn dập xô nhau chạy trên con đường ruộng hẹp.


Đoàn người vác súng đi sau, rầm rộ như ra trận bắn quân thù.


Anh em thằng Đanh thập thò nấp sau gốc đa, nhìn theo, run như cầy sấy. Chị cuồng dại chạy theo, kêu vang cả cánh đồng:


- Trời đất ơi, thảm thiết đến thế này à, sao lại bắt trâu của tôi, sao lại bắt trâu của người ta!


Anh Bèo lập cập đuổi theo, lôi áo vợ:


- Đừng liều thế, nhỡ thì chết hết, thôi đành vậy, kêu gào cũng chẳng thấu trời đâu.


Chị không kêu trời kêu đất nữa, chị như không nhìn thấy những con người đáng sợ như quỷ sứ thiên lôi kia nữa, chị chỉ còn biết có trâu, nghĩ rằng mất trâu thì cả nhà không sống được. Rồi mê man cuồng khấu, chị vừa kêu khóc vừa nắm đuôi trâu kéo lại. Dõng Nghệ cáu tiết đá chị một cái lăn xuống ruộng lầy bùn. Chị vùng ngay dậy, tóc xõa, khắp người lấm be bét vẫn gào khóc đuổi theo. Anh Xã lôi vợ lại. Chị tru tréo nói:


- Quân trời đánh thánh vật kia, mày cướp trâu của tao, mày chết băm chết sẻo.


Bọn lính Nghệ quay lại chửi líu lo và toan đánh. Bèo cuống cuồng kéo vợ trở về. Chị ngồi bệt xuống, kêu gào chửi rủa.Nghé vẫn lon ton theo mẹ. Tên lính vừa đi vừa đùa nghịch với con vật xinh xẻo ngộ nghĩnh. Chị ngồi thở mấy cái, lại đuổi theo đòi nghé, gào thảm thiết:


- Lấy trâu thì trả nghé lại cho người ta chứ! Lòng lim dạ sắt thế à.


Tên Dõng Nghệ cũng chọ chọe chửi, đẩy chị ngã lăn quay. Nhưng chị cứ tiến lên giữ nghé.


Tên lính hầm hầm, giơ khẩu súng Mỹ lên. Tiếng nổ xé trời. Chị ngã nhào xuống ruộng.Anh Bèo thét một tiếng, đứng chết lặng không nhúc nhíc. Đoàn người vẫn đi với đàn vật, nhốn nháo, chen chúc theo con đường nhỏ hẹp giữa tiếng nói cười của mấy thằng dõng gày gò, loắt choắt. Chị ngồi nhỏm dậy. Nhưng bên mình chị, con nghé vô tội nằm lòi gan ruột, mắt còn mở thao láo nhìn theo con mẹ đang bị xô đuổi quật đánh ở đằng xa. Bố con Bèo nhợt nhạt ngồi xúm quanh xác nghé. Chị ôm mặt khóc nấc lên.


Nghe tiếng kêu và thấy tiếng súng, người trong xóm đổ ra đầy bãi gốc đa.


Bà cụ xắn cao váy chạy, ngã hai ba cái, tru tréo vang cả cánh đồng. Bà chửi rủa, lăn ra đất, tưởng như khi xưa ông Xã về chầu tổ tiên bà cũng lăn khóc, sót sa đến thế thôi. Bà lăn bên xác nghé như lăn cạnh quan tài sắp thòng dây hạ huyệt đến nỗi người ta phải khuyên can, và bà Trương vốn khôn ngoan nhất làng lên tiếng:


- Thôi cụ ơi, cơ sự như thế, đành phải thế. Cóc kêu vỡ bụng, ông trời cũng chẳng mưa đâu. Bây giờ tôi tính thế này: anh em thằng Đanh khiêng nghé về mà thịt, bỏ phí của đi. Rồi bà con giải tán, kẻo xe đi tuần ngoài đường cái thấy xúm đen xúm đỏ, lia cho một tràng thì chết hết.


Người ta kéo ra về. Xã Bèo cởi áo đưa con cầm, vác nghé lên vai. Ruột và đám máu nghé chảy xuống lưng Bèo, thực là thê thảm.


Từ hôm bị người ta cướp mất trâu. Gia quyến Xã Bèo đâm ra ốm ngồi ốm đứng. Bà cụ bỏ cả ăn, đi các nhà các xóm, nguyền rủa, phàn nàn, oán trời, trách đất:


- Thà rằng cứ bỏ làng bỏ xóm, chả ai động chạm đến mình, miễn là mình không làm gì bậy bạ. Bây giờ thân trần khố trụi, giặc lấy mất trâu là nó giết cả nhà tôi, trời cao đất dầy ơi, tôi kêu vào đâu, tôi nói với ai được nữa, chém cha chúng nó.


Có người nghe bà than thở kêu gào thì đứng ngẩn ra nghe để nghĩ đến cảnh vợ con mình đã bị người ta hãm hiếp hay bắt mất hút.


Có người sợ hãi gạt đi:


- Thôi cụ ơi, ở đây tai vách mạch rừng.Lũ chó săn nó chỉ rình hở cơ là đớp. Nó lẻn đi báo, nó lôi đi thì chỉ khổ thân mà của mất cũng không sao lấy lại. Có sừng có sẹo ra cũng chịu, nữa là mình.


Nhưng bà cứ kêu gào than khóc. Bà không kêu than trong xóm nữa. Bà ra cánh đồng, đứng trên gò, trên bãi, trên cầu sông mà khóc rống lên, đến nỗi việc nhà Xã Bèo mất trâu chết nghé vang động cả vùng Nguyệt Đức, quan trọng hơn việc bố vợ Bèo bị “bố”.


Chị không đi đâu cả, ngày ngày ẵm thằng Chó ngồi ở nền đất sau nhà, trông ra cánh đồng bên kia sau lũy tre thưa rụng lá. Chị ời ợi ru con ngủ trên tay, im lặng để nước mắt tuôn rơi, lờ đờ nhìn xuống đất. Chị thấy trước mắt mình thấp thoáng bóng con trâu sừng cong vút, mình đen nháy, đã lẽo đẽo theo chủ lên tận rừng xanh cày đất đỏ để rồi ngã nước, ốm đau như chủ. Bây giờ lại lẽo đẽo về tắm sông, gậm cỏ đồng làng chưa được bao ngày, da thịt mới nở nang một tý đã táng thân vào bụng quỷ.


Hình ảnh con nghé bị lòi ruột, con trâu bị búa đập vỡ đầu gục xuống ở nơi kia mấy hôm nay ám ảnh chị, chắng khác gì hình ảnh người bố đẻ lúc này đây có lẽ đã như trâu nghé ấy, gục chết vì viên đạn hay chiếc roi gân bò ở một địa ngục nào rồi.Cắn chặt môi, mặt nhợt nhạt,và không khóc thành tiếng nữa, chị tê lịm trong cơn hờn oán chẳng cần than thở với ai.


Xã Bèo cùng lừ lừ, suốt ngày nằm vắt tay lên trán. Đêm chợp ngủ, anh nghiến răng ken két, hoặc thốt nhiên vùng dậy, hoặc đạp chân, thúc đầu vào vách, kêu rống lên như con chó bị đập, con lợn bị chọc tiết. Những lúc ấy, chị sợ hãi lay đầu cho chồng tỉnh. Tỉnh để rồi sờ mó cái điếu, rít sòng sọc một hơi, đoạn anh lùi lũi ra sân, lặng lẽ đến cái chuồng bỏ trống để nhớ đến con trâu vừa đêm nào nằm ghếch sừng nhai cỏ tươi rào rạo, con nghé còn rúc vào bụng mẹ, ngoan ngoãn như thằng Chó ở gian bên cũng đang nhay vú mẹ. Bàn tay xinh xắn quờ cả vào mặt bố.


Bây giờ chuống trâu bỏ trống, rộng thênh thang, và tiếng muỗi vo vo… Bèo đau quặn ruột, gục đầu cào cột chuồng trâu mà nấc âm thầm mấy tiếng. Khóc rồi Bèo lại lững thững đi ra bờ giậu, lắng nghe tiếng lá rụng rào rào. Con chim ri kêu sợ sệt trong cành tối. Bèo đoán là có chú rắn bắt chim đêm, và trạnh lòng nghĩ đến cảnh mình cũng chỉ là con chim sợ sệt, chui lẩn ấy. Mấy con đom đóm lập lòe ngoài nghĩa địa bên kia lũy. Gió bấc buốt thịt xương vun vút thổi ngoài trời đen đặc, nhắc Bèo nhớ đến mấy ngôi mồ tử sỹ trên ruộng lúa nhà mình.


Rùng rợn, Bèo liên tưởng đến viên đạn nổ sượt qua bụng vợ, làm lòi ruột con nghé. Mấy đêm liền, cứ chợp đi, anh lại choàng choáng sảng mê, anh nghĩ đến viên đạn nổ, nếu trúng vợ anh thì mật gan cũng lòi ra một đống y như ruột gan con vật vô tội đó. Và mỗi lần anh hốt hoảng, chị lại lôi tóc, giật chân, lay gọi thất thanh. Anh không dám kể lại cái ý nghĩ ghê gớm ấy với vợ con.


Bèo loanh quanh hết ra ngõ đứng, lại vào vườn đi quanh quẩn. Anh không gài then cổng nữa. Đã có lần bà cụ dậy sớm, thấy cửa mở toang thì giật bắn mình, mắng ai đi tối về không nhớ đóng. Anh cười một cách ghê rợn và liều lĩnh. Còn cái cóc khô gì nữa mà đóng cổng gài then!


- Cứ mở toang ra, cho nó vào cõng đi cho xong chuyện. Thằng nào cõng cũng bất cần. Cõng ra đường sắt cho tàu hỏa nó nghiền nát sọ ra, hay cõng sang sông để lại vào rừng, kiếm củi, bẻ măng, cũng thế mà thôi. Khổ lắm! Khổ lắm! Thằng nào cõng thì cứ làm ơn cõng đi cho chúng tao nhờ.


- Chém cha thằng này, dễ lâu dần điên chắc! Chỉ được cái dại mồm dại miệng! - Bà mẹ rầy la con một câu như thế, nhưng để mà thương con đến đứt gan xé ruột.


Bèo lừng lững ra rặng chuối. Tiếng súng nổ ran trong đêm vắng lặng ở bốt xa. Quen như mọi khi, hễ nghe tiếng súng, Bèo lại đứng ngẩn để lo buồn, hồi hộp:


- Thế này mãi, bao giờ mới xong cho! - Anh thở dài nói vậy, rùng mình nghĩ đến ngày mai mốt.


Súng nổ rền vang ở bốt Chẹm, ở cả ngoài đường xe lửa. Liên thanh lẫn moóc chê rung trời chuyển đất. Mắt Bèo mở to, hai bàn tay nắm chắc. Anh lẩm bẩm:


- Lại quân du kích nhà ta chôn mìn hay bóc đường sắt, bốt nó nghe động, bắn văng mạng ra hẳn thôi!


Bèo vụt nghĩ đến lời cụ Từ nói ban chiều: “Đêm nào động dữ thế là sớm mai bị bao vây. Người lẫn trâu, bò lại hàng sốc lôi nhau đi. Dào ôi, loạn âm loạn dương, người với vật chả đứa nào hơn đứa nào”. Bèo nhớ lại từ hôm mình về, mới chừng một tháng mà đã thấy hai lần súng nổ, người chết ở chợ Nôm, ba lần biểu tình diễn thuyết ở chợ Dâu Keo, còn cái nạn xé bạc, thu tiền, vỡ chợ thì phiên nào và chợ nào cũng có.


Súng vẫn cứ nổ đều. Tiếng moóc - chê xoáy nghiến vào màn đêm mịt mù sâu thẳm, vang âm dài sắc, tưởng như rơi vào đâu thì cửa nhà thành khói lửa, người vật ra tro bụi. Thốt nhiên, Bèo ngẩng vội lên, một tiếng réo dài như tiếng sáo vút ngang đầu. Còn nhớ lối tránh đạn ở hậu phương người ta dạy, Bèo nằm sấp bên bụi chuối. Rồi thì những tiếng reo tiếp theo, rất nhiều, rất nhiều. Cả làng nhốn nháo. Bèo bắt chước lối bò quân sự, anh rạch như con cá quẫy trên cạn. Vào đến sân, thấy mẹ và vợ con đã hoảng hốt lủi ra bờ ao, núp dưới hố sâu, anh khẽ dặn:


- Nằm cả xuống rãnh, chớ ngóc lên mà chết.


Một tiếng moóc chê kêu rất gần, có lẽ trúng giữa một xóm làng đâu đó. Trong làng có tiếng kêu. Bèo mê man sợ. Trước mặt có con dao vẫn dùng chẻ tre vót lạt, anh nắm chắc trong tay, bò ra ngõ. Đến bụi chuối ban nãy núp, Bèo ngồi bó gối, tim đập thình thịch, mắt mở to, ngước nhìn tứ phía. Bèo thu người cho bé lại, thảm hại như con cóc nhìn vòm trời. Súng nổ gần, nổ xa, liên tiếp, đàn đom đóm cứ nhởn nhơ chơi, gạch những nét biếc vào cái u minh dằng dặc, vô cùng tận của đất trời đang bị “bố”. Bèo thèm được như con đóm trên trời, như con sâu kiến dưới bụi cỏ, bờ tre - “Thế lại xong, làm người mà đến thế này thì chán lắm. Làm trâu bò người ta đạp, làm mèo chó người ta mổ, thà làm cái sâu cái bọ may ra mới tạm được yên chăng! Mẹ kiếp! ” - Ý nghĩ rất lý sự theo kiểu Lý Còng ấy đột nhiên khiến mắt Bèo trợn ngược lên, môi anh mím chặt, và răng lại nghiến vào nhau ken két như là lúc ngủ sảng mê; không, lúc này anh không ngủ, anh ngồi đây như con cóc nghiến răng kêu gọi ông trời, mở mắt nhìn lửa đỏ ở ngoài kia, lắng nghe đạn réo ngang đầu. Bèo trừng trừng nhìn mãi vào đêm tối, nhưng anh chẳng thấy gì thêm nữa vì đêm dầy đặc, và mắt anh đã phủ một màng nước mỏng, từng giọt, từng giọt rơi xuống má; bàn tay khô gầy run rẩy nắm chặt con dao, Bèo đứng phắt lên, hình ảnh thằng lính mũ nồi lệch, răng vàng, đá anh nhào xuống ruộng như đá một con chó ốm, hình Cai Cơ dọa nạt anh trên dọc đường Chẹm, hình ảnh của Cai Quý lần túi móc nắm giấy bạc rách của vợ anh, rồi thì bóng dáng con trâu vỡ sọ, con nghé lòi ruột, mấy thằng lính dõng… tất cả, tất cả hiện như bóng ma hình quỷ, chập chờn, xô động trước mắt Bèo, đỏ ngầu và bốc cháy.


- Này, mẹ kiếp! - Lưỡi dao cùn sứt trong bàn tay gân guốc và run bần bật, giơ cao, chém liền ba nhát. Cây chuối lớn vặn mình gục đổ, reo mạnh cành lá xuống rãnh bùn, làm mấy con cóc nhái kinh động kêu lên - Mẹ kiếp mày!


Lưỡi dao vung mạnh, làm đổ thêm hai ba cây chuối nữa.


Bèo nghe thân chuối đổ, tưởng chừng nghe xác giẫy dưới tay mình. Thêm nhát nữa, lưỡi dao tụt cán, cắm ngập vào ruột chuối. Bèo mệt, thở dốc, đứng lặng đi, nét mặt quằn quại khô rắn.


Tiếng súng đã ngớt, trả yên tĩnh cho đêm dài.


Bèo vẫn đúng trơ trơ bên mấy cây chuối đổ, hai bàn tay nắm chắc, môi mím chặt, mắt trân trân nhìn những ngọn tre ngả theo gió lạnh, cành lá rũ như tóc quỷ. Bất giác, Bèo lùi lại, miệng há ra. Bởi vì, những ngọn tre trong đêm tối cứ như những cái đầu xù tóc cúi xuống anh; những cành lá khẳng khiu cứ như những cánh tay ma buông xuống vồ Bèo, bóp cổ Bèo, xé thịt xương Bèo.


Bèo thốt rùng mình, ngồi thụp xuống, hai tay bưng mặt, nghẹn kêu trong cuống họng:


- Trời ơi là trời!


Mãi tới lúc gần sáng tỏ, Xã Bèo mới chợp mắt một tý. Sau khi chém chuối vào nằm, anh thao thức, trằn trọc mãi. Trong bóng tối của gian nhà trống trếnh lùa gió lạnh, Bèo nằm mở mắt, bóp mạnh hai bàn tay dính nhựa chuối, nghĩ vẩn vơ đến bàn tay người chiến sỹ dính máu nồng tanh tưởi.


Con chim lợn kêu ngang trời. Tiếng chim nhắc nhủ Bèo nghĩ đến cái chết ở gần anh, ở xa anh. Từ hôm về làng, Bèo nghĩ nhiều đến chết hơn là sống. Bởi vì tiếng moóc- chê cứ nổ suốt ngày đêm, tiếng xì xào của những đoàn trai tráng đi ngoài bờ lũy, rồi tiếng mìn phá rung mặt đất, cùng những lời đe dọa của Trương Dần ở trong làng, của mấy thằng lính dõng móc giấy bạc và chửi đồng bào ngoài chợ.


Bèo không còn tin gì ở ngày mai ngày mốt nữa. Mặt trời mọc lên, anh lại sợ. Sợ từ tiếng chó sủa thưa, cắn rộn đến tiếng trẻ con khóc, người kêu ở ngoài đồng, trong xóm. Lúc nào anh cũng vểnh tai chờ đợi những tiếng sì sồ, những gót giầy lộp cộp. Ở nhà, anh luôn luôn nhìn ra cổng. Làm ngoài đồng, anh nhìn trước trông sau, nhớn nhác như gà con phải cáo. Bèo mong cho tối, anh nghĩ rằng đêm tối dù sao cũng lành hơn, tiếng súng tuy nổ đinh tai, đạn có khi vèo qua mái rạ, nhưng mà đêm tối, loài ma xuất hiện thì loài quỷ không tung hoành nữa. Bèo chỉ còn trông vào giấc ngủ, chợp lúc nào là quên đời lúc ấy.Tiếng gà gáy sáng làm anh ngao ngán, thấy lòng náo nức nhớ những buổi sớm hậu phương: mẹ già mò mẫm dậy trước mọi người, vo gạo bờ giếng, vợ con anh dậy róm bếp nấu cơm, rồi thì kẻ vào nương cày cấy, kẻ đi trâu, đi củi, cuộc sống tuy vất vả nhưng họ luôn được sống yên ả giữa rừng cây sương bay man mác, anh đã bắt chước con anh, hát nghêo ngao những câu hát lạ, anh đã dám cười to, bước mạnh và ngẩng cao đầu nhìn cái tổ chim, tổ kiến để nghĩ lẩn mẩn rằng: “con chim có tổ, con kiến có tổ, mà đã có tổ thì tại sao không biết giữ như là con quạ, cái kiến, cái ong?


Xã Bèo đã nghĩ như vậy hồi ở trong rừng. Và bây giờ về đất cát quê hương, anh buồn nỗi cỏ hoang xới cầy không kịp theo nó mọc. Đã hơn một tháng nay, lưng vốn hết rồi mà trâu nghé thì toi mạng, đất vườn, đất ruộng vẫn chưa ra làm sao hết. Hơn một tháng, cả nhà anh ai cũng gày mòn. Anh chưa được cười một tiếng, và anh thương con anh: chúng chưa dám hé miệng hát một câu quen của chúng như những lúc ngồi lưng trâu lội suối vào rừng. Bây giờ chúng ngơ ngác, sợ sệt như bố mẹ, lúc nào cũng lắng tai nghe ngóng như đôi chuột nhắt lo mèo dữ.


Xã Bèo chỉ còn trông vào giấc ngủ để quên… Nhưng quen lệ, cứ vào khoảng gà gáy lần thứ hai, Bèo đã choáng choàng mở mắt. Sớm nay, anh vừa chợp đi một tý thì chị Xã đã đập khẽ vào chân anh, gọi:


- Bố nó! Bố nó này!


Bèo nhỏm dậy


- Cái gì thế hả?


Người vợ thều thào:


- Đêm qua bắn nhau tợn thế, chỉ lo bọn chúng vây làng từ mờ đất thì khổ. Dậy cho tỉnh táo, nhỡ ra còn chạy chứ!


Bèo dụi mắt lầu nhầu:


- Chạy à? Chạy đi đâu thoát! Càng chạy càng dễ chết. Súng nó bắn vô tội vạ.


Hai vợ chồng cùng im lặng, nhìn ra ngoài sân tối, tiếng lá rơi chạy siết trên đất lạnh sương đêm.


Một lát, anh nói:


- Bu nó này!


Chị đã quen tính chồng hay nói nhát gừng, nên cứ lắng nghe.


- Bu nó này, tôi thấy tình hình nguy ngập quá.


Anh ngừng lại, thổi mồi rơm đã gần tắt lụi. Chờ chồng hút xong điếu thuốc, chị vẫn lắng nghe. Anh yên lặng thở khói vào bóng tối, thấp giọng:


- Bu nó này, tôi muốn bàn một chuyện.


Rồi Bèo lại ngồi im. Chị Bèo bực mình hơi gắt:


- Chuyện gì, cứ nói dóng một mãi thôi. Sốt cả ruột gan.


Bèo ngập ngừng, đo đắn như sắp nói một việc gì quan trọng lắm, khiến chị đâm lo sợ. Chị giục:


- Chuyện gì cơ chứ? Thế có điên người lên không.


Bèo nhếch miệng trong bóng tối:


- Muốn nói cái này, nhưng mà thôi, tôi sợ bu nó không…


Chị đoán phỏng, giọng nhỏ đi:


- Lại sang sông à?


Bèo im lặng. Người vợ tưởng mình đoán trúng ý chồng thì thở dài:


- Ở cũng chết, sang lại càng nguy. Phải cân nhắc kỹ. Tôi thì tôi ngại lắm. Số sống ở đâu cũng sống, trăm sự nhờ ông trời cả.


Bèo nhếch mép, cười thảm hại:


- Nào tôi có ý ấy đâu. Sang gì được nữa mà sang. Hãy cứ liều ở lại một vài tháng, một vài năm xem sao đã. Tôi muốn bàn với bu câu này cơ mà.


Anh lại lặng im. Đến nỗi người đàn bà phải gắt đùa:


- Ông nói cái gì. Hay là bố nó muốn đưa dì hai về?


Chị cười khúc khích. Anh lấy làm ngạc nhiên, sao lúc này vợ anh lại tự nhiên có thể cười đùa một câu như vậy. Anh tưởng như cảnh vợ chồng sống lại ba năm trước, lúa đập sân trăng, trâu lợn đầy chuồng, vợ chồng ngồi trên thềm, bàn chuyện tát cá ao, quây thóc. Nhớ lại cảnh xưa để buồn cho cảnh giở sống giở chết hiện giờ, anh thở rộn rồi bật cái ý định nung nấu trong đầu anh ra theo câu nói vội:


- Tôi tính thế này, mấy sào ruộng đang cày dở, để mặc cho cỏ mọc phí công toi. Trâu mất thì ta thay trâu. Bu thằng Chó…


Anh ngừng lại. Tiếng anh bị lấp trong tiếng thằng Chó cựa mình thét rẫy. Chị vỗ đùi con, ru ời ợi. Nước mắt chảy theo câu hát: “Cái cò, cái vạc…”


- Bu nó…


Người vợ nghẹn ngào:


- Cũng đành phải vậy chứ làm sao!


Anh Bèo cúi xuống, sờ mò mồi thuốc rơi đâu mất.


Rồi im lặng, vợ chồng anh không nhúc nhích, câm nín, nhẫn nhục như hai cái bóng thoi thóp sống trong bóng đêm còn dày đặc trên miếng đất này.


Trời đã sáng. Gà hàng xóm gáy ran. Chị tự nhiên nghe trong người gấy sốt, y như cái bệnh miền Dĩnh Thép ngày nào. Chị bàng hoàng nghĩ khéo mà ngã nước thì đến chết toi.


Nhưng chị không dám nằm, sợ rồi bệnh nặng. Ốm thì làm, mồ hôi ra sẽ đỡ. Mùa rét mồ hôi không ra thì cũng cứ làm. Mỗi khi chị muốn nằm, bà mẹ chồng lại khuyên bằng một giọng không thương yêu gì lắm, rằng cứ làm cho mạch máu đưa đi. Và chị đã cứ làm, cứ làm, mười một năm nay như vậy, như con vật. Bây giờ con vật chết rồi, chị lại vâng lời chồng để không “như” nữa mà chính là thay kiếp vật hẳn hoi. Tuy nhiên, chị vẫn cho đó là một điều hổ thẹn nhục nhã. Chị nghĩ ở khắp vùng này, tự thượng cổ đến giờ, có ai phải làm trâu kéo bừa đâu. Thế mà chị phải kéo bừa!


- Đi chứ bu mày.


Chị nập ngừng:


- Đi… thì đi.


Chợt nhìn ra lũy tre, chị thấp giọng:


- Tôi không đi đường làng đâu. Không thấy trâu mà lại thấy vác bừa, người ta hỏi lôi thôi phiền lắm. Đi lối tắt, gần ngay ruộng, lại không nhiễu chuyện.


Chị ra bờ giậu, ngồi thụp xuống, luồn mình qua chỗ chó chui, ra ngoài đồng. Gai tre móc cả một mảng tóc, khiến da đầu chảy máu, chị kêu như con nhái bị rắn nuốt ở bụi tre. Bèo xót sa gỡ tóc cho vợ, chép miệng một cái rồi đưa chiếc bừa ra trước, mình chui ra sau. Con chó nhà ai đang chạy hoang bờ ruộng, tưởng trộm ngày, xồ đến sủa. Bèo nhặt hòn đất ném, chửi một câu:


- Bố cha cái kiếp người! Đã đến lúc cùng, chó cũng khinh rẻ nốt.


Chị vừa đi vừa giơ tay lên đầu quệt máu. Bèo đau quặn ruột, nghẹn trong cuống họng:


- Bu nó đứng lại xem nào!


Anh khẽ đặt ngón tay vào chỗ máu quệt bết vào mớ tóc, chau mày lại:


- Khổ sở chưa! Đường quang chẳng đi, đâm quàng lỗ giậu. Bảo thì chẳng chịu nghe.


Chị chua sót:


- Thì ông hãy tự trách ông đi đã. Ai bảo ông bỏ đường quang mà đâm quàng vào cái chết. Ừ, ai xui ông nào! Tôi dại, tôi đau, nhưng rồi cũng khỏi. Chứ mà ông dại, ông đau thì còn là đau, còn là dại đến chết.


Chị xưa nay ít nói, nhưng đã nói thì sâu sắc, chết cây, gãy cành. Bèo cúi đầu ngẫm nghĩ, chặc lưỡi:


- Ừ, con mẹ nó nói thế mà phải. Tại mình! Tại mình, trăm sự tại mình. Ngu hơn chó, chẳng trách nào chó nó rẻ khinh. Oán đếch gì kia chứ!


Bèo đưa ngón tay lên môi gãi, máu đầu vợ anh dính ngón tay thấm vào nước bọt, anh để máu trôi theo cuống họng, anh thấy chất mặn nồng, máu của vợ anh, người đàn bà đã cùng anh lầm than đói rách nhiều hơn là được no lành, bây giờ loạn lạc làm cho già xấu đi trông thấy, tình nghĩa vợ chồng bất giác gợi trong lòng Bèo bao nhiêu thương sót. Đến ruộng nhà, hai vợ chồng đứng lại. Bèo loay hoay sửa trão bừa. Người vợ thì xấu hổ nhìn tứ phía xem có ai không. Cánh đồng vắng tanh. Đằng xa, một vài người làm cỏ, lom khom trên ruộng lúa. Phần thương vợ, phần hổ thẹn, anh cứ loay hoay mãi, sau cùng, anh ngồi xuống bờ ruộng, mân mê cái điếu cầy.


- Tiên sư đời, có ngờ đâu lại cơ cực đến thế này, có ngờ đâu…


Chị vặn ống quần lên đến bẹn, ngao ngán giục chồng:


- Nào sửa soạn xong chưa?


- Xong rồi, xuống ruộng đi, ta mắc giây vào vai nào.


Chị bước xuống ruộng sâu.


Anh chồng quàng trão vào vai vợ, không quên lót lá mo cau cho trão đỡ cứa vào xương vai, anh quặn lòng nghĩ đến những lúc quàng trão vào vai trâu để rồi “đi” một tiếng, con trâu ngoan ngoãn cắm đầu đi ngay, người vợ cũng ngoan ngoãn như con trâu, loạng choạng bước lên những mô đất ướt, đất vỡ xé trong răng bừa sắc, rạch thành luống thẳng.


Người đàn bà vẫn lao đao bước, vai gò, cổ ngẳng, mình gầy đưa về đằng trước, chân lẩy bẩy bì bõm dẫm, bùn bắn lên tận mặt.


- Bu nó!


Người chồng thốt lên câu ấy thay tiếng nói với trâu: “vắt, đi nào!”


- … Bu nó, mệt lắm không?


Bèo đẩy bừa, nặng nhọc theo sau con trâu-người khốn khổ. Anh hỏi luôn miệng, nhưng con trâu-người không đáp, cứ gò vai gầy, vươn cổ ngẳng, nhoài thân ốm về phía trước mà cố cất chân, cố cất chân, bì bõm bước. Người chồng lõm bõm theo bừa, theo vợ, nghe tiếng đất vỡ tách rơi nhuyễn dưới răng bừa mà tưởng chừng ruột gan mình cũng rách vỡ và tơi tả như… đất ấy.


- Bu thằng Chó! Mệt thì nghỉ tý.


Người vợ vẫn cắm cúi làm việc trâu, không hé răng nói một câu, từ lúc sợi trão nghiến qua lần mo vào xương vai đau nhức. Chị cúi xuống, cúi gập mình và gục mãi cái đầu nóng bừng, chĩu nặng vì mệt nhọc và sốt rét. Chị cắn chặt môi, mắt mờ nước mắt. “Trời ơi là trời! ” - Chị kêu trong cổ, chị khóc trong lòng, bởi vì chị vừa thoáng thấy bóng dáng con trâu sừng cong, da mun nhánh, giẫy chết trong luống đất ngập nước gạch cua mà chị ai oán nghĩ rằng đó là ruộng máu và nước mắt.


- Bu nó, nghỉ tý!


- Cứ làm đi! - Câu nói bật ra khỏi cuống họng nghẹn tắc, chị kéo răng bừa sang luống khác, thẳng đến nỗi không phải cắm vè đánh dấu, khéo hơn trâu.


Ngay lúc ấy, một hồi còi xe lửa rít vang. Dọc đường sắt đằng xa, đoàn toa xám xịt ầm ầm chạy rung mặt đất. Vợ chồng họ không ngoảnh lại nhưng cũng biết rằng trên đó có rất nhiều súng đạn. Đoàn tàu vừa đi khỏi thì ngang trời bốn năm chiếc phi cơ từ phương bắc bay về. Chị nhắm nghiền mắt lại, nghĩ đến những ruộng máu, còn biết bao nhiêu ruộng máu ở xa xôi, trong đó có lẽ người bố vô tội của chị vừa giãy chết như con trâu, như con nghé bữa nào.


- Trời ơi là trời!


Người đàn bà hoa mắt, gò vai, vươn cổ, co bước. Nước mắt, từng giọt lăn trên đôi má hóp bừng bừng sốt, rỏ thánh thót rơi xuống luống bừa.


Xã Bèo nặng nhọc theo bừa, theo vợ, răng nghiến chặt, mắt mở to. Bèo không khóc, bởi không còn nước mắt. Anh ngẩng nhìn vạch mây đỏ chói dựng thẳng tắp ở chân trời như bức thành trì vô tận, tóc anh nhuộm nắng tươi vừa hẩng sáng trên cánh đồng không.


Mắt anh ánh lên một lát. Chân trời lại tối xầm. Gió rào rào thổi từng cơn, quất ngang mặt vợ chồng Bèo. Đầu vẫn ngẩng cao, anh thốt kêu thảm thiết:


- Mẹ kiếp! Mẹ kiếp! Đời người mà đến thế này ư!


Anh rúc mạnh răng thép vào lòng đất.


Một cánh chim từ bụi cây xa nào vụt qua bãi tha ma gần đấy, đậu lên cành tre lả ngọn cất tiếng kêu thảm: “Bắt cô trói cột! Bắt cô trói cột!”


Xã Bèo nhìn lên bụi tre gai vặn mình rít trong gió mạnh. Anh thốt rùng mình, nghiến chặt răng và lại rúc mạnh răng bừa vào lòng đất.


 




Đêm nay, tôi viết xong chuyện Đất.


Đặt bút xuống, tôi thấy lòng bâng khuâng, uất nghẹn, không thanh thoát như khi viết xong Quán gió. Mùa rét năm vừa qua, bước chân về đất Tề, thấy cần phải ký thác ngay một chút ưu tư, một chút suy nghĩ nơi đất đỏ cho giấy trắng, không thì… chết mất!


Xã Bèo, cái con người sống an phận, cam đành như một con gà bới sâu nhặt bọ bờ tre vườn vắng này, ít lâu nay chới với trong tâm tưởng tôi, như một cánh bèo khô trôi trên giòng phù sa nổi bão. Ngày đêm tôi nghĩ đến Xã Bèo. Và tôi đã viết ra, kể lại cuộc sống không có gì là phi thường cả, của con người quê kệch ấy.


Những biến chuyển của Bèo trên mảnh đất làng Nguyệt Đức, thật vậy, sẽ không có gì đáng kể đâu, một khi anh đã nhẩy từ chỗ đôi vợ chồng nai lưng đi làm thuê gánh mướn để đến cái ngày dựng được năm gian nhà trên nền đất tổ, mua được trâu, tậu được vài ba mẫu ruộng, rồi đó, anh xúng sính chiếc áo the thâm, ra ngồi dựa cột đình với cái lễ anh nhiêu xã, gọi là bằng người ta một tí.


Thế rồi thì cách mạng.


Anh nhà quê ngơ ngác trước giông bão của cuộc đời, như gã A.Q. của Lỗ Tấn ngơ ngác trước cuộc cách mệnh gớm ghê lật đổ Đế chế Mãn Thanh.


Bèo sợ sệt, giẫy giụa một cách yếu ớt như con vật trôi trên mặt đê vỡ lụt. Sợ hãi, phục tùng vốn là cố tật của người dân quê, suốt một đời họ khom mình xuống, cúi sát đầu xuống như con giun dế lẩn vào chân cỏ rậm. Bèo mở to mắt, há to mồm, nhìn tất cả cơ nghiệp, mồ hôi nước mắt của mình băng băng cuốn theo con sóng phù sa dồn dập vỗ.


Quả vậy, Xã Bèo thoạt đầu đã giẫy như con lợn nghẹt cổ và vướng lạt, nhưng rồi cuộc sống đày gai lửa và ngút cháy kia đã khiến anh bừng tỉnh giấc như tất cả mọi người, để nhận rằng giòng thác lũ hùng mạnh đó cần phải có, để cuốn rửa, để gạn lọc, để xây dựng một cái gì.


Sự nhận định, hiểu biết của Bèo bàng bạc mong manh như sương khói phủ đồng hoang. Anh chỉ có thể hiểu rằng một sự thay đổi cần phải có. Thế thôi, người dân quê ấy không cần biết gì hơn.


Anh tản cư, và anh xin đất cầy bừa, bởi vì suốt cả một đời, anh chỉ nghĩ rằng đất là xương là thịt. Phải có đất! Phải có đất! Xã Bèo bám chặt vào đất, cho dẫu là đất của thiên hạ. Con người, con trâu vật nhau với đất tha phương, rút cục không nên cơm cháo.


Anh Bèo lại trở về làng cũ, vật nhau với đất quê hương mà bao năm nay hai vợ chồng đã rỏ mồ hôi xuống. Người dân cày của tôi, trong cơn khói lửa mù trời, chỉ còn trông thấy đất. Anh cam chịu sống trong kìm cặp, chỉ vì yêu đất. Thế rồi, con trâu chết chưa kịp no cỏ nội, con nghé chết đang khi rúc bầu sữa mẹ. Con trâu đã chết, thế là hết ý nghĩa cuộc đời anh.


Anh dân quê nghiến răng nhai nuốt nỗi căm hờn. Người vợ thay trâu, rỏ nước mắt vào lòng đất. Người chồng ngửa mặt nhìn trời, để kêu trời một tiếng. Nhưng trời cao xa lắm, đất thì dằng dặc những tội lỗi, những bất công, những oán thù. Anh Bèo của tôi không kêu nữa, bởi vì đã có tiếng một loài chim kêu cái tiếng kêu gớm ghiếc kia. “Bắt cô trói cột!”. Tiếng loài chim này ám ảnh, vang vọng bên tai tôi khi bỏ bút. Tôi có cảm tưởng nó kêu ở gần tôi, ở xa tôi, trên những mảnh đất rơi rắc máu và nước mắt.


Và tôi cũng nghĩ rằng vợ chồng anh bạn Xã Bèo của tôi vẫn bừa chưa xong mảnh ruộng nước gạch cua ngầu như máu loãng, giữa lúc tôi vừa cày xới xong những luống chữ bỏng cháy này.


NGỌC GIAO
Ô Quan Chưởng, Hà Nội.
Mùa đông loạn 1949.


Nguồn: Đất. Tiểu thuyết của Ngọc Giao. NXB. Cây Thông,1950. Bản này đã được tác giả chỉnh lý năm 1991.



www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 19.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »