tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28888079
Tiểu thuyết
27.08.2012
Lê Văn Thảo
Cơn giông

Có một bài hát cổ xưa nói về thời mở đất xa xôi, đôi trai gái không biết từ đâu đến dừng lại ở một đầm nước. Người con trai lặn móc đất người con gái ngồi khóc, đất nổi lên thành gò tan ra dưới những giọt nước mắt.


Trong ký ức xa xôi hình ảnh chiếc ghe chiếc đầm trong bài hát đọng lại mãi trong tâm trí Bằng. Chiếc ghe mục nát vá víu, mui cà rèm lủng lỗ chỗ, người cha chèo lái người mẹ chèo mũi, đứa nhỏ bò tới lui trong khoang ghe, hai bên bờ rừng đước ken dày. Đêm tối. Đứa nhỏ nằm ngủ trong khoang ghe mơ thấy những bông sen bông súng nở đầy khắp mặt đầm. Tỉnh dậy thấy đang ở trên một nhà, cha mẹ ngồi xếp bằng kính cẩn trước một bà già.


“Chúng con muốn tìm đất ở, nhưng không thấy đâu cả”, người cha nói.


“Chúng con muốn có đất, có căn nhà, đứa con gần biết đi rồi”, người mẹ nói thêm.


“Không có đất, lặn móc đất đắp thành gò, từ ngàn xưa ông bà mình đã làm như vậy”, bà già nói.


Cha mẹ và bà già tiếp tục rì rầm. Đứa nhỏ tha thẩn bò tới lui, chơi với con cuốn chiếu trên sàn nhà. Đèn dầu leo lét. Bà già nói lầm rầm như cầu kinh. Đứa nhỏ ngủ thiếp đi với con cuốn chiếu trong tay.


Trời sáng ra đứa nhỏ thức dậy thấy ghe đang ở giữa đầm, trời nước lung linh sáng rỡ...


“Ở đây thôi”, người cha nói. “Lặn móc đất đắp làm nền nhà đi”.


“Ừ móc đất đắp làm nền nhà đi”, người mẹ nói. “Cho con tôi có chỗ tập đi”.


Cha cắm sào neo ghe bắt đầu lặn móc đất. Mẹ cũng lặn móc đất tiếp cha. Đứa nhỏ bò tới lui trong khoang ghe, vọc tay xuống nước vớt lục bình, giũ rễ bắt những con cua nhỏ xíu. Đầm nước lung linh sáng rỡ, nước là nước, không thấy đất đâu cả, một gò đất nhỏ cũng không. Mẹ cất tiếng hát, tiếng lan đi trên mặt nước. Trời trưa dần, mẹ thôi không hát nữa, miệt mài cùng lặn với cha. Trời đang nắng chang chang bỗng đổ cơn mưa dầm, ghe có chiếc mui cà-rèm, đứa nhỏ bò tới lui trên tấm sạp tre, cha mẹ dầm mình trong mưa.


Ngày này qua ngày khác...


Có cái gì đó nổi lấp ló trên mặt nước. Đứa nhỏ ngó theo con chuồn chuồn bay đảo liệng, bỗng thấy nó sà xuống đậu lên một chóp nhọn. A, cái gò đất! Đã có đất nổi lên rồi, chỉ là một chóp nhọn nhỏ xíu.


Đứa nhỏ tiếp tục chơi với con cua, con còng, nhìn theo con chuồn chuồn, từng chập nhìn ra những thỏi đất nằm chồng chất lên nhau, đen nhánh dưới ánh nắng...


Hết nắng lại mưa, ngày qua ngày. Gò đất lớn dần, nhô cao thêm, đêm ngủ nằm giữa cha mẹ nồng nực mùi bùn, đứa nhỏ mơ thấy cái gò đất nổi lều bều, trời chưa sáng thức dậy coi cái gò đất “của con” lớn chừng nào rồi.


Đứa nhỏ mong có được cái gò đất biết chừng nào! Nó đã đến tuổi biết đi không có đất để đi, bò tới lui tha thẩn trong khoang ghe. Một khoảnh đất là điều mơ ước của nó. Suốt ngày nó nhìn ngắm cái gò đất, chiếc ghe lắc lư cái gò đất cũng lắc lư theo.


Cha mẹ vẫn ngày ngày lặn móc đất. Ghe có chiếc cà-ràng, chiếc nồi đất, nấu nướng ở đó, đất móc lên có con cua, con tép, củ co, củ ấu bỏ vào đó, hái được đọt trai đọt ráng nấu luộc ở đó, bữa ăn vội vã, cơm canh có mùi bùn, vị chua của phèn vị mặn của nước biển. Ngày qua ngày không có tiếng nói nào cất lên, đứa nhỏ bò tới lui tha thẩn chơi với con cua con bọ nước, nhìn theo con chim có những ngón chân dài đi sải trên những chiếc lá sen. Gò đất lớn bằng chiếc nia, rồi bằng tấm đệm, những thỏi đất tiếp tục nằm chồng chất đen nhánh dưới ánh nắng. Một buổi sáng đứa nhỏ được cha mẹ bồng lên cho đứng giẫm chân trên đất, giang hai tay ngỡ ngàng run rẩy, có cảm giác đất vẫn lắc lư dưới chân mình.


Cái gò đất đã thành nền nhà, cha mẹ bắt đầu dầm đất, đứa nhỏ đi lẫm chẫm tìm bắt con cua, con bọ nước, nhìn thấy một mầm cây nhỏ xíu chen kẻ đất mọc lên.


“Cây mọc lên rồi”, người cha nói.


“Ba má sẽ cất nhà trồng cây cho con”, người mẹ nói.


Đứa nhỏ nôn nao, đêm nằm mơ thấy căn nhà vườn cây những chùm trái sai oằn, sà sát mặt đất.


Ngày tháng trôi qua, cái gò đất vẫn nằm đơn côi kỳ lạ, giữa bốn bên bập bềnh sóng nước.


Có chiếc ghe đi ngang, người đàn ông chèo phía sau nhìn cái gò đất nói vọng sang:


“A, móc đất đắp nền nhà hả? Hay lắm, tụi này bắt chước coi!”.


“Làm đi!”, người cha nói.


“Ừ ở đây cho vui”, người mẹ nói.


Chiếc ghe cắm sào đậu lại, hai vợ chồng nhào xuống lặn móc đất, trong khoang ghe cũng có đứa nhỏ bò tới lui tha thẩn.


Chẳng mấy chốc có thêm cái gò đất nổi lên lều bều trên sóng nước.


Vậy là được hai cái gò đất!


“ Rồi thành làng xóm thôi”, người cha nói.


“ Có xóm làng, có trường học, mẹ sẽ cho con đi học”, người mẹ nói.


…Vậy rồi đứa nhỏ có nhà không? Căn nhà thế nào? Không thể nhớ được, tất cả chìm phủ trong màn sương kỷ niệm xa lắc...


Đứa nhỏ mơ tiếp qua cơn giông…


***


Cơn giông nổi lên, trời đất đảo lộn, cả không gian gầm rú điên cuồng, chiếc ghe bị nhấc bổng lên, quăng đi tứ tung, bị cuốn đi đến tận cùng trời đất. Cha mẹ không còn đâu nữa, đứa nhỏ nằm chết lịm trong khoang ghe. Không biết đã bao lâu trôi qua, chuyện gì đã xảy ra, cho đến lúc yên bình trở lại, chiếc ghe trôi lềnh bềnh tấp vào một bụi đước, nghe tiếng lao xao của những người cứu vớt, khuôn mặt nhọn của một người đàn ông kề sát, thằng nhỏ sống rồi sống rồi, hung thần giông bão không màng tới nó, giờ mày là con tao, tao bán chiếc ghe nuôi mày…


Bắt đầu một cuộc đời khác, kiếp sống khác, lang thang trôi nổi, không biết do cơn giông của trời đất hay giông bão của cuộc đời...


***


Bằng nổ máy lớn chạy về sông Ông Trang. Trời u ám mây đen sà thấp, từng chập bị gió đánh tơi tả, tan ra mất hút ở chân trời. Những đám mây khác tiếp tục đùn lên, bay vun vút như đuổi theo chiếc ghe. Bằng lái ghe chạy hối hả, hình ảnh về một chiếc đầm nước trong ký ức xa xôi choán chật cả tâm trí. Có cảm giác anh đang trở về chuyến đi ngày xưa, lao về cơn giông đang đón chờ phía trước.


Căn nhà đây rồi, chiếc cầu nước quen thuộc, ghe giảm máy nhẹ nhàng ghé vào. Trời tối nhà đã lên đèn. Hai đứa sinh đôi nghe tiếng máy quen đứng chờ sẵn ở bến, đánh đu hai bên Bằng đi lên.


Ba má đi công việc. Con chó đi chơi. Hai đứa ở nhà đón ghe gởi hàng. Bằng nói anh ghé qua thăm nhà chút thôi.


“Tụi cháu nấu cơm nghen?”.


“Nấu đi”, Bằng nạt. “Tụi bây tiếp khách kiểu gì vậy?”.


“Chú không phải là khách. Chú ăn cơm rồi đi đâu?”


“Không phải chuyện của tụi bây. Cũng không được nói một lượt hai đứa. Kêu con chó về được không?”.


“Nó đi chơi gần về rồi”, hai đứa nhỏ nói. “Ông Sáu Thiên nói chú ở tù rục xương, ba má ráng đi chở khách, đón ghe gởi hàng, cất vó bán cá lấy tiền chuộc chú ra”.


“Khỏi chuộc. Tao ở tù không cực gì đâu, trồng rừng làm giàn trồng rau giỏi hơn hai thằng làm biếng tụi bây”.


Nhà có người trông khác hẳn, vui tươi nồng ấm. Bếp đỏ lửa, quần áo giăng phơi. Bằng đi quanh quẩn nhìn ngắm như người khách lạ. Cơm chín, anh ngồi ăn. Hai đứa sinh đôi ngồi hai bên. Giữa bữa cha mẹ chúng về tới e dè đứng lại bên ngoài, con chó chạy xộc vào mừng rỡ cuống quít.


“Vô đi, vô đi. Tôi cho căn nhà rồi mà, ghé thăm hai thằng nhỏ chút thôi”, Bằng nói. “Cũng còn nhớ hả?”, anh nói tiếp với con chó.


“Chú bắt con chó không?”, một đứa nhỏ hỏi.


“Bắt”, Bằng nói. “Tao cho căn nhà không cho con chó, tao đã mua rồi đúng không? Tao bận công việc gởi thêm ít nữa, có đứa con gái mù phải kiếm tiền nuôi nó”.


“Con chú hả?”.


“Cũng gần như con. Ba nó chết tao phải nuôi, tụi bây sáng mắt không hiểu cảnh mù lòa khổ cực như thế nào đâu. Con nhỏ trạc tụi bây, bị kiến cắn mù từ hồi mới đẻ, suốt ngày ngồi một chỗ bên bờ sông nghe tiếng nước chảy. Tụi bây đừng hỏi tao kiếm tiền đâu, bằng cách nào, moi ruột ai là chuyện của tao. Hai đứa bây cất vó giăng câu giúp ba má, lớn tồng ngồng không học hành tao rầu lắm. Chơi với con chó cũng chừng mực, rảnh rỗi làm lại mấy giàn rau. Lâu lâu nhớ vô thăm cứ cũ, tập con chó săn bắt, không có kiểu rong chơi hoài như vậy”.


Cha mẹ hai đứa sinh đôi vẫn chưa hết e dè, Bằng thấy cần phải nói vài lời:


“Tôi cho căn nhà, cây rừng, đất rừng đâu phải của tôi. Cho luôn chiếc vó. Giữ con chó giùm tôi. Nhắc hai đứa nhỏ trồng lại mấy giàn rau. Tôi xuống ghe ngủ một chút, khuya đi luôn. Nhà có gạo, cá mắm cho tôi một ít, thêm ít củi khô. Tiền gởi hàng cứ giữ xài, tìm thầy dạy chữ cho hai đứa nhỏ, sau này có khi tôi còn nhờ vả”.


Bằng xuống ghe, con chó đi theo một đoạn rồi dừng lại, cụp đuôi chạy trở lên. Chiếc ghe vẫn lắc lư nhẹ nhàng, nước vẫn chảy gầm gào dưới đáy sông. Bằng vào mùng ngủ ngay, mơ tiếp giấc mơ về cái gò đất, căn nhà, đứa nhỏ chạy nhảy săm soi những chiếc mầm cây nhỏ xíu, cha mẹ dầm đất, bài hát nói về con quỉ dữ nổi sóng lớn, nước biển tràn vào ngập lút những chang đước.


Giữa khuya Bằng thức dậy nhẹ tay tháo xích, chèo ra xa một khoảng nổ máy chạy đi.


Chiếc ghe chạy âm thầm trong cảnh tối tăm buồn bã. Bằng cũng thấy lòng nặng trĩu. Nhưng sáng ra sông nước rạng lên, xuồng ghe tấp nập, anh thấy vui dần. Một chiếc ghe chạy ngược chiều ngoắc tay la ơi ới, Bằng quành lại cặp sát vào. Có thư ông Sáu Thiên, kèm theo thư đứa con gái trên thành phố.


Bằng đọc thư Thủy Tiên trước:


Con gởi thư cho ba theo địa chỉ công an xã, má nói đó là chỗ ba đến liên hệ chuyện tù rạc. Má đòi bán nhà đưa con đi học nước ngoài. Con nói má không nghe ba bảo gì sao, con không có ba rồi, không có má con sống với ai ở xứ nào lạnh ngắt bên đó. Con vẫn học dở ba à, không biết tại sao, má nói tại đầu óc con cứ tơ tưởng. Con tơ tưởng chuyện gì?Ông ngoại đi tu rồi, đúng ra chỉ lên núi vô ở chùa không phải cạo đầu đọc kinh. Má nói số nhà má mọi người đều phải ra đi. Con đã mười lăm tuổi, hôm sinh nhựt má làm tiệc thật lớn ở nhà hàng, bạn con chỉ có mấy đứa, bạn má đông, ồn ào, ăn bận đủ kiểu. Má nói tao không có chồng mày cho tao vui một chút. Má muốn vui nhưng uống rượu rồi má khóc, trách bạn má không đến chơi với má, trách con không thương má bằng ba. Ba đi rồi má cho mướn nhà về ở với ngoại, ngoại lại đi, rốt rồi cũng chỉ có hai mẹ con với nhau. Nhà rộng mênh mông con sợ ma quá chừng. Và rồi con gặp ma thật ba à. Một con ma trắng toát, tối má đi chơi con đóng kín cửa ngủ không hiểu sao nó vẫn vào được, nó kêu con dậy nói chuyện, hỏi con sao ngủ một mình không sợ ma sao, con sợ quá kêu má tìm người cùng ở, má nói tao bị chồng bỏ, mày chưa đến tuổi lấy chồng, còn ai vào đây nữa?


Về sông Ông Trang không gặp ba con buồn quá. Nhà vắng tanh, con chó không thấy đâu, má đón ghe hỏi thăm, người ta nói thấy ghe không thấy ba, con đi vòng quanh nhà coi chiếc vó hàng lu nước, trở vào nhà nằm ngủ một chút, mong thức dậy thấy có ba trong nhà. Nhưng con ngủ quên, má kêu con dậy rầy con, nói đi thăm ba làm chi, ba đâu còn nhớ hai má con mình nữa. Rồi lôi chuyện từ đời thuở nào, chuyện ba lên thành phố ba bị tù, con buồn ngủ quá nhắm mắt má vẫn nói, rồi kêu con ra về, nói mai mốt con đi thăm ba một mình má không đi nữa.


Con gởi ba tấm hình ba bồng con hồi con bảy tuổi, chụp ở sở thú, con muốn gởi ba chiếc vòng ngọc thạch ông ngoại cho con làm của hồi môn, má nói khoan đã, ba có nhiều tiền mau vô tù thôi. Dạo này má đi suốt ngày, chơi với các cô dì cũng không chồng như má, uống rượu nhảy đầm. Ông ngoại nói má hư rồi, đời con không biết sẽ ra sao. Con buồn quá, nhiều đêm ở một mình nhà rộng mênh mông, nghĩ bụng thà có con ma vào nói chuyện còn hơn. Con ở xa ba nhưng con mong được ba lo cho con, nghe nói ba có đứa con gái nuôi nào đó, con không hiểu sao ba lo cho hai đứa con ở hai nơi xa nhau như vậy được?


... Hè tới ba đừng đi đâu con sẽ xuống thăm ba, một mình con cũng đi...


Thư ông Sáu Thiên chỉ là một thông báo vắn tắt:


Tao thấy mày chạy chiếc ghe. Vậy là xong, coi như tao không còn dính líu gì tới mày nữa. Ơn đền oán trả! Tao ghé công an xã thấy có thư con gái mày trên thành phố, lấy gởi cho mày. Chắc nó viết chê trách mày phải không? Để mày biết thế nào là một người cha không xứng đáng. Có người cựu binh Mỹ lần trước mướn ghe mình đi thăm lại chiến trường xưa, vừa rồi lại sang hỏi mướn ghe, tao nói ghe đang bận, chủ ghe phải lo chạy chữa đứa con gái mù. Thế là ông ta bộc bạch nỗi niềm, nói ngày xưa ông ta là lính rải chất độc xuống vùng rừng này, chuyện mù mắt có thể từ đó mà ra, ông ta xin nhận lo phí tổn mổ mắt cho con nhỏ. Chuyện là như vậy, mày tính coi thế nào, chuyện con mày không phải con tao...


“Xin lỗi, con tôi để tôi lo!”, Bằng nói lớn lên, nổ máy ghe chạy tiếp.


***


Ông già trăm tuổi là nơi thứ hai anh phải đến. Trời vẫn u ám, thốt nhiên một cơn gió thổi tới chiếc ghe chao đi. Bằng lái tấp vào đậu nghỉ một lúc, lòng phân vân về cơn gió lạ. Rồi anh chạy tiếp, trời vẫn không hé nắng. Trời sụp tối anh lái ghe băng qua sông Cái Lớn, trong ánh sao lòng thấy nôn nao, có gì đó đang trỗi dậy, như xưa kia anh đã nhiều lần qua đây. Nhà ông già đây rồi, ông vẫn ngồi giữa sàn không một chút xê dịch, lặng thinh, cơn gió lạ vẫn còn vần vũ, mây sà thấp đè nặng lên mặt nước.


“Ông ơi, con về thăm ông đây”, Bằng ngồi xuống cạnh bên nói. “Ông ăn uống được không? Có chuyện gì kể cho con nghe không?”.


“Chuyện gì?”.


“Trận bão năm nào nước biển tràn hết vào đây, con trôi giạt từ đó, ông nhớ ra chưa?”.


“Có một trận bão năm nào rừng ngập lút cả”, ông già kể, như tiếng vọng thầm thì. “Ông chôn đứa con trai ngoài biển trở về, nhiều đứa khác đến với ông, những đứa trẻ nằm ngửa trần truồng khóc oe oe trên xuồng trên ghe, trên những chiếc bè tre bè chuối từ khắp các nơi trôi giạt về. Cha mẹ chúng đã liều thân giành mạng sống cho chúng, ông không thể không cưu mang. Ông đem hết lên nhà, đón xuồng ghe qua lại xin tiền, xin gạo, ai có gì cho nấy, quần áo, thuốc men. Những đứa trẻ còn ẵm ngửa lớn lên ra đi tứ tán, đứa này đứa kia thay nhau về thăm ông, nhà không khi nào vắng tiếng cười nói, rộn ràng từ trong ra ngoài...”.


“Con biết rồi. Họ là bộ đội, trai gái vùng này đều là con cái của ông...”.


“Trời mưa trên mưa xuống, con cái lớn lên đâu phải để sống với người già, biển rộng trước mặt kìa các con đi đi... ”.


“Thân con không ra làm sao, chưa xong chuyện trên thành phố về đây bị tù nữa, sắp ra tù có thằng bạn tù bị đâm chết giao nuôi đứa con gái mù, cần có tiền mổ mắt, chắc con phải đâm người khác lấy tiền mổ mắt cho nó. Thôi con đi đây. Tội thân ông quá, con đi không đành”.


“Biển rộng đang ở trước mặt, con đi đi...”.


Trong bếp chỉ có xâu khô trơ xương, đám kiến đã ăn trước ông rồi. Khạp gạo cũng có mùi mốc. Bằng xuống ghe nấu cơm bưng lên ông già vẫn ngồi yên, anh cũng không động tới. Trời sáng dần. Sau nhà có khóm đước cao. Bọn đốn cây trộm sợ vía ông già không dám léo hánh tới. Bằng đi ra tìm chiếc chòi gác, tuy biết rằng không còn đâu nữa. Rồi thấy nhớ nhung vu vơ anh lội sâu vào trong rừng, phút chốc tiếng âm vang sóng vỗ cửa sông không còn nữa, cả khu rừng tĩnh lặng, vẻ đơn điệu của những chang đước khiến anh ngẩn ngơ lội đi mãi...


Bằng trở về ông già vẫn ngồi yên. Anh lại đi rảo quanh. Nhà kho phía sau lâu rồi không ai dòm ngó tới, chất đống đồ bộ đội, những ba-lô, thắt lưng, dao gâm, bi đông nước, vải dù, võng ni lông, dép cao su, nón vải... Lại thấy lẫn lộn đồ lính Mỹ, từ hạm đội Bảy trôi giạt vào, cũng những bi đông, thắt lưng chất dồn đống như cuộc chiến vẫn còn tiếp diễn.


Bằng trở ra ngồi xuống bên ông già:


“Sao cuộc sống luôn cơ cực vậy hả ông? Ông ngồi một chỗ, con phải đi lang thang, chừng nào con được về ở với ông?”.


“Ai cũng có phần của mình...”, ông già nói, như tự nói với mình. “Ông chôn đứa con ngoài biển, về nhà có nhiều đứa con khác đến với ông, nhiều đêm ngủ sáng ra thấy có đứa nằm kề bên... Nhưng có hôm có đứa không về một mình mà có đám lính Mỹ đưa về. Chúng trói thằng con vào một khúc cây đước, khiêng lên nhà tra hỏi có phải cha mày đây không? Có phải ông già nuôi mày lớn lên làm du kích đánh lại chúng tao không? Đứa con làm thinh, chúng tiếp tục đánh, ông liền la lên đừng đánh, đừng đánh, tôi là cha nó đây, mấy ông đánh tôi đừng đánh nó. Nhưng chúng vẫn đánh, dùng một khúc cây đước đánh vào mặt, vào tay chân mình mẩy. Cả người đứa con đẫm máu, ông nhào tới bị năm bảy thằng xô giạt ra...”.


“Thằng bạn tù không ra gì, bị đâm chết, để lại đứa con gái mù con phải nuôi”, Bằng tiếp tục dòng suy nghĩ của mình. “Thân con đang tù tội làm sao nuôi nó, moi ruột ai lấy tiền mổ mắt cho nó?”.


“Con cái là để thương yêu... Một bữa ông đi rừng về thấy trong nhà có đám lính Mỹ chuyền tay nhau đứa nhỏ còn ẵm ngửa, không biết chúng lượm được ở đâu, đứa này đứa kia tranh nhau hun hít. Rồi chúng bỏ đi để đứa nhỏ lại cho ông. Đó là một đứa con trai khó nuôi, bịnh rề rề. Ông đón ghe xuồng xin tiền mua thuốc, tìm đàn bà có con cho bú thép, cả vùng đất Mũi này nuôi nó. Vậy rồi lớn lên nó đi theo lính Mỹ, bận đồ rằn ri, một bữa về quơ súng cười nói ông coi con oai không nè, nổ một loạt đạn tóe lửa lên trời...”.


“Có người lính Mỹ hồi chiến tranh đã rải chất độc vùng này”, Bằng nói tiếp, hay chỉ tiếng vang trong đầu. “Giờ sang đây xám hối kiểu gì đó, muốn nhận mổ mắt đứa con gái mù. Nhưng con không chịu, con mình mình lo, đúng không ông?”.


“Con mình, mình nuôi, con người khác cũng vậy…”, ông già nói, nhẹ như hơi thở. “Đám con ông vẫn ăn ngon ngủ yên, một hôm có mụ đàn bà đến không chịu làm vợ, chỉ làm mẹ. Đó là một mụ phù thủy chính cống, dữ như chằn tinh, nhưng nuôi con giỏi không ai bằng, cháo rau, cá mắm đứa nào đứa nấy mập tròn, như củ khoai trái ấu. Được mấy năm bỗng một hôm nói: tôi đi đây. Tôi nuôi con người khác, không đẻ đái gì ráo, thành con ma khùng hay sao?”.


“Con có hai đứa con, tự dưng thành con vậy thôi, Đứa trên thành phố vừa viết thư trách con bỏ nó, má nó sanh tật uống rượu rong chơi, đời nó rồi không ra làm sao. Đứa con gái mù ở đây một hôm bỗng hỏi sáng mắt là sao, nghe đau thắt ruột gan. Nó biết làm sao được, mù từ hồi mới đẻ, cha nó nói hoài chuyện mổ mắt, bà già than thở tội lắm con ơi, cả đời tối mù như vậy, suốt ngày ngồi nghe tiếng nước chảy, biết con nước lớn nước ròng, nghe tiếng cơm sôi biết cơm cạn cơm chín. Cha nó chết chẳng để lại gì ngoài tai tiếng, quyên góp anh em trong trại khi có khi không, đứa con gái nhỏ ngồi một chỗ chẳng ăn uống gì nhiều, nhưng con người không chỉ thở mà sống được. Con có khoản tiền bị lấy cắp mất rồi, đã đánh người chẳng mặt mũi nào đòi lại, có chiếc ghe chạy mướn chỉ có thể nuôi nó đấp đổi, làm sao đủ tiền mổ mắt cho nó?”.


“Cửa sông Cái Lớn là biển nhỏ của ông, suốt ngày đêm ầm ầm sóng vỗ, nhưng rất hiền hòa, nhiều tôm cá, chỉ cần bủa lưới giăng câu có đủ thức ăn cho bọn trẻ. Vậy rồi một hôm những chiếc xuồng bay từ ngoài biển đâm bổ vào, xẻ ngang dọc cày nát mặt sông. Ông leo lên chòi gác canh chừng, dặn mụ phù thủy coi sóc đám trẻ, không được cười giỡn lớn tiếng, nấu nướng phải tránh khói, ban đêm không được đốt đèn. Cả nhà sống âm thầm như vậy nhiều năm, đám trẻ lớn lên, đi bộ đội, bị bắn chết, xác trôi sông tấp trở vô, ông chở đem chôn ngoài biển. Lại có đứa đi theo lính Mỹ bận đồ rằn ri trở về cười sằng sặc giương súng bắn tóe lửa lên trời...”.


Ông già ngủ gà gật, lẫm bẩm chuyện đám con trong tưởng tượng. Cửa sông đã tắt nắng từ lâu, gió ngừng thổi, cây rừng yên phắc, cả bầu trời mặt nước trong ánh vàng lung linh. Bằng ngồi yên, mơ cơn mơ về cái gò đất, căn nhà, chiếc mầm cây, con cua nhỏ xíu...


Và mơ tiếp cơn giông năm nào...


***


Chiếc ghe tấp vào một chang đước. Đứa nhỏ nằm sải tay chết lịm, sáng ra nghe có tiếng xuồng ghe lao xao, tiếng người nói có đứa nhỏ ngộ quá nè bà con ơi! Rồi khuôn mặt nhọn của một người đàn ông kề sát nói nó sống rồi, tôi bán chiếc ghe lấy tiền nuôi nó… Tiếp theo là những ngày tháng ở đậu ghe này ghe nọ, trôi nổi trên sông cùng với đám trẻ trần truồng, đen nhẻm, suốt ngày lặn hụp dưới kinh rạch, chun vào những chang đước mò tôm bắt cá, lâu lâu người đàn ông đến bắt đem gởi qua một chiếc ghe khác, cũng lặn hụp với đám trẻ trần truồng, đen nhẻm như vậy. Chúng gọi đứa nhỏ là “con của hà bá”, được vớt lên từ dưới nước, lặn hụp giỏi như rái cá. Một lần nó lặn sâu vào trong những hang hốc chằng chịt, những gốc rễ dây nhợ, cả một vùng tối đen bao phủ nhấn chìm nó xuống mãi, lúc tỉnh dậy thấy nằm oằn mình trên một chiếc khạp đốt lửa hun nóng, dân làng đập mái dầm rầm rầm trêm mặt sông xua đuổi hà bá, không cho cha mẹ nó bắt nó về dưới đó. Nó bị phỏng cháy cả một mảng da bụng, nhưng rồi cũng sống được, lại tiếp tục lặn hụp, làm thằng con hà bá không có cha mẹ.


Người đàn ông cha nuôi lâu lâu lại đến thở than: tao bán chiếc ghe mần ăn không ra gì, trắng tay rồi, làm sao có tiền đây?


Đồng tiền là cái gì, nó không hiểu, quí giá như thế nào ông già nuôi nhăn nhó đến như vậy.


Hằng ngày nó vẫn nhập bọn với đám trẻ lặn hụp. Có một đứa con gái trạc tuổi nó đen nhẻm, mình trần, hai chiếc vú nhỏ xíu đen đen như hai cái vú cau, cùng lặn hụp với nó. Năm đó mùa mưa nước dâng cao, ngoài sông lớn sóng nhồi dữ dội, xuồng ghe phải lánh vào các kinh rạch truông trấp. Nó và đứa con gái nhỏ lặn hụp suốt ngày mò tôm bắt cá, móc củ co, trái ấu, leo lên ngồi trên chang đước chuyện trò.


“Mày làm chồng tao không?”, một hôm đứa con gái bỗng hỏi.


“Không”, nó đáp. “Tao không thích mày, cũng không chịu cho ai làm vợ”.


“Mày không lấy tao cũng được, nhưng phải ở lại đây”, con nhỏ nói.“Mày bỏ đi tao trấn nước tới chết”.


“Tao đi rồi làm sao mày trấn nước được?”.             


Ông già nuôi lại đến, nói đã đến lúc đem nó ra chợ Cà Mau tìm việc làm, con trai lớn rồi, phải kiếm tiền trả công ông nuôi nó. Nó chạy rủ con nhỏ đi lặn hụp, báo chuyện phải ra ở ngoài chợ Cà Mau. Hai đứa lên ngồi trên chang đước, con nhỏ buồn rầu nói:


“Ở chợ không có sông cho mày lặn hụp đâu”.


“Ông già bắt tao đi”, nó nói.


“Mày là con hà bá sống trên cạn sao được? Rồi mày trở về đây thôi”.


Đứa con gái ngồi đung đưa chân, thốt nhiên xô nó xuống sông nhào lặn theo, hai đứa vật lộn lục sục một hồi rồi leo trở lên. Đứa con gái lặng lẽ khóc. Lần đầu tiên nhìn thấy con gái khóc, nó ngồi làm thinh, không biết làm sao, nhảy lặn nữa, chun sâu vào trong một chang đước, nghĩ bụng thà chết luôn cho rồi. Nhưng nó không chết. Mấy hôm sau nó theo ông già nuôi ra chợ Cà Mau làm công cho một tiệm tiện, suốt ngày vục mặt vào trong dầu mỡ, không nhớ gì đến những ngày tháng trên sông nước, rừng đước rừng mắm, quên đứa con gái.


Mấy năm trôi qua. Một buổi trưa, nó đang vật lộn với chiếc máy, mình đầy dầu mỡ, chợt thấy cô gái đi vào, bận đồ bà ba đen đội nón lá, tay cầm chiếc túi xách. Xuýt nữa nó không nhận ra, con nhỏ ngày xưa lặn hụp với nó, nhưng trông khác hẳn, thành con gái hẳn hoi, thùy mị dịu dàng, có phần buồn bã, lặng lẽ. Con nhỏ nói nhân đi chợ ghé thăm,, hỏi nó làm cực không, được nhiều tiền không, còn nhớ sông nước trong quê không. Nó lắc đầu cười nhớ cũng có nhớ nhưng quên đi nhiều rồi, suốt ngày hì hục với dầu mỡ còn biết trời đất gì nữa… Hai đứa ngồi với nhau một lúc, nó không biết nói chuyện gì, mua chai nước ngọt nhưng con nhỏ không uống, chỉ ngó mong ra ngoài một lúc rồi đứng lên lặng lẽ ra về...


***


Ông già vẫn ngủ yên. Trời đã tối từ lâu. Có người nhìn thấy chiếc ghe xanh đỏ của anh ghé lại, nói gã thọt nhắn anh về chợ xã gấp có chuyện quan trọng. Anh nhìn ông già lần nữa, tấn kỹ các mí mùng, xuống ghe nổ máy chạy đi, lòng nặng trĩu, mơ hồ cảm thấy không còn dịp nào gặp ông già nữa.


***


Chiếc ghe chạy ngược nước âm thầm trong bóng đêm. Trời không trăng sao, hình ảnh ông già lẫn lộn với hình ảnh đứa con gái mù. Sáng ra ghe đến chợ xã. Anh lên quán không thấy gã thọt đâu. Quán vắng tanh. Hai Chất ngồi nhổ râu trên chiếc ghế mây. Đài báo tin áp thấp nhiệt đới. Bằng ngồi vào chiếc ghế quen thuộc, kêu ly cà phê, đốt thuốc hút, cất tiếng hỏi bâng quơ:


“Sắp có giông không?”.


“Có đó”, Hai Chất đang ngồi nhổ râu bằng chiếc hộp quẹt “Gíp-pô” kêu lắc cắc, đáp


“Tôi đang bận nhiều chuyện, trời đất lại thế này”.


“Đi lòng vòng đâu về đây?”.


“Thằng thọt kêu tôi về có chuyện gì. Nó đâu?”.


“Không biết, dây dưa với nó làm gì”.


“Nhờ nó đôi việc. Ông ngồi một chỗ tôi nhờ được hả?”.


Bằng trả tiền ly cà phê, dặn đứa con gái nhỏ giữ gã thọt lại, lên chợ rảo tìm không thấy gã đâu, đến trụ sở ủy ban không gặp ông cắt cỏ, tiếp tục đi rảo quanh, ngang một cửa hàng tạp hóa thấy Thủy đang trả giá mua bán. Bằng gọi, Thủy quay lại kêu “ối” vui mừng, bảo anh đứng đợi, tiếp tục trả giá mua bán rồi ôm xách đồ đạc đi ra, đến đứng dưới mái hiên nhà lồng chợ.


“Cô còn tiền không?”, Bằng hỏi.


“Còn ít thôi”, Thủy nói, thở mệt, như vừa đi một đoạn đường xa. “Em vừa mua mớ lưới bao với ít cọc tràm. Hay em trả lại?”.


“Thôi được rồi, tôi mua ít xăng dự trữ thôi. Tôi có chuyện phải đi. Cô đi với tôi vài ngày được không, tôi cần người giữ ghe?”.


“Đi đâu?”.


“Cô biết làm gì”.


“Sao anh không về trại? Anh làm gì em sợ lắm!”.


Trông Thủy có vẻ hơi mập ra, bớt đen đi một chút, ăn bận cũng gọn ghẽ, lịch sự, quần tây áo sơ mi, ra dáng bà chủ trại tôm. Nhưng những vết dơ trên mặt lại càng lộ ra. Hai người đứng giữa đường người qua lại ồn ào chen lấn, trời âm u mưa bay lất phất. Thốt nhiên một cơn gió ào tới giật tung tấm tôn thảy lên cao, chao liệng như một tấm thảm bay. Tiếng người kêu thét, tiếng chân chạy nhốn nháo, đồ đạc hàng quán khua đụng loảng xoảng. Một chậu cá đổ nghiêng, đám cá nghe hơi mưa phóng vọt ra ngoài lóc đi ngoằn ngoèo trên mặt đường. Mưa bắt đầu trút ào xuống, nặng hột dần, Thủy kéo tay Bằng chạy vào bên trong mái hiên.


“Trời giông lớn anh à”, Thủy thở hào hển nói. “Đài báo rồi. Mình đi liền không?”.


“Đi liền thôi”.


“Anh xuống ghe trước, em đi lấy đồ mua thức ăn dự trữ. Mình đi lâu không?”.


“Cũng không biết được. Dưới ghe có ít gạo mắm của ông Sáu Thiên”.


“Cũng phải mua thêm, cá đang rẽ rộng ăn dần cực nhọc gì. Nhưng mà em sợ quá, không biết anh đi đâu gặp ai, làm chuyện gì. Sao lúc nào anh cũng bày chuyện vậy?”.


Mặt trời lên một chút rồi tối sầm trở lại, bến sông sóng dồi, ghe xuồng va đụng lộp cộp. Một chiếc ghe bị bứt dây bung ra xa, người lái ghe kêu ơi ới, chiếc ghe xoay vòng, người lái ghe vẫn kêu. Bằng về quán thấy gã thọt đợi sẵn ở đó, kêu anh lấy tấm bản đồ ra gã chỉ đường cho, ông già nuôi anh đợi anh chỗ này, đường đi thế này, chiếc đầm lớn ai cũng biết, anh cứ hỏi đường đi thôi...


“Nhưng có chuyện gì?”.


“Ông già nuôi nói anh đến đó sẽ biết”, gã nói. “Nói chiếc đầm là nơi ngày xưa ông ta vớt anh lên, nuôi anh từ đó tới giờ, anh sắp lấy vợ ông ta đang ôm thùng vàng đến cho anh làm của hồi môn. Bà mập cũng đến, nghe hơi vàng cũng giống anh đánh hơi con gái vậy, đêm hôm nghe bà ta nổ máy rầm rầm chiếc ghe chài chạy đi”.


“Thôi được rồi. Tiền công đây!”.


“Hồi nãy tôi thấy anh nói chuyện với con nhỏ trên chợ. Gấp làm gì, kiếm tiền trước kiếm gái sau”.


“Biến đi!”.


Thủy về tới xách chiếc giỏ bàng to nặng, nghiêng người đi qua quán xuống ghe. Bằng nhờ đứa con gái nhỏ mua xăng rồi xuống theo. Trời nắng một chút lại tối sầm. Thủy dọn dẹp xếp cất đồ đạc, cất tiếng hát khe khẽ. Bằng vào trong trong cabin hút thuốc, giở bản đồ ra coi. Anh có nghe nói chiếc đầm đó nhưng chưa đến bao giờ, trong bản đồ nhiều đoạn đứt khúc, không biết đến đó theo đường nào. Đường đi trong miệng thôi. Thủy nổi lửa vừa nấu nướng vừa kể chuyện thiên hạ đồn đại về cơn giông rồi nói sang chuyện trại tôm. Cô định mở rộng gấp đôi các vuông nuôi, thuê mướn thêm nhân công. Hiện có ba người làm việc từ sáng tới tối, cho tôm ăn, canh giữ bờ bao, lưới bao, canh chừng nước ra vào, ban đêm thay nhau canh gác. Cô chạy ngoài mua đồ đạc thức ăn, liên hệ với nông trường nuôi tôm của tỉnh nhờ giúp đỡ thức ăn và kỹ thuật. Họ có máy sục khí, công nghệ hiện đại, có tiền cô cũng làm thế.


“Trại bên cạnh có đứa con trai mười chín tuổi đi biển”, Thủy lại nói sang chuyện khác. “Mấy ngày rày không thấy về, cả nhà khóc rùm như có người chết...”. Ngưng một chút rồi cười khúc khích kể tiếp: “Nhà còn thằng anh lớn hai mươi tuổi... Ôi chuyện kỳ quá em không kể đâu...”.


“Kể đi”.


“Thằng đó hỏi cưới em… Thằng con nít… Em nói tao đánh mày một trận...”.


Thủy có ghé thăm đứa con gái mù, đưa bà già ít tiền, bà rên rỉ nói có tiền cũng khổ, bà đâu dám rời con nhỏ đi chợ, nó cũng đâu ăn gì mà mua. Cô cũng ghé nhà sông Ông Trang. Hai đứa sinh đôi đi rừng với con chó. Người cha đi đánh lưới. Bà mẹ ở nhà than thở cảnh khổ mẹ ghẻ con chồng, không dám la rầy, cũng không phân biệt được đứa nào với đứa nào.


“Anh cho căn nhà ở sông Ông Trang rồi hả?”, Thủy hỏi. “Cho cũng được. Nhưng uổng quá, căn nhà thật tốt, nhằm đường qua lại buôn bán được lắm!”.


“Cô ham làm giàu lắm hả?”.


“Em tính vậy thôi đã buôn bán gì đâu. Em nuôi tôm cho em hả? Bán tôm đợt tới em sẽ mở rộng trại nuôi, sửa lại nhà. Em mua được ít tôn và gỗ đước rồi, ông Sáu Thiên chịu ở một chỗ em đem về nuôi, giữ trại cho em”.


Gió thổi mạnh chiếc ghe chòng chành, Thủy kêu lên khe khẽ. Bằng vẫn ngồi yên. Đồ đạc vật dụng anh đã ràng rịt kỹ càng, tính trước từ lúc đóng chiếc ghe, dặn đám thợ đóng đinh bắt vít, chiếc ghe của anh không chỉ vượt sông còn có thể vượt biển. Đám thợ cười nói anh yên tâm, họ sẽ đóng chiếc ghe vững chắc như phi thuyền Apôlô. Cơm chín, Thủy dọn ở sàn bếp, hai người ngồi xổm ăn vội vã. Trời đổ cơn mưa rào rồi âm u sụt sùi. Chiếc đồng hồ chết không biết giờ giấc thế nào. Có bàn tay đàn bà bữa cơm khác hẳn, canh chua, cá kho bông hẹ, mực tươi xào, dĩa rau sống có trái ớt sừng trâu đặt bên trên. Thủy vừa ăn vừa huyên thuyên chuyện trại tôm, mớ gỗ đước để trên chợ hôm nào chở về dựng cột nới rộng mấy gian trại. Nhưng sửa nhà rồi lại không có người ở, cô phải chạy vòng ngoài, đủ thứ chuyện phải lo, tôm giống, tôm lứa, thức ăn mua ở chợ, nài thêm ở nông trường, bọn con trai quen biết hôm rồi Bằng đánh ấy. Thật ra cô cũng ngại bọn này lắm, thanh niên trai trẻ mạnh tay mạnh chân nhưng chúng cũng lớn rồi, ở với cô không tiện, nhiều hôm cô phải sang nhà bên cạnh ngủ nhờ, có hôm nhà không có ai vắng tanh vắng ngắt, cô sợ ma cũng bỏ đi. Thành ra có nhà cũng như không. Một dạo cô mướn ông già bảy chục tuổi giữ nhà, nhưng chỉ được mấy ngày, bà vợ già giở trò ghen tuông đến lôi về làm cô mắccỡ quá...


Thủy sụt sịt khóc, mấy giọt nước mắt nhỏ xuống chén cơm. Bằng nạt:


“Thôi đi!”.


Thủy thôi khóc, nói cô nhớ ba má. Lâu rồi cô không về nhà, hư quá không dám về. Khổ sao là khổ. Bà dì hai đứa sinh đôi cũng khổ, làm mụ đỡ đẻ khắp thiên hạ, mình không đẻ đái gì ráo, nuôi hai thằng con chồng lớn tồng ngồng không học hành, suốt ngày đi rong chơi với con chó, lùng sục trong cư cũ nào đó không biết làm gì.


“Chúng nói là cứ của anh. Cứ nào của anh?”.


“Tôi đi rừng tìm gặp đó mà”.


“Bà dì hai đứa sinh đôi biết chuyện anh đi hỏi vợ, có đến nhà đó làm mụ mấy lần cho mấy cô con dâu, biết cô gái út Mười Hai có hai đời chồng, giờ đang đi tu, muốn nuôi đứa con mù của anh. Tu hành bận rộn với trẻ con làm gì?”.


Trời đã tối, gã thọt xiên xẹo đi xuống, cười nhe răng:


“Chưa đi hả? Đi kiếm được vàng nhớ cho thằng này một miếng nghen?”.


“Xuống đây tao cho đeo cục vàng đi mò tôm”, Bằng nói vọng lên.


Gã thọt biến mất. Gã tù lại hiện ra:


“Tao không về trại, mày nói tao chìm ghe chết mất xác được không?”.


“Mày chết liền bây giờ đi”.


“Mày bám theo mụ mập làm gì tao biết rồi. Thù hận làm gì. Lão già ròm đánh bạc bịp giỏi như thần, tổ chức đốn cây trộm chỉ bằng bộ bài, thằng nào xù nợ lão cho con dao vô bụng. Lão già cha nuôi mày cũng cùng một giũộc, rêu rao chuyện thùng vàng dụ mụ mập cho mày thanh toán kiểu xã hội đen… Tao biết hết làm thinh cho mày, mày câm miệng giùm chuyện tao được không?”.


“Không”.


(còn tiếp)


Nguồn: Cơn giông. Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. Rút từ Tuyển tập Lê Văn Thảo. Nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2006.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »