tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29387375
Truyện dân gian Việt Nam và thế giới
17.08.2012
Antoine Galland
Nghìn lẻ một đêm (8)

CHUYỆN KHẤT SĨ THỨ NHẤT, CON VUA


- Thưa bà, để bà rõ sao tôi chột mất con mắt bên phải, và bởi lý do gì làm tôi nhập dòng khất sĩ, tôi xin thưa rằng tôi là con vua. Phụ vương tôi có một người anh cũng trị vì như Người ở một nước láng giềng. Bác tôi có hai người con, một hoàng tử và một công chúa. Hoàng tử và tôi cùng xấp xỉ tuổi nhau.


Khi tôi đã trưởng thành và được vua cha cho phép tự do xử sự, hàng năm tôi thường sang bên bác tôi, lưu lại triều đình của Người một vài tháng, rồi lại trở về sống bên cạnh cha tôi. Những cuộc viếng thăm ấy tạo cơ hội cho hoàng tử anh tôi và tôi gắn bó với nhau bằng một tình bạn thắm thiết đặc biệt. Lần cuối cùng gặp tôi, hoàng tử tiếp tôi với những biểu hiện thân ái nhất chưa từng có. Một hôm, để chiêu đãi tôi, anh chuẩn bị cẩn thận khác thường. Chúng tôi ăn uống rất lâu, và khi đã mãn tiệc, anh bảo: "Chú ạ, chú sẽ không bao giờ đoán ra được từ chuyến chú sang đây lần trước cho đến nay tôi bận việc gì. Đã một năm nay, từ khi chú ra về, tôi cho một số lớn thợ thực hiện một ý đồ mà tôi hằng suy nghĩ. Tôi đã cho xây xong một lâu đài, nay đã có thể ở được. Thăm nơi đó chú sẽ thấy thích cho mà xem. Song, chú phải thề trước với tôi là sẽ giữ bí mật và phải trung thành. Đó là hai điều tôi đòi hỏi ở chú.


Tình bạn và tình họ hàng giữa chúng tôi xưa nay không cho phép tôi từ chối anh tôi điều gì. Vì vậy không chút do dự, tôi thề đúng như anh mong muốn. Thế là anh bảo tôi: "Chú chờ đây một lát, tôi trở lại ngay". Quả nhiên, anh không chậm trễ, chỉ một lát sau tôi đã thấy anh trở lại cùng một phụ nữ hết sức xinh đẹp, ăn mặc lộng lẫy.


Anh tôi không cho tôi biết người phụ nữ ấy là ai, và tôi cũng nghĩ mình không có nhiệm vụ hỏi han về điều đó.


Cùng người phụ nữ, chúng tôi lại ngồi vào bàn tiệc, trò chuyện không đâu vào đâu và uống cạn những cốc rượu đầy chúc mừng sức khỏe lẫn nhau. Sau đó hoàng tử nói với tôi: "Chú ạ, chúng ta không nên để mất thời giờ, chú hãy vui lòng giúp tôi đưa phu nhân đây đi về phía nọ, đến một nơi chú trông thấy một ngôi mộ có vòm cao mới xây. Chú sẽ nhận ra dễ thôi. Cửa mộ đã mở sẵn. Hai người hãy vào trong đó chờ tôi. Tôi sẽ đến ngay".


Trung thành với lời thề, tôi không muốn biết thêm. Tôi đưa tay ra cho người phụ nữ vịn, và theo những lời chỉ dẫn của hoàng tử anh tôi, tôi đưa nàng đi trôi chảy dưới ánh trăng, không lạc đường. Vừa đến ngôi mộ, chúng tôi đã thấy hoàng tử xuất hiện ngay phía sau. Anh mang theo một bình con đầy nước, một cái cuốc và một túi nhỏ đựng vôi.


Anh dùng cuốc phá cái ngạch rỗng ở chính giữa ngôi mộ, dỡ ra từng phiến đá một và xếp vào một góc.


Dạt hết đá, anh đào đất và tôi thấy hiện ra một cánh cửa nắp. Anh nâng cánh cửa lên, tôi thoáng nhìn thấy dưới đó phần trên của một cầu thang xây bằng gạch. Lúc đó, anh họ tôi quay sang nói với người phụ nữ: "Thưa phu nhân, đó là lối dẫn tới nơi tôi đã nói với phu nhân". Nghe câu nói đó, người phụ nữ tiến đến và bước xuống cầu thang. Hoàng tử chuẩn bị đi theo, nhưng trước khi đi, anh quay sang bảo tôi: "Chú ạ, tôi vô cùng biết ơn chú về việc chú vừa giúp. Xin cảm ơn. Vĩnh biệt".


- Anh thân mến, - tôi kêu lên, - thế là thế nào?


- Thôi đủ rồi, - anh đáp, - chú có thể theo con đường vừa đến đây mà trở về.


Tôi không thể nào hỏi thêm hoàng tử anh họ tôi một điều gì khác, và đành phải cáo từ. Trên đường về hoàng cung, tôi cảm thấy hơi rượu bốc lên đầu. Tuy vậy tôi cũng về đến buồng riêng và đi nằm. Sáng hôm sau, thức dậy, suy nghĩ về những điều đã xảy ra đêm trước, và nhớ lại mọi chi tiết của một câu chuyện phiêu lưu rất kỳ quặc, tôi ngỡ đấy là một giấc mộng. Nghĩ như vậy, tôi cho người hỏi xem anh họ tôi đã tiếp khách chưa. Người ta cho biết đêm qua anh không ngủ ở nhà, không rõ anh đi đâu, mọi người đang rất lo lắng. Thế là tôi hiểu sự kỳ lạ về ngôi mộ đúng là sự thật quá hiển nhiên đi rồi. Tôi rất buồn. Và tránh không để ai trông thấy, tôi bí mật đến nghĩa địa công cộng, ở đấy có vô vàn ngôi mộ giống như tôi đã thấy. Tôi để suốt cả ngày hôm ấy xem xét hết cái này đến cái khác, nhưng không thể nào nhận ra đúng cái tôi tìm. Suốt bốn ngày ròng rã, tôi tìm kiếm vô ích như vậy.


Cần phải nói rằng, trong thời gian ấy, bác tôi đi vắng. Người đi săn từ nhiều hôm trước. Chờ đợi lâu sốt ruột quá, tôi nhờ các quan trong triều khi nào Người trở về xin lỗi hộ cho tôi, rồi tôi từ giã cung của vua bác để trở về triều đình cha tôi. Ít khi tôi đi vắng nhà lâu như vậy. Các quan trong triều bác tôi rất lo âu, không biết hoàng tử ra sao. Nhưng để khỏi vi phạm lời thề giữ bí mật cho anh, tôi không dám làm cho họ thôi băn khoăn, tôi không hé răng với họ một tí gì về những điều mình biết. Tôi về đến kinh đô của phụ vương. Nhưng trái với lệ thường, vừa đến cổng hoàng cung, tôi thấy một đội cảnh vệ lớn xúm đến bao vây, ngay khi tôi định bước vào thành. Tôi hỏi lý do, viên quan trả lời: "Thưa hoàng tử, quân đội đã phò tể tướng lên trị vì thay phụ vương ngài vì phụ vương ngài hiện nay không còn nữa. Theo lệnh tân vương, tôi xin bắt giữ ngài".


Nói đến đấy, bọn cảnh vệ túm lấy tôi và dẫn tôi đến trước mặt tên ác vương.


Thưa bà, xin bà hãy hình dung sự ngạc nhiên và nỗi đau khổ của tôi lúc bấy giờ. Tên tể tướng phiến loạn ấy từ lâu vốn nung nấu một mối hận thù sâu sắc đối với tôi. Nguyên nhân là thế này. Hồi còn niên thiếu, tôi thích bắn cung. Một hôm, đứng trên một sân thượng trong cung, tôi tập bắn. Nhưng mũi tên không trúng con chim mà vô tình lại trúng vào mắt viên tể tướng lúc ấy đang đứng hóng mát trên sân thượng nhà ông ta, làm ông ta hỏng mắt. Khi được biết điều không may ấy, tôi vội cho người đến xin lỗi và tự tôi cũng thân hành đến chịu lỗi. Nhưng hắn vẫn căm thù sâu sắc, hễ có dịp là lộ ra. Khi tôi sa vào tay hắn rồi, thì mối hận thù của hắn bật ra một cách dã man.


Thoạt nhìn thấy tôi, hắn xông đến như một thằng điên. Thọc ngón tay vào mắt phải tôi, hắn móc mắt tôi. Đấy là căn nguyên vì sao mà tôi trở nên chột mắt.


Nhưng tên tiếm quyền không hạn chế sự độc ác của hắn ở đấy. Hắn sai nhốt tôi vào một cái hòm và ra lệnh cho đao phủ cứ như vậy mang tôi đi thật xa ra ngoài hoàng cung, chặt đầu rồi vứt xác cho diều tha quạ mổ.


Tên đao phủ cùng đi với một người nữa cưỡi ngựa mang theo cái hòm, họ dừng lại giữa một cánh đồng để thi hành mệnh lệnh của tên vua tàn bạo. Nhưng tôi van xin và kêu khóc dữ quá, làm gã động lòng. "Hãy đi đi, - gã bảo tôi, - hãy đi nhanh ra khỏi nước này và coi chừng chớ có bao giờ quay trở lại. Nếu trở lại, anh không những có thể chết mà còn gây nên cái chết cho tôi". Tôi cảm tạ anh về cái ơn to lớn ấy. Và khi chỉ còn lại một mình, tôi tự an ủi là tuy mình có bị mất đi một mắt thật đấy, nhưng lại tránh được một tai họa còn lớn lao hơn.


Trong tình cảnh của tôi lúc ấy, tôi không thể đi được nhiều đường đất. Ban ngày tôi ẩn nấp vào những nơi vắng vẻ, ban đêm mới ra đi cho đến chừng nào còn hơi sức. Cuối cùng tôi cũng đến được nước của bác tôi.


Tôi kể chi tiết cho bác tôi nghe nguyên nhân bi thảm khiến tôi quay trở lại và tình cảnh đáng buồn của tôi lúc ấy. "Than ôi! - Bác tôi kêu lên. - Mất một đứa con trai còn chưa đủ ư! Sao ta lại phải nghe tin một người em thân yêu qua đời và phải trông thấy một đứa cháu trong tình trạng thảm thương thế này!". Người tỏ ra rất lo âu vì không nhận được tin tức gì về hoàng tử. Người cha đau khổ ấy nói chuyện với tôi mà nước mắt như mưa. Sự đau buồn của Người khiến tôi không sao chịu nổi. Dù có thề với hoàng tử anh họ tôi như thế nào, tôi vẫn thấy không thể còn giữ im lặng được nữa. Tôi kể cho bác tôi nghe tất cả những điều tôi được biết.


Nghe tôi nói, nhà vua như cũng được an ủi ít nhiều. Khi tôi nói xong, Người bảo: "Cháu ạ, chuyện cháu kể đưa lại cho bác ít nhiều hy vọng. Bác có biết là anh cháu cho xây cái lăng ấy, và bác cũng biết đại khái nó ở vào chỗ nào. Cộng với những điều cháu còn nhớ, bác tin rằng chúng ta sẽ tìm ra được. Nhưng, bởi vì anh cháu bí mật làm việc đó và yêu cầu cháu giữ kín, cho nên ý kiến bác là chỉ có hai chúng ta đi tìm chỗ đó thôi, để tránh chuyện vỡ lở ồn ào". Còn một lý do nữa mà Người không nói ra, vì sao Người không muốn cho thiên hạ biết chuyện. Đấy là một lý do rất quan trọng, phần tiếp sau của câu chuyện tôi đang kể đây sẽ cho bà thấy rõ.


Hai bác cháu tôi đều cải trang và ra khỏi hoàng cung bằng một cửa ngách phía sau vườn, thông ra cánh đồng. Chúng tôi may mắn tìm được nơi cần tìm. Tôi nhận ra cái lăng, và càng lấy làm sung sướng bởi vì đã từng tìm kiếm nó mất bao công mà không thấy. Chúng tôi đi vào lăng và tìm ra được cái nắp bằng sắt chẹn lối xuống cầu thang. Chúng tôi nâng nó lên rất khó nhọc bởi vì hoàng tử đã dùng vữa và nước mà tôi từng nói đến, trát kỹ từ bên trong. Nhưng cuối cùng rồi chúng tôi cũng nhấc cánh cửa lên được. Bác tôi xuống trước. Tôi đi theo Người. Chúng tôi bước xuống chừng năm mươi bậc. Xuống hết cầu thang, chúng tôi vào một gian giống như phòng đợi, dày đặc khói và hôi hám. Khói làm cho ánh sáng tỏa ra từ một chùm đèn treo rất đẹp, lu mờ hẳn đi.


Từ phòng đợi ấy, chúng tôi sang một căn phòng khá rộng, có những cột lớn và được nhiều chùm đèn treo khác chiếu sáng. Chính giữa phòng là một cái thùng chứa; ở một góc thùng có xếp nhiều thức ăn dự trữ. Chúng tôi ngạc nhiên không hề thấy bóng người. Trước mặt có một cái bục khá cao, phải trèo mấy bậc mới lên tới, và trên bục hình như có đặt một cái giường khá rộng buông rèm kín mít. Nhà vua bước lên, mở màn và trông thấy hoàng tử và người phụ nữ ngủ với nhau, nhưng thân thể đã bị đốt cháy thành than, như thể có ai ném họ vào một lò lửa lớn rồi lôi ra kịp trước khi bị thiêu hủy hoàn toàn.


Điều làm cho tôi ngạc nhiên hơn hết là trước cảnh tượng kinh tởm ấy, bác tôi đã không tỏ ra buồn đau khi trông thấy con trai trong tình trạng thảm thương. Ngược lại, bác còn nhổ nước bọt vào mặt anh ta, và nói giọng bất bình: "Sự trừng phạt trên thế gian này là như thế đó; nhưng sự trừng phạt ở thế giới bên kia còn sẽ kéo dài vĩnh viễn". Chưa vừa lòng với câu nói ấy, nhà vua còn rút dép cầm tay đập mạnh vào má con trai.


Thưa bà, tôi không thể nào diễn tả nổi sự kinh ngạc của tôi khi thấy bác tôi ngược đãi hoàng tử như vậy sau khi anh đã qua đời.


"Tâu bệ hạ, - tôi nói, - cho dù cảnh tang tóc này có gây nên đau đớn đến đâu, cháu cũng cố nén để xin bệ hạ cho biết anh cháu đã phạm tội gì đến nỗi bệ hạ đối xử như vậy đối với thi hài anh".


- Cháu ơi, bác có thể nói với cháu là con trai bác không xứng đáng được mang tên gọi đó. Nó yêu em gái nó từ tuổi thơ ngây và được em gái nó cũng yêu trở lại. Bác đã không phản đối mối tình thân mật khi nó vừa nảy nở, bác không ngờ hết điều xấu có thể xảy ra. Ai mà có thể dự kiến được điều đó? Mối tình ấy tăng lên cùng với tuổi và đạt tới một điểm mà bác lo sợ có thể xảy ra hậu quả không hay. Trong phạm vi quyền lực của bác, bác đã tìm cách ngăn ngừa. Không chỉ bằng lòng gọi riêng anh con ra và rầy la gay gắt, bác còn vạch cho nó thấy sự kinh tởm của mối tình mà nó đang say đắm và vết nhục muôn đời mà nó bắt gia đình ta phải chịu, nếu nó cứ nhắm mắt lao theo những tình cảm tội lỗi. Bác lại nói những điều đó với con gái bác, rồi bắt nó phải cấm cung không cho liên hệ với anh trai nó. Nhưng con khốn nạn đã ăn phải bả độc rồi, cho nên tất cả những trở lực mà bác thận trọng tạo ra để ngăn cách mối tình của chúng chỉ càng kích thích thêm chúng lao vào con đường tội lỗi mà thôi.


Con trai bác tin chắc là em gái nó đối với nó vẫn như trước đây. Viện cớ xây lăng cho mình, nó cho sửa soạn một chỗ ở dưới đất, với niềm hy vọng là một ngày kia sẽ có dịp bắt cô người yêu tội lỗi của mình và đưa đến đấy. Nó đã chọn thời gian bác đi vắng để dùng vũ lực xông vào nơi cấm cung em gái nó, và đấy là một chuyện mà danh dự của bác không cho phép bác công bố. Sau một hành động đáng chê trách như vậy, hai đứa đã cùng nhau đến ẩn ở chốn này. Như cháu đã thấy, nó đã chuẩn bị nhiều thức ăn, để cùng nhau hưởng thụ mối tình đáng khinh bỉ đang làm tất cả mọi người ghê tởm. Nhưng Thượng đế không muốn để cho sự bỉ ổi ấy xảy ra. Thượng đế đã trừng phạt đúng đắn cả hai.


Kể đến đây, nhà vua bật khóc như mưa, và tôi cùng khóc với Người.


Lát sau, Người ngước mắt nhìn tôi: "Nhưng, cháu thân yêu ơi, - bác tôi vừa nói vừa ôm hôn tôi, - nếu bác có mất đi một đứa con trai không xứng đáng, thì bác sung sướng tìm được ở cháu một người tốt hơn để thay thế nó". Những điều suy nghĩ của bác tôi về cái chết buồn thảm của hoàng tử và công chúa làm cho chúng tôi một lần nữa đầm đìa nước mắt.


Chúng tôi leo lên cầu thang cũ và cuối cùng ra khỏi chốn chết chóc ấy. Chúng tôi hạ cánh cửa nắp bằng sắt xuống, lấy đất và những vật liệu dùng để xây dựng ngôi mộ, lấp kín lại như cũ, để cố gắng che giấu hậu quả khủng khiếp mà cơn thịnh nộ của Thượng đế đã đưa lại.


Chúng tôi trở về cung. Không một ai hay biết là chúng tôi vừa vắng mặt. Nhưng chưa được bao lâu thì bỗng nghe ồn ào tiếng kèn đồng, tiếng thanh la, trống trận cùng những khí cụ chiến chinh khác. Một đám bụi dày tỏa đặc không trung, làm cho chúng tôi hiểu ngay ra được đó là tiếng gì, nó báo hiệu một đạo quân ghê gớm đang tiến đến gần. Đó chính là đạo quân của viên tướng đã phế truất cha tôi và chiếm đoạt quốc gia của Người, nó đang dẫn muôn vàn binh mã tiến đến đây, hòng chiếm đoạt cả quốc gia của bác tôi nữa.


Nhà vua lúc bấy giờ chỉ có đội cận vệ bình thường, không thể kháng cự bấy nhiêu kẻ thù. Chúng nó vây thành, và chẳng khó khăn gì mà không làm chủ thành phố bởi vì các cổng thành đều để ngỏ không kháng cự. Chúng cũng chẳng tốn công sức bao nhiêu khi tiến vào hoàng cung. Bác tôi chống cự nhưng bị giết chết sau khi đã gây cho địch nhiều thiệt hại. Về phần tôi, tôi cũng chiến đấu một thời gian, nhưng nhận thấy cần phải lùi bước trước sức mạnh, tôi đành phải nghĩ tới chuyện thoát thân. Tôi may mắn thoát được nhờ chạy vào những lối ngoặt, và đến được nhà một võ quan mà tôi biết rõ lòng trung thành.


Bị đau khổ dày vò và số mệnh đầy đọa, tôi đành phải nhờ tới một cái mẹo, nó là phương sách cuối cùng giúp cho tôi bảo toàn tính mạng. Tôi cho cạo râu và lông mày, rồi sau khi mặc áo quần khất sĩ, tôi thoát ra khỏi thành phố mà không bị ai nhận diện. Sau đó, tôi rời vương quốc của bác tôi một cách dễ dàng qua những nẻo đường hẻo lánh. Tôi tránh không đi qua các thành phố cho đến khi tới được bờ cõi của Đấng thống lĩnh hùng mạnh của mọi tín đồ, hoàng đế Harun An-Rasít quang vinh và nổi tiếng, thì tôi mới hết sợ. Tôi tự hỏi nên làm gì bây giờ và đi tới quyết định là sẽ đến Bátđa phủ phục dưới chân vị đế vương vĩ đại ấy, người mà đâu đâu người ta cũng đều ca ngợi lòng khoan dung độ lượng. Tôi tự nhủ: "Người sẽ cảm động khi ta kể lại một câu chuyện kỳ lạ của ta. Có lẽ người sẽ đem lòng thương hại một hoàng tử tội nghiệp và ta sẽ không đến nỗi uổng công cầu khẩn sự giúp đỡ của Người".


Sau một chuyến đi kéo dài nhiều tháng, hôm nay tôi đến trước cổng thành phố này. Tôi vào thành vào lúc xế chiều. Đang dừng chân chốc lát cho tĩnh trí và để suy nghĩ xem đi về hướng nào, thì chàng khất sĩ bên cạnh tôi đây cũng vừa đến như một khách du. Anh chào tôi, tôi đáp lễ. Trong lúc chúng tôi đang nói thì chàng khất sĩ thứ ba mà các vị thấy kia chợt đến. Anh ta chào chúng tôi và cho biết anh cũng là người xứ khác vừa mới đến Bátđa. Vì cùng một dòng tu, chúng tôi kết bạn và quyết định sẽ không rời nhau.


 


Lúc ấy đêm đã muộn rồi, chúng tôi không biết trọ ở đâu trong một thành phố chưa quen thuộc và cũng chưa một ai từng đặt chân đến bao giờ. Nhưng số phận may mắn đã đưa chúng tôi đến trước cửa nhà quý bà, chúng tôi đánh bạo gõ cửa và được tiếp đón với biết bao nhân từ và độ lượng mà chúng tôi không biết nói thế nào để cảm ơn. Thưa bà, - chàng nói tiếp, - đấy là câu chuyện mà bà truyền cho tôi thuật lại. Vì sao tôi bị chột mắt bên phải, do đâu râu và lông mày tôi đều cạo nhẵn và tại sao lúc này tôi có mặt tại nhà bà.


- Được, - Zôbêít nói, - chúng ta hài lòng. Giờ anh muốn đi đâu thì tùy.


Chàng khất sĩ xin lỗi và xin phép ở lại để được nghe chuyện về hai bạn đồng đạo mà chàng nói là không thể nào bỏ lại, và chuyện về ba vị khác trong buổi mặt hôm nay.


Mọi người, đặc biệt là hoàng đế, đều cho chuyện của khất sĩ thứ nhất là kỳ lạ. Sự có mặt của những tên nô lệ đang cầm gươm cũng không ngăn được nhà vua rỉ tai tể tướng: "Từ khi có trí khôn, ta đã nghe rất nhiều chuyện, song chưa bao giờ nghe được một chuyện nào có thể sánh với chuyện chàng khất sĩ kia".


Trong khi nhà vua nói như vậy thì chàng khất sĩ thứ hai cất lời, nói với Zôbêít.


 


CHUYỆN KHẤT SĨ THỨ HAI, CON VUA


Thưa bà, tuân lệnh bà, để trình bày bà rõ do một sự kiện kỳ lạ nào mà tôi trở nên chột mắt bên phải, xin cho tôi được thuật lại câu chuyện về cả cuộc đời tôi.


Tôi vừa hết tuổi ấu thơ thì vua cha tôi - vì, như bà sẽ rõ, tôi sinh ra vốn là hoàng tử, nhận thấy tôi rất thông minh cho nên không hề tiếc sức nâng cao trí lực của tôi. Cha tôi cho triệu từ khắp nơi trong nước đến ở cùng tôi tất cả những ai thông thạo nhất về khoa học, văn chương và nghệ thuật. Tôi chưa thật đọc thông viết thạo đã thuộc lòng toàn bộ kinh Côran, cuốn sách tuyệt diệu chứa đựng cơ sở các giáo huấn và mọi quy tắc của tôn giáo ta. Và để am tường kinh thánh đến nơi đến chốn, tôi đọc các tác phẩm của những tác giả được hoan nghênh nhất và làm sáng tỏ thêm thánh kinh bằng những bài nghiên cứu của mình. Ngoài sách vở, tôi còn học hỏi những lời truyền miệng mà những con người vĩ đại cùng thời với Đấng tiên tri của chúng ta đã nghe được và lưu truyền hậu thế. Không thỏa mãn là không còn có gì liên quan đến tôn giáo ta mà mình chưa am hiểu, tôi đặc biệt nghiên cứu môn lịch sử, đi sâu vào văn học, đọc thơ và làm thơ. Tôi say mê môn địa lý, khoa sử biên niên, cách vận dụng nhuần nhị ngôn ngữ, đồng thời không vì vậy mà lơ là các môn võ nghệ cần thiết cho một hoàng tử.


Nhưng, một môn tôi rất yêu thích và thành công hơn cả là môn viết chữ A Rập chúng ta. Tôi học hành tiến bộ nhanh đến nỗi vượt cả các nhà thư pháp bậc thầy có tên tuổi nhất ở vương quốc chúng tôi lúc bấy giờ.


Sự nổi tiếng đưa lại cho tôi quá nhiều vinh dự hơn phần tôi đáng được hưởng. Không những tiếng đồn về tài năng của tôi lan truyền trong các miền thuộc đất nước của vua cha tôi mà còn lan sang tận bên triều đình nước Ấn Độ. Nhà vua hùng mạnh của nước này hiếu kỳ muốn được gặp tôi, liền sai sứ thần mang theo nhiều tặng phẩm đến nói với cha tôi. Phụ vương tôi rất lấy làm hài lòng về phái bộ ấy bởi nhiều lẽ. Người cho rằng không có gì thích hợp hơn cho một hoàng tử vào tuổi tôi được đến triều đình các nước ngoài. Hơn nữa, Người vốn mong muốn gây dựng tình hữu nghị với hoàng đế Ấn Độ. Vì vậy, tôi lên đường cùng sứ thần nhưng với ít tùy tùng thôi, bởi vì đường sá xa xôi diệu vợi và đầy trở ngại khó khăn.


Chúng tôi đi được một tháng thì một hôm bỗng trông thấy đằng xa bụi cát cuộn lên tựa một đám mây lớn. Dưới đám mây ấy chẳng bao lâu xuất hiện năm chục kị sĩ vũ trang đầy đủ. Đấy là những tên cướp đang phi nước đại về phía chúng tôi.


Chúng tôi chỉ có mười con ngựa chở hành lý và những quà tặng của cha tôi mà tôi sẽ dâng lên hoàng đế nước Ấn Độ. Đoàn chúng tôi lại ít người, vì vậy chắc bà đã rõ bọn cướp không ngần ngại gì mà không xông đến. Không có điều kiện dùng vũ lực đối phó, chúng tôi đành nói cho bọn cướp rõ rằng chúng tôi là sứ thần của hoàng đế Ấn Độ, hy vọng bọn chúng vì kính nể Người mà không dám dở trò gì. Chúng tôi nghĩ như vậy may ra có thể cứu được đoàn và sinh mạng chúng tôi. Nhưng bọn cướp trả lời hỗn xược: "Sao các người lại muốn cho bọn ta kính sợ hoàng đế chúa tể của các người nhỉ? Bọn ta không phải là thần dân của lão, thậm chí cũng không ở trên đất đai của lão nữa".


Dứt lời, chúng vây chặt và tấn công chúng tôi. Tôi cố gắng kháng cự thật lâu. Nhưng nhận ra mình đã bị thương và nhìn thấy sứ thần, các gia nhân của ông cũng như đoàn tùy tùng của tôi đều bị giết hại, tôi liền lợi dụng sức tàn của con ngựa cũng đã bị thương nặng, để chạy trốn. Tôi thúc ngựa chạy bừa chừng nào nó còn mang nổi tôi. Nhưng đột nhiên nó khụy xuống và lăn ra chết thẳng cẳng vì quá mệt và mất quá nhiều máu. Tôi mau chóng bỏ ngựa. Ngoái nhìn lại thấy không có ai đuổi theo, tôi hiểu rằng bọn cướp không muốn rời xa những của cải chúng vừa cướp được.


Thế là, thưa bà, bỗng chốc tôi trở thành đơn độc, bị thương, không được ai cứu giúp, ở một xứ sở hoàn toàn xa lạ. Tôi không dám đi đường cái, sợ lại rơi vào tay bọn cướp. Sau khi băng bó vết thương cũng không lấy gì làm nguy hiểm, tôi đi bộ suốt ngày hôm ấy và đến chân một quả núi. Nhìn thấy ở lưng chừng núi có một cửa hang, tôi vào đấy và ngủ đêm khá bình yên, sau khi ăn mấy trái cây hái dọc đường. Hôm sau và những ngày tiếp sau nữa, tôi tiếp tục đi mà không tìm được chỗ nào để dừng chân. Nhưng chừng một tháng, tôi đến được một thành phố lớn rất đông dân, có nhiều con sông chảy qua. Ở đây, hầu như mùa xuân là bất tận.


Cảnh vật đẹp mắt làm cho tôi vui lên một chút. Tạm thời tôi lãng quên nỗi buồn da diết khi thấy thân phận mình ra nông nỗi này. Mặt mũi tay chân tôi đều đen sạm vì nắng cháy. Giày dép đã hỏng vì đi bộ lâu, tôi phải đi chân đất. Thêm nữa, quần áo đều rách tươm như xơ mướp.


Tôi vào thành phố để thăm dò xem thử mình đang ở xứ nào. Tôi hỏi một bác thợ may đang làm việc ở cửa hiệu. Thấy tôi còn trẻ và có một vẻ gì đó khác với hình dạng bên ngoài, bác bảo tôi ngồi xuống cạnh bác. Rồi bác hỏi tôi là ai, từ đâu đến và tại sao lại đến đây. Tôi thuật lại không chút giấu giếm những điều đã xảy ra cho mình. Và tôi cũng chẳng do dự gì mà không nói rõ địa vị của tôi.


Bác thợ may chăm chú nghe. Tôi vừa dứt lời, đáng lẽ đem lại cho tôi niềm an ủi, bác lại làm tăng thêm nỗi buồn lo. Bác nói: "Cậu hãy chú ý chớ có tâm sự với ai điều cậu vừa cho tôi biết, bởi vì nhà vua trị vì xứ này là kẻ thù không đội trời chung với phụ vương cậu đấy. Có thể nhà vua sẽ tìm cách hãm hại cậu nếu biết cậu đã đến thành phố này".


Tôi không chút nghi ngờ tấm lòng thành thật của bác thợ may, khi bác nói cho tôi rõ tên nhà vua. Nhưng bởi vì mối hiềm thù giữa vua cha tôi với ông ta không có liên quan gì đến cảnh ngộ của tôi, thưa bà, tốt hơn là tôi sẽ không nói gì về chuyện ấy.


Tôi cảm ơn bác thợ may về lời khuyên của bác và nói thêm rằng tôi hoàn toàn làm theo lời bác dặn. Tôi sẽ không bao giờ quên niềm hân hoan được gặp bác. Thấy chắc là tôi đang đói, bác sai dọn cho tôi ăn và còn cho tôi được nghỉ lại ở nhà nữa, tôi nhận lời.


 


Mấy ngày sau, thấy tôi đã hơi lại sức sau chuyến đi lâu dài và vất vả, và biết là phần đông các ông hoàng theo đạo Hồi ta đều có học một môn nghệ thuật hay một nghề nghiệp nào đó, phòng những lúc gặp vận không may thì dùng tới nếu cần, bác hỏi tôi có biết được một nghề nào khả dĩ kiếm sống qua ngày mà chẳng cần nhờ vả ai hay không. Tôi đáp tôi thạo khoa này môn nọ, rằng tôi là nhà ngữ pháp, là nhà thơ, v.v... và nhất là tôi viết chữ rất tốt. "Với tất cả những điều cậu vừa nói đó, - bác đáp, - ở xứ này cậu sẽ không kiếm ra nổi một mẩu bánh bỏ vào mồm đâu. Không có gì vô tích sự hơn là những hiểu biết đại loại như cậu vừa nói tới. Nếu cậu chịu nghe lời khuyên của tôi, thì cậu hãy mặc một chiếc áo cộc. Trông cậu cũng có vẻ cường tráng và có sức khỏe tốt, cậu hãy đi vào khu rừng bên cạnh nhà đốn củi, mang về bày ra chợ bán. Tôi đảm bảo rằng cậu sẽ thu được một món tiền nho nhỏ đủ sống qua ngày mà chẳng cần nhờ vả ai. Bằng cách ấy, cậu có thể chờ đến lúc trời nhìn lại mà xua tan cái đám mây vận hạn nó đang phá ngang hạnh phúc cuộc đời cậu, buộc cậu phải giấu giếm dòng dõi của mình. Tôi lo việc xoay cho cậu một sợi thừng và một cái rìu".


Vì sợ người ta nhận ra và vì cũng cần phải sống, tôi đành đồng ý làm việc đó mặc dù nó thấp hèn và vất vả.


Ngay ngày hôm sau, bác thợ may sắm cho tôi một cái rìu và một sợi dây cùng một chiếc áo cộc. Bác lại gửi gắm tôi cho những người dân nghèo chuyên kiếm sống bằng nghề đốn củi, yêu cầu họ cho tôi theo cùng. Họ đưa tôi vào rừng. Ngay hôm đầu, tôi đã trở về, đầu đội một bó củi lớn, bán lấy được nửa đồng tiền vàng địa phương. Mặc dù rừng không xa lắm nhưng ở thành phố này củi không phải là không đắt bởi ít ai chịu khó cất công đi làm nghề đốn củi. Chỉ một thời gian ngắn, tôi kiếm được nhiều tiền đủ hoàn lại cho bác thợ may món tiền bác đã ứng trước cho.


Tôi sinh sống bằng cách ấy hơn một năm thì một hôm, tôi đi vào rừng sớm hơn thường lệ. Tôi đến một nơi khá đẹp mắt và bắt đầu chặt củi. Nhân bứt một cái rễ cây, tôi chợt nhận ra một cái vòng sắt buộc vào một cánh cửa nắp cũng làm bằng cùng thứ kim loại ấy. Tôi liền gỡ hết đất phủ lên trên và nâng cánh cửa lên. Trông thấy một chiếc cầu thang, tôi vác rìu bước xuống.


Xuống đến chân cầu thang, tôi thấy mình ở trong một cung điện lớn sáng sủa như thể đang ở trên mặt đất vào nơi trống trải nhất, điều này làm cho tôi rất khâm phục. Tôi đang đi trong một hành lang có những hàng cột bằng đá hoa vân, chân cột và đầu cột làm bằng vàng khối, thì trông thấy một người đàn bà bước tới. Dáng điệu nàng cao quý, ung dung và xinh đẹp kỳ lạ đến nỗi tôi không thiết ngắm nghía vật gì khác nữa ngoài việc dán mắt nhìn nàng mà thôi.


Để tránh cho người đẹp khỏi mất công bước đến tận chỗ mình, tôi vội vàng tiến lên để gặp nàng. Và trong khi tôi cúi chào rất thấp, nàng hỏi: "Chàng là ai? Là người trần hay là thần thánh?".


- Thưa bà, tôi là người trần, tôi chẳng có quan hệ gì với thần thánh cả.


- Tại làm sao chàng đến được nơi đây? - Nàng hỏi tiếp, miệng thở dài não nuột. - Tôi ở chốn này đã hai mươi lăm năm, mà suốt thời gian ấy tôi chưa hề trông thấy một người trần nào, trừ có chàng lần này là một.


Sắc đẹp lộng lẫy, sự dịu dàng và vẻ trung hậu trong cách nàng đón tiếp giúp cho tôi đủ can đảm để trả lời: "Thưa bà, trước khi tôi được vinh hạnh giải đáp mối băn khoăn của bà, xin cho phép tôi thưa với bà rằng tôi vô cùng vui thú trước sự kỳ ngộ này. Đây là một cơ hội giúp tôi khuây khỏa nỗi buồn đau của mình, và có lẽ là một cơ hội để làm cho bà được sung sướng hơn trong chuỗi ngày đang sống". Tôi kể qua cho nàng biết, do một tai nạn không may như thế nào mà một hoàng tử như tôi lại đến nỗi lâm vào cảnh này, và sự tình cờ ra làm sao lại dun dủi cho tôi khám phá được lối vào cái nhà tù tráng lệ nhưng chắc là buồn chán, để được gặp nàng.


- Than ôi, thưa hoàng tử, - nàng lại thở dài, - chàng nói rất có lý khi cho rằng cái nhà tù sang trọng và xa hoa này đúng là một nơi trú ngụ rất chán chường. Khi người ta buộc phải sống ở một nơi trái với ý muốn của mình thì những chốn hoa lệ nhất cũng chẳng ai thích thú. Chàng đã từng bao giờ nghe danh vua Epitimarút vĩ đại, chúa đảo Gỗ Mun chưa nhỉ? Sở dĩ có cái tên gọi đó là vì hòn đảo này sản sinh rất nhiều loại gỗ quý ấy. Tôi là công chúa con của Người. Vua cha tôi đã gả tôi cho một hoàng tử có họ hàng xa xôi với tôi. Nhưng ngay đêm tân hôn, giữa lúc triều đình và cả kinh thành vương quốc đảo Gỗ Mun đang tưng bừng mở hội mừng thì một hung thần đã bắt cóc tôi trước khi tôi được gặp mặt chồng. Lúc ấy tôi ngất đi, hoàn toàn bất tỉnh nhân sự. Khi tỉnh dậy đã thấy mình ở trong lâu đài này. Một thời gian dài không có gì có thể an ủi nổi tôi. Nhưng rồi thời gian và sự cần thiết bắt buộc, tôi cũng phải quen dần và cam chịu sự có mặt của lão hung thần. Như đã nói với chàng, đã hai mươi lăm năm tôi sống ở chốn này. Có thể nói tôi có đầy đủ tất cả những gì cần thiết cho cuộc sống, tất cả những gì đủ làm vừa lòng một công chúa chỉ thích trưng diện và điểm trang như tôi.


Cứ mười ngày một lần, - công chúa nói tiếp, - lão hung thần đến ở với tôi một đêm, lão không ở lâu hơn vì theo lời lão, lão đã có vợ. Nếu vợ lão biết được lão không chung thủy thì sẽ nổi cơn ghen. Tuy vậy, nếu tôi cần gặp lão, bất kể ngày hay đêm, tôi chỉ cần động đến một lá bùa đặt ở cửa buồng là lão hiện ra ngay tức khắc. Lão vừa đến cách đây bốn ngày, như vậy còn sáu ngày nữa tôi mới lại gặp lão. Do đó, chàng có thể ở lại đây năm ngày để làm bạn với tôi nếu chàng vui lòng. Tôi sẽ xin hầu hạ xứng đáng với phẩm giá và địa vị của chàng.


Tôi tự cho mình quá ư hạnh phúc, chưa cầu xin đã được toại nguyện, thì có lẽ nào lại đi khước từ một lời mời mọc ân cần đến vậy. Công chúa đưa tôi vào một buồng tắm cực kỳ sạch sẽ, đầy đủ tiện nghi và vô cùng sang trọng. Khi tôi tắm xong thì ở chỗ tôi để quần áo đã thấy có sẵn một bộ khác rất đắt tiền. Tôi mặc bộ này không phải vì nó quý báu mà chính để cho xứng đáng hơn với nàng. Chúng tôi cùng ngồi xuống một cái sân trải một tấm thảm sang trọng có để sẵn những chiếc gối tựa bọc gấm hoa Ấn Độ loại đẹp nhất. Một lát sau, nàng dọn lên bàn nhiều món ăn ngon. Chúng tôi cùng dùng bữa, và suốt ngày hôm ấy sống với nhau rất thú vị. Đêm đến tôi chung chăn gối cùng nàng. Ngày hôm sau, vì muốn tìm mọi cách làm cho tôi vui, trong bữa ăn nàng mang ra một chai rượu lâu năm loại ngon chưa từng có, và chiều lòng tôi, nàng cũng uống cùng tôi mấy chén. Khi hơi men rượu quý đã bốc lên đầu, tôi bảo nàng: "Công chúa xinh đẹp ơi, nàng bị chôn sống ở đây quá lâu rồi. Nàng hãy đi theo tôi, hãy lên hưởng ánh sáng mặt trời thật, mà nàng đã bị cấm không nhìn thấy từ bao năm nay. Hãy bỏ lại đây thứ ánh sáng giả dối của chốn này".


- Thưa hoàng tử, - nàng mỉm cười đáp, - xin chàng đừng nói thế. Em chẳng thiết gì ánh sáng ban ngày đẹp đẽ nhất trần gian, miễn là cứ mười ngày, chàng sống với em chín ngày và nhường ngày thứ mười cho lão hung thần.


- Thưa công chúa, tôi biết vì sợ lão hung thần nên nàng nói ra như vậy. Còn tôi, tôi chẳng sá gì lão ấy đâu. Tôi có thể đập nát vụn cái bùa yêu mang những dòng chữ loằng ngoằng của lão kia. Lão cứ đến đây, tôi chờ lão. Lão có dũng mãnh, có ghê gớm bao nhiêu tôi cũng quyết cho lão biết sức mạnh của cánh tay này. Tôi thề tiêu diệt cả bọn hung thần ác quỷ ở trên đời, bắt đầu từ lão.


Công chúa biết rõ hậu quả của việc đó cho nên van xin tôi chớ có động đến cái bùa. Nàng nói: "Chàng làm như vậy sẽ mang lại cái chết cho cả đôi ta. Em biết rõ bọn hung thần hơn chàng nhiều". Hơi men ngăn không cho tôi nhận thức được lời khuyên có lý của công chúa. Tôi co chân đạp mạnh vào cái bùa, làm nó vỡ tan tành nhiều mảnh.


Cái bùa vừa bị đạp vỡ, lập tức cả tòa lâu đài rung chuyển, tưởng chừng sắp đổ tới nơi, phát ra những tiếng ầm ầm khủng khiếp tựa sấm rền kèm theo nhiều tia chớp dồn dập trong bóng tối mịt mù. Tiếng ầm ầm kinh khủng đó làm tan ngay hơi men và cho tôi thấy rõ, nhưng quá muộn mất rồi, sai lầm vừa mắc phải. Tôi kêu lên: "Thế là thế nào, thưa công chúa?". Nàng hốt hoảng trả lời, không nghĩ tới tai họa sẽ xảy đến cho bản thân mình: "Hỡi ôi! Chàng sẽ chết mất thôi nếu chàng không chạy trốn ngay đi".


Tôi làm theo lời khuyên của nàng, và khiếp đảm quá đến nỗi bỏ quên lại chiếc rìu và đôi dép. Tôi vừa ra được đến cầu thang mà tôi xuống hôm trước, thì tòa lâu đài yêu quái mở ra để lão hung thần vào. Lão giận dữ hỏi công chúa: "Cô làm sao thế và tại sao phải gọi đến ta?".


Công chúa đáp: "Một cơn đau tim buộc em phải đi tìm chai rượu mà ngài trông thấy đấy. Em đã uống vài ba chén, chẳng may một bước hụt chân khiến em ngã vào chiếc bùa làm nó vỡ. Chẳng có chuyện gì khác đâu".


Nghe câu trả lời ấy, lão thần giận dữ bảo nàng: "Cô là một con vô liêm sỉ, một đứa nói dối. Thế chiếc rìu và đôi dép kia tại sao lại ở đây?".


- Bây giờ em trông thấy những thứ ấy là lần đầu. Có lẽ ngài đến đây dũng mãnh quá cho nên gió đã cuốn hút những vật đó vào theo mà ngài không để ý chăng?


Lão thần chỉ đáp lại bằng những lời chửi rủa và những cú đấm đá mà tôi nghe được tiếng. Tôi không đủ cứng cỏi để nghe tiếng kêu khóc thảm thương của nàng công chúa bị ngược đãi một cách rất hung bạo. Tôi đã trút bỏ bộ quần áo của mình mà hôm trước sau khi tắm xong tôi mang ra để ở cầu thang. Thế là tôi lên khỏi cái chốn ấy, lòng đau đớn và thương xót hơn bởi chính mình là kẻ vừa gây nên tai họa lớn. Qua việc hy sinh nàng công chúa xinh đẹp nhất thế gian cho một tên hung thần dã man đang trong cơn giận dữ, tôi đã tự biến thành một kẻ sát nhân và đứa bội bạc xấu xa nhất của loài người.


Tôi tự bảo, đúng là nàng bị cầm tù từ hai mươi lăm năm nay. Nhưng trừ việc thiếu tự do ra, nàng có cần gì hơn nữa để mà sung sướng đâu! Sự nóng nảy của tôi kết liễu hạnh phúc của nàng, và phó mặc nàng cho sự hung ác của một con quỷ không biết xót thương. Tôi hạ cánh cửa nắp xuống, phủ kín đất và trở về thành phố với một bó củi đội trên đầu mà tôi cũng chẳng hiểu làm sao mà kiếm ra được nữa, vì mệt mỏi, buồn bã, hoang mang.


Bác thợ may chủ nhà tôi trọ rất vui mừng thấy tôi trở về. Bác nói: "Cậu vắng mặt lâu quá làm cho tôi rất lo âu bởi cái điều bí mật liên quan đến dòng dõi nhà cậu mà cậu đã từng tâm sự với tôi. Tôi chẳng biết nên nghĩ thế nào, chỉ lo có người nào nhận diện được cậu chăng. Thật là tạ ơn Thượng đế, cậu đã trở về". Tôi cảm ơn sự quan tâm và tình thân ái của bác, nhưng tôi không cho bác biết một tí gì về điều đã xảy ra. Tôi cũng không nói rõ lý do vì sao tôi trở về không có rìu và dép. Tôi lui về phòng riêng và một nghìn lần tự trách mình đã dại dột quá chừng. Tôi tự nhủ: "Thật không có gì sánh được hạnh phúc của công chúa và của ta nếu lúc ấy ta biết tự kiềm chế mà không đập vỡ cái bùa yêu".


Trong khi tôi đang thả mình theo những ý nghĩ buồn nản ấy, bác thợ may bước vào và bảo: "Có một cụ già không quen vừa mới đến, mang theo cái rìu và đôi dép của cậu, cụ bảo rằng bắt được giữa đường. Các bạn tiều phu của cậu chỉ cho cụ biết là cậu ở đây. Cậu ra mà gặp, ông lão muốn giao cho cậu tận tay".


Nghe nói, tôi biến sắc, toàn thân run lẩy bẩy. Bác thợ may vừa hỏi vì sao thì cửa buồng đã mở ra. Cụ già không đủ kiên nhẫn chờ đợi, đã hiện ra trước mắt chúng tôi với chiếc rìu và đôi dép. Đấy chính là lão hung thần đã bắt cóc nàng công chúa xinh đẹp đảo Gỗ Mun. Lão hóa thân thành cụ già, sau khi đối xử với nàng một cách cực kỳ tàn bạo. Lão nói: "Ta là thần, cháu ngoại Ebơlít, chúa tể các thần linh. Có phải đây là chiếc rìu của mày? Có phải kia là đôi dép của mày?".


Lão hung thần hỏi mà chẳng thèm đợi tôi trả lời. Vả chăng tôi cũng chẳng trả lời nổi vì bộ mặt khủng khiếp của lão đã làm cho tôi thất đởm. Lão chụp lấy ngang thắt lưng tôi, cắp tôi ra khỏi buồng, rồi bay vút lên không trung, mang tôi lên tới trời xanh, mạnh và nhanh đến nỗi tôi chỉ biết là mình lên cao khi nhận ra con đường vào rừng mà lão đưa tôi đi chỉ trong khoảnh khắc. Rồi lão lao xuống mặt đất cũng mạnh và cũng nhanh như lúc bay lên. Lão giậm chân xuống đất, mặt đất nứt ra cho lão chui vào. Thế là tôi thấy mình đã ở trong tòa lâu đài yêu quái, trước mặt tôi là nàng công chúa xinh đẹp của đảo Gỗ Mun. Nhưng than ôi! Cảnh tượng đau lòng làm sao! Điều tôi trông thấy như một mũi dùi xuyên suốt quả tim tôi. Nàng công chúa ấy thân thể trần truồng và đẫm máu, nằm sóng xoài trên mặt đất, dở chết dở sống, đôi má đầm đìa nước mắt.


- Đồ dối trá! - Lão chỉ tôi mà bảo nàng. - Có phải là tình nhân của mày đây không?


Nàng ngước đôi mắt sầu thảm nhìn tôi và trả lời buồn bã: "Tôi không biết anh này. Đây là lần đầu tiên tôi gặp còn chưa bao giờ tôi trông thấy anh ta".


- Thế nào? - Lão hung thần lại nói. - Nó là nguyên nhân đưa mày vào tình cảnh như thế kia. Vậy mà mày còn dám nói rằng mày không biết nó.


- Nếu quả thật là tôi không quen biết anh ta, tại sao ngài lại muốn tôi nói dối để đưa anh ta vào chỗ chết?


- Thế thì, nếu mày chưa hề trông thấy nó bao giờ, mày hãy cầm thanh gươm này và cắt đầu nó cho ta.


- Than ôi! - Công chúa đáp. - Làm sao tôi có thể làm điều như ngài vừa đòi hỏi? Tôi kiệt lực đến không nhấc nổi cánh tay. Và cho dù cố nhấc nổi, làm sao tôi có đủ can đảm giết hại một người chưa từng quen biết, một kẻ vô tội?


Lão hung thần liền bảo:


- Sự từ chối ấy làm cho tao biết rõ tất cả tội ác của mày.


Rồi quay sang tôi, lão hỏi tiếp: "Còn mày, mày biết nó chứ?".


Tôi sẽ là con người bội bạc và đểu cáng nhất thế gian, nếu không giữ trọn được thủy chung đối với nàng như nàng đã giữ trọn đối với tôi, kẻ đã gây nên tai họa cho nàng. Bởi vậy tôi trả lời lão hung thần: "Làm sao tôi có thể biết được, bây giờ tôi mới trông thấy bà ta là lần đầu?".


- Nếu quả như vậy, thì mày hãy cầm lấy thanh gươm này và chặt đầu nó. Bằng cái giá ấy, tao mới cho mày được tự do, và tao mới tin rằng cho đến lúc mày chưa bao giờ trông thấy nó, như lời mày vừa nói ra.


- Rất vui lòng. - Tôi đáp.


Tôi đỡ lấy thanh gươm từ tay lão.


Thưa bà, xin bà chớ vội nghĩ rằng tôi đến gần công chúa đảo Gỗ Mun là để làm kẻ thực hiện ý đồ dã man của lão hung thần. Tôi làm như vậy chỉ để, bằng cử chỉ của mình và trong phạm vi có thể, tỏ cho nàng hiểu rằng nếu nàng đã dám kiên quyết hy sinh tính mạng vì tình yêu đối với tôi, thì tôi cũng không khước từ sự xả thân vì tình yêu đối với nàng. Công chúa hiểu ý định của tôi. Mặc dù đang đau đớn và buồn bã, qua một cái nhìn đầy ý nghĩa, nàng tỏ cho tôi hiểu rằng nàng vui lòng chết và lấy làm hài lòng thấy tôi cũng sẵn sàng vì nàng mà hy sinh.


Thế là tôi lùi lại, ném thanh gươm xuống đất và bảo lão hung thần: "Tôi đời đời sẽ đáng chê trách trước con mắt của thế gian nếu tôi hèn nhát đi sát hại một con người, không những là chưa từng quen biết mà còn là một người đàn bà ở trong tình trạng sắp sửa lìa đời như người mà tôi đang thấy kia. Ngài muốn làm gì tôi thì làm bởi vì tôi đã thuộc quyền sinh sát của ngài. Nhưng tôi không thể nào tuân theo mệnh lệnh dã man của ngài".


- Ta thấy rõ - lão thần nói - cả hai chúng mày thách thức ta, chúng mày nhục mạ sự ghen tuông của ta. Nhưng hãy xem cách ta xử sự đây, cả hai chúng mày sẽ hiểu rõ ta có thể làm được những gì. - Nói đến đây, con quái vật cầm thanh gươm chặt đứt một bàn tay của công chúa, nàng chỉ còn đủ thời giờ đưa bàn tay kia ra hiệu để nói với tôi lời vĩnh biệt muôn đời. Bởi vì nàng đã mất quá nhiều máu và lần này lại mất máu nữa thì không thể nào sống thêm một vài khoảnh khắc sau hành động cực kỳ hung bạo ấy. Cảnh tượng đó làm cho tôi ngất đi.


Tỉnh dậy, tôi bảo lão hung thần, sao lão cứ đọa đầy, không cho tôi chết ngay đi: "Ngài hãy đánh đi, tôi sẵn sàng nhận đòn trí mạng, tôi chờ đợi ngài làm việc đó như một điều làm phúc lớn cho tôi". Nhưng đã không ưng cho, lão còn nói: "Đấy, các bậc thần linh đối xử với những con đàn bà mà họ nghi ngờ lòng thủy chung theo cách ấy đấy. Nó đã tiếp mày ở đây. Nếu ta biết chắc rằng quả thật nó đã gây cho ta một nhục mạ lớn hơn nữa thì ta đã giết chết mày lúc này rồi. Nhưng ta tạm bằng lòng hóa kiếp mày thành chó, thành lừa, thành sư tử hay là thành chim. Hãy chọn lấy một kiếp. Ta muốn cho phép mày được tự do lựa chọn".


Những lời đó gây cho tôi ít nhiều hy vọng là có thể lay chuyển được lão. "Hỡi thần linh, - tôi nói, - hãy dẹp bớt cơn thịnh nộ của ngài. Ngài đã không muốn kết liễu đời tôi, đã cho tôi sống thì xin ngài làm ơn cho tôi một cách hào hiệp hơn. Tôi sẽ mãi mãi ghi nhớ sự đại xá của ngài nếu ngài tha thứ cho tôi, cũng như con người tốt bụng nhất trần gian đã tha thứ cho một kẻ láng giềng vốn nuôi lòng ghen ghét đối với mình cho đến chết".


Lão hung thần hỏi việc gì đã xảy ra giữa hai người hàng xóm ấy. Lão nói rằng lão đủ kiên nhẫn để nghe hết câu chuyện. Sau đây là cách thức của tôi đã kể cho lão nghe. Thưa bà, tôi nghĩ rằng bà sẽ không phật ý nếu tôi cũng thuật lại hầu bà câu chuyện ấy hôm nay.



(còn tiếp)


Nguồn: Nghìn lẻ một đêm. Phan Quang dịch từ bản tiếng Pháp của Antoine Galland: LES MILLE ET UNE NUITS. NXB Văn học liên kết xuất bản cùng Doanh nghiệp sách Thành Nghĩa, in lần thứ 29, phát hành tháng 01-2012.  Edited: Nhà văn Triệu Xuân & Ngô Thanh Hương.



www.trieuxuan.info



 



 



 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Truyện cổ Grimm (100) - Anh em Grimm 31.05.2019
Thánh Gióng- Phù Đổng Thiên Vương - Nguyễn Đổng Chi 11.01.2019
Đọc Kho tàng truyện cổ tích Việt Nam tập II của Nguyễn Đổng Chi - Maurice Durand 11.01.2019
Khảo dị về truyện Tấm Cám (1) - Nguyễn Đổng Chi 11.01.2019
Nghìn lẻ một đêm (21) - Antoine Galland 12.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (20) - Antoine Galland 06.11.2018
Nghìn lẻ một đêm (19) - Antoine Galland 06.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (18) - Antoine Galland 04.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (17) - Antoine Galland 01.10.2018
Nghìn lẻ một đêm (16) - Antoine Galland 01.10.2018
xem thêm »