tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29973054
Tiểu thuyết
18.08.2012
Lê Văn Thảo
Cơn giông

Lại dính tới chuyện người chết phải làm bản tường trình. Bằng lên gặp Ông Già, có người lái ghe chứng kiến, kể chuyện Long Cụt đi mua hột giống, ghé thăm đứa con gái mù, trở về ngang chỗ doi sông Long Cụt nói cần gặp ai đó, nhảy lên chiếc ghe chài không biết của ai, anh và người lái ghe về trước, cho đến lúc xác Long Cụt được đưa về.


Ông Già nhìn Bằng đăm đăm:


“Đứa con gái mù nào?”.


“Long Cụt có đứa con gái, đẹp lắm, bị kiến cắn mù từ hồi nhỏ”.


“Còn chiếc ghe chài?”.


“Dạ tôi không biết”.


Long Cụt đã chết, Bằng có thể giấu chuyện bà mập, lão ròm. Ông Già nhìn anh đăm đăm. Anh nói lảng sang chuyện khác, kêu người lái ghe kể thêm những điều nghe thấy, chuyện Long Cụt lang thang nhiều trại tù trước khi về đây, lấy trại tù đóng “mác” làm ăn bên ngoài. Long Cụt làm nhiều chuyện tệ hại, nhưng cũng đáng thương. Hắn làm vì đứa con gái mù.


“Ban tự quản mấy anh không lo được gì sao?”, Ông Già nói.


“Dạ ban tự quản nào?”, Bằng ngạc nhiên.


“Thì anh đó, thêm vài người nữa, anh em cùng hoàn cảnh lo cho nhau. Làm được không?”.


“Dạ được”.


“Làm đi”.


Bằng về trại, Già Tư nhìn anh bằng con mắt trắng dã:


“Vậy là vô ban tự quản, thành quan, cho tao vô với, anh em mình lo cho nhau, tiền bán cá, bán heo, gà có thể lấy nuôi con nhỏ mù”.


Khu trại có căn nhà khách dành cho trại viên tiếp thân nhân thăm nuôi. Một hôm Bằng được báo có người đến gặp. Ông Sáu Thiên? Hay má con Thủy Tiên? Bằng đi ra thấy Thủy ngồi đó, xanh xao vàng vọt, không biết có phải do trận đánh hôm rồi không. Lâu lắm rồi, anh đã quên hết rồi, không muốn nhớ, nhưng thỉnh thoảng vẫn thấy nổi lên cảm giác khó chịu, bực bội.


“Cô đến đây làm gì?”, Bằng hỏi.


“Em đến thăm anh”, cô gái đáp.


“Cô về ở với bà mập rồi à?”.


“Em ở nhờ ít bữa, còn đi đâu được nữa. Bà ấy vô bịnh viện chửi em một trận, trả tiền viện rồi phí rước em về nuôi, nói ghi nợ sau này làm công trả lại”.


Thủy ngồi nép vào một góc, chiếc nón lá đặt trên gối, bộ quần áo vải mỏng bông tím mới may, mặt đánh chút phấn, chắc để che bớt vẻ xanh xao. Im lặng một lúc rồi Bằng nói sang chuyện khác:


“Ông Sáu Thiên chạy ghe tôi đi đâu rồi?”.


“Ông ấy đi chở mướn, chạy lung tung đâu đó em không biết. Nghe nói có đoàn khách tham quan được giá lắm. Lại có ông cựu binh người Mỹ đi thăm lại chiến trường xưa. Cha hai thằng sinh đôi lái ghe, ông Sáu Thiên đi theo ghé chỗ này chỗ nọ, mấy lần ghé đây nhưng không vô gặp anh”.


“Tôi biết”.


“Ông ấy nói chuyện anh đi hỏi vợ không xong rồi, gia đình đằng gái nghe anh đi cải tạo đã từ hôn...”.


“Tôi cưới vợ gì đâu”.


“Em không biết. Em ghé đây nói cho anh biết em có lấy tiền của anh”.


“Thôi nói chuyện tiền bạc làm chi”.


“Em lấy tiền không phải cho em mà cho anh. Thấy anh cất tiền không làm gì, em lấy mua đất nuôi tôm, làm giấy đứng tên anh, chưa kịp nói anh làm dữ quá, đánh em nằm liệt giường cả tháng, không có bà mập em chết rồi. Anh sắp ra trại chưa?”.


“Tôi cũng không biết”.


“Em không kiện cáo gì đâu, không biết sao người ta bắt anh. Anh ra trại về ở trại tôm, đó là trại của anh. Hôm em đến xã làm giấy có người ở đó biết anh”.


“Ai?”.


“Một ông cắt cỏ, nói được anh đãi cà phê, ông ta cho mượn tiền anh không lấy. Sao anh không lấy?”.


“Cô ham tiền lắm hả?”.


“Em lấy cho em hay sao? Em nuôi tôm giùm cho anh, em muốn có cơ ngơi mần ăn, đàn bà con gái ai không vậy”.


“Cô có ghé nhà tôi ở sông Ông Trang không?”.


“Có. Hai thằng sinh đôi giỏi lắm, cất vó bắt cá làm khô treo phơi giăng giăng, nhưng không bán được đồng nào. Anh ở đây cực không?”.


“Cũng cực…”.


“Ăn uống thế nào?”.


“Ăn khá lắm”.


“Nghe nói anh làm giàn trồng rau phải không? Mấy giàn rau của anh ở sông Ông Trang chết hết rồi, hai thằng sinh đôi đâu biết chăm sóc gì. Em cũng đâu ở đó được. Anh đánh em nằm liệt cả tháng, có đêm ói ra máu, nhưng em đâu trách gì anh, tại em khùng quá ham tiền bạc mần ăn quá. Hồi nhỏ em cũng khùng như vậy, ăn cắp tiền mua con ngỗng bị má đánh một trận, ba cũng đánh, sau đó em cũng cứ ăn cắp, lấy tiền mua gà vịt. Bị đòn hoài, em giận bỏ đi mới ra nông nỗi này. Thôi em đi đây, em mướn ghe đi mua đồ, tiện đường ghé thăm anh. Em phải về trại tôm, em nằm bịnh bỏ trại cả tháng tôm chết nhiều, may về kịp vực lại được. Em cũng bán được một lứa rồi. Anh cần tiền xài không?”.


“Tôi cần ít tiền cho đứa con gái mù”.


“Em biết chuyện đó rồi. Em mang theo ít thôi, hôm nào ghé em gởi thêm. Em đang để dành tiền nới rộng trại tôm, có vuông tôm bên cạnh muốn bán, thua bài bạc gì đó, em đang dò coi thế nào, không biết có dính líu gì tới bà mập không. Bà này thương em nhưng hại cả xứ đất Mũi này. Tiền đây, em về thôi”.


“Tôi quá giang được không?”.


“Anh đi đâu?”.


“Đi mua hột giống, luôn tiện ghé đưa tiền nuôi đứa con gái mù”.


“Mình đi liền đi. Em đưa anh đến đó anh quá giang ghe trở về, em phải về trại tôm, nóng ruột lắm”.


Chiếc ghe chở đủ thứ, lưới bao, đăng tre, cọc tràm, thúng mủng. Người lái ghe nổ máy lớn chạy ầm ầm, đến nơi trời đã tối. Nhà lặng yên, đứa con gái mù vẫn ngồi trên giường. Bằng bước lên vào ngồi kế bên. Thủy lên theo ngồi kế sau.


“Chú đây”, Bằng nói, khẽ chạm vào tay đứa con gái nhỏ. “Ba cháu bận trồng rừng, nhờ chú đến thăm. Có cô Thủy cùng đến. Cô Thủy nuôi tôm giàu lắm, nay mai ghé đây chơi với cháu. Cháu ăn cơm nhiều không, có uống sữa không? Dì Tám ơi sao mấy hộp sữa còn nguyên vầy nè?”.


Bằng nói y như Long Cụt. Đứa nhỏ làm thinh. Bà già từ trong bóng tối hiện ra:


“Nó không uống sữa cũng không ăn bánh, chỉ ăn chút cơm trắng, cá kho, rồi ngồi ngó ra sông như bà già bảy mươi”.


“Rảnh rỗi dì Tám kể chuyện cho cháu nghe”.


“Chuyện gì? Chuyện đâu tôi kể hoài, nó ngồi làm thinh, tôi nói láp giáp như bà già khùng vậy hả?”.


Đứa nhỏ hỏi khẽ:


“Ba cháu đâu?”.


“Ba cháu bận trồng rừng”, Bằng nói. “Chú đến thăm cháu được rồi, chú cũng như cha, có cô Thủy nữa nè. Cô Thủy nói gì với cháu đi!”.


“Ba cháu chết rồi phải không?”, đứa nhỏ hỏi.


“Sao lại chết?”, Bằng nói. “Ba cháu trồng rừng, nuôi gà, nuôi heo, làm giàn trồng rau có tiền mổ mắt cho cháu”.


“Cháu biết rồi, ba cháu liều mạng kiếm tiền mổ mắt cho cháu bị đâm chết. Chú cũng ở tù làm sao có tiền nuôi cháu?”


“Sao lại không có tiền? Tiền đây nè! Dì Tám ơi lấy tiền mai đi chợ mua sữa, mua bánh cho cháu tôi!”


“Ba cháu bị chém một lần rồi, đứt nửa bàn tay”, đứa con gái nói tiếp. “Ba cháu ở tù yên thân rồi, nhưng cứ muốn kiếm tiền, thậm thọt đi ra ngoài, cháu biết thế nào rồi cũng bị đâm”.


Đứa con gái ngồi thẳng lưng mắt mở to không biết nhìn vào đâu. Sóng vỗ lách chách dưới sàn nhà, chiếc ghe đu đưa, người lái ghe ngồi co ro, bà già lên võng nằm đưa kẽo kẹt nhai trầu lép bép. Bằng ngồi yên một lúc kêu Thủy cứ đi đi, anh ở đây luôn cũng được.


“Thôi mà”, Thủy chạm nhẹ vào tay Bằng. “Em cũng không gấp gì, đưa anh ra chợ rồi đưa về trại, rảnh rỗi em ghé thăm con nhỏ, được không?”.


Người lái ghe vẫn ngồi co ro, chiếc ghe đu đưa. Ngoài sông đang nắng lớn, một chiếc ghe chài chạy ngang người trên ghe chỉ chỏ vào căn nhà...


Bằng vẫn ngồi yên...


***


Ông Già lại kêu Bằng lên làm việc:


“Anh ở đây đã gần một năm, giấy trên huyện ghi cải tạo ba tháng, chúng tôi giữ anh lại do có công văn trên thành phố, chuyện trồng tréo giữa các cơ quan chức năng anh hiểu cho, thật tình chúng tôi cũng thấy khó xử. Thôi chúng tôi tính như vầy: anh không đi trồng rừng nữa, ở lại đây làm nhân viên quản trị, không có lương bổng gì đâu, chúng tôi không có kinh phí. Anh đem chiếc ghe về chạy đưa đón cán bộ, chúng tôi có thể trả tiền ghe tiền lái. Được không? Anh lái ghe cho ban quản trị, chẳng đi đâu nhiều, tháng đôi lần về huyện họp hoặc có việc đột xuất. Rảnh rỗi anh lo đám giàn rau của anh, mua phân bón, hột giống, làm thêm việc ở ban tự quản... Đồng ý hén? Coi như anh tự do rồi đó, một nửa thôi, mọi chuyện đi đứng báo với văn phòng, chi phí cũng tính ở đó. Anh phủ xanh hết khu trại này chúng tôi phát bằng khen tuyên dương. Trại đang có kế hoạch đào giếng, công trình của Liên hiệp quốc, đám giàn rau của anh có thể nhờ vào đó. Còn chuyện này nữa: nghe nói anh có vuông nuôi tôm, trại muốn hùn vốn, lời lãi theo đó chia, anh chịu không?”.


“Tôi không có nuôi tôm gì đâu”.


“Không có thì thôi. Mấy trăm con người ở giữa rừng chế độ cứ cắt giảm, mình bươn chải sống với nhau, cải thiện bữa cơm có được dĩa rau con cên’ Anh làm giàn rau rồi nghĩ cách nuôi heo, nuôi gà, mình trồng rừng cho con cháu đời sau, nhưng phải sống cái đã. Chúng tôi sẽ cố gắng bàn với huyện trả anh về nhà, chắc cũng nay mai thôi, còn ở đây ngày nào anh cố gắng ăn ở làm việc như mọi người. Long Cụt chết rồi, không cần phải bẻ cổ ai. Tôi nói rồi đó: chuyện anh làm gì, ở đâu chúng tôi không biết, anh về đây quậy phá chúng tôi trị tới cùng”.


Bằng đồng ý tất cả, không có cách nào khác. Việc đầu tiên là đi tìm chiếc ghe, không biết ông Sáu Thiên đang dong nó đi đâu. Bằng sang làm việc với bộ phận văn phòng, nhận cuốn sổ và ít tiền thu chi, giờ giấc đi đứng ghi tất cả vào đó, đem chiếc ghe về tính thêm tiền chở mướn.


Tối hôm đó Già Tư cười khùng khục:


“Vậy là ra tù rồi đó, mặc sức đi rong chơi, lại sắp có bằng khen nữa!”.


Sáng sớm, Bằng liên hệ với chỗ quản trị tìm chuyến quá giang ra chợ, tìm người giao lại đám giàn rau, hỏi chỗ mối mua hột giống, những chỗ Long Cụt có thể xin được.


“Mày trốn luôn thì sao?”, Già Tư lại cười khùng khục. Trốn đi đâu? Cả vùng đất Mũi này là trại tù của anh rồi.


Chiều hôm đó có chuyến ghe về chợ xã Bằng quá giang đi tìm chiếc ghe. Ghe đi suốt đêm, Bằng tìm chỗ nằm ngủ, thức dậy ăn cơm lại ngủ, sáng ra đến chợ xã lên ngay quán Hai Chất hỏi chiếc ghe ông Sáu Thiên nhưng không ai thấy cả. Gã thọt sà đến uống chai bia, báo tin ông già nuôi đang cần gặp anh, hẹn một chỗ…


“Xin lỗi, tôi đang bận”, Bằng nói.


Gã thọt bỏ đi. Hai Chất ngồi yên trên chiếc ghế mây. Út Mười Hai, cô gái hôm anh đi hỏi cưới làm vợ, em gái ông ta, không biết buồn phiền chuyện gì bỏ đi tu rồi. Nhà có mười anh em con trai đi mần ăn tứ tán, ai cũng có cơ ngơi gia sản, cô em gái út được ông bà già cưng chiều, cho hưởng đất hương hỏa, nhà cửa ruộng vườn, nhưng lại sầu đời không thiết chuyện gì.


Bằng ăn dĩa cơm sa đó lên chợ đặt mua hột giống rồi đến trụ sở công an tìm ông cắt cỏ hỏi thăm chiếc ghe ông Sáu Thiên nhưng vẫn không có tin tức gì. Anh lại đi giáp vòng chợ, ra rẫy người Hoa hỏi chuyện bón phân, tưới nước. Chủ rẫy rủ ở lại ăn cơm. Bằng đồng ý. Mâm dọn ra có rượu thịt, rau cải nguyên một rổ đầy, chủ khách ngồi xếp bằng trên chiếc chòi giữa rẫy ăn cơm, uống rượu. Chủ rẫy kể chuyện giòng họ mấy đời người Tiều Châu qua đây làm rẫy, sống nương tựa vào nhau cha truyền con nối. Rượu vào ông ta càng nói nhiều, lôi cả chuyện vượt biển thời ông cố ông sơ, đi ghe bầu suốt dọc chiều dài biển Đông. Giữa trưa bữa nhậu tàn, rượu thịt hết rau cũng hết, chủ rẫy mắt mũi lèm nhèm đi xiên xẹo vào nhà, Bằng trở về quán uống ly cà phê kể cho Hai Chất nghe chuyện Long Cụt bị đâm chết.


“Tôi biết rồi”, Hai Chất nói. “Lãnh nguyên một con dao chớ gì?”.


“Nó chết để lại đứa con gái mù cho tôi nuôi”.


“Chuyện đó tôi cũng biết”.


“Tôi thề có mặt đèn, tôi còn sống đứa nhỏ không bị thiếu thốn”.


“Con nhỏ em út tôi là một đứa con gái sầu đời”, Hai Chất cám cảnh mình. “Buồn chuyện chồng con buồn sang chuyện trời đất, mưa buồn nắng cũng buồn, nhìn nước ròng, nước lớn cũng thở than rầu rĩ. Nó biết chuyện anh quen cô tiếp viên, chuyện anh nuôi đứa con gái mù, nói anh ở tù nuôi làm sao, để nó đem lên chùa còn hơn. Anh chịu không?”.


“Tôi nuôi được thôi”, Bằng nói.


“Tùy anh thôi. Em gái tôi tu trên núi Sam ở Châu Đố. Ở đó có nước đâu cho nó nhìn. Ba má tôi than vãn, anh em tụi tôi cũng rầu lòng, nhà khá giả có đứa con gái có hai chồng chết sông chết biển, chẳng đẻ được con đòi đi nuôi con người ta...”.


“Trời đất kỳ cục quá!”, Bằng nhìn trời nói.


“Mưa giông đó”, Hai Chất nói, vẫn không thôi chuyện cô em gái. “Sao anh không lấy nó? Nó không chịu lấy anh, nhưng anh đã hỏi cưới nó đâu? Anh hỏi cưới đi, có khi nó cũng chịu, nó cạo đầu chẳng mấy chốc tóc dài ra thôi”.


Bằng đánh vài ván bi da với đám thanh niên. Gã thọt lượn lờ đòi uống bia, anh giơ chiếc cơ lên gã lảng đi. Chút sau gã lại lượn đến, nói có nhìn lén vào chiếc thùng sắt của ông già nuôi, thấy có lóe sáng, phi vàng bạc không có gì sáng được như vậy.


“Mày tìm chiếc ghe ông Sáu Thiên cho tao còn hơn”, Bằng nói.


Không biết đi đâu, Bằng ngồi lì ở quán, khách ra vào có người nói gặp ông Sáu Thiên ở đâu đó, lo giấy khai sinh cho một thằng cháu vào nhập học, cãi lộn với người thư ký mang kiếng. Trời sụp tối, Bằng kêu dĩa cơm, ăn xong ngồi dật dựa. Người khách cuối cùng ra về. Hai Chất biến mất vào trong buồng. Đứa con gái nhỏ dọn dẹp đóng cửa. Anh vẫn ngồi. Về khuya, muỗi bu cắn, anh kê mấy chiếc ghế nằm co, trùm kín trong tấm chăn mỏng, ngủ chập chờn trong tiếng sóng vỗ lách chách dưới sàn nhà. Mãi rồi trời cũng sáng ra, đứa con gái nhỏ trở dậy kêu anh cùng tiếp dọn bàn. Ngày tự do đầu tiên của anh đó! Dưới bến, xuồng ghe trở dậy khua lịch kịch, tiếng người kêu gọi nhau, các bếp đỏ lửa. Khách bắt đầu vào quán, Bằng tiếp con nhỏ bưng bê, tìm ghe quá giang về sông Ông Trang. Cũng nên coi qua căn nhà như thế nào. Con nhỏ tìm giùm được chiếc ghe chở muối, nhưng phải đợi tới trưa. Anh được ăn dĩa cơm miễn phí, ngồi dật dựa. Gã thọt tới lui gạ gẫm, anh lờ đi như không nhìn thấy.


Anh quá giang không phải chiếc ghe chở muối mà là chiếc ghe cưới, bông băng kết tua chạy rẽ sóng. Bằng ngồi nép phía sau cạnh lá cờ bay phần phật, người đông, ồn ào nhưng không ai biết anh là ai. Thỉnh thoảng có trà bánh, thuốc lá đưa tới anh đều cầm lấy. Ghe vẫn chạy, cánh đàn bà con gái tụm lại trong khoang mui, tốp con trai bận áo sơmi trắng, tóc chải mượt, đứng ở mũi ghe cười nói vang vang. Có giọng giả gái cất lên một điệu tân cổ giao duyên. Bằng ngồi ăn bánh hút thuốc, uống lon nước ngọt. Ghe bắt đầu vào sông Ông Trang. Tiếng hát vẫn chưa dứt. Bằng lấy thêm bánh, chai nước ngọt cất vào trong túi xách, men lại gần người lái ghe chỉ bến ghé. Người lái ngạc nhiên nhưng vẫn cho ghe ghé vào. Mọi người trầm trồ bàn tán về căn nhà. Cô dâu đòi chụp hình, khách khứa ồn ào kéo lên đứng giăng hàng ngang cạnh chiếc vó. Bằng là ông chủ đứng chính giữa. Người thợ chụp hình chạy lom khom tới lui bấm máy lắc rắc. Rồi mọi người xuống ghe, tiếng hát cất lên, ghe chạy đi. Bằng đứng nhìn theo lá cờ mất hút sau doi sông.


Căn nhà vẫn y nguyên, trống vắng, lạnh lẽo, như ngưng đọng lại từ lúc Bằng ra đi. Những chiếc áo của hai đứa sinh đôi lay lắt trên sà nhà. Mấy thanh củi cháy dở nằm chỏng chơ ở lò bếp, chùm cá khô rủ nước đung đưa trên sàn bếp. Có mấy bao căng phồng không biết của ai gởi, đựng gì, nằm một góc nhà. Hàng lu đầy nước mưa trong vắt, Bằng múc một gáo uống thử, thấy ngọt lịm như pha đường.


Cha mẹ hai thằng sinh đôi chắc đang chạy ghe chở mướn, hai đứa nhỏ ham vui đi theo, con chó cũng vậy. Đâu ai ngờ anh trở về đây. Kể cũng đáng buồn, chủ nhà trở về không có ai mừng rỡ chào đón! Đi quanh quẩn một lúc, anh xuống bến tháo lưới thả chiếc vó, ngồi hút thuốc chờ đợi, không phải để bắt cá mà để đón xuồng ghe qua lại. Mọi người phải nhìn thấy anh trở về, anh đang ở trong nhà của mình, căn nhà vẫn có sinh hoạt của nó. Mấy lần cất vó chỉ được mấy con cá con, anh thả trở xuống rồi trở lên nhà nằm giang tay giữa sàn ngủ liền một giấc dài. Anh thức dậy trời đã xế chiều, thấy đói bụng, mò đến khạp gạo thấy cạn sạch, mở thử mấy chiếc bao thấy đựng toàn nhợ lưới. Thốt nhiên anh sợ đến điếng người: không có xuồng ghe qua lại anh dám chết khô ở đây lắm!


Người chủ nhà chết trong căn nhà của mình!


Nỗi lo sợ của mọi người về chuyện anh ở một mình là có cơ sở.


Nhưng chưa đến nỗi gì, phải bình tĩnh. Không thể lội sông, đành phải đợi thôi. Anh vét khạp gạo thấy còn một ít đã có mùi mốc, anh vo thật kỹ, nấu nồi cháo loãng, cá lớn, cá nhỏ cất vó được cho tất cả vào nấu nhừ, húp liền một tô nóng bỏng, thấy tỉnh ra được một chút. Sực nhớ ông Sáu Thiên nói cô vợ cũ và con gái có về đây, anh đi quanh lục tìm mong Thủy Tiên nhét thư đâu đó. Con nhỏ hay làm như vậy, thích trò bí mật giữa hai cha con. Có được thư anh sẽ vững tâm hơn, có thêm sức mạnh chống chọi với tình thế kỳ cục này. Nhưng không có gì cả, một dấu vết nhỏ cũng không.


Anh đã không tính tới trường hợp này, như tự gài bẫy mình. May nhà còn nguyên hũ muối. Anh nướng cá ăn, không thể gọi là no nhưng cũng không còn đói. Trời tối, anh ra ngồi bên chiếc vó không dám chợp mắt, sợ để lỡ xuồng ghe qua lại. Nhưng gần sáng mệt quá anh ngủ thiếp đi, nghe tiếng máy nổ choàng dậy chiếc ghe đã qua mất.


Một lần khác một chiếc ghe không thấy nổ máy gì cả, lặng lẽ đi ngang qua, anh kêu réo chiếc ghe vẫn đi, không thấy có bóng người nào trên ghe, như một chiếc ghe ma.


Trời sáng ra anh vét tô cháo cuối cùng, có vị thiu chua.


Suốt ngày hôm đó từ sáng tới chiều vẫn không có xuồng ghe qua lại, thật kỳ lạ. Có lẽ trước đây cũng có những lúc như thế nhưng anh không để ý. Không nghĩ ngợi gì nữa, cũng không có cách nào khác, anh tiếp tục cất vó canh xuồng ghe qua lại, quơ níu lục bình trôi ngang lặt hết lá non luộc ăn. Trong túi xách còn ít bánh đám cưới, nhai nhẩn nha gọi là có chất bột. Đêm đến anh ngủ gà ngủ gật, có chiếc thùng thiếc và thanh củi cạnh bên. Xuồng ghe qua lại đối với anh giờ là mạng sống. Nhưng quãng sông vẫn lặng thinh lặng ngắt, như sự trêu ngươi quái ác. Trời sáng ra bụng đói cồn cào anh hối hả nướng cá luộc đọt lục bình. Lại hết ngày đến đêm, vào giữa khuya chợt nghe tiếng máy nổ anh mừng như được sống lại.


Đó là chiếc ghe chở chuối chạy về chợ Năm Căn, ngược đường với chợ xã. Đành vậy thôi, miễn đến chỗ có người. Anh gõ thùng như có đám cháy. Chiếc ghe ghé vào anh xách túi nhảy xuống, hơi chút ngậm ngùi thấy mình rời nhà mình với nỗi vui mừng như vậy. Trời vẫn còn tối, anh ngồi trong hốc những quài chuối, sờ soạng bẻ được mấy trái chín nhai nuốt, thấy yên bụng, ngủ vùi. Ghe đến chợ huyện trời vừa hửng sáng. Lâu rồi chỉ biết chợ xã, Bằng thấy chợ huyện rộng mênh mông ồn ào tấp nập, ai nấy quần áo tươm tất, nói năng lịch sự, đàn bà con gái duyên dáng xinh đẹp. Anh dạo chơi nhởn nhơ, vào quán kêu cơm ăn, hỏi cô gái bưng bàn có thấy chiếc ghe xanh đỏ không. Cô gái không thấy, nhưng một người khác có thấy, chiếc ghe du lịch ai cũng biết, hỏi Bằng muốn mướn không. Bằng đến phòng thương binh xã hội tìm ông Sáu Thiên. Người thư ký mang kiếng nhìn Bằng nghi ngại, Bằng nói anh nhờ xin giấy chứng nhận liệt sĩ cho ông chú hồi năm Bảy Lăm dẫn một cánh quân đánh vào huyện này, cắm lá cờ trên nóc tòa nhà cao từng. Làm gì có nhà cao từng ở đây? Bằng quay đi như tìm kiếm người nào đó, rồi vọt ra ngoài.


Trời nắng chang chang. Bằng đứng ngẩn ngơ một lúc rồi đi hú họa về một hướng, hết đường lộ đá đến đường lộ đất, lầy lội, qua lại quanh co, lại thấy khu chợ hiện ra trước mặt. Không thể ngủ quán như ở chợ xã, cũng không có nhiều tiền vào phòng trọ, tốt nhứt tìm ghế bố cho mướn, kiểu ngủ của phu khuân vác, người đi lỡ đường. Nhưng không có đâu cả. Chợt có tiếng kêu, ngẩng lên thấy vợ chồng người chủ ghe ngói hôm nào anh nhờ dòng ghe từ chợ Cà Mau xuống. Hai vợ chồng mừng rỡ, anh càng mừng hơn.


“Chào… Mần ăn khá không?”, anh cười rối rít.


“Cũng vậy thôi”, vợ chồng đáp. “Chiếc ghe đâu?”.


“Đang đi tìm nó đây, có ai thấy đâu không?”.


Không ai thấy cả. Chiếc ghe chài đậu dưới bến, đám con trai đang chuyền ngói, hai vợ chồng quay ra tiếp người chủ hàng. Bằng ngó quanh rồi đứng vào hàng cùng làm.


“Làm giùm hả?”, hai vợ chồng quay lại cười nói.


“Không, làm công”, Bằng cười đáp. “Cho theo ghe ăn cơm đi tìm chiếc ghe”.


Thật lạ, sông nước Cà Mau rộng mênh mông đâu đến nỗi chiếc ghe mất tăm như vậy. Chuyền ngói cúi gập người suốt mấy tiếng đồng hồ lưng mỏi nhừ, nhưng xong rồi leo ngồi lên mui, ghe chạy đi mặc sức thảnh thơi nhìn ngắm, sảng khoái không gì bằng. Ghe chạy một vòng suốt ngày đêm, tuôn ngói xuống các làng xã, hôm sau trở về chợ Năm Căn, vẫn không thấy chiếc ghe, không nghe ai nói nhìn thấy. Một cuộc đuổi bắt không hứa hẹn điều gì. Anh bắt đầu thấy nóng ruột. Hôm xin phép trại ra đi, tuy có nói đi tìm chiếc ghe không biết bao lâu, nhưng cũng không có nghĩa là vô hạn. Tuần lễ trôi qua, chiếc ghe ngói đi lòng vòng, anh vẫn bám riết, chất ngói lên, chuyền ngói xuống, mệt đừ người. Ghe chạy băng băng giữa dòng, anh nằm khoèo hút thuốc tán chuyện với đám con trai cố quên mọi chuyện. Đám con trai có biết ông Sáu Thiên, gần đây cũng có gặp, không thấy đi chiếc ghe xanh đỏ. Sang tuần lễ thứ hai anh nóng ruột như lửa đốt, đêm nằm mơ thấy tìm được chiếc ghe, trở về “nhà” là trại cải tạo. Chán cảnh nằm khoèo hút thuốc ngắm cảnh, đánh bài búng mũi véo tai với đám con trai, anh quay ra học lái ghe. Hồi ở thành phố lúc đi bụi anh đã từng lái xe tải đường dài miền Trung, sau lên làm giám đốc lái xe du lịch đời mới, cũng đã biết thế nào là “tốc độ”, nhưng không có được cảm giác lái chiếc ghe chài khẳm đừ giữa sông rộng mênh mông. Anh học lái rất mau, vài ngày có thể đứng lái một mình, giở tấm bản đồ nhờ người lái chỉ thêm các đường ngang ngõ tắt. Suốt ngày bận rộn, giữa khuya thức giấc nhớ đến chiếc ghe lại thấy nôn nao thức luôn tới sáng.


Một bữa ghe đi ngang chợ xã anh xin lên luôn.


“Không tìm ghe nữa à?”, vợ chồng chủ ghe hỏi.


“Ở một chỗ chờ ghe đi ngang thôi”, anh đáp.


Cũng là một cách tìm. Hai vợ chồng quay ra bàn với nhau, trở lại dúi cho anh ít tiền, anh chộp lấy nhảy tót lên sàn quán, chiếc túi xách đung đưa, tấm bản đồ cuộn tròn nhét vội bên ngăn hông túi thò ra một góc chéo.


Quán vắng tanh. Hai Chất ngồi trên chiếc ghế mây. Bằng bước lên nhướng mắt hỏi, ông ta lắc đầu. Buổi trưa trời xám xịt, mây đen vần vũ, gió thổi mạnh, ngoài xa mặt sông nổi sóng, ghe xuồng đậu ken lại sát be ghe vào nhau. Bằng không ăn cơm, không uống cà phê, chỉ ngồi hút thuốc, đầu óc trống rỗng.


“Mấy ngày rày đi đâu?”, Hai Chất mở miệng.


“Đi tìm chiếc ghe”, Bằng đáp. “Không thấy đâu cả, không biết như thế nào”.


“Thường là như vậy”, Hai Chất nói. “Cái muốn tìm thường không thấy đâu. Ra tù rồi hả?”.


“Chưa. Nhưng cũng không còn ở tù nữa. Ông mướn tôi làm công không?”.


“Cứ ở đây đi!”.


Vậy là xong một mối. Nhưng với đứa con gái nhỏ không dễ chút nào. Đó là một con nhỏ tham công tiếc việc chưa từng có, sai anh làm đủ thứ chuyện, từ sáng tới chiều không ngừng tay, bưng bê, dọn bàn ghế, chẻ củi, nhóm lửa, mờ sáng cùng nó đi chợ mang vác thịt cá, rau cải, than củi, bê nguyên cần xé cá muối, nước cá tanh hôi chảy ướt từ cổ tới chân. Mỗi ngày mỗi thêm việc, anh kiên trì chịu đựng, đây là chỗ tốt nhứt cho anh tìm chiếc ghe và ông Sáu Thiên.


Một buổi trưa vắng khách, Hai Chất liếc nhìn đứa con gái nhỏ nói nhỏ với Bằng:


“Anh đi với tôi”.


“Đi đâu?”.


“Đi tìm chiếc ghe”.


Hai người lẻn ra đi, quá giang không biết cơ man nào ghe lớn ghe nhỏ, ghe chở chuối, ghe chở khô mắm, than củi, heo con, ghé vào vô số nhà, Bằng ngồi dưới ghe Hai Chất lên nhà hỏi thăm trở xuống đi tiếp.


Một buổi tối họ quá giang chiếc ghe chở đá chẻ, hai người ngồi dật dựa trên hai thanh đá cứng ngắc, không ngủ được, Bằng thổ lộ với Hai Chất chuyện đời anh. Anh bị mất tiền đánh đứa con gái bị tù, đã gần mãn hạn tù trại cho anh tự do đi lại, đi tìm chiếc ghe về chạy mướn, anh cần phải giữ uy tín. Rốt rồi đời anh chỉ còn hai nơi đó, thật kỳ lạ, chiếc ghe và trại cải tạo, không còn chỗ nào khác để trở về.


Cuộc chu du rồi cũng kết thúc. Một bữa ghe đi suốt đêm, sáng ra ghé lại nhìn thấy chợ xã, Hai Chất lên quán ngồi vào chiếc ghế mây, Bằng lên theo bắt tay vào dọn dẹp bưng bê, như không hề có chuyến đi lòng vòng mấy ngày trời long đong vất vả.


Buổi trưa vắng khách Bằng lên ủy ban tìm ông cắt cỏ:


“Ông cho tôi ở nhờ ít bữa, ở dưới quán con nhỏ sai làm việc dữ quá”.


“Được thôi”, ông cắt cỏ nói. “Ở đây làm cỏ với tôi, những người bị tạm giam cũng thường làm như vậy”.


“Tôi ra tù rồi, ở đây đợi ông Sáu Thiên lấy chiếc ghe đi thôi”.


“Ông ta đang ở đây nè”.


Hóa ra là như vậy, chuyện cứ như giỡn chơi. Lát sau anh liên hệ được với ông Sáu Thiên, nhưng ông không muốn gặp, gởi lại bức thư dài chữ viết thẳng thớm, lời lẽ chừng mực, thấy rõ có sự kềm chế tương đối:


...Tao nghe mày đi tìm chiếc ghe, chưa vội đưa trả, để mày có dịp đi rong chơi ngắm nhìn quê hương... Mày cứ ở quán Hai Chất, sẽ có người đem ghe đến... Tiền cho mướn ghe tao gởi một ít cho mày xây xài, còn lại đưa hết cho con Thủy, để nó mần ăn. Hạng lông bông như tao với mày cầm đồng tiền như ngỗng ngậm đá cục. Đời là bể khổ, mày là thằng không ra gì, do hoàn cảnh và cũng do bản thân, số kiếp lang thang rồi cũng đến bỏ xác giữa dòng, xương tàn chôn vùi dưới đáy nước. Tao đi hỏi vợ cho mày, cốt mày có được gia đình, làm thằng đàn ông sống như mọi người. Nhưng mày thích ở trong tù hơn ngoài tù. Con nhỏ đi tu có gởi thư về, cả nhà đọc thư khóc rùm như có người chết, mày không kiếm được người vợ nào hơn thế đâu. Con Thủy trở bịnh sao đó, mày nên ghé thăm. Ráng giữ gìn chiếc ghe, đó là chiếc ghe tốt tao chưa từng thấy, về trại mày tự lái đừng giao người khác. Coi chừng giông bão, năm nay thời tiết kỳ cục lắm. Tao đưa gia đình hai thằng sinh đôi về ở nhà sông Ông Trang, nhà không có người ở sanh ra ma quỉ phiền phức lắm. Hai thằng sinh đôi lớn tồng ngồng không học hành gì ráo, mẹ chúng chết khi chúng vừa mới sanh, chết dưới ghe, một bà mụ vườn đỡ đẻ từ chập tối đến giữa đêm, ra được một đứa, đứa kia phải nắm đầu lôi ra. Năm đó nước dâng cao, hai bên bờ nước ngập linh láng, người cha chèo hoài không thấy có gò nổng đâu cả, đành phải làm giàn đắp đất chôn vợ. Xứ này ngàn đời người chết người sống không bao giờ được xuống với đất. Bà mụ vườn không chồng con sau đó nhận ở lại làm mẹ hai đứa nhỏ, cả nhà vẫn ở dưới ghe. Hôm đến ở nhà mày ở sông Ông Trang, vợ chồng con cái lên ngồi trên nhà đờ đẫn như say sóng, mấy ngày sau vẫn chưa đám dọn đồ lên, không tin mình được có căn nhà.


Đã có tin về cái chết của người trưởng công an. Hai thằng tù trốn trại lang thang trong rừng, ghe mày tình cờ lủi vào, chúng hoảng sợ nổ súng. Tội ác là như vậy, nhiều khi không vì nguyên cớ nào cả. Hai thằng tù sau đó tiếp tục lang thang trong rừng như hai con ma đói, hôm rồi ra đầu thú khai hết tội trạng.


Ông già trăm tuổi hỏi sao lâu rồi mày không ghé. Tao nói mày bị tù rồi, tù rục xương. Nhưng biết mày đi trồng rừng ông già cũng yên tâm phần nào. Ông già ở một mình không biết ra sao. Có thời ông già cũng có vợ. Một bữa lội rừng về từ xa thấy nhà có khói, vào nhà thấy có người đàn bà trong đó, lau chùi dọn dẹp như nhà mình. Hai người sống với nhau cũng được mấy năm, ngủ riêng, không mấy khi ăn chung, ông già hết đi rừng lại đi biển, người đàn bà ở nhà chùi xoong nồi, một tháng đôi lần ông đem cá, thú rừng về, người đàn bà xẻ thịt phơi khô, muối cá làm mắm, tối đến hai người ngồi với nhau một chút. Người đàn bà kể chuyện đời mình ông ngủ gà ngủ gật, bà vẫn kể. Sáng hôm sau ông lại ra đi. Một hôm ông về không thấy bà đâu cả, tìm quanh rừng cũng không. Vậy là bà bỏ đi rồi, tới đó ông cũng không biết bà tên gì, từ đâu đến và đi về đâu.


Mày lấy ghe về trại hay còn đi đâu nữa? Tao biết mày đang âm mưu chuyện gì. Tội lỗi chồng chất, tao thương con nhỏ mù đứt ruột, nhưng thằng cha nó chết cũng đáng đời. Chuyện mụ mập với lão già ròm không việc gì mày phải dính vô.


Vừa rồi có một gia đình nhờ tao xin nhận rừng nuôi tôm, tao coi lại không thấy có công gì cả, giòng họ mấy đời không có ai tham gia cách mạng, nuôi giấu cán bộ đưa người qua sông. Chỉ có nghèo thôi, ba đời làm thuê làm mướn, nghèo đến nỗi không có chiếc xuồng để đi. Tao nhận lời, nghĩ bụng nghèo cũng là công trạng. Tao cầm tờ đơn đến gặp tay thư ký mang kiếng. Lâu rồi chúng tao không gặp nhau, chẳng vui vẻ gì cũng chào hỏi qua loa. Tay thư ký nhìn tao nói thôi vòng vo làm gì, cứ nói thẳng ra đi. Tao nói ừ thì nói thẳng, thưa ông cán bộ, tôi kháng chiến cả đời nhờ bà con đùm bọc, đồng chí chắc cũng vậy, không có hầm bí mật tôi với đồng chí sống tới giờ được không? Tay thư ký nói tôi không đi kháng chiến, tôi còn nhỏ mới vào làm việc từ hôm ba mươi tháng tư, nhưng ông nói thẳng sao cứ lòng vòng vậy? Tao nói lòng vòng cũng là nói thẳng, thưa đồng chí ba mươi tháng tư, có một nhà có hầm bí mật nuôi giấu cán bộ suốt hai thời kỳ kháng chiến, có đáng được hưởng chính sách không? Tay thư ký nói chính sách thì có nhưng không phải ai cũng được hưởng, phải có bằng chứng, chiếc hầm bí mật đâu chỉ tôi coi, tôi làm tờ trình có đóng dấu ký tên. Nó muốn coi cái hầm bí mật, giấy tờ đóng dấu ký tên, còn tao là người còn sống nó không màng tới. Tao nói được rồi, tôi không đem chiếc hầm bí mật đến đây được, ông đi với tôi. Nó nói đi thì đi. Hai tụi tao đi đò máy đò chèo, suốt từ sáng tới chiều không ăn uống, không ai chịu bỏ tiền ra, chiều tối tới nơi nhà cũng không có cơm đành phải nhai mấy củ khoai nướng dằn bụng. Chiếc hầm bí mật đâu, nó hỏi. Tao nói khoan đã, chiếc hầm bí mật còn đó, nó là vật vô tri, tôi giới thiệu với ông người trong nhà. Đây là ông già chín chục tuổi từng đi lính khố xanh khố đỏ, bắt tay me-xừ với quan Tây, đây là bà già cũng chín chục cả đời đan lưới mò tôm bắt cá, đây là con trai, con gái, dâu, rể, cháu chắt nội ngoại chẳng ai có được hai bộ quần áo... Tao giới thiệu dài dòng để đánh lạc hướng, nhà có chiếc hầm bí mật nào đâu. Tao dẫn nó đi ra sau vườn chỉ chỏ vu vơ, tay thư ký dò dẫm đi theo. Tao nghĩ thôi chết rồi phen này thua thằng thư ký này rồi... Vừa lúc đó bỗng nghe có tiếng xôn xao ngoài bến sông, một chiếc ghe ghé vào, một vị đại tá đi lên ngực đầy huân chương, như trời hạn gặp mưa, tao níu ông đại tá lại nói này ông thư ký ơi, đây là người con cả trong gia đình ra đi đã hơn ba mươi năm tưởng đã chết, hóa ra là một vị đại tá tình báo cần phải giữ bí mật. Vậy được chưa, bằng chiếc hầm bí mật không, người còn sống hơn vật vô tri vô giác không…


Không bao giờ Bằng đọc hết thư ông Sáu Thiên. Anh xếp cất vào túi, có cảm giác ông ta đang đứng đâu đó nhìn theo. Ông cắt cỏ đã bỏ đi. Bằng trở về quán tiếp tục bưng bê dọn dẹp, mấy hôm sau vẫn không thấy ai đem ghe đến.


Một buổi sáng có người khách vào quán ăn xong đi ra chợt dừng lại nhìn Bằng đăm đăm. Bằng cũng thấy quen quen. Người đó hỏi:


“Mày làm trò gì ở đây? Ra trại rồi hả?”.


Bằng nhớ ra, đó là gã tù cùng trại:


“Tao đi lấy ghe về cho trại”.


“Tao cũng đi công việc”, gã cười mắt láo liêng. “Mày tưởng tao trốn trại chớ gì?”.


“Tao không tưởng gì cả”.


“Tao trốn làm gì, không nhà cửa chỗ đâu mà về. Già Tư chết rồi mày hay không?”.


“Không”.


“Chết rồi. Tự tử. Bị con gái chửi. Đứa con gái bị bán trinh ấy. Lão chỉ có đứa con đó thôi, cưng nhứt trần đời, đến trại chửi rủa lão thậm tệ việc lão đâm chết má nó. Bị con chửi cũng đáng chết thôi, giữa đêm lão ra rừng xé áo treo cổ lên cây đước cụt ngọn, lưỡi lè ra cả tấc”.


“Mày định trốn trại thật à?”.


“Dò hỏi làm gì. Trốn trại dễ ợt, đi trồng rừng chiều nằm ém lại. Hoặc giả đi công việc như thế này rồi dông luôn. Tao chưa trốn là do không có nhà để về, lang thang một mình trong rừng rồi cũng đến chết mất xác thôi. Mày uống với tao chai bia không?”.


Bằng quay ra tiếp tục bưng bê dọn dẹp, gã tù ngạc nhiên nhìn theo mãi.


Không thấy gã thọt tới. Trời vẫn mù mịt. Thừa lúc đứa con gái nhỏ đi ra ngoài, Bằng lẻn lên trụ sở công an tìm ông cắt cỏ:


“Không thấy ông Sáu Thiên đưa ghe tới, tôi có chuyện phải đi gấp, ông có tiền cho tôi mượn không?”.


“Không”.


“Tôi cần tiền nuôi đứa con gái mù. Khi tôi không cần ông kêu cho mượn hả?”.


“Tôi cho người khác mượn rồi”.


“Tiền của ông là tiền khôn, tôi biết rồi. Thằng bạn tù bị đâm chết để lại đứa con gái mù, chắc tôi phải đâm người đã giết nó để lấy tiền nuôi con nó”.


“Theo kiểu xã hội đen hả?”.


Bằng trở về quán, gã tù sà đến nói nhỏ vào tai:


“Tao không trốn, nhưng mày trốn tao không nói gì đâu. Hoặc giả tao cùng trốn với mày”.


“Mày có chỗ về rồi hả?”.


“Chưa. Nhưng ngán trồng rừng rồi. Công việc mù trời mù đất. Mày khoái trồng rừng hả?”.


“Tao đang có việc. Nhưng mày trốn tao dẫn người đi bắt”.


“Tao trốn vô rừng làm khỉ làm sao bắt được?”.


“Trồng rừng đi, rồi có chỗ làm khỉ”.


Mấy ngày sau nữa trôi qua. Một buổi sáng thức dậy Bằng thấy chiếc ghe đậu dưới bến, ngay sát sàn nhà, đứa nhỏ nằm ngủ trong khoang ghe. Bằng lay đứa nhỏ dậy, nó dụi mắt đưa Bằng gói tiền, chìa mở khóa xích, lên bờ lững thững bỏ đi. Bằng xuống ghe thấy có trữ sẵn gạo nước mắm muối, anh tính tiền với đứa con gái nhỏ, ngồi uống ly cà phê rồi ra đi.


(còn tiếp)


Nguồn: Cơn giông. Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. Rút từ Tuyển tập Lê Văn Thảo. Nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 24.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 24.10.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 24.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 24.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
xem thêm »