tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27653442
Tiểu thuyết
12.08.2012
Lê Văn Thảo
Cơn giông

Khu trại giữa vùng rừng phát quang rộng mênh mông, thoáng mát, những gian trại mái lá, vách lá nằm thành hàng ngang dọc đều nhau, cột kèo bằng gỗ đước, nền đất, giường cá nhân khung tre, tấm lát bằng cây sặt, trải đệm, mỗi gian có ba chục giường, hai hàng hai bên, đồ cá nhân để trên kệ, mùng mền xếp ngay ngắn ở đầu nằm. Các gian trại nối nhau bằng những con đường đất nhỏ, trổ ra đường “xương sống” đâm thẳng vào khu gian trại lớn khang trang của ban quản giáo.


Buổi sáng kẻng đánh thức lúc năm giờ, tập thể dục làm vệ sinh cá nhân ăn sáng, bảy giờ về trại sửa soạn đồ đạc dụng cụ, bảy rưỡi đi trồng rừng. Chiều bốn giờ về tắm rửa, ăn cơm nghỉ ngơi. Bảy rưỡi sinh hoạt trại, chín rưỡi kẻng đánh lên giường ngủ.


Sáng hôm sau, Bằng thức dậy ăn cơm với mọi người, nhưng chưa đi trồng rừng, trở về trại nằm một chút có người dẫn lên gặp ban quản giáo. Không có việc gì, giấy tờ đã đủ, chỉ nghe thêm qui chế, giờ giấc sinh hoạt đã biết trước từ đêm qua. Giám đốc trại, một người đàn ông tóc bạc, gọi là “Ông Già”, có vẻ như đang rảnh rỗi, giữ Bằng lại nói chuyện. Ông ta hỏi đủ thứ: ở thành phố về đây ở đâu làm gì? sao phải đánh người? Rồi nói với Bằng ở đây trồng rừng thời gian cho khỏe người, có cần gì cứ lên gặp ông, bất cứ lúc nào.


Anh trở về trại nằm khoèo không biết làm gì, lục các kệ không thấy có sách báo, ngóng ra ngoài không thấy ai qua lại. Nằm ngồi dật dựa tới gần trưa mò xuống bếp ăn cơm cùng với mấy người bịnh. Bốn bên nắng chói gắt, nhưng trong nhà rất mát, gió thổi lộng nghe xôn xao cây lá ngoài rừng xa. Bằng ăn xong về trại ngủ một giấc dài, xế chiều thức dậy đi rảo quanh, từ trong ra ngoài, ngang qua một chòi có lính gác, đến vòng rào bên kia con sông một dải ánh bạc lấp lánh mất hút vào trong khu rừng đước. Một tốp người đang phát quang, xây thêm khu trại mới, một bờ đất không biết ai đắp có từ hồi nào, sụt lỡ hầu hết, không bắt đầu từ đâu cũng không đi tới đâu, cụt ngủn trơ trọi như lưng con vật khổng lồ. Có một thân cây đước già cụt ngọn lơ thơ vài cành lá đâm xiên xẹo. Bằng leo lên bờ đất vấn thuốc hút, rảo mắt nhìn quanh không thấy gì, trở xuống đi về trại, lại nằm khoèo đến năm giờ, mọi người đi làm về ồn ào tắm rửa, anh cùng họ đi ăn cơm, chen mau vào để khỏi cảm thấy ngỡ ngàng. Bữa ăn thật đông vui, cười nói, giỡn hớt không có vẻ gì là tù cả, ăn xong trở về trại mọi người đi sinh hoạt anh nằm khoèo, chín giờ mọi người về có được nửa tiếng ồn ào chuyện vãn. Chín rưỡi kẻng khua vang, mọi người lên giường anh cũng giăng mùng vào nằm, kéo chăn trùm kín người. Đèn vẫn sáng trên trần nhà.


Chợt có tiếng động. Lão già giường bên cạnh thò đầu qua vén mùng Bằng, đôi mắt trắng dã láo liêng không biết nhìn vào đâu:


“Tâm sự chút coi: sao vô đây?”.


“Động đậy tay chân quá đáng chút thôi”, Bằng đáp vọng ra từ trong chăn.


“Đánh người à? Bằng củi bửa? Hay đập bằng búa?”.


“Bằng tay”.


“Thanh toán một thằng đại bàng?”.


“Không, đánh một đứa con gái”.


“Tệ quá! Ghen hả?”.


“Không”.


“Biết vậy thôi. Chấm hết. Nhưng chút nữa có chuyện đó”.


“Tôi hả?”.


“Đừng hỏi. Đâm chém nhau chuyện ai nấy biết. Nhưng chịu nhịn một chút cũng yên thân. Ở đây nhiều cá tôm bồi dưỡng, không mắc mớ gì phải vô trại giam nhà tường”.


Mí mùng được thả xuống. Bằng chợp mắt, một lát sau lại thấy một khuôn mặt khác ló vào, cằm nhọn, mắt ti hí, tráng dẹt, cổ rùa, bàn tay phải bị cụt một nửa, vết chém thẳng như kê lên thớt.


“Dậy đi thằng mới tới”, dị nhân cổ rùa lên tiếng. “Đi ra ngoài này tao hỏi chuyện một chút”.


“Tao hả?”.


“Ừ, mày!”.


“Đi đâu?”.


“Ra ngoài này”.


“Tao nằm trong mùng bẻ cổ mày không được sao?”.


Vạt mùng được thả xuống, có vẻ hơi bị chưng hửng. Bằng nằm quay đi, vùi đầu vào chăn vẫn nghe tiếng chân giẫm lép bép lẵng nhẵng bên ngoài. Không thể nào ngủ được, Bằng nhổm dậy khoát mùng đi ra đưa mắt tìm kiếm. Gã cụt đứng trong góc tối. Bằng bước tới nhìn sát vào mặt hắn ra dấu tay cho hắn đi trước, rồi đi theo sau. Hai người đến một bờ đất xa hẳn khỏi gian trại. Bằng kéo gã cụt ngồi xuống nói:


“Nghe tao nói nè... Tao không đem tiền vàng theo, cũng không rảnh đâu rửa đít cho mày đâu. Trâu chiến không rống lên như vậy, ngữ du côn vườn như mày tao bẻ cổ chỉ bằng một tay”.


“Mày dám…”.


“Không dám gì cả. Tao không gây sự trước, tao muốn yên thân, nhưng mày làm rộn tao bẻ cụt hết tay chân, một lóng cũng không chừa. Thôi về ngủ đi! Về được không hay tao phải cõng?”.


Bằng trở về giường nằm. Lão già mắt bịt bạc vẫn còn rọ rạy, chắc đang hóng chuyện. Bằng kề sát miệng vào thành mùng nói:


“Tôi chưa chết đâu. Tôi cũng để thằng cụt sống ít lâu nữa. Ông ngủ đi, ông nhiều chuyện tôi tính ông luôn đó”.


Người ở gian trại tập hợp thành một đội đi làm chung, có ghe máy đưa đến chỗ trồng rừng. Đước con được ươm từ nông trường, đựng trong những chiếc sọt nhỏ có quai đeo, theo kiểu người dân tộc thiểu số chuyển bằng ghe tới. Những vạt rừng được dọn sẵn cứ thế cắm xuống, dễ như giắt đũa vào ống.


Nhưng cũng không dễ. Cây đước con phải cắm cách nhau đúng một thước. Mặc dù đã được nông trường lựa rồi nhưng phải lựa lại, chọn cây mập mạp thẳng thớm mới trồng được. Những lõm rừng bị phá vài công đất, sâu năm bảy cây số bên trong, không có đường nước, phải lội vào. Nước uống đám tù phải tự mang theo, cơm trưa thì có người mang tới, có lính gác đi kèm nhưng chỉ chiếu lệ thôi. Không ai có ý định bỏ trốn. Trốn đi đâu, trốn làm gì?


Công việc đều đặn chán ngắt. Mặt đất nhão bùn lởm chởm những gốc đước, trồng qua rồi, nhìn lại không thấy cây đước con đâu cả, chỉ thấy quang cảnh tàn phá xám xịt quạnh hiu đến não lòng.


Lão già mắt bịt bạc lẵng nhẵng theo sau Bằng chỉ dạy mọi thứ. Lão hấp háy đôi mắt trắng dã thao thao giảng giải chuyện trồng đước, phải chịu đựng gian khổ, trăm thứ khó khăn người tù phải gánh chịu.


“Nước uống cũng phải tính”, lão nói. “Nước ngọt ở đây là cả một vấn đề. Phải tập chịu khát cho quen, mình đi tù không phải đi ăn giỗ”.


“Tôi đái ra uống không xin thằng nào”, Bằng nổi khùng. “Chưa ai đập ông về tội dạy đời hả?”.


Lão già thuộc loại người không biết giận:


“Tao nói không nghe được thì thôi, phiền phức làm gì. Nóng nảy nhiều mau hư bọng đái”.


Gã cụt lượn lờ trước mặt Bằng. Nó tên Long, mọi người gọi là Long Cụ. Thỉnh thoảng gã giơ bàn tay cụt ra dọa mọi người. Bằng chẳng coi ra gì nhưng cũng cảnh giác. Gần trưa Bằng uống hết can nước bốn lít rưỡi. Lời khuyên của lão già mắt bịt bạc hóa ra cũng đáng nghe. Long Cụt vẫn lượn lờ qua lại. Bằng muốn đá nó một cái nhưng anh không còn thiết gì nữa, khát cháy họng, hai chân mỏi nhừ. Từng lội rừng chặt cây ở sông Ông Trang, nhưng không miệt mài đúng giờ giấc như thế này.


 Giờ nghỉ xả hơi, lão già mắt bịt bạc lại đến ngồi bên Bằng lải nhải:


“Thằng công tử trồng rừng có vẻ mệt. Ở tù thành phố sướng hơn chớ gì?”.


Gió mát khô mồ hôi, Bằng hết bực bội, muốn tán chuyện một chút:


“Cũng chẳng sướng gì. Nhưng tôi là tù kinh tế, chẳng có máu chảy đầu rơi gì đâu”.


“Vậy là đại gia, bữa nào kể chuyện nghe chơi. Tao là Tư Thời, gọi là Già Tư. Tao chưa già, còn có thể đâm chết bất cứ thằng nào”.


“Ong đâm ai?”.


“Không đâm mày thì thôi. Thôi đi làm đi!”.


Mọi người giăng thành hàng ngang cắm từng cây đước con. Bằng làm theo răm rắp, nhưng năm mười phút lại đứng ưỡn lưng, hông đau thắt như có lưỡi dao đâm ngang. Buổi trưa đám tù được nghỉ sớm một chút. Mười rưỡi thấy người gánh cơm hiện ra đằng xa mọi người lục tục kéo lên bờ tìm chỗ khô mát ngồi lau mồ hôi, chờ cơm bưng đến tận nơi. Bữa ăn rất khá, hơn cả bữa sáng, cá kho, cá chiên, canh khoai, dưa bồn bồn, rau trai luộc, nước mắm mặn có ớt xắt lát nổi xanh đỏ bên trên.


Long Cụt ngồi gần Bằng, ăn chẫm rãi, không thấy tỏ thái độ gì.


Buổi chiều cũng nghỉ sớm, mới hơn bốn giờ đã thấy có người lên ngồi trên gò đất, không thấy lính gác nói gì, như họ chẳng cai quản gì. Chắc họ cũng mệt, không làm gì nhưng phơi nắng cả ngày như thế này cũng như làm.


Chiều về trại tắm rửa, ăn cơm, Bằng không thấy Long Cụt đâu, tối vào giờ sinh hoạt gã cũng ngồi lẩn đâu trong bóng tối. Buổi “sinh hoạt”, hội trường chỉ nghe báo cáo số cây đước con trồng được, đọc vài bản tin, nêu gương vài người tốt việc tốt, ai đó nêu lên vài thắc mắc, rồi cùng hát một bài. Bằng hát theo vài câu không nhớ bài gì.


Một tuần lễ trôi qua.


Bằng đã hòa đồng với mọi người. Việc trồng đước hóa ra cũng có đôi chút thích thú. Anh làm thật chậm, nhưng chắc chắn, cắm cây đước xong nhìn lại một lúc, như muốn hình dung cây đước sẽ lớn lên xanh tươi như thế nào. Làm việc không lo nghĩ, ăn ngủ có giờ giấc, anh có vẻ mập ra, ăn hết phần cơm của mình ăn thêm phần dư của Già Tư. Buổi tối trước khi ngủ anh chuyện vãn một chút với Già Tư, cố tránh chuyện riêng tư, chỉ hỏi chuyện rừng rú thời tiết, sông nước, lưới sông, lưới biển. Anh góp vào kể những chuyện vui nhộn quỉ quái trên thành phố, thử bắt chuyện với vài người khác, không ai nghi kỵ xa lánh gì. Tròn tháng, Bằng nhận được món quà không có tên người gởi, một giỏ nặng đồ ăn thức uống, quần áo đồ dùng cá nhân. Anh làm một bữa chiêu đãi bạn tù, chia sớt đồ đạc, chỉ giữ lại bộ quần áo, cục xà bông và hộp kem đánh răng. Sau buổi “liên hoan” Long Cụt lò dò đến, không thấy giơ bàn tay cụt ra:


“Quà thành phố khá lắm”.


“Quà ở đây thôi”, Bằng đáp.


“Chiếc ghe đâu rồi?”.


“Ở dưới sông”.


“Còn cục vàng? Có phải ông già nuôi đem về cho anh cục vàng, bị con tiếp viên lấy mất không?”.


“Chuyện gì mày cũng muốn biết hết hả?”.


Long Cụt cười khì khì, ngưng một chút rồi bắt qua chuyện khác:


“Già Tư kể chuyện gì?”.


“Chuyện đâm người”.


“Lão đâm chết vợ đó. Bà vợ bán trinh đứa con gái, lão cho một nhát rồi thảy xuống sông. Cũng đáng đời hả?”.


“Giết người chỉ đi trồng rừng thôi à?”.


“Đày biệt xứ, lâu lắm rồi mới về đây. Thôi bỏ chuyện lão già, bàn chuyện mình đi. Hùn hạp mần ăn không?”.


“Miệng mày không khép lại được hả?”.


“Tao có xưởng mộc, bị kẹt phải vô đây, mấy máy cưa bỏ không uổng quá. Mày có tiền bỏ vô đó, mình chia tiền lời xài. Chịu không?”.


“Cưa gỗ đước hả?”.


“Không, cưa ván hòm. Đó là nghề làm ăn lương thiện, không bao giờ hết việc. Ai không chết? Xứ này ngập nước quanh năm, hòm chôn người phải thật bảo đảm, chôn trăm năm lấy lên chôn người khác cũng được”.


Chuyện ván hòm của Long Cụt hóa ra có thật. Một hôm trại có người chết, một gã từ trại cai nghiện dứt cơn nghiện chuyển sang trồng rừng, một thời gian dài làm việc siêng năng chăm chỉ, không hiểu sao một hôm đâm đầu xuống sông. Long Cụt lên gặp ban quản giáo đề nghị cho ra chợ xã kiếm chiếc hòm, nhưng gã không nói rõ “kiếm” như thế nào. Ông Già lưỡng lự một lúc rồi đồng ý, kêu Bằng cùng đi.


Hai người ra đi từ sáng sớm, nắng lên một chút tới chợ xã. Có trại hòm thật. Một cơ xưởng khang trang, máy cưa, máy bào chạy ầm ầm. Ghe đâm thẳng vào bến, Long Cụt nhảy lên hò hét quát tháo, như một ông chủ oai vệ, chút sau nhân công ì ạch khiêng chiếc hòm xuống ghe, loại cũng rẻ tiền thôi, nhưng cũng đủ thước tấc có thể chôn bất cứ người nào. Họ ra về ngay hôm đó. Người chết được chôn cất đàng hoàng. Chuyện kẻ vắn số nhanh chóng bị lãng quên, nhưng hào quang của Long Cụt bắt đầu lóe sáng.


Có thông tin từ ông Sáu Thiên, đúng ra là một bức thư chửi rủa, nhưng Bằng cũng lấy làm mừng:


“… Trời tru đất diệt mày! Tao nói với chánh quyền giam mày suốt đời, không mày sẽ còn giết người nữa. Kẻ sát nhân phải đền tội! Hai thằng nhỏ sinh đôi vẫn giữ nhà, con chó cũng ở đó. Cha mẹ chúng lái ghe chở khách, chở hàng, tao giúp một tay, tiền công trích ra phần lớn giữ cho mày. Để mày mua dao chém người. Quê hương mở rộng vòng tay đón mày mà mày đối xử như vậy. Vợ cũ mày với đứa con gái có xuống thăm mày, nghe đâu cũng đã biết chuyện. Vậy là tàn đời mày rồi. Tao vừa mới lo được giấy chứng nhận liệt sĩ cho một ông anh bà con. Anh ấy chết hồi hai mươi tuổi, tao giờ đã sáu mươi. Chiếc ghe bị lủng một lỗ, tao sơ ý đâm phải chiếc cọc, vá lại xong rồi. Tao có ghé trại nhưng không vô gặp mày, nhìn thấy mặt mày chắc tao mửa quá. Đồ đạc do con Thủy mua gởi, nó không chết nhưng nằm liệt giường cả tháng trời. Bà mập nuôi nó, mụ gian thương cờ gian bạc lận còn có lòng…”.


Bằng không đọc hết, cũng không viết thư trả lời, không có địa chỉ đâu mà gởi. Hơn một tháng ở trại anh quên mất căn nhà và chiếc ghe, chỉ còn biết trồng rừng, giờ nghe chuyện ấy như chuyện của người khác.


Nhưng phải viết thư cho Thủy Tiên. Anh hình dung nó đang khóc thương nhớ anh, và cũng giận anh. Không làm sao được, con cái là lương tâm phán xét. Dù không phải con đẻ nhưng anh sẽ nhận lỗi với nó, chỉ riêng với nó. Anh sẽ nói rõ anh về đây tạo dựng cơ ngơi, sống cuộc đời lao động bình thường cũng vì nó, để xứng đáng với nó. Anh không bao giờ quên điều ấy.


Nhưng thư sẽ không được viết, anh biết chắc như thế. Đêm đêm giữa khuya anh thức dậy thầm kêu:“Thủy Tiên con ơi!”. Bức thư bắt đầu và kết thúc chỉ có như thế.


Mùa mưa dứt đột ngộ. Trời trở lạnh. Lại một cái Tết nữa ở nơi quê hương xa lạ này. Trong gió có mùi cá và mùi lông chim. Long Cụt tiếp tục bắt mối với ban quản giáo, thậm thụt đi ra chợ xã, lần nào cũng có đồ đạc đem về, khi thì tấm lưới đánh bóng chuyền khi thì vài tay chèo, có lần gã đưa về chiếc máy đuôi tôm phế thải nói là có thể gỡ lấy đồ phụ tùng… Bằng cố tránh nhưng rồi cũng phải đi với hắn, được hắn dẫn vào tiệm cho ăn uống. Quán quen không phải trả tiền. Hắn bỏ đi một lúc, lát sau trở lại xách mấy tay lưới đánh cá, nói bà con thương người cải tà qui chánh “ủng hộ” trại. Rồi lại đi nữa, kêu Bằng cùng đi. Hai người ghé vào mấy hàng quán, tiệm tiện, tiệm máy nông cơ, Bằng sợ gặp người quen nên đứng ngoài, hắn vào trong gạ gẫm, trở ra kẹp trong tay một món không rõ thứ gì, kêu Bằng đi tiếp nữa.


Một lần hai người vào một tiệm khang trang bày bán đủ thư hàng tạp hóa. Chủ quán tiếp đón e dè. Long Cụt ngồi bắt tréo chân khéo léo kẹp điếu thuốc giữa hai ngón tay cụt, phả khói thành vòng tròn, cất tiếng nói chẫm rãi:


“Mần ăn khá không? Sắp giàu chưa? Ôi lâu quá rồi, sau lần ấy…”.


“Anh em mình uống nước đi”, chủ quán vội rót nước.


“Ừ uống nước đi rồi mình nói chuyện khác, chuyện cũ kể như bỏ!”, Long Cụt hạ thấp giọng, liếc nhìn quanh. “Nhưng ngẫm ra cũng cay đắng trăm bề, thằng lên tiên thằng đi nghỉ mát...”.


Chủ quán lại rót nước:


“Tôi nghỉ mần ăn rồi, buôn bán hụ hợ với vợ con thôi”.


“Cũng nên như thế”, Long Cụt hút thuốc, phà khói giữa những ngón tay cụt. “Có được chút vốn cần phải giữ gìn”.


“Uống nước đi”, chủ quán rót nước, tay hơi run.


“Tụi này uống đủ rồi”, Long Cụt đưa tay ngăn lại.


“Hay uống bia?”.


“Bia cũng không uống”, Long Cụt vẫn một mực. “Tụi này đang đi công việc. Có công an cùng đi. Đứng ngoài kia kìa. Công an không bắt tụi này, nhưng có thể bắt người khác”.


“Thôi mà, thôi mà…”.


“Ừ thì thôi. Nhưng có cái máy bơm nào tát đìa được không?”.


“Máy bơm?”.


“Phải. Nhỏ thôi. Nhưng tát được cái đìa lớn. Cá nhiều lắm! Cho mượn thôi, cơ quan nhà nước mượn có giấy tờ đàng hoàng. Chừng nào hư thì trả”.


“Máy bơm không có, nhưng có vài két bia…”.


“Bia cũng được. Nhưng phải có cái máy bơm. Không mượn được chỗ nào sao?”.


“Mượn ai?”.


“Ai cũng được. Tạm thôi, nhưng phải có liền bây giờ. Công an đang đợi!”.


Chủ quán rót nước, tay càng run dữ. Sắc mặt cũng tái đi. Gã liếc nhìn Long Cụt rồi nhìn Bằng, bỗng chợt chỉ tay vào Bằng đổi sắc mặt vui mừng:


“A, tôi nhớ ra ông anh rồi, ông anh đi hỏi vợ đây mà”.


Bằng quay mặt đi. Long Cụt gạt phắt:


“Vợ con là đồ bỏ. Đây nói chuyện máy bơm, không có máy bơm cho mượn chiếc ghe chài cũng được. Chiếc ghe chài hai đáy dưới bến kìa”.


Chút sau Bằng và Long Cụt ì ạch khiêng chiếc máy bơm xuống ghe, thêm hai két bia nửa. Từ đó tới xế chiều ghe chất đầy đồ đạc từ những món đáng giá như máy bơm tới thứ chẳng ra gì như lưỡi câu lưới rách, dừa khô, kéo hớt tóc, công trình của những lời dọa nạt dụ dỗ và dáng ngồi bắt tréo chân hút thuốc phà khói giữa những ngón tay cụt.


Chiếc ghe chạy băng băng trở về. Long Cụt ngồi nghễu nghện trên chiếc máy bơm, đăm chiêu một cách đầy ý nghĩa.


Riêng Già Tư thì rầu lòng. Buổi tối, sau giờ kẻng báo đi ngủ, lão thò đầu qua mùng Bằng thì thào:


“Thằng quỉ cụt đang âm mưu chuyện gì, tao sợ lắm. Tránh voi chẳng xấu mặt nào, mày có tiền cho nó ít đi”.


“Nó cần tiền làm gì?”.


“Nó có đứa con gái mù. Không có vợ, tự dưng một bữa có đứa con nằm khóc oe oe ngoài ngạch cửa, kiến bu khoét đui hai mắt! Chuyện lâu lắm rồi, con nhỏ nay đã mười hai tuổi. Nó mướn bà già nuôi đứa bé. Hai bà cháu ở căn nhà cheo leo bên bờ sông, nó đi bươn chải quơ quào kiếm tiền, làm nhiều chuyện bậy bạ đến nỗi phải vào đây. Nghĩ cũng thương. Con người ta ai cũng là tội đồ. Đời mày tàn rồi, tao cũng vậy, nhưng có con cái là phải lo. Tao mấy lần nhảy sông tự tử, nhưng lội trở lên, một lần đốt nhà kịp dập lửa. Đành phải sống thôi, số kiếp phải mang gông suốt đời”.


Bằng ngủ một giấc dài, giữa đêm thức dậy nghe Già Tư day trở ho lẹc khẹc. Anh kéo chăn trùm kín người, tiếp tục ngủ thiếp đi.


Một tháng trôi qua, Bằng có ý chờ nhưng không thấy thư từ quà cáp gì nữa.


Một buổi trưa ăn cơm xong ngồi hút thuốc Long Cụt lò dò đi đến, thở dài não nuột:


“Chán phèo! Làm thằng đực, có của quí chỉ để đái suông, chẳng ra cái thể thống gì!”.


“Mày đút vô lỗ cây kia kìa!, Bằng nói.


“Tội lớn nhứt là bị thiến như thế này”, Long Cụt vẫn dai dẳng. “Nhưng ở đây người ta cũng cho “giải quyết tình cảm”. Nghe nói con nhỏ mày đánh không đến nỗi bị mày ghét bỏ, phải không?”.


“Tao thiến mày bây giờ”.


“Mắc công làm gì. Hôm nào đi chợ, có khi mày phải nhờ cậy tao”.


“Tao sắp ra trại rồi”.


Bằng nhẩm tính, anh sẽ ra trại trước hoặc sau Tết, ba tháng trồng rừng đã quá hạn rồi.


Nhưng mấy ngày sau Ông Già kêu anh lên nói:


“Anh còn ở đây lâu. Có công văn trên thành phố xuống, nói cần phải giam giữ anh. Anh coi không?”.


“Dạ thôi”.


“Nghe nói số tiền thất thoát lớn lắm hả?”.


“Tôi không biết. Tôi chỉ có số tiền vợ cũ cho, một nửa đóng chiếc ghe, nửa kia bị lấy mất”.


“Công văn nói “có khoản tiền cần phải làm rõ”, chúng tôi không biết như thế nào. Anh chưa nhập hộ khẩu, coi như còn người trên đó, chúng tôi chỉ tạm giữ. Đúng ra anh có thể về sông Ông Trang, nhưng ai quản lý anh ở đó?”.


“Tôi ở đây cũng được, không thắc mắc gì đâu”.


“Chính chúng tôi mới là người thắc mắc. Người ta nói anh phạm tội đánh người, nhưng không thấy ai kiện cáo gì, người làm chứng cũng không, giấy tờ chỉ vỏn vẹn mấy chữ của công an xã. Chúng tôi quản lý người trên giấy tờ, hồ sơ sơ lược như vậy chúng tôi không biết tính sao. Hay anh là côn đồ thật sự? Hôm trước có người nói anh đòi bẻ cổ Long Cụt, có không?”.


“Nó chọc tức tôi”.


“Thằng đó không có cổ đâu mà bẻ. Nhưng như vậy anh đúng là côn đồ rồi. Chuyện tiền bạc của anh trên thành phố chúng tôi không biết, chuyện anh đánh con gái cũng chỉ nghe nói, nhưng gây rối trong trại chúng tôi trị tới cùng. Trồng rừng chưa đủ mệt hay sao còn tìm chuyện khều móc nhau?”.


Bằng ra về lòng nặng trĩu, không phải vì không được ra trại, mà vì dính tới Long Cụt, với những thứ máy bơm, bia bọt rác rưởi của nó.


Đám tù được nghỉ ngày chủ nhựt, buổi sáng lao động cải thiện quanh trại, trồng rau đánh cá, nuôi heo gà. Trong khuôn viên có mấy chiếc ao không biết có từ hồi nào, cá con đánh lưới thả xuống đó, nuôi bằng thức ăn thừa, phân heo, phân gà. Bằng tham gia tích cực chuyện cải thiện, đảm nhiệm cả một chuồng heo, sau đó chuyển sang làm giàn trồng rau. Có Long Cụt tiếp một tay. Hai người tạm quên chuyện hục hặc cùng ra rừng đốn cây, dộng cọc làm giàn, rủ rỉ trò chuyện.


“Tụi nó nói mình làm bàn thờ”, Long Cụt chỉ đám đông lố nhố trong trại dòm ra chỗ hai người. “Nói sẽ có dịp đốt nhang cúng hai tụi mình. Tao giết mày làm gì? Mày sắp cưới vợ tao biết rồi, thằng chủ quán buôn lậu ghe hai đáy nói hôm mày đi hỏi vợ ăn nhậu tại nhà nó. Cưới vợ cũng tốt, nhưng sống một mình vẫn hơn. Mày có ông bạn về hưu vui quá, hôm rồi tao gặp lão ở phòng trực, lão huyên thuyên đủ chuyện, hỏi tao có thân nhân liệt sĩ, bà con có công với cách mạng không, lão có thể xin giảm án cho. Tao cần giảm án làm gì, ở đây tiếp mày trồng rau còn hơn. Lão đến thăm nuôi mày, hay móc nối chuyện gì? Mày giấu tiền đâu lòi ra đi, cho tao một ít, tao gánh tội giùm cho”.


“Mày nhiều chuyện tao cắt lưỡi bây giờ”.


“Đừng cắt. Tao nghi mày tuồn tiền về đây, nhưng thấy cũng không phải. Người có tiền không thảnh thơi được như vậy. Vậy tiền vàng đi đâu?”.


“Mày vô nhà nghỉ đi”.


“Tao không nghỉ, tao không phải là thằng bỏ bạn. Ông già về hưu nói mày là đứa con lưu lạc trở về, thật đáng thương. Nhưng mày cũng là quân ác độc bẩm sinh.”


Đám trong nhà ngồi không buồn chán cũng kéo ra làm tiếp hai người, móc đất thảy lên giàn cho rỏ mặn rỏ phèn. Già Tư sai đào con mương đón con nước lợ trữ sẵn, đào hố ủ phân. Bằng chỉ huy tất cả, hăng hái một lúc rồi lại chán nản ngồi thừ ra. Mấy giàn rau ở sông Ông Trang chắc chết rụi hết rồi, dãy lu nước mưa cũng vậy, căn nhà nói chung chắc hoang tàn xơ xác, vun quén ở đây làm gì.


Nhưng rồi anh lại tiếp tục làm, cặm cụi cả tháng cũng có năm bảy giàn rau lên xanh, chẳng là bao so với phần ăn hằng mấy trăm người, nhưng dù sao cũng do chính bàn tay mình làm ra. Sau bữa thu hoạch đầu tiên Ông Già kêu Bằng lên nói trại có khoản tiền cho cải hoạt, rau cải cũng cần, nhưng cái chính là màu xanh cho khu trại. Anh có thể lo chuyện đó, đi mua hột giống không phải nhờ Long Cụt, anh ta lông bông như thế đủ rồi, trại cải tạo không phải chợ ai muốn đi đâu thì đi. Bằng nhận tiền, liên hệ với bộ phận quản trị, xuống ghe thấy Long Cụt ngồi sẵn, cười nói ban quản giáo cho đi, xin chớ không phải mua, tiền của trại Bằng cứ giữ.


Chợ xã đông, ồn ào. Long Cụt dẫn Bằng đi loanh quanh, tiếp tục giở trò năn nỉ dọa dẫm, nhiều tiệm quán chỉ thấy có thúng mủng, vải vóc, hắn sục vào vẫn có được bọc hột giống, mấy giàn dây câu, mấy tay lưới. Suốt buổi Bằng như người giúp việc, đi theo hắn chỉ để cầm đồ. Hắn còn dẫn Bằng đi tham quan khu rẫy của người Tiều Châu, nghe giảng giải chuyện ươm trồng, bón phân, chọn giống, đến khu người Bắc di cư coi những liếp su hào, bắp cải tươi tốt không thua gì ở Đà Lạt.


Trời đã tối. Đi đêm cũng tốt. Long Cụt nói nhỏ với người lái ghe. Họ ra về dưới trời đêm đầy sao. Người lái ghe khe khẽ ngâm nga câu hò Đồng Tháp. Long Cụt ngồi lặng thinh. Bằng thiu thiu ngủ. Tiếng hát chợt ngưng bặt. Bằng nhổm dậy thấy ghe ghé vào một căn nhà sàn nằm cheo leo bên bờ sông, Long Cụt xách chiếc giỏ bàng đứng sẵn ở mũi ghe. Ghe cặp sát vào, Long Cụt nhảy lên biến mất vào trong. Người lái ghe vẫn ngâm nga, chuyển sang điệu lý Cái Mơn, cột ghe vào sàn nhà, vỗ lưng Bằng kêu cùng lên.


Nhà vắng lặng, trống trơn từ trước ra sau. Ngọn đèn dầu lay lắt trên bàn thờ. Một bà già nằm đưa võng kẽo kẹt. Trên chiếc giường thấy có đứa con gái nhỏ ngồi lặng lờ. Long Cụt ngồi bên cạnh nó chuyện vãn rì rầm. Đứa con gái vẫn ngồi yên lặng. Người lái ghe kéo Bằng ra sàn nhà phía trước hút thuốc, thì thầm:


“Con gái Long Cụt, mù từ hồi nhỏ... Bị kiến cắn… Tội nghiệp lắm...”.


Tiếng Long Cụt lẫn trong tiếng sóng vỗ lách chách dưới sàn nhà:


“Con nhớ ba không? Lâu rồi ba không về thăm con… bận trồng rừng… cực lắm… lội nước từ sáng tới chiều… Rừng bị phá tan hoang... Tụi ba còn làm giàn trồng rau, nuôi heo nuôi gà, đào ao thả cá… Sắp xong rồi ba sẽ về với con... Sao con không uống sữa? Dì Tám ơi sao sữa tôi mua còn nguyên vầy nè? Con phải ráng uống sữa bồi dưỡng, nay mai lên thành phố đi học, đi nước ngoài...”.


Bằng hỏi nhỏ người lái ghe:


“Long Cụt định cho con đi nước ngoài à?”.


“Nói vậy thôi”.


“Đi làm chi? Làm sao mà đi?”.


“Đi mổ mắt”, người lái ghe đáp. “Lâu nay nó quơ quào làm đủ chuyện bậy bạ kiếm tiền mổ mắt cho con nhỏ, có lần đâm người phải vào tù”.


“Nhưng Long Cụt có vợ đâu?”.


“Con rơi rớt gì đó thôi. Một bữa sáng thức dậy thấy có đứa nhỏ còn đỏ hỏn nằm giãy khóc trên tờ giấy báo ở ngạch cửa, kiến bu tùm lum”.


“Con nhỏ đẹp quá hả?”.


“Ừ con nhỏ đẹp lắm!”.


Tiếng Long Cụt:


“… Trồng rừng xong rồi ba đưa con đi lên thành phố, đi nước ngoài, nhưng con phải ráng uống sữa... Ba mua đủ thứ cho con nè! Dì Tám ơi, nổi lửa lên, tôi làm tiệc đãi con tôi coi!”. Long Cụt cười nói vang vang, giẫm chân lên sàn nhà, vào bếp khua xoong nồi loảng xoảng: “Sao dầu mỡ mắm muối cạn sạch vầy nè? Dì Tám không đi chợ hả? Con Nhi ăn cơm được không? Dì có đưa nó đi chơi không? Củi cũng hết, sữa lại còn, nó không khỏe làm sao lên thành phố, đi nước ngoài?”.


“Ôi trời đất ơi đi nước ngoài!”, bà già vẫn nằm yên nhai trầu bỏm bẻm, đưa võng kẽo kẹt. “Nước ngoài là đâu? Ở đây đi được không?”.


“Bằng đi chợ xã thôi”, Long Cụt cười nói. “Bà ráng chăm sóc cháu, nay mai tôi cho bà đi theo cháu đi máy bay”.


“Ôi tôi không đi đâu. Tiền đâu mà đi?”.


“Tôi không có tiền hả?”.


Bằng nói:


“Sao Long Cụt biết được là con?”.


“Biết được thôi, ai cũng biết con mình cả”, người lái ghe đáp. “Con chó con mèo cũng biết, con nhện đẻ bọc trứng triệu con cũng biết”.


Nhà thắp thêm ngọn đèn, bếp đã nổi lửa, Long Cụt đi tới lui, sàn nhà đung đưa kêu lắc rắc. Bà già trở dậy. Long Cụt lôi trong chiếc giỏ bàng ra một bọc đường, một hộp sữa và miếng thịt heo bằng bàn tay. Lát sau mâm cơm dọn lên. Long Cụt dắt con gái đến ngồi dưới ánh đèn, cô bé mười hai tuổi cao dong dỏng, da trắng xanh, tóc dài chấm lưng, hai mắt mở to đen thẫm, không biết mù như thế nào. Đứa con gái ngồi lắc đầu không chịu ăn. Long Cụt nghiêng đầu dỗ dành. Đứa con gái khóc. Bà già kể lể như đọc truyện đời xưa:


“Ôi đi chợ xã! Đi nước ngoài! Tiền đâu mà đi? Vay mượn chẳng mấy chốc đi ăn xin. Con nhỏ này cũng có ăn uống gì đâu, liếm láp một chút như mèo rồi buông đũa ngó ra sông ngóng tìm. Thấy gì đâu mà tìm?”.


“Sao dì không đưa nó đi chơi?”, Long Cụt nói.


“Đi đâu? Nó thấy được hả?”.


Long Cụt khẽ chạm vào tay con gái:


“Sao vậy con? Ba ít về con buồn phải không? Ba trồng rừng bận lắm, nhưng sắp xong rồi, ba đưa con lên thành phố đi nước ngoài mổ mắt, con sáng mắt đi học, ở phòng riêng treo rèm cửa, nuôi con mèo, hằng ngày ba coi tập học của con...”.


“Đàn bà con gái học hành làm gì”, bà già trở lại võng nằm càu nhàu.


“Ba mua ti-vi cho con nghen?”, tiếng Long Cụt.


“Nó coi được hả?”, tiếng bà già.


“Dì Tám coi kể lại cho nó nghe, nó cũng hiểu được thôi”.


“Ôi tôi sợ ti vi lắm, không dám coi đâu”, bà già rên rỉ. “Hình bóng như ma quỉ, ghê lắm!”.


Người lái ghe nói:


“Long Cụt nuôi con cũng được hả? Hiếm có con gái xứ này trắng da dài tóc như vậy”.


“Thôi ba đi nghen con!”, Long Cụt nói.


“Ba đi đi”, đứa con gái thổn thức.


Người lái ghe xuống trước tháo xích nổ máy. Bằng đi theo sau. Chợt có bàn tay níu lại, tiếng rít khẽ bên tai:


“Tiền đâu?”.


“Tiền gì?”.


“Tiền mua hột giống… Cho tao mượn tạm ít bữa…”


“Đây…”


Long Cụt trở lên nhà, lát sau quay xuống ghe ngồi lặng thinh một góc. Ghe chạy thong thả, tiếng máy nổ đều đều. Bằng ngồi dựa lưng vào một đống đồ đạc không biết thứ gì, thiu thiu ngủ, cơn mơ chòng chành đầy tiếng máy, tiếng rì rầm của Long Cụt, tiếng thổn thức của đứa con gái mù…


Bỗng tiếng máy ngưng bặt. Bằng choàng dậy thấy ghe đang ghé tắp vào một doi sông, bốn bề lau sậy hoang vắng. Long Cụt đứng ở mũi ghe cầm trong tay chiếc giỏ bàng. Ghe tiếp tục chen lách đi tới. Phía trước dần hiện ra một đám năm bảy chiếc ghe đậu ken sát vào nhau, lô nhô những chiếc sào chĩa thẳng. Bằng đưa mắt hỏi, người lái ghe lắc đầu. Bằng căng mắt nhìn, chút sau nhận ra chiếc ghe chài quen thuộc. Vậy là đã rõ, Bằng chen đi tới níu tay Long Cụt:


“Định kiếm tiền hả? Chết nghen con! Bà mập, lão ròm sẽ khoét bụng mày!”.


“Tao đòi món nợ cũ thôi”, Long Cụt nói, vẫn không quay lại.


“Điếm đàng giựt dọc nhau, nợ nần gì. Về đi! Hay muốn tao trói?”.


“Mày về trước đi, nói với trại mai tao về”. Long Cụt hạ thấp giọng năn nỉ. “Tao kiếm tiền mổ mắt cho con, mày không giúp được thì thôi…”.


“Mày chết, tiền không có, ai nuôi con mày?”.


“Tao không nhờ vả ai, mày cũng vậy…”


Long Cụt rụt cổ phóng lên một chiếc ghe, nhảy chuyền rồi biến mất sau đám ghe. Người lái ghe chống sào quay trở lại một quãng xa, nổ máy chạy đi. Gần sáng họ về đến trại, Bằng ở lại phòng trực một lúc, hy vọng có trục trặc nào đó trong chuyện điên khùng của Long Cụt. Những người lính gác hỏi chuyện hột giống, họ cũng định làm giàn trồng rau, rảnh rỗi không làm gì đánh cờ hoài cũng mụ người, có thêm cọng rau trái ớt cho bữa ăn, có giàn rau mát nhà mát cửa. Bằng xin cơm ăn, nói úp mở chuyện Long Cụt ghé thăm con gái, kiếm người mượn tiền...


“Đánh bài chớ mượn tiền cái gì”, người lính gác nói. “Nó trốn đi hoài, tụi này thương đứa con gái mù không muốn báo với Ông Già… Có ngày nó chết thôi, không bị đâm lủng bụng cũng bị neo đá mò tôm...”


Trời trưa rồi chiều, vẫn không thấy bóng dáng Long Cụt. Lại phải ăn cơm nhờ. Bằng hình dung chỗ doi sông giờ đây không còn dấu vết gì nữa, đám ghe biến mất, xác Long Cụt chìm sâu dưới đáy nước, bên trên đám lau sậy rung rinh, nước chảy lặng lờ.


Nhưng Long Cụt chưa chết. Trời sẩm tối một chiếc ghe ghé ngang thảy lên một thân xác nhàu nhè đẫm máu. Long Cụt bị đâm lủng bụng, một cú đâm chí tử từ trước ra sau, bị vất nằm vắt ngang trên một chang đước, chiếc ghe chạy ngang nhìn thấy gỡ đem xuống băng bó hỏi địa chỉ chở về đây.


Long Cụt còn tỉnh, xác nhận điều người chủ ghe nói, sau đó bắt đầu lảm nhảm trong cơn mê:


“Khỏi đưa tao đi đâu, tao sắp chết rồi... Tao nói về là về đúng không? Ôi tao đau quá, thằng Bằng đâu lại đây tao nói chuyện này...”.


“Tao đây”, Bằng ngồi ghé sát xuống.


“Tao không định nhờ nhưng đành vậy thôi. Mày nuôi giùm con tao được không?”.


“Được”.


“Đừng giận tao, không đáng gì đâu”, Long Cụt thều thào, không còn ra hơi nữa. “Nhưng chút nữa tao ăn ván bài đó rồi… có tiền mổ mắt cho con tao…”.


“Mày chết đi thôi”.


“… Rồi tao sẽ chết… đi đòi nợ mụ mập, thằng ròm dưới địa ngục… Mày nuôi con gái giùm tao… Đâu còn ai nữa...”. Long Cụt không ngớt rên rỉ, đầu óc lạc đi trong cơn hoang tưởng: “…Tao nhào vô sòng bài, nói có cục vàng lấy được của mày… cất trong giỏ bàng… thằng già ròm sáng mắt lên… Hai đứa bắt đầu chơi ngang ngửa, tao có được một sảnh, thằng quỉ ròm lại có thùng…”.


“Lão có chảo dưới chân đó, mày chết thôi”.


“Chảo à? Nó như thế nào?”.


“Kiếng chiếu yêu, dòm thấu vô cái đầu ngu của mày”.


“Ôi tao ngu quá!”, Long Cụt như tỉnh hẳn. “Nó có miếng kiếng dòm thấu bài của tao chớ gì? Nhưng tao cũng gạt được nó, ôm kè kè chiếc giỏ bàng có dằn cục đá trong đó. Vàng mười đó, tao nói, nhưng không phải thằng này đem cho không mấy người. Phải chơi đàng hoàng sòng phẳng, tao nói tiếp, nợ trước đây coi như bỏ, chơi lần này nữa thôi, kiếm tiền mổ mắt cho đứa con gái... Lão già mặt lạnh như tiền, không run môi nháy mắt, đúng là một con bạc chuyên nghiệp. Mụ mập ngồi kế bên. Tao nói ông chết rồi ông già ròm ơi, thua hết tiền bán bà mập này đi. Mụ liền chửi toáng lên: mồ tổ cha mày, thằng cụt hôi thúi, đồ xác chết trôi sông mày dám chọc tao! Rồi mụ đổi giọng hỏi sao tao có được cục vàng, cho coi chút được không, của thằng công tử thành phố phải không, nó bị con nhỏ tiếp viên lấy mất đánh hộc máu sao giờ còn đây? Mụ cứ lải nhải, lão già ròm trừng mắt, tụi này tiếp tục đánh. Cục đá vẫn còn nguyên trong chiếc giỏ bàng. Tao ăn nhiều rồi thua lại hết, đúng là lão già có chảo dưới chân dòm thấu bài trên tay tao. Nhưng không thể dừng được, tao cứ đánh tới, nợ ghi chồng chất, lão liền nghiến răng mở miệng cóc lão ra: mày liều mạng phải không? Lần này mày không chung tiền tao móc ruột mày ra! Ừ thì móc ruột tao, tao nói, móc cục đá từ trong túi ra nói vàng nè, lấy đi, ăn dộng hết đi! Lão liền chồm tới thọc con dao vô bụng tao…”.


“Thôi mày nhắm mắt chết đi!”, Bằng nói.


“Tao chết đây!”, Long Cụt rên rỉ. “Nhưng nhắm mắt cũng không yên… Còn đứa con gái mù mày phải hứa nuôi...”.


“Tao hứa!”.


Các nhân viên y tế trong trại ra khiêng Long Cụt vào, Bằng đi theo đến bệnh xá. Hắn còn lải nhải lâu lắm, đến gần sáng im bặt, ngửa cổ thở hắt ra, ngoẹo đầu nằm yên, mắt vẫn mở, bàn tay cụt giơ cao lên.


Có một chỗ chôn người trong khu trại, không phải nghĩa trang gì, chỉ là một khoảnh đất tương đối khô ráo. Cũng có bia mộ, công việc của ban tự quản lâu nay chỉ chôn người chết già chết bịnh, hôm rồi chôn gã nghiện tự tử, giờ tới người bị chết đâm. Buổi chôn cất tổ chức liền sau đó, năm bảy người vừa khiêng hòm vừa đưa tang. Già Tư dẫn đầu lầm rầm kể lể, Bằng đi kế sau. Lỗ huyệt đào sâu ngập nước một nửa, những thỏi đất quăng lên đen nhánh dưới ánh nắng. Có ai đó đốt một bó nhang, Bằng bước tới tiếp tay hạ huyệt, Già Tư nói mấy lời giã biệt. Mọi người lấp đất, đứng lại thêm một lúc rồi ra về.


Đêm hôm đó lên giường Già Tư thò đầu qua mùng Bằng:


“Vậy là mày có thêm đứa con, không phải con đẻ cũng là con, ơn phước còn lại của đời mày, ráng chăm sóc thương yêu nó”.


(còn tiếp)


Nguồn: Cơn giông. Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. Rút từ Tuyển tập Lê Văn Thảo. Nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 17.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »