tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27664405
Tiểu thuyết
04.08.2012
Lê Văn Thảo
Cơn giông

 


Nhấp chuột vô để đọc Lời tựa Lê Văn Thảo với những tác phẩm giàu lòng nhân ái của Tuyển tập Lê Văn Thảo. Nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


 


 


Ghe cặp lại bên bờ sông hoang vắng, không thấy có làng xóm gì cả, bên này cũng như bên kia, chỉ có rừng đước chạy dài, những chang đước đâm tua tủa phủ chồm ra mặt sông làm thành một bờ kè vững chãi. Con sông nhỏ nước chảy xiết, hẳn là hướng ra biển. Đang là buổi sáng, mặt trời cao chênh chếch, những tia nắng nhảy múa trên cành lá, dọi lấp lóa xuống mặt sông gợn sóng lăn tăn. Một bầy chim sà xuống xôn xao cả một đám cành lá. Những con cua nhỏ tóp tép trong miệng hang. Cá thòi lòi lội rột rẹt, quẫy đuôi lách chách trên mặt bùn, nhảy phắt lên các chang đước ngẩng cao đầu, giương những cặp mắt lồi nghiêng ngó.


 


Lái ghe là một người đàn ông tuổi trung niên, mình trần quần vải ka-ki xé ống ngang gối, to ngang, khỏe mạnh, mình đầy hình xăm, nguyên khoảng bụng là một con rồng uốn khúc. Một cơn gió thổi tới, chiếc ghe chòng chành, người đàn ông bước ra mũi cột khóa xích cẩn thận vào một gốc đước, chiếc khóa lớn mới tinh, như muốn đậu lại vĩnh viễn. Chiếc ghe chòng chành thêm một lúc rồi dừng hẳn, nước chảy lặng lờ. Người đàn ông đứng chống nạnh tay ngó mông lung vào trong rừng, im phắc, lâu đến nỗi bầy chim giật mình hoảng sợ vì sự lặng lẽ, vụt bay vù lên. Người đàn ông vội ngồi xuống lấy thuốc vấn hút, dáng ngồi khom khom mái tóc dài bù xù, những hình xăm nhăn nheo trông càng thêm buồn bã ủ rũ.


Trái với vẻ u ám của người chủ, chiếc ghe trông mới tinh, gỗ ván còn đỏ au màu sơn xanh đỏ diêm dúa, nửa trước lát ván sàn, nửa sau là một cabin kiểu ghe du lịch, có phòng ngủ gian bếp, sàn nước phòng tắm, nhà cầu cửa kéo bằng mành nhựa màu trắng sữa, bàn làm việc cửa sổ mở ra hai bên, kệ tủ đặt máy thu thanh, bình ắc-quy, đèn nê-ông, đèn bão, tất cả gọn gàng, tinh xảo, như loại du thuyền dành cho một người!


Ghe có gắn máy đuôi tôm nhưng hiện đang sử dụng chèo.


Người đàn ông hút xong điếu thuốc, ngồi thêm một lúc rồi đứng dậy lấy dáng mạnh mẽ nhảy phắt lên một chang đước, đi chuyền lên bờ. Thật ra không có bờ đâu cả, những chang đước ken dày nối tiếp nhau, mặt rừng ngập nước lấp xấp, tối mờ mờ, thỉnh thoảng có một khoảng trống bãi bùn sáng lấp lánh, những dòng nước nhỏ chảy ri rỉ, vẽ thành những hình thể ngoằn ngoèo kỳ dị. Người đàn ông lội đi một đoạn đường thành hình vòng cung không xa lắm để có thể nhìn thấy chiếc ghe, thỉnh thoảng dừng lại nhìn ngắm lẫm nhẩm tính toán, rồi lại đi tiếp. Vẫn rừng là rừng, chỗ nào cũng giống chỗ nào, người đàn ông vẫn cứ đi, cuối cùng dừng lại trước một khóm đước cao rậm rạp, thân cây thẳng thớm, đếm từng cây nhẩm tính, giở sổ ra ghi chép.


Công việc mất cả tiếng đồng hồ, nhưng không có gì phải vội, người đàn ông trở về ghe nổi lửa nấu cơm. Gian bếp gọn gàng ngăn nắp, lò dầu hai miệng mới tinh, chạn đựng thức ăn bao lưới, keo lớn, keo nhỏ dựng mắm muối gia vị xếp thành hàng, gạo đựng trong thùng nhựa, nước ngọt có lu riêng, mì tôm dự trữ trong thùng giấy cạc tông đủ ăn cả tháng, tất cả cột dây bắt ốc vít gắn chặt vào thành ghe, chuẩn bị cho cuộc sống lâu dài vượt sông, vượt biển.


Việc nấu nướng ăn uống kéo dài cả mấy tiếng đồng hồ, bới cơm gắp thức ăn thẳng từ trong nồi, dọn dẹp, rửa ráy, nấu nước pha trà, hút thuốc thêm tiếng đồng hồ nữa. Buổi sáng dành trọn cho việc chọn điểm ăn uống, ngủ trưa một chút, chỉ hơn nửa tiếng, thức dậy thấy chiếc đồng hồ reo chết máy, nhìn mặt trời chênh chếch chắc chỉ mới quá trưa, người đàn ông vội trở dậy xách con dao rựa, chiếc túi đựng bình nước, thuốc hút lội lên rừng, bắt đầu công việc.


Anh bắt đầu đốn cây. Vẫn theo con đường vòng cung xem xét hồi sáng. Với con dao rựa thật bén, anh đốn chẫm rãi từng cây, chặt ngọn, trải nhánh, gom thành khóm năm ba cây, chọn đốn những cây vừa cỡ làm cột kèo hoặc đòn tay, đốn rải ra để không thấy có dấu vết phá rừng, kéo đám cành lá thảy xuống sông chỗ có vụng nước nhỏ.


“Để làm bãi chà bắt cá”, anh nói lớn lên ý nghĩ vừa mới nảy ra trong đầu, tiếng nói đầu tiên trong vùng rừng hoang vu này.


“Cũng là công việc đầu tiên của mình ở đây”, anh tiếp tục nói lớn lên, cố cho tiếng vang thật xa.


Suốt buổi chiều, cả ba tiếng đồng hồ, anh đốn cây âm thầm lặng lẽ, phân bố sức lực đều đặn, như người chạy việt dã, làm một tiếng nghỉ mười phút uống nước hút thuốc. Mặt trời vừa lặn khuất bên kia ven cây anh đếm được hơn chục cây, ngưng tay lội trở về ghe, vặn phỏng chừng chiếc đồng hồ bốn giờ, nấu cơm ăn nấu nước pha trà, ngồi hút thuốc ở sàn bếp đợi trời tối.


Anh vào cabin lúc sáu giờ, theo chiếc đồng hồ vặn phỏng chừng. Nay mai nhớ phải đón ghe hỏi giờ rồi thường xuyên lên giây đồng hồ, hoặc mua chiếc đồng hồ chạy pin, cả tờ lịch, không thể không biết ngày tháng, giờ giấc. Và nhiều chuyện khác nữa, cần phải thu xếp mọi thứ cho cuộc sống một mình giữa vùng rừng hoang vu này. Cũng nên nuôi một con chó để giữ ghe và để nói chuyện. Không thể sống lặng câm suốt ngày đêm, nói chuyện hoài có khi con chó cũng hiểu ra được điều gì. Nói chung còn phải chuẩn bị nhiều thứ lắm.


Bảy giờ. Trời đã tối lọ mặt, mặt sông chỉ còn loang loáng vài vệt sáng mỏng manh. Nước chảy rì rầm. Anh đóng cửa cabin phía trước, phía sau, mở một cánh cửa bên hông phía ngoài sông, ngồi xếp bằng trên giường uống trà hút thuốc, đốt đèn bão, giở bản đồ ra coi. Anh có tấm bản đồ lớn toàn cảnh bán đảo Cà Mau, ghi rõ các huyện xã, những khu rừng mắm, rừng đước, sông lớn, sông nhỏ, những đầm nước, truông trấp bãi lầy bãi bồi. Đây là sông Ông Trang, chỗ anh đang đậu ghe có đánh dấu đỏ lớn. Đây là sông Cái Lớn, Cái Bé, sông Bảy Háp. Sông Ông Đốc bên này. Ba sông làm một Tam Giang, Bồ Đề, Cửa Lớn, Ông Trang đổ về. Đây là Chợ Cà Mau. Cách đây hơn một tháng, anh từ trên thành phố xuống đó thuê đóng chiếc ghe, mua tấm bản đồ, hỏi thăm dò xét kỹ lưỡng chọn đường đi chỗ ở. Ghe đóng xong có gắn máy đuôi tôm nhưng chưa quen đường, thạo máy, anh tìm chiếc ghe chài chở ngói dong theo sau. Chiếc ghe chài khẳm đừ chạy chậm rì rì, giữa khuya rời chợ Cà Mau bồi hồi rạo rực, buồn man mác không rõ từ đâu, ngồi sau tay lái chỉ nhìn thấy mặt sông mù mịt sương đêm, chiếc ghe chài chở ngói trước mặt. Chiếc ghe chài chở ngói đi đâu, vùng quê nghèo khó không thấy có nhà ngói đâu cả? Trời sáng ra nắng lên, nhìn rõ hai bên bờ nhà sàn san sát, lòng sông dập dìu xuồng ghe ngược xuôi, anh thấy vui lên một chút, ghe bán đồ ăn thức uống từ trong bờ đâm ra chào mời inh ỏi. Anh mua, ăn đủ thứ, chè trôi nước, xôi đậu đen, bánh canh, uống nước dừa, sữa đậu nành. Đám thanh niên bên chiếc ghe chài ngồi chồm hổm nhìn sang ngạc nhiên như nhìn thấy lần đầu. Anh cười đưa tay vẫy chúng, chúng cũng vẫy lại, rồi quay ra kêu mua đồ ăn, chọc ghẹo cô gái bán hàng.


Giữa trưa ghe ghé chợ huyện Năm Căn. Vợ chồng người chủ ghe nhờ anh giữ ghe, kéo đám thanh niên lên chợ hơn tiếng đồng hồ, trở xuống ai nấy mặt mày đỏ gay. Chiếc ghe chài nổ máy chạy tiếp, anh lại ngồi bên tay lái, từng chập chiếc ghe chài bắt đầu dừng lại tuôn ngói xuống, ghe nhẹ dần, chạy mau hơn. Trời về chiều gió thổi mát, anh ngủ gà ngủ gật, bỗng nghe tiếng réo gọi, nhổm dậy thấy chủ ghe tươi cười chỉ tay ra xa, anh nhìn theo thấy trước mắt một vùng trời nước mịt mù sóng nhồi cuồn cuộn. “Sông Cái Lớn phải không?”, anh quát hỏi. Ông chủ ghe vẫn tươi cười. Trời tối dần. Ghe đi suốt đêm trên con sông lớn như biển, anh lại ngủ gà ngủ gật. Sáng ra ghe đi vào con sông nhỏ, đám thanh niên bên ghe chài ngoắc tay chỉ chỏ, anh biết đã đến sông Ông Trang, nơi anh định đến. Đám thanh niên tháo dây, anh cho ghe tắp vào, chính chỗ này đây.


Anh uống mấy lượt trà, cho đến lúc nước lạt loãng cũng chỉ đến tám giờ. Muỗi bay lèo xèo, anh giăng mùng, đem chiếc gạt tàn vào trong, ngồi xếp bằng tiếp tục hút thuốc. Anh hút nhiều quá từ độ rời thành phố, rảnh tay đốt liên tục, loại thuốc đen rẻ tiền nhưng cũng là một khoản tiêu tốn. Còn vấn đề sức khỏe nữa. Phải bớt hút mới được. Hoặc bỏ hẳn.


Từ rày có nhiều điều phải bỏ đi. Và nhiều điều phải thêm vào. Nhưng đó là chuyện lâu dài, trước mắt là căn nhà để ở. Anh sẽ cất nhà tại đây, ngay trên bờ đất này, anh phải có căn nhà của anh, cuộc đời về sau của anh. Cũng không dễ dàng gì, nhưng thời gian không thành vấn đề, công sức cũng vậy, anh còn gần nửa đời người còn lại. Anh sẽ làm chẫm rãi, kiên trì đốn đủ cây gom thành đống, chọn chỗ cây rậm nhứt dùng một số cây sống làm cột và nống. Lúc chiều anh đã chọn chỗ không sát sông cũng không quá sâu vô trong, không có gì giấu giếm cũng không cần phải chường mặt ra. Anh định sẽ làm cầu sàn ra sông, cầu tắm, đường ra sau rừng, nhà có mặt tiền, mặt hậu như mọi nhà khác. Cây đước có tại chỗ nhưng lá lợp phải mua, dây cột cũng vậy. Anh sẽ bắt đầu cuộc sống tự mình làm nuôi lấy mình, tôm cá dưới sông câu lưới bắt ăn, bán lấy tiền mua gạo, trang trải mọi thứ khác. Khó khăn là nước ngọt. Tạm thời đón ghe đổi nước, nhưng phải có kế hoạch mua lu nhựa trữ nước mưa. Thêm vấn đề rau xanh, sao xứ này không ai làm giàn trồng rau?


Nhiều chuyện không thể nghĩ cùng một lúc được. Tốt nhứt nên ghi chép, từ từ sắp xếp suy tính từng vụ việc một, chuẩn bị kỹ càng cho cuộc sống một mình lâu dài giữa vùng rừng hoang vu.


Tưởng khó có thể ngủ được trong đêm đầu tiên, nhưng anh ngủ liền sau đó. Ba tiếng đồng hồ chặt cây làm anh dễ ngủ, trong mơ thấy đang tính đếm số cây cối, cột kèo.


Anh thức dậy trời đã sáng rõ. Mặt sông tràn ngập ánh nắng. Gió thổi, chiếc ghe lắc lư nhè nhẹ. Chim chóc bay đi ăn từng đàn kêu hót ríu rít. Không thấy có xuồng ghe qua lại, suốt ngày hôm qua, cả đêm nay. Chẳng lẽ đây là nơi cùng trời cuối đất hay sao? Vẫn chẫm rãi, anh dành hai tiếng đồng hồ cho việc nấu nướng, ăn uống, làm vệ sinh cá nhân, uống trà, hút thuốc, rồi vác dao rựa lên rừng. Thật khó khăn cho một ngày làm việc mới bắt đầu. Bàn tay nhức buốt, con dao rựa trở nên nặng nề, cảm giác chán nản tràn ngập. Nhưng không thể không tiếp tục, anh cắn răng cúi xuống vung con rựa vào gốc đước đã đánh dấu chọn trước, thật từ tốn chẫm rãi để lấy lại cảm giác quen thuộc. Hơn một tiếng đồng hồ, anh đốn được năm bảy cây, xếp thành đống rồi kéo đám cành lá thảy xuống vụng nước.


Ngày hôm sau rồi hôm sau nữa, công việc đều đặn, thời gian như ngưng đọng, trời đất đứng nguyên một chỗ.


Anh cố gắng giữ vững định mức, cây đốn được cẩn thận ghi vào sổ, công việc có vẻ tiến triển khả quan. Nhưng rồi một hôm sáng ra hai bàn tay mở không ra, mình mẩy ê ẩm, cảm giác cô đơn lạ lẫm tràn ngập, anh chán nản buông con dao rựa, ngồi một lúc, rồi quyết định trở về ghe bỏ hẳn một ngày làm việc. Đêm hôm đó anh ngủ trằn trọc, tiếng muỗi bay lèo xèo nghe thật gớm ghiếc, từng chập anh rơi vào cơn mê, chập chờn mộng mị, bị chìm sâu dưới dòng nước tối đen lạnh buốt, trôi dật dờ trên sông dưới ánh nắng cháy da. Trời chưa sáng, anh trở dậy ngồi mở mắt thao láo, người mướt mồ hôi, mạch máu ở thái dương nhảy rần rật. Anh ăn cơm, uống trà, hút thuốc xong cố gắng vác dao lên rừng nặng nề như kẻ tội đồ.


Một tuần lễ trôi qua vẫn không có xuồng ghe nào qua lại.


Tuần lễ thứ hai anh làm chậm hơn, gần như chỉ làm nửa ngày. Trời sáng lên từ mặt sông, vẻ rạng rỡ của một ngày mới bắt đầu xua đi những u ám nặng nề, anh lên rừng thật sớm, đốn cây đến quá trưa một chút rồi trở về, buổi chiều dành cho việc nghỉ ngơi, phác họa sơ đồ căn nhà.


Một bữa có chiếc ghe đi ngang, người trên ghe trầm trồ chỉ chỏ chiếc ghe màu mè nhưng không hỏi han gì, chắc tưởng khách đi đường ghé nghỉ tạm vậy thôi.


Tuần lễ thứ ba rồi thứ tư người anh rắn lại, cảm giác nhức buốt lan tỏa, đầu óc vừa nhẹ lâng lâng lại vừa nặng trịch như đá tảng.


Một chiếc ghe chài cỡ nhỏ đi ngang, trên mui có chiếc chòi nhỏ, một bà mập ngồi chễm chệ trên chiếc ghế mây, ông già ròm ngồi dưới chân, đám thanh niên láo nháo ở khoang trước, sau bếp cô gái đang lui cui nấu nướng. Đang nổ máy ầm ầm, chiếc ghe bỗng giảm máy rẽ ngoặt về phía anh. Tiếng bà mập lanh lảnh:


“Ông công tử làm gì đó? Có hàng họ gì bán không?”.


Lúc đó là vào buổi chiều, anh đang nổi lửa nấu cơm. Anh không đáp cũng không ngẩng lên. Chiếc ghe chài cặp sát vào, đám thanh niên lăng xăng trầm trồ bàn tán về chiếc ghe chiếc ghe.


“Tôi biết ông rồi”, bà mập nói tiếp. “Mấy đêm rồi đi ngang thấy ông ở đây. Tôi cũng thấy ông đóng ghe ở chợ Cà Mau. Ông buôn bán gì hay đi chơi?”.


“Đi chơi thôi”, anh đáp.


“Rảnh quá hả? Đàn bà đâu, sao nấu cơm một mình? Bị vợ bỏ hay bỏ vợ?”. “Bà quay ra quát bảo đám thanh niên: “Neo ghe lại nấu cơm ăn với ông công tử cho vui tụi bây, đợi nước xuôi đi đỡ tốn xăng”.


Anh ngồi hút thuốc đợi cơm chín. Bên kia cô gái bước ra vục rá xuống sông vo gạo. Hai chiếc ghe đung đưa qua lại, hai chiếc sàn bếp sát vào nhau, cô gái gần như chạm mặt vào anh, nhìn anh cười cười rồi quay đi đổ gạo vào nồi, cúi xuống thổi lửa, trở ra với rổ rau, mặt đỏ ửng:


“Ôi chiếc ghe đẹp ghê! Ông chủ giàu có rảnh rỗi đóng ghe đi chơi hả? Vợ con ông chủ đâu?”.


Cô gái chừng hăm sáu, hăm bảy, trông cũng có dáng, mắt mũi rõ nét, miệng cười tươi, nhưng nhìn chung có vẻ hơi buông thùa từng trải, mặt đầy những vết tàn nhang đen lem luốc, trông như những vết dơ không thể rửa đi được. Hai chiếc ghe đong đưa, hai sàn bếp lúc xa lúc gần, cô gái vẫn nhìn anh cười cười, những vết tàn nhang càng nổi rõ hơn.


“Tôi không phải ông chủ”, anh đáp. “Ghe cô buôn gì, hay cũng đi chơi?”.


“Em không biết, em làm công cho bà chủ”, cô gái đáp giọng rầu rĩ. Rồi lại tươi cười. “Ông chủ đi chơi chi xứ heo hút này? Ghe đẹp quá đậu chi ở đây?”.


“Đẹp gì đâu, sơn phết bên ngoài vậy thôi”.


“Em thấy rồi, giường tủ đẹp quá không kìa, như phòng ngủ khách sạn. Hay ông chủ đợi ai?”.


“Tôi đi chơi thôi... Cũng có công việc...”.


“Việc gì?”.


“Cô dò hỏi làm chi?”.


Bà mập la vọng xuống:


“Ông công tử rù rì gì đó? Không có gì bán, dụ dỗ con gái người ta hả?”.


“Bà muốn mua gì”, anh la vọng lên.


“Gì cũng mua”.


“Mua tôi không?”.


“Ông là đồ mắc dịch hả?”.


Anh ngồi day lưng lại ăn cơm. Bên kia, đám thanh niên leo lên mui cười giỡn, bà mập la lối, ông ròm ngồi lặng thinh, cô gái leo lên xuống bưng bê. Cả ghe tụ lại ăn uống rồi tiếp tục cười giỡn la lối. Anh ăn mau, dọn dẹp rồi vào cabin uống trà hút thuốc, mở hé cánh cửa, lại thấy khuôn mặt đầy tàn nhang của cô gái kề sát bên:


“Ông chủ ngủ sớm vậy?”.


“Tôi đốn cây mệt lắm”.


“Thấy rồi, tay ông chủ phỏng rộp hết kia kìa. Đốn cây cực cũng bằng chèo ghe. Ông chủ đốn cây chi vậy?”.


“Chuyện gì cô cũng muốn biết hết hả?”.


“Em hỏi vậy thôi, tính em hay nói”, cô gái hạ thấp giọng, có vẻ hơi buồn. “Thôi ông chủ ngủ đi, lát nữa nước xuôi ghe này cũng đi thôi. Ôi chán ơi là chán! Em qua lại hoài trên sông này, nhiều sông khác cũng vậy, đời em chỉ có trôi nổi trên sông”.


“Không có nhà hả?, anh chợt thấy cám cảnh.


“Nhà nào?”.


“Tôi hỏi cô mà?”.


“Em có nhà cửa gì đâu, một tấc đất cũng không, quanh năm suốt tháng chỉ có trôi nổi trên sông. Ông chủ giàu có ra chợ Cà Mau mở nhà hàng cho em làm tiếp viên đi”.


“Làm tiếp viên là làm gì?”.


“Ông chủ biết rồi mà, hay là không biết?”.


Anh đóng cửa lại. Trời đã sẩm tối. Chiếc ghe vẫn đậu kề bên, đám thanh niên cười đùa, bà mập quát tháo, ông ròm lặng thinh, cô gái biến đi đâu mất. Anh giăng mùng, ngồi vào trong hút thuốc, thỉnh thoảng thò tay ra ngoài rót trà uống, không bật đèn nê-ông cũng không đốt đèn bão. Cả người đau ê ẩm vì đốn cây và đầu óc váng vất vì câu chuyện của cô gái. Anh ngủ lịm đi hồi nào không hay, giữa khuya thức dậy chiếc ghe chài đã đi mất.


Đã một tháng trôi qua, anh vẫn đốn cây với sự nhẫn nại đáng khâm phục. Cơ thể chuyển sang giai đoạn đau mới, chân và hông cũng đau, những vết phỏng rộp vỡ ra ướt lầy nhầy, sau đó chai lại thành những dấu tròn nhỏ cứng ngắc, người co rắn lại, cử động nặng nề chậm chạp. Anh làm chậm thêm nữa, nhiều hôm dành cả ngày chỉ để gom cây, kéo cành lá quăng xuống vụng nước. Cuối tuần anh dành hẳn một ngày để giăng lưới bắt cá kiếm món ăn tươi sống.


Anh đã có một bản sơ đồ thiết kế căn nhà tương đối hoàn chỉnh, số lượng cột kèo, đòn dông, đòn tay, cây lát sàn, cây nống, cây đà. Thấy đã đủ số cây cho căn nhà, anh bắt đầu gom cây về nơi đã định. Thêm một tuần lễ cho việc róc vỏ, đẵn đẽo các mấu mắt.


Bà mập lại đi ngang, tiếng lanh lảnh giữa sông:


“A, cất nhà hả ông công tử? Tính ở luôn đây hả? Hay lắm! Có định lập chợ không?”.


Bà mập ngồi chễm chệ trên chiếc ghế mây, ông ròm dưới chân, đám thanh niên láo nháo trước khoang ghe. Không thấy cô gái đâu cả. Mấy bữa sau lại thấy chiếc ghe đi qua, vẫn từ trên xuống, không hiểu sao đi hoài một chiều như vậy. Lần sau nữa bà mập khoát tay cho ghe ghé vào nấu cơm đợi con nước xuôi. Cô gái bước ra sàn bếp vục rá vo gạo, cười bằng mắt, hỏi anh ăn cơm chưa, chiều rồi cùng nấu cơm cho vui. Anh không trả lời cũng không quay ra.


Tiếng bà mập lanh lảnh:


“Ông công tử cất nhà ở đây tôi ưng lắm, có chỗ cho tôi ghé nghỉ nấu cơm ăn. Công an đến gặp ông công tử chưa?”.


“Gặp tôi làm chi?”.


“Sao ông lại hỏi tôi? Công an gặp ai người nấy biết, tôi không dính líu gì. Tôi không ưa công an. Nhưng người ta có quyền nghi ngờ, nghề nghiệp của người ta mà. Sao ông cất nhà ở một mình như vầy?”.


“Tôi cất nhà ở thôi không làm chuyện gì bậy bạ đâu, xin bà đừng báo công an”.


“Tôi không báo đâu, đã nói không dính líu gì mà, nhưng người ta có quyền nghi ngờ”.


Cô gái cười cười nói nhỏ:


“Bà chủ sợ công an lắm. Tối ngủ neo ghe xa bờ, ghé chợ không cho bắt đòn dài”.


“Rồi làm sao lên bờ?”.


“Lội như chuột thôi, bà nói thà chịu cực còn hơn bị đâm lủng bụng”.


“Ai đâm ai?”.


“Thôi thôi em không dám nói đâu, ghê lắm! Đừng nói em nói nghen?”.


Anh ăn cơm xong, dọn dẹp, nấu nước pha trà rồi vào cabin nằm hút thuốc. Nắng chiều ngả dài trên mặt sông, nước chảy lặng lờ, nghe rõ dưới đáy sâu tiếng rào rạo của dòng nước chảy xiết xẻ đất lấy đường đi ra biển.


Hai chiếc ghe dập dềnh trên sóng. Khuôn mặt tàn nhang lem luốc của cô gái lại hiện ra. Cô gái đổi cách xưng hô:


“Anh già chưa? Em gần ba mươi, thành gái già rồi. Đúng ra là hăm bảy. Em tên Thủy. Anh cất nhà một mình cực không? Sao không mướn người làm?”.


“Mướn ai?”.


“Mướn em nè!”.


Anh vói tay quăng tàn thuốc xuống sông, bỗng thấy hứng thú muốn nói chuyện:


“Tôi trả tiền công cho cô hả?”.


“Em làm không công cho anh sao? Em nghèo lắm, ở mướn cho bà chủ tiền chẳng được bao nhiêu, cũng ngán cảnh trôi nổi trên sông nước rồi. Em muốn được ở nhà trên đất, có chỗ trồng chậu ớt, nuôi con gà. Phải chi em là đàn ông, cất nhà ở một mình như anh”.


“Sao không lấy chồng?”.


“Chồng đâu mà lấy? Bộ dễ lấy chồng lắm hả? Cũng có lần em sắp có chồng rồi, đúng ra làm bé cho người ta, có được căn nhà, tháng ở với nhau năm ba ngày. Nhưng em ngu quá, một bữa nói dối em cấn thai, thằng chồng liền đánh đuổi đi. Tính giữ chồng mà, đâu ngờ mất hết, đàn bà con gái ngu như vậy đó”.


“Vậy coi như cũng có chồng rồi”.


“Chồng của người ta thôi. Sau lần đó em chán không muốn lấy chồng nữa”.


“Vậy sao định ở với tôi?”.


“Làm vợ anh hả? Em chỉ làm công thôi. Mà nói vậy chưa chắc em đã chịu ở, hai người ở giữa rừng thành cái gì?”.


Bà mập la vọng xuống:


“Ông công tử rù rì gì nữa đó? Qua đây uống rượu bàn chuyện coi”.


Anh bận áo leo sang. Mọi người ăn cơm. Bà mập ngồi với ông già ròm. Đám thanh niên ngồi quây lại một góc. Cô gái nhường chỗ cho anh ngồi rồi ra sau bới cơm cho mọi người. Một chai rượu lòi ra, ông già ròm trở nên lanh lợi, rót uống liền một ly, rót tiếp đưa cho anh.


“Tôi uống với ai đây?”, anh đưa cao ly rượu lên.


“Với tôi nè”, bà mập đón ly rượu uống ực, đưa ống tay áo chùi ngang miệng như tay nhậu chuyên nghiệp. “Ông cất nhà ở đây tôi thật ưng bụng, có chuyến đi ngang ghé nghỉ, có chỗ gởi hàng, coi như trạm vậy. Tôi hùn với ông được không?”.


“Hùn gì?”.


“Cất nhà. Cây rừng của nhà nước, tôi cho mấy thằng nhỏ tiếp tay, coi như nhà của chung tôi với ông”.


“Rồi tôi ở chung với bà hả?”.


“Ông đừng mắc dịch! Không chịu thì thôi, ta bàn chuyện khác”.


“Rượu được lắm, có hơi đắng một chút”.


“Ông đừng nói lảng. Chuyện cay đắng rồi sẽ biết. Dạo nào cũng có người đến đây cất nhà ở một mình, công an theo dõi, một hôm thấy ông ta treo cổ lên sà nhà”.


“Sao treo cổ?”.


“Chắc sầu đời thôi. Trời hành mà. Về tội ở một mình. Không ai sống một mình cả, chèo ghe còn có người trước người sau. Ông uống rượu đi. Hay ông quen uống rượu Tây?”.


“Rượu Tây tôi cũng có uống, sống xa hoa, lên xe xuống ngựa cũng đã từng”. Anh uống liền hai ly, nói tiếp khề khà: “Lâu nay tôi ở nhà người ta, giờ muốn ở một mình. Cám ơn bà đãi rượu, giao tôi làm người giữ kho, nhưng xin bà để tôi yên”.


“Thì ông cứ ở yên. Tôi nói vậy thôi, lời nói không trói buộc được ai. Chỉ xin ông đừng treo cổ, tôi sợ ma lắm”.


“Không đâu, tôi không treo cổ đâu, chuyện đó tôi xin hứa với bà”.


Ông ròm uống rượu tì tì không thấy nói năng gì, không hiểu bà mập đem theo cái khối rầu rĩ này làm gì. Anh chạm ly với bà mập, với lão ròm, phút chốc đã say, hình như có nói năng lung tung gì đó. Có ai đó đưa anh qua ghe. Anh ngủ lịm đi không biết gì nữa, giữa khuya khát nước thức dậy chiếc ghe chài đã đi mất.


Những ngày tiếp theo xuồng ghe bỗng tấp nập. Có chiếc ghe bán lá tấm, anh kêu lại mua, chất sẵn. Anh cũng mua cả lạt dừa và dây choại. Dụng cụ làm mộc như đinh ốc, cưa đục, kềm búa anh đã mua ở chợ Cà Mau đựng trong một chiếc thùng lớn. Anh bắt đầu dựng nhà. Kèo, đòn tay cột bằng dây choại, đầu cột khoan bắt con sẻ, vặn đinh ốc. Một nửa cột nhà và cột nống là thân cây sống chặt ngọn, những cột nống còn lại chôn thật sâu, cả nửa ngày chỉ chôn được một cây. Khung nhà dựng lên không ngay ngắn lắm. Anh lắp thêm cột phụ, nhìn không ra hình thù gì, nhưng cả khối tựa vào nhau cũng vững chắc. Anh bắt đầu lợp nhà. Suốt ngày ngồi vắt vẻo trên mấy thanh sà. Xuồng ghe qua lại, đôi bên cười vẫy tay nhau. Anh không định làm vách, trừ chỗ bếp để che gió. Bốn bên đã có cây rừng che chắn, ban ngày ở trên nhà, ban đêm ngủ dưới ghe để giữ ghe.


Công trình tạm ổn sau hơn một tháng, đúng ra gần hai tháng, tạm ra hình thù căn nhà, có thể nằm ngửa giang tay trên sàn nhà cười một mình. Những cũng còn phải tu bổ thêm nhiều thứ, làm kệ gác, sàn bếp, đường ra bến nước, đường ra nhà cầu, làm thêm lan can cho căn nhà được vuông vắn. Anh dành hai ngày nghỉ xả hơi đi lưới cá móc cua, nấu nướng, chế biến rậm rịch từ sáng tới chiều. Nghỉ thêm hai ngày nữa, nằm nhìn lên thấy chỗ này, chỗ kia cần phải sửa thế là lại leo lên ngồi vắt vẻo rồi ra sông tắm, hì hục làm chiếc cầu nước cả mấy tiếng đồng hồ.


Anh dò bản đồ tìm chợ gần đó định hôm nào đi mua sắm một chuyến.


***


Có tiếng chó sủa. Một chiếc ghe tam bản ghé vào. Hai đứa con trai mười ba, mười bốn giống hệt nhau đứng xổng lưng trầm trồ khen chiếc ghe. Con chó ngồi chồm hổm ở mũi ghe thôi sủa, nghiêng ngó. Anh đi xuống đứng chống nạnh đưa mắt hỏi. Hai đứa cười, nói đến coi chiếc ghe, mấy hôm rày qua lại thấy rồi nhưng bận đi lưới cá. Chúng leo lên ghe, vô tận trong cabin, con chó cũng đi theo, lăng xăng líu ríu. Anh bỏ lên nhà. Đến xế chiều, hai đứa nhỏ trở lại nói có mớ cá muốn bán, ba má chúng cần tiền mua lưới.


“Hai đứa sinh đôi phải không?”, anh hỏi. “Thằng nào là thằng nào?”.


“Chú không biết được đâu”, hai đứa nhỏ đáp.


Chúng không phải người vùng này mà ở U Minh lên đây. Gia đình ở trên ghe, quanh năm suốt tháng trôi nổi trên sông chài lưới, mò của bắt ốc sống qua ngày.


“Sao không ở U Minh mà bỏ lên đây?”.


“Bị cháy rừng. Chú thấy cháy rừng bao giờ chưa?”.


“Tao không biết gì cả, tao trên thành phố xuống. Tụi bây thấy hả?”.


“Nghe ba má kể lại, rừng cháy ngút trời như rồng phun lửa. Chú mua cá không?”.


“Không. Mai mốt tụi bây ghé đây tao bán cá cho. Bán con chó không?”.


“Không”.


“Bán đi! Chó theo ghe làm gì, loại chó lông chuột, mỏ thỏ làm biếng lắm”.


“Nó cũng nhát lắm chú ơi”.


“Biết rồi, dòm mặt biết liền. Chỉ giỏi sủa thôi chớ gì? Thôi về đi để tao làm việc. Mai mốt đến chơi nhớ lấy lọ nồi vạch mặt để tao còn biết thằng nào với thằng nào”.


Hôm sau hai đứa sinh đôi trở lại bán con chó. Ba má chúng cần tiền mua lưới. Anh dắt con chó lên nhà. Nó sủa váng lên, nhe răng gầm gừ cắn phập mấy cái nhưng cuối cùng cũng lôi được lên xích vào góc cột.


Một con chó xấu xí chưa từng thấy, đen trũi, cao lòng khòng, mặt lem luốc như dính lọ.


“Nó ngán ăn cá, chú mua thịt cho nó ăn”, một đứa nói.


“Chó nhà giàu hả? Có uống cà phê sữa, hút thuốc thơm không?”.


“Chó nhà nghèo thôi, hồi xưa nó đi săn, ba cháu cho nó ăn thịt rừng. Nó thích lội rừng lắm, ngồi trên ghe, có xuồng ghe qua lại nó đều ngoắc đuôi đòi đi”.


“Một con chó ham vui, biết rồi”.


“Chú cho nó ngủ chung hay ngủ riêng?”.


“Còn phải xem đã”.


Hai đứa nhỏ ra đi. Con chó rên ư ử nhìn theo. Anh nạt, nó quì mọp xuống nhìn anh với đôi mắt ướt đẫm. Suốt ngày hôm đó rồi mấy ngày hôm sau con chó không hề tỏ một cử chỉ thân thiện, không một chút vẫy đuôi khi anh đi ngang qua. Anh cũng chưa có ý định vuốt ve nó, đến bữa cơm cùng ăn anh đẩy dĩa cơm ra sau để hai bên không nhìn thấy mặt nhau. Tối anh ngủ dưới ghe, con chó ngủ trên nhà, vẫn cột xích, anh thảy cho nó tấm đệm, suốt đêm cả trong mơ anh còn nghe tiếng rên ư ử của nó.


Có con chó, anh nảy ý định đi rảo trong rừng một chút. Cũng phải biết khu rừng mình ở như thế nào. Anh tháo sợi dây xích, con chó vẫn nhìn anh với đôi mắt ướt đẫm.


“Không chút tình cảm phải không?”, anh nói. “Vì hoàn cảnh thôi, mình phải sống với nhau. Ta đi dạo một chút, việc của ta cũng là việc của ngươi”.


Được thả ra con chó hăng hái lên chạy vòng quanh tìm vài chỗ đái rắc, quay lại nhìn anh đoán hướng đi. Chẳng đi đâu xa, quanh đây thôi. Anh lội xuống rừng, con chó nhảy phóng theo chạy bươn lên trước, cúi hửi tìm đường đi. Có đường sá gì đâu, chỗ nào cũng giống chỗ nào, trời đứng trưa mặt rừng vẫn tối mờ lấp xấp nước, đầy những lá mục tanh tưỡi, những chang đước tua tủa, những cây đước con mọc xen kẽ, những trái đước vừa mới rụng cắm xuống như một mũi giáo nhọn hoắt. Anh leo qua những chang đước, con chó đi lòn bên dưới. Cảnh âm u của rừng cuốn hút anh đi tới mãi. Một vùng rừng khác lạ hiện ra trước mặt, những cây đước cao ngất tàng che kín bên trên, bên dưới trống quang, rải rác có những mô đất, những chiếc chòi đổ nát. Một chỗ ở xưa cũ, người ở không còn đâu nữa!


Anh mơ hồ không biết đây là nơi nào. Một cứ cũ của những người kháng chiến, tuy chưa nhìn thấy lần nào. Anh ngồi xuống một gò đất tương đối khô ráo đốt thuốc hút, con chó ngồi cạnh bên. Không khí rừng lành lạnh, âm u. Vậy là có người ở vùng rừng này rồi, anh chỉ là người đến sau, rất lâu sau này. Chẳng có gì để nhìn ngắm nhưng anh vẫn ngồi hút thêm điếu thuốc nữa, quăng tàn thuốc lặng lẽ đứng dậy đi rảo quanh, con chó lững thững đi theo sau. Những gò đất không lớn hơn tấm đệm, đúng ra là những chiếc hầm núp, những thanh đà đã mục nát, bên trên những mái chòi đã sụp đổ, vương vãi những miểng chén, miểng lu, thùng sắt, bi đông nước, đệm mục, vải mục treo lắt lẻo trên những chạc cây, vùi một nửa dưới đất. Hai đầu dây dù với hai mẩu vải cột tòng teng vào hai thân cây, có thể đoán đó là hai đầu còn lại của một chiếc võng, thân võng đã mục rã sau những tháng năm mưa gió. Anh đi tiếp, nhìn thấy nào ba lô, bòng, thắt lưng, lò bếp dầu, nón vải, có một gian bếp mấy khuôn lò vung vãi những mẩu củi cháy dở. Không gì còn nguyên vẹn cả, tất cả đã mục nát, hoen rỉ. Anh lượm được một con dao gâm chỉ hơi bị xạm đen, vội rửa sạch giắt vào thắt lưng. Không thể đi giáp hết, chắc cũng thế thôi, anh lại ngồi xuống một mô đất hút thuốc, con chó đi sục sạo vòng quanh, leo lên ngồi kế bên thè lưỡi thở. Đó là một mô đất lớn hơn những mô đất khác, căn hầm đã sụp đổ, chiếc chòi chỉ còn hình dáng lờ mờ với những khung gỗ xiên xẹo, bên trên một chạc cây thấy có nhét một gói gì đó. Anh đứng dậy vói lấy chiếc gói, mở ra thấy toàn đồ trẻ con, những chiếc quần chiếc áo, chiếc khăn bé tí xíu rã ra trong tay, còn lại một mớ nút rớt lại trong lòng bàn tay.


Anh lội trở về nhà với dúm nút áo trong tay. Hai đứa sinh đôi chờ ở nhà. Chúng đem cá khô đến cho con chó, cá xẻ thịt róc xương chỉ hơ qua lửa là ăn được. Con chó hửi hửi xâu khô rồi chạy quấn lên với hai đứa nhỏ, đuổi nhau quanh sàn nhà. Anh nổi lửa, hỏi hai đứa nhỏ ăn cơm không.


“Cháu không ăn”, một đứa nói.


“Cháu cũng không ăn”, đứa kia nói theo.


“Một đứa nói thôi, đứa nào cũng vậy”, anh nói. “Hai đứa phải ăn, không ăn không cho chơi với con chó, tao đã mua, trả tiền rồi đúng không?”.


Cơm chín hai đứa nhỏ ăn lùa mỗi đứa một chén cơm, buông đũa lại chạy quấn với con chó. Anh pha trà hút thuốc xoay người nhìn theo chúng, gọi:


“Hai đứa nghe tao nói cái này”.


“Tụi cháu chơi với con chó một chút”.


“Nghe tao nói đã. Lúc nãy tao vô rừng gặp một cứ cũ”.


Cứ cũ tụi cháu gặp hoài”.


“Tụi bây có thấy cái này không?”, anh đưa nắm nút áo ra. “Ở trong đó hồi trước cũng có con nít, “ông con nít” giờ chắc cũng lớn bằng tía tụi bây rồi”.


“Biết rồi”.


“Tụi bây không biết gì đâu. Tao cũng không biết. Tụi bây muốn lên ở trên nhà không? Tao cất nhà này rồi tao cất căn nữa cho tụi bây ở, mai tao đi chợ mua chiếc vó, hai đứa giữ nhà canh vó, chơi với con chó, chạy rông làm gì. Tao tên Bằng, gọi là chú Bằng. Khỏi nói tên tụi bây, tao không biết đứa nào là đứa nào đâu”.


“Không”, hai đứa nhỏ đáp. “Tụi cháu cất cũng được thôi, tại tụi cháu thích ở trên sông”.


Đêm hôm đó trong mơ anh lại nhìn thấy chiếc cứ, không phải chiếc cứ hoang tàn sụp đổ mà là một chiếc cứ có người ở, thanh niên nam nữ, đàn ông, đàn bà, ông già, bà lão, con nít mới đẻ bé tí xíu mọi người chuyền tay nhau bồng bế. Sao anh nhìn được cảnh đó?


(còn tiếp)


Nguồn: Cơn giông. Tiểu thuyết của Lê Văn Thảo. Rút từ Tuyển tập Lê Văn Thảo. Nhà văn Triệu Xuân tuyển chọn, giới thiệu. NXB Văn học, 2007.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 17.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »