tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27809174
Tiểu thuyết
31.07.2012
Ngọc Giao
Đất

V. Xã Bèo ngóc được lên thì con trâu nằm xuống. Nó biếng ăn, làm nhác, mắt đỏ lờ đờ, bọt mép chảy nhép.


Chị Noọng bảo nó ngã nước rồi.


Cả nhà lo sợ. Sau đó, lũ gà con cũng lụi dần. Chị xấu lo, đến nỗi bỏ ăn, làm yếu, mắt lúc nào cũng như muốn ngủ, chân tay rời rạc, do thế mà bầu sữa cứ teo khô mãi khiến thằng chó nhay không được khóc thét lên. Người mẹ nằm rên ốm; thằng anh dỗ em bằng cách nhá khoai lang sống mớm vào mồm thằng chó. Bụng thằng chó cứ to ra, thịt xương răn rúm, thảm hại như mèo con ngâm nước.


Bà cụ suốt ngày ngồi đứng không yên, lo trâu ốm, thương người mỏi, lại phiền nỗi gạo hết, tiền không. Có lúc bà thừ ra, thoáng nghĩ đến cảnh năm nào bọn giặc Nhật sang đây, bắt phá ruộng lúa để trồng đay, rồi thì con nhà nông nhìn ruộng đất mà chết nhăn răng đầy cả xóm làng, quán chợ.


Tiền bán chó ăn hết cả rồi, chị Xã ngóc lên mở thùng lấy bộ sà tích bạc dúi vào tay mẹ, khẽ thầm thì. Bà mẹ chồng nhìn con sững sờ một lát, rồi ra sân, nhìn lên trên nhà ông bà chủ tịch, rụt rè mãi mới bước lên thềm gạch cao.


Chị Noọng thầm thì với bà, đoạn đưa bà đi đâu một lúc lâu. Bà trở về, ngồi bên đầu giường con dâu, moi mấy tờ giấy bạc hai chục ra đếm và dán lại mấy tờ giấy năm đồng rách nát.


Bà đưa cho con dâu giữ, tính đủ tiền đi chợ, rồi quẩy đôi thúng ra đường.


Chị nằm mê man sốt, ngửa mặt nhìn lên sà nhà, lắng nghe tiếng con chim hót ở rừng bên: “Hết! Hết!”.


Chị mấp máy làn môi khô bỏng, nói không thành tiếng:


- Thế là hết thực! Chả còn gì mà cầm bán nữa.


Tâm trí chị thoáng hiện ra hình ảnh một ngày vui đã xa vời vợi: ngày chị về nhà chồng, má đỏ hây hây, yếm đào, áo mớ ba, váy lụa Chợ Dầu, nghiêng mặt sau vành nón, hồi hộp và sung sướng cúi nhìn bộ sà tích bạc trắng muốt vỗ vào đùi theo nhịp bước trên con đường làng Nguyệt Đức mà lũ trẻ đang ríu rít chăng giây để vòi tiền chú rể cô dâu.


- Bây giờ…


“Hết! Hết!”.Con chim rừng vọng thêm mấy tiếng kêu quen thuộc, tắt dần trên cánh gió vời xa như tiếng pháo ngày vui xưa cũ của chị.


Trong khi ấy, Bèo ở ngoài ruộng núi, vun xới những luống ngô khoai.Cánh tay anh không còn khỏe như hồi ở quê nhà, mới làm một tý đã thấy rã rời bải hoải, mệt thở hơi tai và vẫn còn gây sốt. Lòng buồn rười rượi, anh nghĩ đến cảnh vợ ốm, trâu đau, con gày còm, đói rách. Bèo lại nhớ đến xóm đồi Da, không biết vợ chồng con cái Lý Còng có còn ở đấy hay trôi dạt đi nơi khác, vì độ này ở miền ấy ngày nào cũng có tàu bay đến đánh. Thốt nhiên mấy tiếng súng nổ rất to và nghe rõ cả tiếng liên thanh lục cục tưởng như gần lắm, anh đứng ngẩn ra, tim đập mạnh:


- Quái, sao lại ngay bên nách thế, chạy nữa thì bỏ mẹ!


Thằng Đanh và bà cụ đang bẻ củi quét lá trên đồi cũng lò dò bước xuống bờ ruộng, mặt tái xanh. Bà cụ đứng sát bên cạnh anh Xã, thầm thì:


- Sao gần thế, cứ như ở làng ta nghe súng bên đường số Năm ấy nhỉ -Rồi bà khẽ thở dài - Tưởng lên rừng lên núi thì yên thân, thế mà vẫn phải sợ chết, thà cứ ở làng cho xong quách.


Anh vẫn quen như mọi khi, an ủi mẹ:


- Sợ gì! Đã đến làm sao được. Mình ở tận thâm sơn cùng cốc này, có gì thì chui vào rừng.


Bà cụ lầu nhầu:


- Vào rừng để chết đói chết rét à?


Thằng Đanh đang ngồi mân mê cái rỏ rỗng vì mấy hôm nay nước ngàn đổ về to quá, nên không có cá tôm. Nó nghẹo đầu nhăn nhó:


- Bố nói đến hay, vào rừng thì muỗi nó đốt cho cũng đủ chết. Hay là… về vậy?


Anh nhìn con, mắng:


- Trẻ con biết cái gì! Về để chết à? Có mồm thì cắp có nắp thì đậy, bạ đâu nói đấy, người ta biết thì bỏ bố mày.


Bà cụ bênh cháu:


- Cứ ngồi ở một xó thì nhút nhát, chứ ra các chợ mới thấy thiên hạ người ta rục rịch về làng cả. Chính phủ cho về, có cấm đâu.


Anh im lặng. Anh cũng đã nẩy ra cái ý “về tề” nhưng chỉ nuôi nó một cách âm thầm, lén lút như một tên trộm đói muốn đi gặt lúa đêm mà lại sợ hàng xóm thấy sự manh tâm bất hảo của mình.


Bà cụ thầm thì:


- Hay ta… thế chăng? Tao tính nếu nhộn quá thì cũng không thể nào gan được. Giá dạo ấy cứ liều ở quê cũng chả sao. Bây giờ mắc núi mắc sông, đói thì vẫn đói mà nào có được yên thân yên phận.


Anh không muốn mẹ nói vỡ cái ý của mình ra, bởi anh vẫn coi đó là một cái ý rất nguy hiểm, nếu anh đồng tình thì mẹ anh, vợ anh, con anh sẽ hàng ngày bàn tán mãi, rồi tai vách mạch rừng. Anh toan gắt thì có tiếng máy bay. Thằng Đanh dắt bà chạy nép vào chân đồi, và thét thằng Đá dắt con trâu ốm tìm chỗ lẩn.


Anh ngồi bên luống khoai, lơ láo nhìn lên bầu trời u ám. Súng nổ thêm gần, gần hơn, chẳng khác gì năm ngoái đứng ở giậu tre làng mà nghe tiếng liên thanh rúc ngoài phố Vàng.


Bỗng có tiếng nhạc rung. Chủ tịch Noọng phóng ngựa ở bên kia suối chạy về qua con đường cỏ lau gần bờ ruộng. Anh Bèo chạy theo sau ngựa:


- Súng ở đâu gần thế,ông chủ tịch?


Noọng phi ngựa như một ông tướng đang đuổi giặc, không nghe thấy gì hết. Ngựa ông nhong nhong về rồi lại nhong nhong trở lại, nhưng bây giờ ông đã võ trang, đeo “mút cơ tông”. Con ngựa thồ bụng to, chân lũn cũn, đeo sáu chiếc nhạc đồng to tướng, chạy chồm chồm, sóc người Noọng như sóc ốc trên cái yên da cũ rách.


Xã Bèo lại chạy ra đứng bên đường, hỏi lớn:


- Súng ở miền nào thế, ông chủ tịch?


Noọng gò cương đáp:


- Chúng đến nơi rồi. Nhưng không sợ. Nhất định là không sợ…


Nhạc đồng và vó ngựa lóc cóc khua rộn rã, át cả tiếng Noọng.


Xã Bèo quay về luống đất, cúi nhặt cái cào vun xới đất vào những mầm khoai giây mới bắt đầu bắt rễ và chồi lá nõn. Anh nhìn lại phía sau đồi, mấy mảnh ruộng mạ được mưa xanh ngắt. Cái ý “về tề” lại nóng trong đầu, anh chán nản buông cào xuống, nghĩ tiếc mồ hôi của mình đã rỏ thấm đất cát này.


- Về đi bố!


Thằng Đá giắt trâu trên đồi xuống, thằng Đanh quảy gánh lá đỡ bà. Bèo lại nghe trong người ơn ớn sốt, anh lủi thủi đi sau con trâu khặc khừ không muốn xua ruồi.


Quanh đấy lúc này máy bay không còn nữa, nhưng tiếng súng vẫn từng lúc một nổ ran như pháo tết.


Tối ấy, chủ tịch Noọng đi khai hội trên phủ bộ không dám về khuya. Sớm sau, ngựa Noọng vừa thả vào chuồng thì cả nhà đã dậy. Noọng bước lên nhà trên, nằm thẳng cẳng ra giường. Nằm không yên, anh xuống nhà ngang, ngồi hút thuốc lào với Xã Bèo. Đôi mắt lờ đờ vì say thuốc lào và nước chè tươi, anh nói:


- Kể cũng đáng lo, giặc đã chiếm An Châu, chỉ còn cách đây ba mươi cây số, bởi thế Chính phủ sắp dồn đồng bào thiểu số chúng tôi xuống miền xuôi… - Noọng ngừng lại, bâng khuâng nhìn ra ngoài rừng một lát, giọng ngậm ngùi - Ông có biết tại sao không?


Và anh tự trả lời sau một hơi thuốc lào trước vẻ kinh ngạc rụng rời của chị Noọng, trước những đôi mắt lo lắng của gia quyến Xã.


- Chính phủ sợ dân thiểu số chúng tôi làm phản, nghĩa là làm thổ phỉ-vừa dứt lời, Noọng ngửa mặt cười như con khỉ.


Chị vợ run giọng nói:


- Thế nhà ta có phải đi không?


Cả nhà Noọng tròn mắt nhìn vào miệng anh. Noọng cúi xuống, xoay bát nước chè đang lên khói, khẽ thở dài:


- Cũng phải xuống đồng xuôi, tôi thì lên phủ bộ nhận công tác tuyên truyền.


Chị Noọng ngồi bệt xuống thềm, ứa nước mắt nhìn cơ nghiệp của mình, nhà cao cửa rộng, thóc lúa ngô khoai mấy gian đầy, ruộng nương đang xanh tốt, trâu bò chật chuồng, nơi đây vợ chồng chị, hàng xóm láng giềng chị đang an phận sống từ bao nhiêu đời kiếp tới nay.


Noọng đứng dậy, lảo đảo bước lên nhà, người vợ cũng lên theo.


Dưới này, gia quyến Xã Bèo ngồi im lặng. Anh thấy tình cảnh Noọng lúc này giống như tình cảnh mình trước ngày bỏ làng, bỏ đất di cư, khác chăng là Noọng giầu có nên hẳn đau lòng xé ruột hơn anh nhiều.


- Thế nào,… bố nó?


Bèo nhìn vợ, mới ốm mấy ngày đã xanh như lá. Thương vợ nao nao, và biết rằng tất sẽ phải đi, nhưng anh cũng thấy bực bội vì đã mất bao nhiêu cơm gạo và mồ hôi đổ xuống mấy mẫu đất cỗi kia để ngày nay lại ra đi lần nữa.


- Đời chó thật, thế này thì biết ở đâu yên. Tức lắm! Anh tức trời đất và thù hết mọi người, nghĩ đến khẩu súng, lưỡi dao, ước được bắn vung lên, đâm văng mạng vào bất cứ vật gì cho đỡ tức.


Nhưng anh chỉ dám tiết cái tức ấy ra một câu chửi đỏng, rồi uống nước, hút thuốc lào, lừ lừ nhìn vợ:


- Ông đếch đi đâu cả. Ai đi đâu thì cứ đi. Ông cứ ở đây cho nó giết. Sống làm gì nữa, nợ vợ nợ con, hết mẹ cả kiếp người.


Người vợ nằm xuống, khẽ kéo lá chiếu đắp kín mình. Bà cụ lại đi lo cái việc thu xếp chổi cùn rế rách. Bà làu nhàu rên rỉ, hối hận đã làm những cái mà chính bà khởi xướng và đồng ý với con trai.


- Đã bảo, nó không nghe. Đất với cát rối cả lên. Cứ yên phận như nhà Lý Còng lại hóa xong. Họ có chạy thì cũng tênh tênh, không thương không tiếc. Mình thì dở dói cấy với cầy, có đồng nào đổ cả ra ngoài ruộng người ta, bây giờ chạy, lấy gì mà ăn. Lại thêm nỗi mẹ con nó như sứa thối thế kia, đi làm sao hả?


Anh dụi mạnh que đóm xuống đất, gắt với mẹ và chửi hết vợ con.


- Tôi đã bảo tôi ở lại đây cho giặc nó giết. Ai về làng cứ việc về. Háo hức mãi thôi, chắc ở làng đã yên? Lọt vào vòng, mình lại giết mình, cứ như cho cổ vào thòng lọng mà treo. Công chạy giặc bấy lâu nay, thế là công khống! Mai kia còn dám ngửa mặt nhìn thằng Trương Dần à, đến nhục với nó.


Bà cụ chề môi:


- Chắc nó hơn mình ư, hay đã đi lính trước cả mọi người. Nó với thằng Bếp Năm chung một giuộc. Chỉ được cái nói thánh tướng, giá ai ném cho cái xương là chạy theo con cón.


Anh cúi đầu nghĩ ngợi, lẩm bẩm:


- Có lẽ nào như thế…


Anh băn khoăn lắm. Cả một đời anh chỉ như lòng nước lạch chảy âm thầm dưới bờ giậu, luống khoai, trên bãi mồ ma, nghĩa là anh chỉ sống theo cái đà sẵn có của sự phục tòng, sợ sệt và cam chịu, không hề có ý cưỡng lại một cái gì. Thế mà hôm nay, anh muốn cưỡng với cái ý nghĩ ngấm ngầm nung nấu trong đầu anh từ ít lâu nay. Anh không về tề vội.


- Để nghe xem sao đã! Về cũng dở, đã biết nó ra thế nào.


Tự nhiên trong cái quẫn, dễ sinh tức cảnh, anh trở nên một người thông minh, anh nhớ đến tích chèo phường Lê năm nào cũng hát: Cô Kiều xui Từ Hải quy hàng Hồ Tôn Hiến, rồi thì chết đứng.


- Mẹ kiếp, mình chả là Từ Hải từ hiếc chó gì, nhưng không khéo chưa đến làng đã chết đói giữa đường.


Thế là suốt ngày hôm ấy, lại qua cả một đêm, Bèo băn khoăn mãi. Anh muốn đến xóm đồi Da hỏi ý kiến Lý Còng, là vì bất cứ lúc nào anh cũng chịu phục Lý là tay thông văn tự, tất nhiều mưu kế. Lý Còng vốn hay tự khoe như vậy, và đã khiến Bèo phục về tài nhớ mọi chuyện. Ở quê, làm gì anh cũng hỏi Lý, duy có việc tản cư lên đây anh đã không nghe lời Lý can ngăn, cứ xin ruộng đất. Bây giờ, ngẫm nghĩ, anh mới nhận Lý Còng nói phải. Anh muốn cất công vượt mười lăm cây số, thăm Lý Còng ngay. Nhưng nghĩ đến cái túi không còn có lấy dăm đồng bạc mua mấy bìa đậu nướng, chai rượu ngon để đến với bạn già, anh Bèo lại chán đời.


 


VI. Ba ngày sau, trên bãi chợ rừng, anh em cán bộ dân quân võ trang đã tổ chức một cuộc giải thích với đồng bào thiểu số về vấn đề tạm di cư xuống miền xuôi, bởi vì đến ngày hôm ấy tình thế chiến tranh đã trở nên ác liệt.


Và ngay bữa sau, trời dất còn chưa tỏ,mấy trăm dân áo tràm, người lẫn vật đã xúm nhau trong sương lạnh. Gia đình nào nghèo nhất cũng có một con trâu, vài con lợn, mấy bu gà. Ông già, bà lão ngơ ngác nhìn những người đeo súng dài, súng ngắn, lựu đạn và cả mã tấu để kinh ngạc rằng từ cái thuở cụ Đề Thám đánh nhau với Tây, tới cái thời Nguyễn Thái Học làm sôi loạn cả miền núi rừng đắm chìm này, đến ngày nay họ mới lại bị sợ sệt, kinh hoàng như thế.


Các anh cán bộ người Thổ nói với đồng bào của mình bằng một giọng thân mến và thương sót, rằng cứ vui lòng di cư xuống miền dưới ít ngày, chờ yên ổn sẽ trở về, rằng cửa nhà ruộng đất sẽ có dân quân coi giữ.


Không một tiếng nào đáp lại. Người ta yên lặng địu con, dắt bố mẹ già, chất những bọc quần áo lên lưng trâu rồi trảy xuống miền xuôi. Đàn trâu và đoàn người già trẻ, cúi đầu đi trên con đường nhỏ hẹp hết lên cao rồi lại đổ dốc giữa hai bên đồi cây liên tiếp, quyện mờ hơi sương giá.


Dân quân và cán bộ dẫn họ về các ngả, các làng, giao từng tốp cho chủ tịch tản cư tìm nơi ăn ở cho đoàn chim lìa tổ ấy.


Gia đình Noọng đi hôm sau, người ít nhưng trâu, lợn, gà, chó một đàn dài.


Xã Bèo cũng đi ngày hôm đó và cùng một tốp với gia đình chủ tịch. Noọng đeo súng, cỡi ngựa dẫn đầu. Vợ Noọng cỡi trâu đi lẫn trong đàn trâu đeo trên lưng không biết bao nhiêu là bao bị và khăn gói.


Đến một ngã ba đường, Noọng xuống ngựa, hò vợ và trâu ngừng lại, mời cánh Xã Bèo vào quán nước. Noọng ngồi xuống ghế, đặt súng lên đùi, gọi rượu mời Xã Bèo uống với đậu phụ, nem chua. Chị Noọng mời bà cụ, mẹ con chị Xã ăn bún riêu cua nóng mà chủ quán là một me tây già, xưa kia đã ở mạn ngược nhiều nên mụ ta chào vợ chồng Noọng và hỏi thăm rối rít bằng tiếng Thổ.


Noọng rót mời anh Xã ba chén liền. Mưa hiu hắt trong gió lạnh đầu mùa, trắng mờ trời đất.


Noọng càng uống mặt càng tái mét, lơ mơ nhìn về cánh rừng cũ đã không còn thấy nữa vì bao nhiêu núi đồi trùng điệp chạy hút tới biên thùy, che khuất bóng quê hương.


Xã Bèo thì ba chén mặt đã đỏ như vang, lơ mơ nhìn con trâu ốm mà anh ngờ nó đã bắt đầu có mang hồi vợ anh ở cữ. Anh nhìn phía chân trời tít mù xa mà ghê rợn. Đến tận hôm nay anh vẫn chưa quyết định cái sự “về tề”, dẫu rằng lòng nhớ quê nhà không lúc nào không ám ảnh anh.


Anh lo bị mắc nghẽn dọc đường, người ta khám giấy rồi đuổi lại, hay bị giam giữ. Anh lại thấy ở phòng thông tin phố phủ dán mấy bức tranh ghê gớm tả cảnh tàn khốc vùng chiến sự, chỗ này người đàn ông bị treo đầu,chỗ kia người con gái bị cọc tre đâm suốt vào chỗ hiểm.


Xã Bèo cúi mân mê chiếc chén, ngắm mấy con kiến đen đang loanh quanh bò trên miệng.


Có tiếng chim kêu trên ngọn cây ngoài quán. Bèo quay đầu ra. Con quạ khoang đang đuổi đánh con chè pheng qua ruộng nước. Con chim nhỏ chúi đầu kêu, biến vào trong bụi. Bèo nhấc chén rượu lên uống cạn. Con kiến bám vào ria mép, anh giơ ngón tay bóp nát.


Noọng nghe tiếng ngựa hý và con nghé kêu ngoài quán mới giật mình, ngẩng lên:


- Thế nào, cụ và ông bà Xã đi đâu, đi cùng chúng tôi chăng, bà con ta no đói có nhau, rồi sau sẽ liệu.


Xã Bèo cảm động, mắt chớp nhanh trong khói thuốc lào. Anh nghĩ, nhập với đoàn này không ổn. Làng nào cũng có trinh sát, người ta nghĩ mình ở chung với dân Thổ, tức là thổ phỉ thì chết oan cả xốc.


Nghĩ vậy, Bèo kính cẩn:


- Cám ơn ông bà. Chúng tôi lại trở lại làng Da ở với bác Lý cháu. Ở đấy gần chợ, chúng tôi lại kiếm củi, hay làm quà bánh kiếm đồng rau gạo vậy.


Bà cụ chắp hai tay, nước mắt chạy quanh:


- Ông bà thương tình các cháu, cấp đỡ cho ít lâu nay, tưởng rằng lăn lưng ra trồng trọt cầy cấy, rồi ông trời cho hạt thóc củ khoai để nộp ông bà,nhưng bây giờ lại súng đạn đến lưng, chúng tôi ân hận lắm, không bao giờ quên ơn ông bà.


Chị Noọng ngậm ngùi:


- Có loạn lạc mới phải phiền nhau, cái cụ cái bá nói làm gì cái nợ. Có đáng là bao nhiêu mà nói.


Và chị quay lại nắm áo chị Xã:


- Bá ạ, đi ở với chúng tôi, cơm gạo không lo thiếu. Bao giờ hết đánh nhau vợ chồng tôi lại theo cụ, theo các bá xuống dưới quê chơi một tháng.


Chị ủ con vào bọc, không biết đáp làm sao, nhìn chồng bối rối. Chị không có ý gì nhất định. Lắm lúc nhớ nhà nhớ đất, nhớ bố già, em nhỏ, chị bồi hồi muốn về ngay. Nhưng rồi cũng như chồng, chị lo rằng đi có lọt không, và về làng có yên mà cày cấy, hay là một cổ mấy tròng. Nghĩ thế chị lại hoang mang sợ hãi.


Anh thấy vợ nhìn mình thì vờ xua ruồi để khẽ lắc đầu. Chị nắm tay vợ Noọng:


- Ông bà tốt quá, đi với ông bà chả còn lo cháu đói. Nhưng chúng tôi hãy xin rẽ vào xóm Da thăm bác Lý cháu vài hôm đã, rồi tìm đến với ông bà sau. Còn gặp nhau ở chợ, còn phải quấy ông bà nhiều lắm.


Noọng đứng dậy, đeo súng vào vai. Đoàn người, vật lên đường. Vợ chồng Xã Bèo ân cần chào, rồi đứng nhìn theo mãi.


 


Chương Tư


 I. Chờ cho bầu đoàn thê tử Noọng đã khuất sau con đường đồi phủ bộ, gia quyến Xã Bèo mới gồng gánh ra đi. Gặp ngày phiên chợ, đường đông người đi lại. Thằng Đanh bỗng kêu lên:


- Kìa bố, sao người ta lại tản cư lên trên này nữa thế kia?


Bèo ngẩng lên, thấy một sâu dài đang lũ lượt bồng bế và gồng gánh kéo ngược lên. Bà cụ đổi vai gánh nặng, gạt nước mưa trên mặt, ngoái cổ sang bên kia rìa đường:


- Các cụ ở đâu lên thế ạ?


Một ông già áo cánh đũi đỏ, quần nâu, gánh hai đứa cháu đã nhớn lộc ngộc trong đôi thúng bẻ khum. Cụ đỗ bịch gánh xuống, suýt va phải bánh chiếc xe bò mui che kín cành lá dẻ. Cụ phều phào đáp:


- Đánh nhau dữ ở An Châu, Trũ. Chỉ kịp vơ theo hai thằng cháu hiếm hoi này thôi, cụ ạ. Khổ quá, cháu là con nhà thánh, không đi bộ được, cứ phải gánh thế này suốt mấy chục cây số đấy.


Bèo để ý nhìn hai đứa bé năm, sáu tuổi, mặc áo lụa vàng đóng kín dấu son nhà Phật, mặt mũi giống nhau như hai hạt mít. Ở giây quang lại buộc ba bốn cánh bùa. Anh đoán là cụ chánh, cụ bá giàu thủ quê đây, liền hỏi:


- Thưa cụ, hai cậu là cháu nội hay cháu ngoại?


- Cảm ơn ông, cháu là con tôi, thằng này trai, con này gái. Tôi mất hết năm mươi mẫu ruộng, năm gian thóc, bẩy tám nếp nhà vừa ngói vừa gianh, tiếc thì có tiếc, nhưng cũng đành bỏ đấy, chạy lấy hai mụn con này.


Bèo sực nhớ một câu bẻm mép của Lý Còng, anh nói:


- Thưa cụ vâng, lão bạng sinh châu đấy ạ.Thương con hơn là tiếc của, thật là quý hóa.


Người vợ ẵm con đứng bên đường, nghiêng mình che chiều mưa thốc lại. Chị nhọc mệt nhìn chồng, thúc giục. Bèo chào cụ già, quảy gánh đi. Chị gắt:


- Sung sướng gì mà ông nói nhiều đến thế!


Bèo lườm vợ:


- Bu mày còn biết cái đếch gì. Lúc ấy có một thằng cha nó cứ nhìn mình như là trinh sát ấy, mình phải vờ đứng lại hỏi chuyện ông già, tỏ ra cùng một cảnh. Thế rồi nó mới chịu đi đấy. Và anh làm ra mặt giỏi dang:


- Chuyến về này không dễ như chuyến đi đâu. Phải khôn thế mới sống chứ. Thực thà như bu thằng chó nhá.


Anh đi sát vào bên vợ, một tay đặt lên đòn gánh kẽo kẹt, một tay vạch mảnh khăn vuông che mưa gió cho thằng chó. Nhìn thằng bé xanh xám, anh như đứt ruột gan.


Người vợ khẽ nói:


- Thế sao? Bố nó định về thật đấy à?


Bèo không đáp. Chính anh cũng không ngờ rằng mình đã thay lòng nhanh đến thế. Vừa mới hôm qua, anh nhất định ở liều, mặc ai về, ai đi, thế mà hôm nay…


- Đói lắm rồi bố ạ! Đói lắm bu ơi!


Vợ chồng Bèo ngoảnh lại; một lũ sáu bảy người, cũng cảnh như cảnh nhà anh, chồng quảy, vợ gánh, bà cõng cháu, nheo nhóc một đoàn mặt bủng beo màu nước độc.


- Đói thì chết quách đi xong nợ. Sống làm gì cho khổ mãi.


Người mẹ nọ phát vào lưng con. Đứa bé ngã úp mặt xuống vũng bùn. Người chồng đặt gánh, cúi ẵm con lên, yên lặng lau bùn lẫn nước mắt đứa bé. Anh ta lấm lét nhìn vợ đang quằm quặm nhìn mình, nhìn đứa con, còn muốn giơ tay phát nữa.Vừa ẵm con, vừa gánh, anh rảo bước, tránh bàn tay và đôi mắt hung dữ của người đàn bà.


Xã Bèo thấy quặn đau lòng. Chưa bao giờ vợ anh đánh mắng con, dẫu chúng nghịch ngợm, lười nhác. So với người đàn bà kia, vợ anh quả là mẹ hiền, vợ tốt, anh hối một chút về cái nết cáu kỉnh phũ phàng của anh, tuy rằng anh đã tự răn mình: loạn lạc thế này, đói bỏ cha đi, gây phiền não cho nhau làm gì nữa.


Đứa bé vẫn khóc ngặt nghẹo trên tay người bố. Mặt nó vàng, mắt húp, bụng to. Người bố rúm vai vì gánh nặng, không còn sức dỗ con nín nữa. Bà cụ Xã đứng lại, móc củ khoai trong thúng, dúi vào tay đứa trẻ. Chị Xã quay nhìn bà lão nọ đang lom khom cõng cháu, tay lôi con chó ghẻ xồm nhất định cắn xích đòi trở lại.


- Ấy kìa, cụ Xã, bác Xã, đi đâu đấy?


Tiếng hỏi lè nhè. Anh nhìn vào trong quán nước bên đồi thông. Vợ chồng con cái Lý Còng chạy cả ra, mừng rối rít. Lý Còng đã sặc men, kéo tay Xã Bèo ngồi xuống:


- Thế này thì ra muôn sự do tiền định cả! Khi đi không hẹn nhau mà gặp nhau ở quán. Khi về cũng không hẹn nhau mà lại chạm trán ở dọc đường, tại Đức Ông chùa làng ta linh nên thúc giục cho bà con anh em mình nóng ruột mà về kẻo hương tàn khói lạnh.


Khi nói đến thần thánh thì bác Lý nghiêm mặt lại, và bác càng nghiêm hơn nữa, thầm thì với Xã Bèo:


- Về thôi, bác ạ. Cảnh mình đói bỏ bố đi rồi. Vùng Lang Tài, Gia Bình mà Chính phủ cho về thì cái vùng Nguyệt Đức mình về cũng được chứ sao!


Bèo thở dài không nói năng gì, nhưng chính là tỏ ra đồng ý với Lý Còng một cách miễn cưỡng và liều lĩnh. Vợ Xã Bèo thấy cánh Lý Còng nhập bọn, càng vững dạ thêm. Chị biết rằng lần này về sẽ gặp nhiều khó khăn, nguy hiểm. Chị cho con ăn uống no nê, hết bún riêu lại bánh chưng. Anh Xã quay hỏi vợ:


- Bu nó chiều con thế, còn mươi đồng bạc, mà không tần tiện thì chết đói dọc đường.


Người vợ cười hiền hậu:


- Con nó đói phải cho nó ăn, sống chết cũng phải nghĩ đến con đã chứ!


Chị bóc bánh đưa mẹ và chồng ăn. Chị đã chắc trong lưng có số tiền mà ngay từ hôm nghe tiếng súng vọng vào rừng, chị đã lo xa: lấy đôi khuyên bán cho người Thổ, hàng xóm Noọng. Chị tính nhẩm: ba trăm bạc, chi phí dọc đường độ hai ba chục, còn thì chị khâu lẩn vào độn khăn và mũ thóp của thằng Chó, đi qua trạm, người ta khám cũng không biết được.


Tối hôm qua, vợ Noọng cũng đã đưa chị năm chục bạc: “Bá cầm tiền cho các cháu uống nước ăn quà, gọi là một tý. Biết đến bao giờ mới lại gặp nhau. Các bá ở với chúng tôi chửa được bao ngày đã mỗi người mỗi ngả. Ác quá, cái súng cái đạn nó làm khổ bà con mình.


Chị Noọng và vợ Bèo cùng khóc. Nhét nắm tiền vào bao lưng, chị đã thổn thức vì cảm động. Có tiền, song như mọi khi, chị không muốn chồng biết. Chị đã rõ tính anh, hễ có tiền là hay nói ra mồm, mà lúc này chị nghĩ rằng kín đáo vẫn hơn.


Ăn uống xong, mọi người trả tiền đứng dậy. Bà cụ già lôi chó và cập vợ chồng mặt bủng bụng to từ nãy vẫn ngồi ngoài gốc cây giở nắm cơm bọc lá chuối ra ăn. Đứa trẻ bị mẹ đánh úp mặt xuống bùn, đang bốc cơm rơi dính đất bỏ cả vào mũi chảy ròng ròng, ruồi nhặng bám đen hai mép trốc.


Thấy cánh nhà Xã Bèo ra khỏi quán, bà cụ nọ cũng quảy gánh, lôi chó đi, nhập bọn đông cho đỡ sợ. Con chó xồm ghẻ vẫn như lúc trước, cứ đòi quay trở lại. Bà già càng lôi, nó càng cong đuôi bệt đít xuống bùn. Sợi giây thít chặt cổ khiến mắt nó đảo cả lòng trắng lên và rới rãi sùi ra. Trong quán, một anh lái lợn đang đánh chén với lạc rang, cắn ớt nhai rau ráu, cười khẩy và nói giọng Kẻ Noi:


- Ấy thế, người lại không bằng chó. Rõ chán đời chưa.


Xã Bèo và Lý Còng cùng nghe thấy, nhưng cứ lẳng lặng quảy gánh đi. Một quãng xa. Bèo đổi vai gánh, thở phào một cái:


- Thằng cha ghê quá nhỉ?


Lý Còng hiểu, nhưng cũng hỏi vẩn vơ.


- Ghê làm sao?


Bèo nhìn một làn khói đặc ở mái nhà gianh bên kia đồi dựng ngút lên, đáp vẩn vơ:


- Ghê như lão Trương Dần ấy!


Còng cười khúc khích:


- Ghê hơn nhiều. Cái anh Trương láo toét làng mình thì biết cái đếch gì.


Đoàn người cứ đi. Đường càng rút ngắn, chân trời cố hương gần lại, họ càng thấy trong lòng lo lắng, hồi hộp.


Qua cầu Xim, vợ Bèo lại bò, cầu tre đu đưa mặt nước như cái cầu mây suối rừng Lan Thượng. Và sau lưng chị, bác Còng gái lại nhớ đến hôm nào, vì “nhột” máy bay mà mụ bõ già đánh rơi thằng con xuống, đến nỗi sài bỏ mạng đất người. Mụ bõ đã vì đói cơm rách áo, bỏ vợ chồng Còng, đi làm mướn chỗ khác rồi. Ngày ngược, chị Còng con mọn, ngày xuôi đến phiên chị Xã. Và có điều nhẹ nợ: nhà nào cũng bán dần mòn, nên khi đi năm gánh nặng, khi về còn gọn một gánh chăn áo rách. Gánh nhẹ để mẹ già, gánh cuốc cày thì Xã Bèo kẽo kẹt, thằng Đá gánh hai bu gà Thổ, thằng Đanh giắt con trâu khặc khừ. Thằng Cõn, con Lý Còng, đi tênh tênh, thầm thì với bạn:


- Bố tớ cứ nhất định bán trâu, bu tớ không chịu bán, thành ra đánh nhau ba trận, thế rồi trâu vẫn cứ theo tay người. Bố tớ có tiền, ngày nào cũng rượu, luôn luôn đập chó. Mất trâu nhưng ăn sướng miệng. Mai về làng lại tậu, cần gì! Ở làng trâu rẻ, có người vẫn thậm thọt lên đây bảo thế.


Anh em thằng Đanh cũng khoe ăn cá suối và ăn cơm củ cẩm, thịt lợn muối với các bạn rừng.


Ba đứa ríu rít chuyện trò, trong khi hai người đàn bà, chị Lý và chị Xã thì thầm như buôn lậu. Bà cụ gánh nhẹ, lại mừng sắp thấy đất cát, mồ mả nơi quê hương, bà đi nhanh lắm. Nhờ trời, bọn người khốn khổ kia đã khéo đi vòng đường tắt ruộng nên đã sớm tới cái bến đò cuối chót và cũng nguy hiểm nhất của cả chặng đường năm mươi cây số.


Con sông Đuống rộng dài, sóng cuồn cuộn đổ như giòng máu chia đôi bờ cõi bắc nam: bên này Việt, bên kia Pháp, súng đạn vẫn qua sông.


Bọn Xã Bèo hồi hộp đi qua trạm Công an kháng chiến. Người ta để cho đi. Đò chưa sang tới bên này, bọn Xã Bèo ngồi núp chân đê, nghe ngóng, sợ tiếng máy bay, sợ cái đồn cao đỉnh núi Thiên Thai, trên đó moóc - chê tự do rót tứ phía.


Thuyền sắp ghé vào bờ, bọn Xã Bèo lật đật xô nhau xuống, người chật hết thuyền, một anh lái đò áo chúc bâu trắng lốp, thấy Bèo luống cuống toan cho trâu xuống thì quát lớn:


- Bố khỉ, chở cả trâu xuống thăm hà bá chắc? Hãy đứng đấy chờ chuyến sau.


Bèo lôi vội trâu lên. Anh lái đò khác mặt mũi có vẻ là một tay tề thực thụ, và cũng quần áo trắng bong, đẩy mạnh mái chèo, nói oang oang:


- Đứng líu díu, bọn ba-ti-dăng ở trên núi chiếu ống nhòm, tưởng là bộ đội rồi khạc liên thanh xuống thì bỏ mẹ. Ngu như chó, bảo không nghe!


Mọi người kính cẩn nghe lời anh lái, và sợ sệt nhìn trộm lên trái núi cao chót vót.


Thuyền ra đến giữa sông, bà cụ cứ ngoảnh nhìn con trai và người con dâu còn đứng lại với con trâu ốm trên bờ. Bà cụ quen miệng, lẩm bẩm khấn Đức Ông chùa làng như những khi nguy cấp.Đến bến, họ lật bật đi lên, đứng nhìn bãi cát rộng mông mênh, ngô khoai xanh ngắt. Một lúc sau, vợ chồng Bèo và trâu cũng sang tới bờ, nghĩa là được đặt chân lên đất cát quê nhà, kể tự lúc này. Dẫm trên nền cát ướt trắng bọt sóng phù sa, bọn người đói rách bấy lâu ly tán vì loạn lạc, lòng hoang mang nỗi mừng.


- Các cụ về đấy ư? Sao về muộn thế?


Xã Bèo, như mọi người, đang bước nhẹ vì sợ cả tiếng chân, bỗng giật nảy mình, ngẩng đầu lên.


Hai anh áo cánh trắng, quần nâu vừa cất tiếng hỏi, chăm chăm nhìn mặt Xã Bèo và Lý Còng, rồi soi mói nhìn vào quang gánh.


Bọn Xã Bèo run lên, nơm nớp sợ.


- Đứng lại, xem nào!


Cái lệnh ấy khiến mọi người tái mặt, không còn hồn vía.


Anh tề có chiếc răng vàng cười nhạt:


- “Thẻ Cụ” đâu, người anh em đưa chúng tớ xem tý nào!


Lý Còng tự lật túi, bỏ nón, trật khăn, kính cẩn đáp:


- Bẩm các quan, không có ạ. Trước khi bước xuống đò, chúng cháu đã biết phép, xé vất xuống sông rồi.


Người đeo kính đen, đội mũ nồi, cười nhạt:


- Thôi đi các bố! Nói như trạng mẹ, không ai tin được. Đứng yên cho người ta khám xem có quả na quả niếc gì không nào! Các bố cứ làm mặt lơ mơ, nhưng mà ghê lắm đấy.


- Nào, người anh em cho phép nhé. Kể cũng hơi phiền, nhưng phép nhà binh phải thế, người anh em bỏ lỗi cho.


Bèo làm ra mạnh bạo:


- Bẩm, chúng cháu không dám ạ, các ngài cứ việc làm công tác.


Tức thì anh răng vàng nổi giận:


- A! thằng này chính cống rồi. Bắt lên đồn cho nó tẩn bỏ mẹ đi.


Gã mũ nồi lừ lừ mắt:


- Người anh em khá nhỉ. Cái gì là công tác. Có phải thế này không?


Ba bốn cái tát như mưa vào mặt Xã Bèo. Bèo ngã ngồi xuống bờ ruộng nước. Một cái đá móc tiếp theo, hất Bèo nằm tênh hênh, máu mồm đổ ra lênh láng.


Bà cụ chắp tay van lạy như khi bà lễ Phật:


- Các quan sinh phúc cho con tôi, nó ngu dốt, dại mồm dại miệng. Lạy các quan mớ bái, chúng cháu mới về, có lỗi, các quan thương, dạy bảo cho...


Người vợ chạy vòng ra phía sau, kéo chồng dạy, ruột đau như dao cắt. Phẫn uất quên cả sợ, chị muốn chửi mấy câu, nhưng nhìn cái bốt đồn cao trên núi, rồi nhìn đến con trâu, chị vụt nghĩ tới sự có thể mất trâu như bỡn. Chị kéo vạt áo lau mặt chồng, bùn quyện máu bết với tóc, mắt lờ đờ rũ rĩ như gà toi. Thảm hại, thực là thảm hại!


Chị nghiến răng kêu khẽ:


- Trời cao đất dày ơi! Cực đến thế này là hết!


Anh lờ đờ nhìn vợ, khẽ lắc đầu, ra hiệu cho vợ đừng nói mà chết hết. Anh cố đứng lên, vuốt tóc, quệt máu và chụp chiếc khăn xếp rách vào đầu.


Thằng cha răng vàng khuỳnh hai tay chống nạng, trừng đôi mắt trắng dã, phì phèo điếu thuốc lá ngậm lệch giữa cặp môi thâm:


- Ông làm phúc bảo cho biết rằng đã qua khúc sông kia, bước sang cái đất tề này, thì khôn hồn xé hết giấy má thả trôi sông, còn như cái mồm cái miệng thì phải giữ, đừng giở giọng ấy ra mà nó sả cho toi mạng.


Rồi nó quát lớn:


- Nghe chưa hả?


Mọi người giật nảy mình, Lý Còng xoa tay nói:


- Bẩm, các quan thương mà dạy dỗ, chúng con xin vâng ạ.


Anh mũ nồi gõ ba toong vào quang gánh.


- Giở cả ra xem nào!


Bà cụ và vợ Lý Còng lập cập tháo chiếu, bỏ chăn:


- Mời các quan xem cho. Chúng cháu chả có gì, chỉ có vài manh áo rách.


Tên đội mũ nồi lấy ba toong khua các thúng. Thằng cha răng vàng, thốt nhiên đưa mắt về phía chị Lý Còng, rồi bước tới, lật khăn vuông, bợp một cái cho sổ tóc: giấy bạc rơi ra. Chị Lý toan cúi xuống, nó đã đứng chắn ngang, hai tay nhặt rất nhanh, cầm lên đếm rồi cười khảy:


- Chúng mày dám mang giấy quốc cấm này về cái đất này hả? Ông xé hết.


Gã xé luôn nắm giấy bạc một đồng vất tung ra ruộng, còn những tờ giấy bạc lớn thì nhét vào túi áo.


Chị Xã gan góc, cứ đứng yên và cố làm ra bình tĩnh. Chị tin rằng nếu chúng bợp đầu thì giấy bạc khâu lẩn vào trong độn, biết được có là tài thánh sống! Quả nhiên, thấy chị Bèo không lộ vẻ sợ hãi, gã mũ nồi và gã răng vàng không thèm khám nữa. Chúng vừa toan xét đến bà cụ thì thốt nhiên một tiếng súng xé trời. Mọi người giật nẩy mình. Hai gã tề thấy động, vội rảo chân lủi xuống bãi sông.


Tiếng súng làm cho bọn Xã Bèo rúm cả vào nhau, ngơ ngác.


Một đoàn xăm xăm tới. Hai tên lính Pháp đi đầu, giữa là một lính da đen, tập hậu là năm sáu thằng “ba- ti - dăng”. Đứa nào cũng đeo súng Mỹ.


Tên lính Pháp vừa nãy ngứa tay, bắn một phát chỉ thiên, con cò không chết, nó đang bực mình thì thấy bọn Xã Bèo. Chúng sì sồ gì với nhau lúc đoàn người ấy tới gần. Anh em thằng Đanh, bà cụ Xã, từ thở bé mới thấy lính da đen, sợ quá, nấp sau con trâu ốm. Tên lính Pháp cởi phanh ngực chiếc áo tây vàng, hở mình và để lộ trên màu da cổ đỏ như gà trọi chiếc dây đeo thánh giá. Lông ngực nó rậm rì lẫn với nét trạm trổ hình một gái khỏa thân.


Tên lính Pháp nhìn bọn người mới ở bên kia sông về quy thuận bằng con mắt không dữ lắm, nói mấy câu gì đó.


Thằng ba-ti-dăng già, mà Lý Còng nhớ đích là lão cai Cơ trên phủ, làm ngay cái việc thông ngôn:


- Quan hỏi, chúng mày ở đâu về?


Lý Còng chắp hai tay, đầu cúi thấp, và lại nói như người khấn:


- Bẩm, các quan lớn, chúng cháu ở bên sông về.


Thằng ba-ti-dăng tròn mắt quát:


- Bên sông là ở đâu, tiên sư con khỉ!


Còng luống cuống:


- Bẩm, ở làng Da, nhà bác Rõi ạ.


- Làng Da ở miền nào mới được chứ, loanh quanh mãi, nó bắn bỏ cha mày ra bây giờ.


Chị vợ Bèo vỗ thằng Chó khóc thét lên, đỡ lời Lý Còng:


- Thưa chúng cháu ở Yên Thế ạ.


Tên lính Pháp sì sồ, thằng ba-ti-dăng lại nhìn thẳng vào mặt Lý:


- Có biết Việt Minh ở chỗ nào không?


Lý Còng sợ hãi:


- Bẩm, chúng cháu chạy loạn, chỉ biết làm ăn không biết gì nữa ạ.


Tên lính Pháp mỉm cười, bước đi. Tên lính da đen trỏ vào con trâu để nói gì đó với tên lính Pháp. Tên lính ấy lắc đầu đi thẳng. Thằng ba-ti-dăng quay lại nạt Lý Còng:


- Đáng lẽ giữ trâu anh lại, nhưng quan bảo trâu gày, ta lại nói hộ cho, thế là thoát đấy nhé. Có nhớ đến thằng này thì nhớ, anh Lý ạ. Vài hôm nữa xuống làng chơi đấy. Sửa sẵn con cầy thì tốt lắm.


Hắn cúi xuống nhặt điếu thuốc lá của tên lính Pháp đánh rơi, hí hửng gài vào tai, rồi huýt sáo theo một điệu Tây rất giả cầy.


Xã Bèo lặng lẽ đặt gánh cầy cuốc lên vai. Người vợ ru con ời ợi, và mọi người lại theo con đường ruộng đi vội vã. Một quãng xa, chị ủ khăn vuông lên mặt thằng Chó đã ngủ say, bước cho kịp chồng, giọng nghẹn ngào:


- Khổ, bố nó nói làm gì cho nó đánh. Chạy mãi chả sao, mới về đã thế.


Bèo đầu cúi gục, không nói năng gì, bởi vì răng anh đang nghiến vào nhau và nước mắt ứa lưng tròng, anh càng bước nhanh và dẫm mạnh.


Vợ Lý Còng đi sau, rền rĩ:


- Cha tổ bố nó, lấy mất của mình hai trăm bạc, tiền bán trâu ăn tiêu mãi còn có ngần ấy đem về làm dấn vốn, thế là phen này đi quét lá chợ Nôm, ông Lý ơi, ông khôn ngoan lắm cơ mà!


Chị rưng rức khóc, Lý Còng cáu kỉnh, chửi mấy câu, anh chửi giữa trời, rồi anh kêu trong cuống họng:


- Thằng kia lấy tiền của mình, thằng này lại dọa xuống làng vòi đả cẩu. Tiên sư thằng cai Cơ. Nó còn oán ngày xưa mình đắt của nó ba tiếng sóc đĩa liền trong hậu dinh quan phủ. Bây giờ nó báo thù. Thế có bỏ mẹ mình không!


Cả đoàn đã qua bãi cát, lên đường cao, đi dưới lũy tre bọc kín một làng bé nhỏ. Bèo bước chậm lại, nhìn lần cuối cùng phía bên kia sông, những mái nhà chỉ còn nhô lên một chút mầu trắng mốc trên nền trời rộng vắt ngang một giải mây đỏ viền vàng.


Trước mặt họ, ngọn núi Thiên Thai đứng ngạo nghễ trên một vùng thủy bạc: cánh đồng chiêm lẫn với đầm ao trắng mênh mông. Nổi trôi đây đó, vài ba búi tre vàng ỏng không đủ che kín những túp nhà tường đất mái rơm bám một cách sợ sệt và thảm hại chung quanh trái núi đất cao có cái tên rất thần tiên ấy. Con đường vòng chảo gồ ghề lên xuống, cách đồn trại có một bờ ruộng ngắn.


- Đi cho thẳng, đừng có nghiêng nghé nhìn lên trên ấy mà chết cả.


Lý Còng khẽ dặn mọi người. Lũ trẻ đi nấp sau trâu. Bọn đàn bà thầm thì khấn tổ tiên, thần phật. Xã Bèo vờ đưa tay lên dụi mắt, nghiêng vành nón liếc mắt lên sơn trại. Bèo thấy thấp thoáng những bóng quần áo xanh, và anh nơm nớp tưởng chừng có mấy khẩu súng đang nhằm xuống. Lý Còng hoang mang nhớ lại cái ngày, đã lâu lắm, đi lễ Đền Sòng, Chùa Hương, qua đền miếu, anh cũng sợ giống thế này. Nghĩ vậy, Lý bước ríu cả chân, cơ hồ không phải đi trên mặt đất. Đã xa sơn trại. Lý Còng hớt hải, làm ra quan trọng:


- Có ai thấy cái gì không?


Mọi người ngơ ngác, Còng tự đáp:


- Chết thật, thế mà không ai biết, vừa có ống nhòm chiếu xuống bọn mình.


Bèo hỏi:


- Sao biết thế?


Còng trợn mắt:


- Thấy loang loáng một cái, chả ống nhòm còn gì nữa!


Không ai nói sao cả, vì ai cũng tin Lý Còng nói đúng để rồi sợ lạnh cả gáy.


Đến chợ Rữa. Trai thì quần áo trắng, gái cũng áo cộc phin nõn, quần láng bóng. Cả chợ trắng như cò đậu. Ở vùng Tề, người ta đã trút bỏ hết cái lối cũ nâu sòng cứng cát, ăn mặc cho hiền lành, lương thiện. Vì mầu trắng là mầu lương thiện, hiền lành, cũng có nghĩa là mầu an phận.


Bọn Xã Bèo đỗ gánh ở gốc đa đầu chợ, ngồi bệt xuống, mệt thở sau một thôi đường dài chạy như ma đuổi sau lưng. Chị Bèo mỏi mệt nhìn thiên hạ ồn ào trong chợ, ghé tai chị Lý:


- Dân Tề có vẻ bốp ghê. Cánh mình rách rưới như ma đói.


Chị Lý kéo vạt áo lau bụi bậm mồ hôi:


- Khỏi là ma đói. Có ma đói mới bò về. Còn ăn còn mặc thì còn ở.


Anh em thằng Đanh thả trâu gậm cỏ trên bãi chợ. Bà cụ ngồi ẵm thằng Chó, giữ gồng gánh và trâu, để mọi người vào chợ chơi một tý. Mấy bà con người làng chạy đến nắm tay chị Bèo, chị Lý mà reo lên:


- Sao bây giờ mới về, khổ chửa, đi tận đâu mà gan góc thế? Trông khác hẳn đi, có ngã nước không mà gầy xanh thế?


Chị Bèo tủi thân ứa nước mắt, nhưng vẫn gượng cười:


- Đói phải về, các ông các bà ạ. Lên tận rừng, làm gì không ngã nước.


Vợ Trương Dần ở đâu chạy đến, nắm tay chị Lý và chị Bèo, cười vui vẻ, ân cần hỏi han, rồi lại đi mua bán.Trông theo chị Trương nõn nà trắng muốt, béo nây nẩy, hoa tai lóng lánh, bàn tay vung vẩy để lộ hai chiếc nhẫn, chị Bèo khẽ nói:


- Bác trương nom trẻ dẹp hẳn ra, trông như con gái ấy.


Cô Khế, vốn là một gái chanh chua nhất làng, cười nhạt:


- Gì mà không trẻ đẹp, thổ phỉ mạnh nhất tổng, giầu bạc vạn đấy nhé, chúng tôi đều hãi, vì đã giầu lại mạnh thế lực, sướng hơn tiên.


Bà cụ Từ chép miệng:


- Thây kệ họ, trời đất này đã chắc ai. Bạc vạn đã giết ai. Của ấy mà bền thì làm gì còn có trời phật nữa.


Họ rủ cánh chị Bèo về làng một thể. Chị nói:


- Mời các bà về trước, chúng tôi còn kiếm bát bánh đúc, bún riêu ăn đã, từ sáng chưa có miếng nào vào bụng.


Bà cụ Từ và mấy cô gái quay đi. Chị Bèo, chị Lý nhìn quang gánh, thấy đầy thịt cá. Chị Lý buồn rầu:


- Xem chừng ai cũng phát tài rúc rích. Bọn mình về muộn quá, chả biết có cách gì kiếm chác nữa không?


Vợ Bèo cũng lo như chị Lý. Bỗng bà cụ Từ quay lại, mắt đảo nhìn chung quanh rồi ghé tai chị:


- Này, có giấy má gì bên ấy xé ngay đi. Bị tóm thì chết đấy. ba - ti - dăng nó ranh hơn quỷ, lơ mơ là nó lột. Xé chưa?


Chị gật đầu. bà cụ Từ lại quay đi, nhanh nhẩu và niềm nở như cái tính bà vẫn có.


Chị Bèo, chị Lý dắt con vào hàng bánh đúc,bún riêu, ăn qua loa, rồi trở lại gốc cây để trông gánh, ẵm con, cho bà cụ đi ăn qùa.


Chợ đông chẳng kém chợ Nôm phiên chính. Dân làng Bưởi bầy nồi, chậu thau đồng đỏ ối và vàng lóng lánh dưới mặt trời mới hé khỏi mây dầy u ám. Hàng vải bày la liệt, người bán xé chúc bâu soàn soạt ghê tai như những tiếng cười the thé của những cô gái bán lụa tơ.


Xã Bèo lạc mất Lý Còng. Đoán là Lý đã lủi vào hàng chả chó hay phở tái trâu. Bèo không đi tìm Lý. Anh qua dẫy thợ cạo, thấy anh nào cũng tóc chải bóng, răng vàng, áo tây dạ và quần trắng. Mà dao, kéo, toong đơ thì mạ kền bóng loáng, khăn quàng bằng cả một miếng chúc bâu trắng nõn. Bèo sờ gáy, sờ râu, anh tặc lưỡi:


- Râu tóc đặc ma rừng. Húi cái đầu cho nó sáng sủa ra một tý, kẻo về làng người ta chế riễu.


Bèo hỏi giá tiền, thấy rằng không đắt lắm mới dám ngồi xuống ghế.


Nhìn vào tấm gương móc trên thân cây bàng cổ thụ, Bèo buồn cho khuôn mặt võ vàng, mình gầy, mắt toét, da xanh. Tiếng toong đơ lách tách sau cái gáy hõm, anh cúi gục, nhìn mấy con chấy rụng xuống tấm khăn vải trắng đang bò trong mớ tóc vụn. Chiếc toong đơ rũi đến tóc mai. Bèo được ngẩng lên. Anh tự ngắm anh và ngắm những người qua lại sau lưng mình, nhốn nháo như đèn cù. Anh hoa cả mắt vì đang đói lả.


Hai cô gái hàng sén mà tiếng đồn lên mãi tận rừng xanh rằng hồi khói đạn mù phố phủ, các cô đã bị giặc Pháp hãm hiếp, bây giờ những cô gái thời loạn ấy đang ngồi nhí nhảnh sau lưng anh, trong mấy ngôi hàng sén rất to, mà nom họ lại như đẹp hơn: trắng nõn, má phấn hồng, môi đỏ mầu hoa lựu.


Bèo thấy trong lòng nao nao, không phải vì quá đói mà chính vì cái ý nghĩ gối chăn anh đã có trong buổi chiều đốt lá rừng sưởi ấm với vợ bên chân đồi vùng Dĩnh Thép. Nhưng lòng anh lại nguội đi ngay, khi sực nghĩ không biết tối nay về làng sẽ ăn ngủ thế nào trên cái nền nhà rêu phong cỏ mọc sau hơn một năm vắng chủ.


Anh thở dài.


Cánh Xã Bèo lại gồng gánh lên đường. Người nào cũng đi vội vã, vì trên cánh đồng vắng mênh mông, chỉ sợ bỏ xa nhau. Họ đi tắt ngang mấy thửa ruộng khô nứt nẻ trơ cuống rạ, đâm nát những bàn chân đã rộp sưng vì đường xa dậm thẳm. Thỉnh thoảng một vài cái áo cánh trắng của dân tề nổi bật trên đồng ruộng. Cánh Xã Bèo lại trợn, chỉ lo chạm trán bọn lính ba-ti-dăng lật khăn, khám thúng nữa thì nguy.


- Lại cái gì kia, bố thằng Chó?


Bèo và mọi người nhìn theo ngón tay bà cụ, cùng phấp phỏng. Nhưng không còn biếttránh đường nào, mà ai cũng biết rằng tránh lảng như thế càng nguy, đành cứ cắm đầu đi. Và đã tới gần cái gò đất cao bên vũng ao cạn trơ lòng bùn. Ở đấy, mấy người lớn, trẻ con đang hý hoáy đào một lỗ sâu. Họ chỉ ngẩng lên nhìn bọn hồi cư, rồi lại cúi xuống xới đào.


Đi xa một quãng, Lý Còng nồng nặc rượu, làm ra mặt thạo:


- Anh em du kích đấy, họ đào mìn ngay giữa ban ngày, ghê chửa!


Bèo im lặng một lát mới mỉm cười:


- Toàn là nhát như cáy, sợ ma giữa ban ngày! Chúng nó đào lỗ hun chuột, chứ mìn miếc gì đâu! Rõ trông gà hoá cáo.


Họ cố rảo chân, mong đến chỗ rẽ khuất sau luỹ tre thôn xóm cho khỏi lạnh gáy vì sơn trại Thiên Thai mà họ yên trí rằng trên đó vẫn có ống nhòm và miệng súng moóc chê theo dõi.


- A, đã đến Chẹm rồi, chóng nhỉ!


Lũ trẻ khẽ reo. Mọi người cùng ngẩng đầu nhìn, mừng một tí, vì chỉ còn cách làng nhà bốn cây số nữa, nhưng tim họ càng thêm đập mạnh. Ai cũng biết đây mới chính là đồn binh lớn.


Họ nhớn nhác nhìn quanh, đi ríu vào nhau, nín thở, nín cả ho.


Con đường nhỏ vòng sau đồn Chẹm thông suốt qua một làng rất rộng, không có một bóng người, một tiếng chó sủa, một tiếng gà gáy trưa. Hai bên toàn rào tre gai ken kín, ủ bóng cây lạnh lẽo âm u.


Đường ruột gà quanh co mãi, tưởng như chiếc lưới nhện không bao giờ ra thoát. Thỉnh thoảng, một con thằn lằn phơi lưng tím biếc và cái bụng trắng lách qua bờ đất mốc đen ôm những thân tre vàng đỏ lá. Con chè pheng rỏ vào cái quạnh hiu ghê rợn mấy tiếng kêu khủng khiếp.


Bèo thỉnh thoảng đưa mắt nhìn sang bên đường sau luỹ, đây đó trơ nền rêu cỏ mọc, dăm ba chiếc nhà gianh tốc mái đổ xiêu, vài ông bà già câm nín ngồi gục vào đầu gối như những xác chết tự bao giờ không còn ai chôn cho nữa. Khí lạnh ẩm và mùi lớp lá cây khô úa mục trong ngõ sâu thẳm như rót thêm vào nỗi sợ mânh mang của bonh người đang đi trên mộ địa.


Ra khỏi vùng đất chết, và đã thấy luỹ tre làng ở gần kia, chị Bèo thở phào ra một tiếng, nói với chồng:


- Hút chết! Tôi chỉ lo thằng Chó nó khóc thét lên thôi!


Rồi chị nựng thằng Chó lúc ấy nằm ngửa trên tay mẹ, mắt thao láo đen như hột nhãn. Chị hít má con và nựng:


- Thằng Chó ngoan quá. Làng ta kia kìa! Về làm nhà mới, ra đình ăn cỗ nhá


Đã đến đường cái quan. Thốt nhiên có tiếng ô tô gần đâu đó. Bọn hồi cư ngơ ngác dừng chân. Từ bụi tre cụt bên đường, lừ lừ chạy tới hai chiếc xe “dép”, trên đó, những khẩu súng chĩa ra bốn phía. Lý Còng ngả nón cầm tay, đầu cúi xuống. Bèo cũng bắt chước Còng. Năm sáu tên lính Pháp và mấy thằng ba-ti-dăng răng đen, trong đó có gã Cai Cơ, nhìn xuống bọn Xã Bèo, chiếc xe chạy hơi chậm lại một chút để rồi lại chạy đi vun vút.Bọn hồi cư tái xanh tái xám, lập cập bước bên rìa cỏ, họ ghê rợn tránh dẫm những vết bánh xe hằn sâu, lỗ chỗ trên mặt đất.


Khi bọn Xã Bèo trông thấy hai ngọn cây cau bên bờ luỹ nhà mình thì bóng chiều đã ngả. Bà cháu thằng Đanh vội vã đi lên trước. Con trâu bị thằng Đá lôi mạnh giây thừng, cũng phải ỳ ạch chạy theo. Chị Xã ẵm xốc thằng Chó lên mà nựng:


- Nhà ta kia rồi, Chó có thích không? Về mẹ đun nồi nước lá bưởi tắm cho sạch sẽ, tắm nước ao, nước giếng nhà cho chóng nhớn, rồi đi học, làm hương sư, rồi tậu ruộng rõ nhiều cho bố mẹ nhờ, con nhé.


Chị hôn vào vạch nhọ nồi bôi trên trán con, thằng Chó cười thành tiếng. Lòng chị hớn hở vì tiếng cười đầu tiên của con, vì đã thấy ngọn cau vườn nhà phơi lá cành xơ xác trên nền trời xám đục.


Đi hết cánh đồng, dọc theo bờ con sông đào nông gần cạn trơ đáy thì họ đặt chân đến cổng làng. Mọi người dừng nghỉ ở sân đình. Gió chiều se lạnh làm rụng muôn vàn chiếc lá bàng đỏ như máu xuống dòng nước đục ngầu không đủ che lấp lòng bùn đầy bèo Nhật Bản khô vàng héo nát. Lý Còng và bà mẹ Xã Bèo chưa kịp lau mặt, rửa chân đã đứng ngoài chấn song lễ vọng vào đình.


Cụ Từ ở trong xóm đi ra. Cụ vẫn như xưa: chiếc áo the cũ bạc vắt vai chứ không bao giờ mặc, chiếc khăn vải tây đỏ cầm tay, lúc nào cũng cứ như sắp đi ăn cỗ đám hay giỗ rúi bà con làng trên xã dưới.


Thấy bọn Xã Bèo, nhất là thấy bà cụ, cụ Từ mếu máo dở khóc dở cười:


- Các cụ, các ông, các bà bỏ cái chết hụt lại cho tôi! Ối trời đất, ba tháng rúc bờ chui bụi, nó tóm được, bắt đi mấy ngày, rồi nhờ thánh xui khiến làm sao nó lại thương cái thân già, cho về. Khổ cực lắm, các ông các bà ôi! -Cụ kéo khăn đỏ lên lau mắt - Thôi thế là may, dù chết dù sống, ở nơi quê cha đất tổ cũng còn hơn. Chúng tôi ở nhà, lúc nào được hoàn hồn một tý lại ngồi nhắc nhở đến các cụ đi xa. Cứ mỗi lần thấy ai về lại mừng, kẻo làng vắng như bãi tha ma, ghê sợ quá.


Bà cụ Xã cũng kể lể nỗi vất vả tản cư. Vợ chồng Lý Còng thì nóng ruột, vào xóm trước. Vợ chồng Bèo sang bên kia sông thăm ruộng đất. Ruộng đất của vợ chồng anh đã thành bờ bãi cho cỏ mọc tung hoành, lại ngổn ngang mồ mả mà anh đoán người ta đã vội vùi lấp cho nhau, những ngày hai bên phục kích ở bờ sông.


Anh khẽ rùng mình, chợt nhớ lời một người làng cũng tản cư lên mạn trên, kể chuyện tay Trưởng Nghé giữ chức tước gì đó ở đồn Hồ, đã vác dao hò bọn lính ba-ti-dăng đuổi hai người trẻ tuổi đến khúc sông này. Một người bị đâm chết bên bờ ruộng, một người hết lối phải nhẩy xuống sông, vướng bèo không bơi được, bị Trưởng Nghé cầm mã tấu chém vỡ đôi đầu chết tươi, máu đỏ cả một đoạn sông dài. Hắn giết hai nhân mạng, rồi bỏ đi như không. Dân làng khiêng hai cái xác tội nghiệp, bọc chiếu, vùi ngay ở ruộng anh Bèo. Anh nhắm mắt, thở dài:


- Thế là ruộng nhà mình làm mồ chiến sĩ.


Xã Bèo vụt một ý nghĩ hóm hỉnh mà chua sót: “Chắc chẳng có ai mặc niệm, hoạ may chỉ có vợ chồng thằng nhà quê khổ sở này thôi!”


- Buồn cho thằng chết. Bố cha thằng sống.


Chị vợ ngẩng nhìn mặt chồng, hỏi nhỏ:


- Cái gì thế, bố thằng Chó?


Bèo quay đi:


- Không, có gì đâu!


Bèo lủi thủi, bước sang ruộng khác, cũng là ruộng nhà và cũng có vài ngôi mả mới. Vẫn bị câu chuyện kia ám ảnh, Bèo nhớ đến lời kể của người làng nọ: Hai anh thanh niên chết được nửa tháng thì có hai chị đàn bà xinh đẹp đến ruộng này, giả làm người bắt cua, thăm mả chồng. Có kẻ báo cho Trưởng Nghé biết. Nghé lại đem lính ba-ti-dăng đến bắt hai người đàn bà cả gan đến khóc chồng. Nghé giải lên đồn Hồ, rồi người ta được tin hai người đàn bà bị dùng làm đồ chơi, cứ xanh rạc đi mà chết.


Vợ Bèo lo lắng:


-          Ruộng đất thế này thì cơm gạo đâu mà vỡ hả trời!


(còn tiếp)


Nguồn: Đất. Tiểu thuyết của Ngọc Giao. NXB. Cây Thông,1950. Bản này đã được tác giả chỉnh lý năm 1991.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 25.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 25.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 24.06.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
xem thêm »