tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28977898
Tiểu thuyết
04.07.2012
Ngọc Giao
Đất

III- Mặt trời sắp lặn. Ánh nắng thoi thóp rớt trên cánh rừng Yên Thế bao la.


Chị Xã ẵm con đứng trong cổng nhìn đàn gà Thổ mà chị mới gây hôm nào, bây giờ đã lớn, rời cánh mẹ, kiếm ăn tha thẩn. Tiếng gà chiêm chiếp lại gợi cái buồn nơi đất khách. Chị nhớ làng nhớ xóm, đất cát của mình, hai mắt đỏ hoe, chị bùi ngùi nghĩ đến cha già và bầy em nhỏ ở làng tề.


Bà cụ ở ngoài ruộng về, bỏ cái cuốc xuống, nựng cháu:


- Cha bố thằng cu, bao giờ biết theo anh đi chăn trâu, bao giờ được về quê. Ở rừng mãi rồi nhớn lên thành ra thằng mán sá!


Bà hôn hít mãi cháu rồi mới vào nhà, lấy gạo thổi cơm chiều. Từ hôm có cháu bé, bà vui mà đỡ lầu nhầu chửi rủa. Cảnh mẹ chồng nàng dâu bớt gay go. Cháu khóc đêm, bà cũng dậy ẵm bế đỡ cho con dâu được một hai canh chợp mắt. “Ở nhờ ở đỗ, cứ khóc làm mất giấc người ta, người ta tống cổ bố mày đi đấy!”. Bà nậng cháu mà nói vậy, và ru khe khẽ, đi quanh quẩn trong gian nhà chật hẹp, muỗi rừng kêu như hát.


Có mỗi một chiếc chăn dùng để bọc cho cháu, cả nhà rúm ró đắp vài manh chiếu cũ, kín được đàng đầu thì muỗi đốt sưng chân. Muỗi to như ruồi, đốt đến đâu da tấy đỏ lên đến đấy, anh em thằng Đanh ngủ khiêng không biết mà cũng giẫy lên đành đạch. Bà nhớ đến lời bác bếp Năm ở làng thường bảo muỗi đốt sinh sốt rét rừng, bà lo sợ lắm, cho nên cứ cách vài ngày bà lại ra miếu Cụ Đề khấn vái.


Chị ẵm con bước ra khỏi cổng, theo đàn gà đi một quãng cho dãn thịt xương. Đã nửa tháng nay, đẻ rồi mà chị cứ thấy bụng đau ê ẩm. Chị ngờ là còn sót rau hay máu cục, hỏi bà cụ thì bà gắt: “Tao lấy hết rồi. Đau bụng là cái máu nhà máy xưa nay. Hồi thằng Đanh thằng Đá chả vậy ư! Lại sắp đổ vạ cho bà. “


Chị không dám hé răng kêu nữa, ngấm ngầm chịu đau đớn đêm ngày, người gầy, da xanh tái. Chị kể bệnh với vợ Noọng. Người đàn bà này chưa sinh nở lần nào, nhưng cũng vội đi hỏi một bà lang Thổ già, rồi chị mua về cho chị nắm thuốc lá. Chị đã sắc uống hai lần, bệnh đau dần dần thuyên giảm.


Chiều nay, nghe trong người đỡ mệt, chị định mai sẽ ra đồng làm đỡ chồng con. Hai chuyến sinh đẻ trước, chị “nằm bếp” có năm sáu ngày, lại ra đồng lội bì bõm trong ruộng nước. Chị chăm làm đến nỗi người làng xóm phải kêu là liều lĩnh, tham công tiếc việc, ấy là trong nhà đã dư dật bát ăn rồi. Bây giờ, ruộng người, thóc mót, phân xin, cháo rau không đủ, chị đã dám nằm đến nửa tháng trời vì bệnh tật.


Đàn gà ríu rít chạy trước mặt khiến chị vừa bước theo vừa nghĩ đến lũ trẻ chơi “giăng giẻ” trên đường xóm giếng làng, trong đó có anh em thằng Đanh, ngày ấy còn để trái đào trên cái đầu nhẵn bóng như quả bòng bầy cỗ tết trung thu.


Đàn gà đưa chị ra đến tận ruộng. Gió chiều hiu hiu. Chị kéo vạt áo che kín đầu con, bước tới bờ cỏ, đứng nhìn chồng đang ngâm chân trong ruộng bùn đã ngả phân mầu.


Anh Xã ngẩng lên, sửng sốt:


- Mẹ con mò mẫm ra làm gì thế? Gió máy, nhỡ ra lại kêu trời!


Chị nhìn chồng, lòng se sắt lẫn tình thương yêu, chị nói:


- Nằm ngồi mãi ê ẩm cả thịt xương. Tôi đỡ rồi, mai để con ở nhà cho bà giữ, tôi ra làm cùng bố nó.


Xã Bèo bì bõm bước trên ruộng bùn sâu, anh bước lên bờ, đặt thúng thóc giống xuống cỏ, vạch tã nhìn con, mắt anh sáng hẳn lên trong bóng chiều đang đổ:


- Thằng chó của tôi đây! Âu! Thằng chó cún nhớn mau lên rồi về quê làm nhà mới mà ở, rồi bố cho theo ra đình ăn xôi thịt!


Anh cúi hôn con. Chị mỉm cười:


- Râu ria bố mày đâm sứt má con bây giờ! Hôm nào ra chợ mua con dao về mà cạo râu ria đi, trông cứ như người rừng!


Xã Bèo bẹo má con,cười:


- Chả người rừng thì người Hà Nội chắc.


Anh lại nựng thằng cu:


- Âu! Bao giờ được về đồng làng chăn trâu tha hồ mà xem tầu hỏa ra Hà Nội! Ở đây buồn lắm, không được ra đình ăn cỗ, phải không.


Đoạn, anh lại bưng thúng thóc giống, lội xuống ruộng bùn, vốc nắm thóc ném tung ra. Những hạt thóc vàng bay xòe như cánh quạt, rơi xuống mặt ruộng bùn loáng ướt, đẹp như hạt hoa cau rụng trên sân đất ẩm quê nhà.


Xã Bèo khẽ hát mấy câu Tiến quân ca sai lời, lạc điệu.


Một cơn gió thoảng. Chị ủ chặt con vào trong tay:


- Thôi, bố nó nghỉ tay về ăn cơm kẻo đói.


Anh bước lên bờ.


Hai vợ chồng đi trên con đường nhỏ, hoa lau lả ngọn vuốt vào má anh. Anh ngắt một bông, tẩn mẩn vò nát trong hai ngón tay. Phấn hoa lau rơi xuống bám trắng trên mặt cỏ.


Qua dặng cày bờ suối, anh bảo vợ:


- U nó ẵm con về trước, ta vào suối xem có được con cá nào chăng.


Chị nghe lời chồng, rảo bước.Suối ứ nước ngàn, trong suốt đáy, soi rõ lòng cát sỏi. Anh lội vào chỗ vùng sâu, nước xoáy rào rào làm rung rinh những rễ cây cổ thụ từ trên cao buông xuống. Anh thò tay vào trong lưới mành. Mặt anh tươi hẳn lên vì có nhiều tôm cá. Anh lôi cái giỏ buộc sẵn dưới chân mành, bắt cá bỏ vào. Anh bắt không kịp. Một lát đầy giỏ, anh hí hửng lội ra chỗ nước trong, toan cởi quần áo tắm, nhưng chợt nhận ra một người đàn bà Thổ đang ngồi trên tảng đá giữa suối rửa măng vầu. Người đàn bà ngẩng lên, nhanh nhảu hỏi:


- Cái ông làm gì thế?


Xã Bèo nhận ra người đàn bà vẫn vào chơi với vợ Noọng, và hôm nọ đem mớ khoai môn đến cho anh em thằng Đá, lại thường hay vào bếp trò chuyện với vợ mình. Anh nói:


- Bà đi rừng lấy măng về muộn thế?


Người đàn bà không ngừng tay bóc vỏ măng, rửa sạch rồi xếp đầy đôi giỏ mây. Chị ta nói rất sõi tiếng đường suôi:


- Tôi đi từ ba hôm nay, giờ mới về. Đi vào tận rừng Phỏng xa lắm kia. Chúng tôi ăn ngủ ngay trong rừng.


- Xa là bao nhiêu cây số?


Người đàn bà ngẩng lên:


- Chúng tôi chả biết thế nào là cây số. Cây số là thế nào?


Xã Bèo nhận thấy chị ta có lẽ là con gái, phảng phất đẹp như vợ mình hồi còn son rỗi. Anh nói:


- Một cây số là… là mình đứng ở đây mà nhìn con trâu đằng xa nhỏ bằng con lợn, ấy thế là đúng một cây số đấy. Tây người ta vẫn đo đường như vậy.


Người đàn bà cắm cúi làm. Những chiếc măng ngâm dưới nước, trắng nõn như ngó cần. Chị ta rửa xong, nhặt mấy chiếc đưa biếu anh. Anh từ chối:


- Bà đi xa khó nhọc, để mà bán chứ, sao lại còn cho tôi?


Anh trả lại. Nhưng chị ta nhất định không nghe. Anh mở rỏ bắt mươi con cá, dứt một sợi rễ cây xâu vào mang cá thành một chuỗi, đưa biếu lại. Người đàn bà Thổ cười khanh khách:


- Ông cẩn thận quá, cám ơn ông.


Chị ta gánh măng theo con đường bên kia suối về nhà. Anh thấy lạnh, không tắm nữa. Mặt trăng đỏ như đĩa máu, vừa nhô lên khỏi đồi lim. Sương mờ xanh bay trong ánh trăng. Anh rảo bước về nhà. Anh em thằng Đanh thấy giỏ cá, reo lên, thả vào trong chậu.


Bà cụ khẽ bảo con dâu:


- Để đem kho tương rồi biếu ông bà chủ tịch một đĩa. Cái gì người ta cũng nhớ đến mình, từ bát canh cua đến bát dưa kho mặn, quả tram muối. Ăn mãi mà không có gì biếu lại, ngượng chết.


Anh mổ riêng mấy con cá to đem rán. Mùi thơm ngạt cả xó bếp. Anh em thằng Đanh đánh hơi, chảy nước miếng. Chúng hí hửng chay ra chạy vào, làm như nhà có cỗ.


Đanh nói:


- Tản cư vào rừng cũng thích. Từ nay được ăn cá hả hê. Ở xóm Da, ăn khổ bỏ cha. Chỉ độc rau già, cua muối.


Đá chun mũi ngửi mùi cá kho đang ngấm tương, ngây mặt một lúc rồi nói:


- Cá này kho nõn khoai hay sấu xanh thì ngon ghê. Ở quê, nhà ta luôn được ăn món ấy.


Chúng bàn tán mãi về món cá. Trăng sáng đầy sân. Chị trải chiếu, bưng mâm bát ra sân, lấy trăng làm đèn. Anh tìm cái chai con dưới gậm giường. Còn khá rượu. Anh sung sướng, cười một mình trong bóng tối:


- Thế này thì thú lắm. Uống một tý rượu chơi. Đã lâu kham khổ, hôm nay đánh chén một tí cũng không sao.


Dưới ánh trăng, gia đình anh quây quanh chiếc mâm gỗ thủng, vẻn vẹn có bát rau, đĩa cá rán, bát cá kho. Chị lừa được con ngủ, ra ngồi đầu nồi xới không kịp cho anh em thằng Đanh, chúng ăn ngon lành như từ thuở làm người chúng chưa từng được ăn ngon như thế. Xã Bèo mủi lòng thương con, cầm chén rượu lên nhắp một tý, thấy rượu cay đắng lắm.


Trăng soi sáng lòng mâm, trơ đống xương cá vụn. Bèo vụt nhớ đến những ngày ở quê, mấy cha con luôn luôn đi ăn cỗ giỗ tết, đình chùa. Ở nhà, tuy vợ tần tiện, anh cũng cứ la cà xuống chợ Nôm mua khúc lòng lợn, miếng thịt trâu về cho mẹ, cho con ăn tử tế.


- Cái tông môn mày, ăn khéo kẻo hóc mà chết thì xấu lắm, cháu ơi! Cá ở suối còn nhiều, đã hết đâu mà tham lam thế!


Bà cụ khẽ mắng cháu và lại nhường cơm cho cháu, chỉ gậm một miếng xém chốc nồi.Tối ấy, anh say men, vào nhà ngả mình xuống chiếu, đánh một giấc ngủ vô tư lự như con trâu tắm mát và no cỏ.


Mờ sáng, bà cụ đã dậy thổi cơm. Tiết thu ở miền rừng lạnh giá. Bà lập cập ra bờ giếng. Tiếng gạo xát vào lòng rá rào rào như tiếng mưa khuya. Chiếc gầu củ ấu ở bàn tay già yếu mỗi lần buông mạnh chạm vào mặt nước lại vọng một tiếng khô gọn lên miệng giếng. Gầu nước đầy do cánh tay gầy chậm chạp kéo lên, để từng giọt rơi lõm bõm xuống lòng giếng sâu lạnh lẽo. Bà vào bếp, phì phào thổi trấu. Lửa bắn ra, vụt sáng đỏ vách khói màu mun, in cái bóng thảm hại của bà lão già khổ ải trên đó. Một lát, ghế xong nồi cơm, bà cụ lên lay anh em thằng Đá:


- Trỗi ăn cơm rồi có đi trâu thì đi!


Biết mẹ chồng dậy nấu cơm từ ban nãy, chị toan dậy, nhưng suốt đêm qua cứ nhâm nhâm đau bụng và con khóc, gà gáy mới chợp đi một lát, chị nghe trong mình mệt lạ thường, nên cũng cứ liều nằm co trong lá chiếu. Giá như hồi ở làng thì bà đã lầm bầm chửi rủa rồi, nhưng bây giờ bà mẹ chồng đã thay tâm đổi tính, có vẻ thương chị lắm.


Anh vùng trở dậy, vươn vai:


- Đã lâu bỏ rượu, tối qua uống có một chén mà say đến thế, ngủ say như chết.


Anh với cái điếu cầy mới chế tạo bằng khúc nứa già hun màu và đốt dóng trạm vân rất đẹp, hút một hơi thấy tỉnh táo, mở hẳn được mắt ra. Cái điếu ấy có hai mẩu cành ngắn bằng ngón tay ở dưới mấu, dùng làm chân đặt trên mặt dất. Anh gọi nó là “ba dô ca” hạng nặng. “Sáng sớm mà không bắn vài phát “ba dô ca” thì không tỉnh táo, chẳng làm ăn gì được hết” - anh thường tự nói với mình như vậy.


Tuy bụng còn đau ran rẩm, nhưng chị không dám nằm nán thêm, vừa bước xuống giường thì bà mẹ chồng đã bưng mâm cơm ở bếp ra.


Khói nồi cơm bốc lên nghi ngút. Mọi người ngồi ăn, chị cũng cố ngồi ăn chút ít để che giấu bệnh tật của mình. Trong khi ấy, đàn gà con đen trũi được thằng Đá mở cửa chuồng, vỗ cánh và vươn chiếc mình trụi nhợt tái vì rét mướt, te te gáy tựa đàn trẻ mới bi bô mấy câu nói đầu tiên.


Xong bữa, bà cụ thu mâm bát đem ra bờ giếng.


Xã Bèo gánh thóc giống ra đồng gieo nốt mạ mùa. Người vợ còn đau bụng cũng cố theo đi làm đỡ chồng một chút, sau khi đã cho con bú. Bà cụ hôm nay nghỉ đi củi, ở nhà trông cháu bé.


Anh em thằng Đanh đánh trâu vào rừng. Hai đứa ngồi trên lưng trâu, ôm chặt lấy nhau cho ấm. Cành nứa la đà sương sớm, đập vào đầu đôi trẻ, những hạt sương li ti rào rào rơi xuống, thấm qua lần áo mỏng khiến chúng xuýt soa:


- Mùa thu mà rét ghê. Sang tháng sau, lấy áo đâu mà mặc cho khỏi chết với cái rét rừng này.


Nghe em nói, thằng Đanh im lặng không đáp, vì trâu vừa qua dặng đồi lau cao, nó sực nghĩ đến tối hôm kia nhìn đám khói ở đồng cỏ bu nó đốt trên đất này, nó đã tưởng là ma, trong khi bố nó đang nghĩ tới chuyện Cụ Đề hiển hiện.


Anh em nó sang một khoảng rừng thưa, đến một bãi rộng tốt cỏ non.


Một lát, có lũ trẻ áo tràm dong trâu vào thả. Đàn trâu rừng đeo mõ kêu lốc cốc, sừng dài cong vút và to mọng, da đen màu mun bóng. Lũ trẻ rừng thoạt ngày đầu thấy anh em thằng Đanh lẻo khẻo dám thả trâu vào bãi của chúng, chúng hè nhau dứ trâu rừng trọi với trâu đồng của “hai thằng tản cư” một trận.


Trâu đồng không thua, nhưng bị sừng nhọn trâu rừng sả toạc đầu. Đanh, Đá ức lắm, nuôi cái ý sẽ trả thù. Đanh vào rừng tập lại miếng “móc quai sanh” mà nó cho là rất ác. Đá cũng dượt cẩn thận cái miếng húc vào bụng kẻ thù, có cái tên rất gớm là “rúc biếu”. Ngày ở đồng làng, chúng đã dùng món võ ấy để hạ bao nhiêu thằng mục tử. “Thế mà bây giờ sợ chúng nó thì uất lắm. Ta phải cho chúng biết tay. Trai Nguyệt Đức đi thiên hạ có sợ ai đâu, chết thì cũng phải chết cho oanh liệt chứ!” - thằng Đanh bỗng nhớ câu nói của bác Bếp Năm những lần say rượu, đóng chặt cổng mà thét với vợ con như vậy ở xó nhà.


Anh em nó đã học được hai miếng võ nọ của Bếp Năm,một hai lần biểu diễn ở góc vườn nhà gã. Vừa dạy xong, ông thày đã bảo chúng về ăn cắp một rá khoai đến tạ, vì hai bữa nay gã ta nhịn đói.


Anh em Đanh định phục thù, nhưng rồi thấy bọn trẻ rừng đông quá, võ sỹ Đanh, Đá tự nhiên thấy không còn tin ở võ nghệ của mình, tay chân chưa đánh đập ai mà đã rã rời, yếu đuối.


Chúng nó tiếc không có thằng Cõn, con bác Còng. Cõn cũng anh hùng lắm. Nó sở trường cái miếng “sả cánh gà tiên” do Bếp Năm bảo - Nghĩa là rúc đầu vào nách kẻ thù mà bẻ ngược cánh tay lên, địch thủ chết tươi ngay. Đã có miếng “móc quai sanh”, đã có miếng “rúc biếu” lại còn miếng độc thủ “xả cánh gà tiên” nữa thì phải biết!


- Lạy trời cho bọn giặc Pháp đánh văng đến xóm Da, để bác Còng, thằng Cõn lên cả đây.


Đanh mắng:


- Đừng nói nhảm, người ta nghe thấy thì bỏ xác.


Đá đang say sưa với chí phục thù:


- Thằng Cõn ở đây thì ba đứa sẽ đả cho chúng một trận như “tam anh chiến Lã Bố” mà phường Lê vẫn hát ở đình làng ta ấy.


Nhưng rồi lũ trẻ rừng cũng chơi thân với chúng, và hai hảo hớn Đá, Đanh chưa hề phải dùng đến cái miếng “móc quai sanh” “rúc biếu”. Lũ trẻ rừng thường rủ anh em nó về đãi cơm trộn khoai môn và thịt lợn rừng muối mặn.


Đến trưa, chúng đánh trâu về. Qua ruộng nhà, anh em nó dừng trâu, nhìn bố đang chống cuốc đứng một mình giữa mấy mảnh ruộng phơi mầu đất mới giữa những đồi cây xanh ngắt.


Chúng biết bố đang lo lắng về nỗi đói rét ngày mai. Đanh động lòng thương bố, từ khi được đất lại gầy xanh hơn trước nhiều. Vừa tối qua nó nghe thấy bố mẹ thì thào than thở về nỗi áo rách tiền không, ruộng đất mới ngả mạ chiêm, tháng chạp mới được cấy, tháng tư sang năm mới có thóc ăn.


- Chao ơi, chờ nửa năm trời mới có hột gạo đổ vào mồm, chết nát xương ra mất - bà cụ thở dài sườn sượt xen vào câu chuyện của con.


Anh Bèo nhăn nhó nói:


- Làm gì có đất bỏ hoang, nay mai cũng phải cầy bừa mấy mảnh đất sau đồi lau mà trồng khoai, đỗ. Trong khi rỗi việc đồng, ta đi lấy củi, lấy măng mà lần hồi cho qua ngày tháng, miễn cứ thoi thóp sống được là may.


Anh nói vậy mà thấy lòng đã nao núng về chuyện đất cát. Thèm khát đất, đến khi được đất anh lại thấy run, bởi một mình anh với sức trâu kia vật nhau được với đất cỗi rừng gianh, phân tro chẳng có, vốn liếng thì không, lại ngồi vêu chờ nửa năm mới tới ngày gặt hái trong khi cánh đồng mùa thiên hạ lúa con gái đang xanh ngắt tới chân trời.


Anh em thằng Đanh lẳng lặng thúc trâu rẽ vào bãi gianh, nghe đàn châu chấu xáo xác bay như mưa rào quanh mình trâu. Chúng giơ vợt ra vớt lấy bỏ vào trong giỏ. Con trâu bước tới lui trong bãi gianh cao vút, xua bầy châu chấu cho chúng bắt, một lúc đã đầy chiếc giỏ con.Anh em nó quên ngay nỗi buồn thương bố đứng ngẩn ngơ ngắm đất sau đồi lau trắng, sung sướng nghĩ đến bữa cơm chiều có món chấu rang với lá chanh. Chúng lại cưỡi trâu vào suối. Trong chiếc lưới mành chỉ có vài chục con cá nhỏ, chúng vớt cá cho vào giỏ chấu. Cả trâu cả người tắm mát, đoạn ra về. Trên lưng trâu, thằng Đanh thấp giọng hát nghêu ngao.


Hoàng long lấy nước được mùa


Bạch long tình bằng mà lấy nước…lấy nước


Thì ới a, chúa vua đi cày


Tình bằng ới a…


Nó ngả giọng chèo để nhớ đến những đêm trăng sáng bên giòng sông đào Nguyệt Đức, mỗi bận đình làng vào đám trung thu, phường Lê được mời đến làng hát, những bài mà nó hát lúc này giữa cây ngàn, suối nước buồn tênh; hát rồi, nó ngửa mặt nhìn những đám mấy trắng nổi bồng bềnh trên bầu trời thu sáng biếc, nó nghĩ đến những buổi chiều tưới nước hay làm cỏ vườn rau đất quê hương, anh em nó vẫn đố nhau đám mây nào giống con trâu, đám mây nào giống con gà, để rồi lấy làm lạ rằng những đám mây ấy, chúng chưa kịp đoán là giống hình gì đã chớp mắt tan đi mất.


Anh em thằng Đanh vừa dắt trâu vào sân, chúng kinh ngạc thấy trong nhà ông bà chủ, người lạ ở đâu kéo đến lúc nào mà nhiều thế. Có cả bốn năm cô gái, răng trắng, tóc ngắn uốn quăn nhưng cũng mặc áo cánh nâu, quần vải đen chít ống như mấy cô gái răng đen nói ngọng.


Anh em thằng Đanh thả trâu vào chuồng rồi vào nhà ngồi thu một xó, chúng sợ hãi cứ như là người ta đến chiếm mất gian nhà lá gia đình chúng đang chui rúc. Căn bếp giáp ngay gian chúng ở lúc này nóng rực lên vì lửa rạ, củi cành để đun một nồi cơm to tướng và nấu canh, xào sáo; mùi thơm ngạt mũi.


Chị Xã hấp him mắt vì cay khói, bưng vội nồi cơm lên, dọn nhanh bát đũa ra chiếc mâm gỗ mọt. Bà cụ vừa quảy một gánh lá rừng về, loay hoay mãi chẳng biết đổ vào đâu, mà cũng không dám len chân vào chỗ nào vì các cô gái đang cười nói ran ran với bọn con trai, cô thì tranh xào thịt, anh thì chê canh mặn khiến một cô khác đấm cho mấy cái.


Chị biết ý mẹ chồng khó nghĩ về gánh lá, khẽ bảo:


- Bà cứ đổ vào ngăn trong cùng, cạnh ngăn trấu ấy.


Bà lườm con dâu, quẩy gánh lá quay ra đổ vào sau vách chuồng trâu, rồi bước vào khẽ nói:


- Quét gẫy xương lưng mới được gánh lá con, đổ vào đấy để các cô các cậu tiện tay đun hộ nhá. Chả chơi cái lối ủng hộ ấy, gái già này không nhịn đói mà quét được.


Thằng Đanh vét mấy đầu cá mặn ở đáy nồi ra bát, nhăn nhó nói:


- Bà đến hay thôi! Làm gì mấy cái lá. Họ cười cho đấy. Thiên hạ người ta ủng hộ thượng vàng hạ cám, mình thì sợ mất mấy cái lá khô!


Bà lại lườm cháu mắng:


- Cha tổ bố mày, chưa sạch máu đầu đã nói như ông cụ. Ai dạy mày thế, con cháu đòi dạy khôn ông vải, cha mẹ cái đời thuở lạ!


Xã Bèo cũng vừa về. Thấy lố nhố đầy nhà trên nhà dưới và giữa sân những thanh niên tuy mặc quần áo nâu nhưng vẫn rõ cái vẻ con người hàng phố, và thấy những cô gái răng trắng nhởn tóc quăn cười đùa như nắc nẻ, anh bỏ nón, bỏ cuốc chào. Anh chào lí nhí nên không ai nghe thấy và không ai đáp lại.Anh vào nhà, thấy sẵn mâm cơm thì ngồi xuống, bàng hoàng như lạc bước vào các chợ đông người.Vừa ăn, bố con anh vừa nhìn qua khe liếp. Đá huých khuỷu vào cánh tay Đanh, ra hiệu cho nhau nhìn một người to lớn mặc sơ mi vàng, quần soóc vàng, đội ca lốt, đi giầy tây vải đế kếp.


- Xin mời bà xơi cơm.


Cả nhà ngừng đũa chào vợ Noọng. Chị ta nhanh nhẩu trả lời thân mật như là mọi khi, ngồi xổm cạnh chị Bèo và bà cụ.


- Cho cháu xin miếng rễ. Ăn miếng trầu không rễ, chả đỏ tý nào.


Chị Xã vội móc túi lấy miếng vỏ thâm quắt đưa bà chủ. Bà cụ cũng vạch thắt lưng moi gói thuốc lào bọc bằng mảnh lá, bứt một dúm con đưa chị Noọng. Người đàn bà Thổ nhai trầu thuốc, cười hở hàm răng cải mả tráng cốt trầu trỏ ra sân, nói thầm thì:


- Cái cụ, cái bá trông cái người cao lớn mặc quần áo tây kia. Không phải đàn ông đâu. Đàn bà đấy.


Đá cười khúc khích.


- Đàn bà gì mà to đùng như thằng Tây thế? Mà lại có râu Hoa Kỳ, eo ôi, trông thật là dữ rừng, đến Tây thật cũng phải khiếp.


Anh phì cười:


- Tôi cứ ngỡ đàn ông. Sao lại có người con gái to lớn dữ dội thế nhỉ, hay là ái nam ái nữ?


Bà chủ tịch nhổ cốt trầu vào góc vách:


- Nghe nói cô ta đã một lần vật nhau với một người lính Việt Quốc, bẻ gẫy hẳn cánh tay anh kia. Vì thế mà được thăng cấp. Lúc nào ra ngoài rừng dậy dân quân, cô ấy hô to hơn cả đàn ông, oai lắm. Các anh con trai phải sợ, không dám trêu cô ấy đâu. Quân sự giỏi có tiếng, bắn chẳng trượt bao giờ, chỉ thích xung phong đánh trận. Đàn bà thế mới là đàn bà, chỉ chị em mình là hèn thôi.


Bà cụ lấy làm kinh sợ, khẽ hỏi:


- Các anh chị ấy đến làm gì đông thế. Ở nhà ta có lâu không?


Vợ Noọng đáp thản nhiên như đã quen tiếp thứ khách ấy rồi:


- Như thế là thường, các anh các chị ấy đi tuyên truyền lưu động. Đám nào đến cũng lấy nhà này làm trụ sở. Có khi năm ngày, có khi nửa tháng mới đi. Ăn uống thì dân làng chia nhau chịu, nhưng mà tôi bao giờ cũng bù hơn một nửa. Chả sao, nhà mình có bát ăn, nên ủng hộ một tý chứ.


Có tiếng nhạc ngựa nhong nhong ngoài ngõ. Chủ tịch Noọng đã về. Noọng tiến ngựa vào giữa sân một cách rất oai. Tên người nhà hình như có huấn luyện, chạy ra nắm giây cương. Ông chủ xuống yên. Tên người nhà giắt ngựa vào chuồng, ông chủ vai đeo khẩu súng “mút cơ lông”, mặc áo Tây vải ka ki, ống quần bỏ vào ủng da, đầu đội chiếc mũ vải to vành, vui vẻ chào tất cả anh chị em đồng chí.


Mọi người cùng reo lên:


- Anh chủ tịch đã về, vui quá. Cứ tưởng anh đi công tác xa, không về kịp thì ỉu lắm. Có bắn được cái cò cái vạc nào cho anh em nhắm với.


Noọng cười hở hai chiếc răng vàng, nhanh nhẹn bước lên thềm cao, hạ súng treo lên cạnh con dao rừng, chiếc đèn săn đêm, chiếc nỏ, túi tên tẩm độc, tất cả những vũ khí ấy treo bên tấm da hổ căng ở vách. Ông nói:


- Chuyến đi này bận nhiều công tác, không bắn được. Anh chị em ở đây, rồi ta tổ chức cuộc săn đêm ở rừng Lao Bản cách đây ba mươi cây số. Nghe nói mới có chú cọp lớn lắm mò về đấy, đã xơi mất khá nhiều bò, lợn. Các anh, các chị có dám đi không?


Một chị tóc quăn đang ôm cây đàn "băng dô" dạo mấy câu vọng cổ không thành điệu, cười to:


- Xin đề nghị chị Tâm xung phong, cọp mấy mà không chết!


Mọi người hoan hô. Chị Tâm, tức là cái chị to lớn râu Hoa Kỳ, vặn gẫy tay anh Việt Quốc, vỗ vào bộ ngực rất nở nang - ngực của nhà võ sĩ chứ không phải thứ ngực gái dậy thì. Chị cất tiếng vang vang như đang hô quân:


- Được lắm, anh Noọng có đi thì tôi xung phong bắt cọp cho người ta biết.


Một anh nói:


- Thế rồi, ba nghìn năm sau, sẽ có kẻ chép sử Việt rằng: "Ngày xưa, năm 1947, trên rừng Yên Thế có người kỳ nữ họ Võ tên Thị Tâm đã trổ thần uy đánh một con hổ lớn chết tươi...".


Tiếng cười xen lẫn tiếng đàn "băng dô". Một chị nhỏ tuổi có đôi mắt xếch mà ngày Thủ đô còn đầy sắc mầu hoa lệ, người ta vẫn thấy chị đi xe đạp dạo phố phường, chị nói:


- Cứ như là chuyện Võ Tòng đả hổ núi Cảnh Dương Cương ấy. Nghe mà khiếp!


Một anh khác, chuyên đóng vai "thực dân say" trong những vở kịch tuyên truyền, đang nằm nhăn nhó đói, bỗng ngóc đầu lên:


- Võ Tòng cũng còn kém Hùng Khoát Hải đời Tùy, hai tay đấm chết hai hổ xám núi Thái Hàng Sơn! Thế mới là khỏe chứ!


Một anh cười chế nhạo:


- Các anh chị nói không biện chứng một tý nào. Toàn chuyện bịa.


Một chị vỗ tay!


- Khoa biện chứng pháp cần được thực hành ngay bây giờ, là các ông các bà đầu bếp mau dọn cơm lên, kẻo đói chết cả đây!


Tiếng vỗ tay và tiếng đàn "băng dô" họa ran nhà. Sau đó là một cuộc huyên náo trong bữa ăn của những người trẻ tuổi, trai lẫn gái, kể cả năm cậu thiếu nhi, đang vui với cuộc sống vô tư lự.


Dưới kia, gia đình Xã Bèo đăm chiêu nhìn nồi cơm vét nhẵn, người nào cũng vẫn còn đói bụng. Bà nhường cháu, vợ nhường chồng, không bữa nào được đủ no. Bèo bỏ đũa bát, ra giường ngả lưng nằm, nhìn con nhện đang dăng tơ trên đầu rui tre ám khói. Bên tai anh vang vang những tiếng cười, tiếng hát. Tự nhiên, Bèo thở rộn một hơi dài.


Đứa con đỏ hỏn nhũn nhẽo như miếng thịt đông, giật mình vì tiếng đàn ca rầm rộ ở nhà trên, nó cựa mình trong manh tã, khóc thét lên.


Xã Bèo ẵm con trên tay, khẽ vỗ và lại "à ơi" mấy câu cò lả.


 


IV- Vắt! Vắt!


Tiếng Xã Bèo thúc trâu trên những luống cày đất mới sau đồi cỏ ràng ràng, bị gió lộng mang đi. Chiều nay, gió giạt dào đem cái lạnh đầu mùa về rừng suối. Mưa trắng mờ bãi vắng đồi hoang.


Chung quanh không một bóng người. Trong cơn gió lộng lâm tuyền, Bèo thấy trơ vơ chỉ có một mình với trâu. Một vài tiếng kêu của loài chim lạ bạt theo gió buốt.


Im lặng quá. Thỉnh thoảng Bèo nói với trâu bằng cái thứ tiếng quen thuộc ấy để rồi mìnhh lại lắng nghe tiếng nói của chính mình.


Người vợ xách giá cơm ra. Thấy vợ từ đằng xa, anh đã dừng tay cầy, vuốt nước mưa trên mặt, rồi bước lên bờ, ngồi tránh gió ở mỏm chân đồi xẻ lõm sâu vào. Anh thổi mồi rơm, nạp thuốc vào "ba dô ca". Nước réo trong ruột ống nứa, nghe tựa một chuỗi cười ròn vui.


Chị đặt rá cơm, bát cá kho trám mặn xuống đất:


- Bố nó rét, lấy áo tơi mà mặc. Ngoài này mưa gió, chịu làm sao được.


Nói rồi chị cởi chiếc áo tơi khoác lên lưng chồng. Anh Xã nói:


- Làm nóng người lên, rét gì mà rét. Bu nó yếu lấy mà mặc, tôi không cần.


Chị xúc cơm vào bát đưa cho chồng, anh không ăn vội, lẳng lặng vơ nắm lá cành khô ở gốc cây quanh đấy rồi nhóm l ửa; hai vợ chồng hơ tay trên lửa, người vợ ngồi sát bên chồng, nhìn bàn tay vợ, thấy nổi gân xanh và khô rạc anh vụt nhớ cái đêm động phòng, cách nay xa xôi lắm rồi, anh đã liều nắm chặt cổ tay, bàn tay, cánh tay này trên chiếc giường giát tre cót két, không đèn không lửa, thủa ấy, da thịt chị vợ trẻ măng nây nây tròn lẳn, chứ đâu đến nỗi thế này…; lòng nao nao, anh ngồi sát hẳn vào, nắm chặt hai bàn tay vợ, đã lâu, từ ngày còn ở xóm Da với Lý Còng cho đến bây giờ, hết kiêng vợ chửa lại đến kiêng vợ đẻ, anh vẫn nằm riêng, do nỗi lo phiền đói rách, và bởi làm ăn nhọc mệt quá sức mình, vợ chồng anh chưa hề nằm chung một chiếu, lúc này, nắm hai bàn tay vợ, anh b ồi h ồi thổn thức, như là cái đêm xửa đêm xưa được nếm mùi trai gái, anh thốt rùng mình, không phải vì mưa gió đang vi vút réo chung quanh, anh rạo rực nhìn vợ, lim dim mắt:- …bu nó… này…; chị cũng xúc động như chồng, mắt chị long lanh sáng, má chị thốt bừng đỏ: -…bố… nó…bố… n…ó...; ngừng lại, chị cúi nhặt thêm lá bỏ vào đống lửa; nhìn làn khói bốc lên khét mùi nhựa thông và lá cước, cả hai vợ chồng cùng vụt nhớ lại những ngày chiếu chăn nồng ấm buổi còn son dỗi, chị nhiều khi đã cưỡng ép chồng yêu mình như là đôi chim bồ câu, đôi gà trống mái; -…bu nó…bu… no…ó… bốn bàn tay nắm chặt lấy nhau, hai khuôn mặt cùng kề sát…


Chị bỗng giật mình, ngồi xích ra một tý, đôi má ửng đỏ và đôi mắt sáng hơn:


- Còn kiêng! Thôi ăn cơm đi kẻo đói. Để tôi làm đỡ.


Chị đưa bát cơm vào tận tay chồng. Anh và mấy miếng hết sạch bát cơm.


Chị "vắt! vắt!" theo trâu. Đất xốp, được chút mưa tưới thấm, rẽ theo mũi cầy sắt dễ dàng.


- Khổ, từ ngày lên đây, cỏ nhiều mà trâu cứ gầy đi. Hay là nó bị ngã nước.


Xã Bèo vét cơm trong rá, gắp nốt cái đầu cá mặn, nhai ngấu nghiến; bát cơm cuối cùng chưa đủ no lòng, nghe vợ nói bèn ngẩng lên:


- Có lẽ thế chăng! Trâu mình quen ăn cỏ rừng, uống nước suối làm gì không ngã nước. Tôi lo lắm.


Chị theo trâu quặt ở góc ruộng, lạng người suýt ngã:


- Nói đổ xuống sông, nó mà làm sao thì cứ gọi là đi ăn mày ráo.


Hai vợ chồng cùng im lặng. Chị cúi đầu theo trâu. Anh chồng ngồi bó gối, tước cái lá thông sắc nhọn sỉa răng, ngậm vòi ấm đất tu một hơi nước vối ngái nồng, đoạn mắt hết nhìn vợ, nhìn trâu lại ngước nhìn bầu trời mờ mịt.


Chiều tà tà. Bèo dắt trâu vác cầy về đến nhà thì thấy bọn thanh thiếu nữ, nhi đồng lũ lượt kéo nhau ra nhà Hội Đồng diễn kịch. Anh em thằng Đanh hí hửng lẩn đi.


Vợ chủ tịch Noọng ở trên thềm bước xuống, vui vẻ:


- Cụ và bá đi xem chứ. Ban kịch Thủ Đô diễn hay lắm. Không xem cũng phí.


Anh Xã đang nằm soài trên giường, uể oải ngồi lên. Chị lúc đó đang nằm nghiêng, vạch cặp vú nheo cho con bú. Thằng bé bị tưa lưỡi, yếu ớt nhay bầu vú teo, khóc như mèo ốm. Bà mẹ già ngồi bên kia xó bếp gọt mấy củ khoai lang hà lẫn khoai sọ thối, đem ra giếng rửa.


- Hôm nay người ta diễn vở kịch "Nhẩy dù". Chắc là vui lắm. Cái chị có râu mọi khi vẫn đóng vai tây lính, hôm nay cũng đóng. Các bá ra mà xem cho vui.


Chị "vâng" một tiếng, khẽ vỗ con ru. Anh chồng bước xuống lấy điếu cầy, ngồi xổm trên mặt đất, hút một hơi dài. Đang đói lả, khói thuốc ngấm chóng say, anh ngồi bệt xuống, dựa đầu và lưng vào vách:


- Vâng, chắc là vui lắm. Mấy khi có dịp vui, tý nữa thể nào chúng tôi cũng ra xem.


Mấy cô gái Thổ cười từ ngoài ngõ vào sân. Vợ Noọng cùng các cô rủ nhau đi xem kịch.


Xã Bèo lại leo lên giường, nằm vật xuống. Anh đói đến hoa cả mắt, và nghe trong người lên cơn sốt rét. Đứa trẻ nhay mãi bầu sữa cạn, vừa nhả đầu vú, ngủ say. Chị rón rén cho giát giường khỏi động, ngồi lên nói với chồng:


- Hết nhẵn gạo rồi. Tối nay chỉ còn mấy củ khoai ăn đỡ đói. Mai tính làm sao! Không có cơm thì sức đâu mà cày bừa.


Anh mở mắt nhìn trân trân mặt vợ. Môi anh mấp máy:


- Thế à!


Bà cụ Xã đang chất nồi khoai bên kia bếp, nói một mình:


- Gạo hết tiền không, thế mới thực chết. Hay mai phiên chợ, bán quách con Mực đi mà đong gạo.


Vợ chồng Bèo nín lặng, nghĩ tiếc thương con vật lẽo đẽo theo chủ tới tận nơi đất khách, không mấy bữa được no cơm và được gậm xương như ngày ở xóm làng, chạy nhông để rình nhà nào động dao thớt thì vào ăn cỗ. Bà cụ lại nói từ bên kia bếp, trong khi đổ khoai xuống rổ.


- Bán đi là phải. Ở với mình nó còn gày. Cho về nhà người ta, nó sống được, mình càng đỡ tội.


Con Mực nằm dán bụng và xù lông ghẻ dưới gậm giường, giương cặp mắt toét lờ đờ nhìn chủ. Anh Bèo giơ tay vuốt lưng con chó, lại nhìn vợ, nhìn con, nhìn mẹ gày xanh, anh thấy lòng đau như dao cắt. Bà cụ bưng rổ khoai. Khói trong rổ bốc lên sặc mùi khoai rím. Ba người ngồi nhặt ăn, đầu cúi xuống cố nuốt. Anh Bèo ba lần nghẹn, cầm cả ấm đất lên tu. Bà cụ lắc đầu:


- Mẹ thằng cu ăn mấy củ khoai thế này, làm gì có sữa cho nó bú!


Bèo ngước nhìn đứa con anh vẫn gọi đùa là "củ khoai chiêm" vì kém sữa mà nhũn nhẽo, anh càng buồn bã, nước mắt ứa ra.


Bỗng tiếng chủ tịch Noọng nói vang vang ngoài cổng:


- Năm ngọn đèn đất tha hồ mà sáng. Diễn hết sức đi, rồi đêm về có chầu xôi mỡ, cháo gà ủng hộ.


Đến giữa sân, Noọng quay vào hỏi:


- Thế nào, cụ, ông bà Xã xơi cơm chưa?


Bèo vội đẩy rổ khoai vào gậm giường, làm ra tươi tỉnh:


- Thưa đã, chúng tôi vừa ăn cơm xong!


- Thế thì ra nhà Hội Đồng xem kịch. Hôm nay diễn vở "Nhảy dù" cười nôn ruột, lại kèm vở "Chiếc lọ vàng" cũng cười đến chết. Cụ, ông bà ra sớm kẻo hết ghế ngồi.


Noọng đon đả dặn ba lần. Bà cụ, vợ chồng Bèo cũng vâng dạ đủ ba lần. Noọng đeo khẩu "mút cơ tông" bước xuống thềm, vừa thắt lại băng đạn quanh lưng vừa nói:


- Ngày hội hè, tôi phải đeo súng, dân quân cũng hết thảy võ trang phòng bị Việt gian chúng lẻn vào do thám. Không thể xơ suất được.


Nói rồi, Noọng xăm xăm bước ra cửa. Chị lôi rổ khoai ra. Con Mực đang thò mõm vào, cố nuốt củ khoai nóng bỏng.


Ngoài đường, người đi rộn rịch. Bà cụ giục Bèo:


- Bố nó cố ra một tý, kẻo người ta tưởng mình lãnh đạm...


Xã Bèo lao đao bước ra đường. Trời tối mịt mù, ánh sao thưa thớt không đủ sáng con đường nhỏ ủ bóng cây cổ thụ, lá vỗ rào rào trong gió rét. Một mình, anh sờ soạng đi trong bóng tối, bụng đói, thịt xương đau vì cơn sốt đang âm ỷ. Đằng xa, tiếng cười nói hội hè theo gió đêm rừng cô tịch vọng vào tai. Anh vẫn lao đao bước, mấy lần vấp rễ cây mô đá, ngã chúi đi. “Hôm nay diễn vở kịch Nhẩy dù, Chiếc lọ vàng, cười đến chết “- lời chủ tịch Noọng lẫn chuỗi cười ròn tan, lúc ấy nhắc lại như tiếng gió cây reo lạnh trong lòng anh chàng nghèo đói, ốm o.


Bèo nhọc mệt, cố đi.


Tới miếu Cụ Đề Thám, anh nung nấu sốt, xương thịt càng đau ê ẩm. Tiếng vỗ tay, tiếng cười đưa theo gió, lao sao như gió bão ngàn lau. Bèo dừng bước, hai tay ôm đầu, chặc lưỡi một cái rồi quay trở lại.


Trong bóng tối, anh lại lao đao bước, dăm ba con đom đóm từ bụi kín bay ra. Một con rất to, ở miếu Cụ Đề Thám vút theo ngang mái tóc, Bèo thốt rùng mình hai ba cái liền, chân anh càng run và lập cập như đi nạng. Anh đâm cả mặt vào một thân cây, ngã rúi xuống như trời đánh. Lóp ngóp bò lên, Bèo không bước nữa, anh lê trên đất tối, thảm hại như một con chó ốm. Tới cổng nhà, anh ngồi phịch xuống tảng đá nhẵn, tựa đầu vào cánh cửa, thở một lúc mới lại hồn lại sức, gọi vợ ra mở cổng.


Chị ở bếp ra. Gió thổi tắt que đóm lửa. Con mực sủa vang sân. Anh cố đứng lên, bước vội vào nhà, sờ thấy cái giường, anh ngả xuống, nằm thẳng cẳng. Bà cụ thò đầu ra mép chiếu nói:


- Xem chưa mà lại về ngay thế?


Anh nín tiếng rên, khẽ đáp:


- Xem rồi!


Chị xoa hai bàn chân lấm vào nhau, nằm bên đứa con đang say ngủ:


- Tệ thế, anh em thằng Đanh quên cả đói. Có vui không bố nó?


- Vui... vui lắm!


Bèo đói và sốt, lả hẳn đi. Trong đêm tối, ở đây bên cái xó bếp, chuồng trâu này, tiếng muỗi kêu như hát, tha hồ hút nốt chút máu của mấy con người ốm đói. Và trong đêm tối, ở ngoài kia, dưới ánh đèn đất sáng hội hè, đoàn trai gái vô tư lự đang làm vui cho một lũ người vốn xưa nay an phận sống với nương đồi, suối nước, rừng xanh. - Vui... vui lắm! Anh nói mơ sảng trong cơn sốt cháy như lò than bỏng, nhưng anh cố giấu không cho vợ và mẹ biết.


Xã Bèo choàng thức giấc vì tiếng chó sủa vang ngoài sân, ánh đèn, ánh đuốc nứa khô sáng rực. Tiếng nói cười của chủ tịch Noọng lẫn tiếng "băng dô" của bọn gái trai đi diễn kịch rầm rộ kéo nhau về, làm bừng tỉnh giấc chập chờn của bọn người đang cố ngủ cho quên đói rách. Đứa bé giật bắn mình, nhả vú mẹ khóc thét lên. Con Mực quẩn dưới ánh đuốc, dẫm vào tàn lửa, nhẩy rẫy đâm vào bụi. Con trâu nghếch mõm đâp sừng vào cột. Đàn gà quen ngủ góc chuồng trâu, sớn sác kêu như bị cáo, và, bên đàn vật, anh trong cơn sốt li bì, cúi thò tay vào gậm giường, lôi lên cái ấm đất, ngửa cổ nốc một hơi, nước lạnh rợi thấm vào gan ruột đang bỏng cháy.


Anh em thằng Đanh xem trò vui quên đói, bây giờ về mới thấy cồn cào. Nghe tiếng lục nồi sờ niêu lủng củng dưới bếp, bà cụ thò đầu ra mép chiếu:


- Tổ bố mày, ngỡ xem kịch bỏ ăn. Còn mấy củ khoai treo ở đầu giường ấy.


Chỉ bởi có mấy củ khoai dành phần cháu mà từ tối bà mất ngủ, vì lũ chuột to như con cún ở chuồng trâu cứ leo xà tre chạy sồng sộc sang cái rổ treo bằng chiếc quang mây ở đầu giường bà.


- Có thế này thôi ư, đói lắm, ăn sao đủ.


- Thế thôi, chê thì đi ngủ, mai bán chó đi mà đong gạo.


Hai đứa ngồi nhai khoai rím khoai hà cả vỏ trong bóng tối. Trong khi ấy, bên kia bếp, tên đày tớ chủ tịch Noọng đang hâm nồi cháo gà, chặt thịt chan chát và mở nắp trõ xôi đỗ đen, khói bốc lên bay sang gian bên này khiến anh em thằng Đanh nước miếng ứa lẫn vào khoai thối nuốt cho đỡ nghẹn.


Một chị nói như con yến hót trong lồng son:


- Xôi phải có hành mỡ mới ngon. Xin chủ nhân ủng hộ!


Ba bốn tiếng "phải đấy!" của mấy bạn trai hưởng ứng luôn.


Thế là hành mỡ phi trên bếp lửa, chao ôi, mùi thơm ngào ngạt chui qua mũi và thấm rất nhanh vào bộ ruột rỗng của tất cả lũ người đói ốm.


Bà cụ, chị Bèo, vốn đàn bà chịu đói giỏi hơn đàn ông, hai người vẫn nằm không nhúc nhích. Anh em thằng Đanh thập thò nhìn qua lỗ vách thủng sang bên bếp nom thảm hại như con Mực đang ngồi cách thớt thịt gà một quãng xa, lưỡi thè lè, rớt rãi rỏ từng dòng xuống đất. Bèo cuộn tròn trong chiếu, nghĩ thầm: “Ốm thế này mà được bát cháo nóng hành hoa thì làm gì chẳng đỡ.” Nghĩ vậy, anh nuốt nước miếng ừng ực như lúc uống nước vối lạnh cầm hơi.


Ở nhà trên, người ta ăn và cười vui cứ như đang diễn kịch vui.


Gia đình Bèo ở giữa gian chuồng trâu để ngửi phân, hưởng chuột bọ, nhặng, muỗi và gian bếp để hưởng tro khói và mùi thịt sào thịt rán. Cái gia đình tha hương ấy đêm nay cố ngủ cho quên ốm, quên đói chờ ngày mai.


Trời thì họ không thể biết, bởi vì trời cao thẳm chỉ có những đám mây hình con trâu con chó,có khi mây vẩy tê tê giống hệt những luống cầy khổ ải. Còn đất thì họ chỉ biết rằng đất là xương thịt - nhưng nơi đất khách quê người, Xã Bèo dù say mê đất, vẫn sợ sệt, lo lắng rằng bãi đất cỗi rừng hoang mà anh đang ôm bụng đói, sức tàn, vật nhau với nó kia, sẽ không trả lại mồ hôi nước mắt cho anh.


"Cha mẹ đời, đau đẻ chờ sáng trăng, được ngày gặt hái thì chết rũ xương ra chứ". Câu ấy, bà cụ thường vẫn nói. Anh gạt mẹ đi cho mình khỏi nản lòng, tuy rằng anh biết lời mẹ là có lý. Và mỗi ngày một nhọc mệt ốm thêm về đất, anh càng nhận thấy câu nói kia là phải.


Anh đã bàn với vợ ở ngoài đồi trưa hôm qua lúc ngồi sưởi lá: cày ải xong mấy mảnh nữa, vợ chồng anh và hai thằng con sẽ vào miền núi Phỏng kiếm măng, theo chân người đàn bà Thổ quen vợ Noọng. "Ừ bố nó nghĩ thế cũng xuôi, để thẳng chó ở nhà cho bà ẵm, còn mình thì phải đi xoay sỏa chứ. Tôi định xem vợ chồng ông chủ có mượn mình làm công thì mình đành làm, khái thì chỉ chết đói. Đi tản cư, khối người giầu có bằng vạn mình cũng còn lo cơm lo áo, đi khiêng lợn, đi đẵn nứa, bẻ củi, lấy măng, nữa là cái thứ mình". Vợ chồng thỏa thuận, và cái hy vọng sẽ cố ăn nhịn để dành mua được đôi lợn con nuôi giống may ra khá hơn - hy vọng ấy nở đẹp như bông hoa sim dại trong đầu vợ chồng anh Xã.


Ấy thế mà, hy vọng bắt đầu nở thì cũng là lúc anh chớm lên cơn sốt rét, anh cố nhịn đến canh năm. Ở nhà trên, người ta đã ăn no và ném xương cho con Mực để đi ngủ. Anh thấy vợ cựa mình, mới nói:


- Bu thằng chó! Nghe chừng tôi ốm ngã nước mất rồi. Khổ quá. Thế này thì ra ông trời cố hại. Đất cát đấy, ai làm cho!


Chị rón rén đến đặt tay vào trán chồng, lo lắng:


- Cảm mưa cảm gió qua loa thôi mà. Nghỉ vài hôm lại khỏi, Bố thằng chó cứ yên tâm.


Thằng chó ngọ nguậy khóc. Chị quay về giường, ru con ời ợi, trong khi ấy, đàn chuột đuổi rỡn nhau trên kèo nhà, kêu chí chí. Anh rên rỉ, giận cái kiếp mình không bằng con chuột, ăn thóc nhà giầu, uống nước giếng trong, lại đùa nhau ở trên cao. Cứ thế, anh bừng sốt, mắt mở trân trân, nằm nghe con khóc, chuột nô, vợ thở dài và con trâu bên kia vách thở phì phì, nhai rơm khô rào rạo.


Bóng tối đã loãng dần ngoài sân. Hoa bồ kếp dại rụng như rắc phấn xuống lòng giếng nước dâng gần mặt đá xanh nhẵn bóng. Mấy cô gái tỉnh tóc quăn đang vừa múc nước đánh răng với muối vừa đùa nghịch nhau, cười như nắc nẻ.


Con gà trống tía cao lộc ngộc rung cánh, xù lông cổ, gáy cùng với tiếng mấy chị gà mái tơ bị cắt tiết giãy chết trong tay người bõ già bên kia bếp.


Chị Noọng đon đả như một người nội trợ quen sai đầy tớ chọc lợn, mổ gà, làm cơm đãi khách xưa nay, đứng dặn dò làm từng món sào, món nấu.


Xã Bèo nghe nói lại thấy thèm bát cháo thịt gà mà anh tin rằng chỉ húp căng dạ dầy là bách bệnh tiêu tán hết.


Anh em thằng Đanh thức giấc, đói nôn nao không thể nằm gan được, đã chồm chỗm, ngáp dài nhìn mấy con gà mái giẫy cái cuối cùng trong nồi nước nóng.


Bà cụ thì thầm bảo cháu:


- Liệu mà thòng lọng đi, kẻo nó ra ngoài đồng thì hỏng bét. Bữa gạo hôm nay trông vào nó đấy, cháu ơi!


Thằng Đanh vụt đứng dậy, lừa buộc chó, để lát nữa tan sương, ra chợ.


Sau đó, con Mực đã theo chủ mới với sợi giây trão vòng chặt cổ lôi tuồn tuột trên bờ ruộng qua mấy ngọn đồi để về nhà anh đồ tể chuyên thui chó bán rong các xóm làng những ngày chợ không phiên.


Anh em thằng Đanh đứng ngẩn nhìn theo chó, cho tới khi tiếng kêu thảm hại của con vật đã bặt hẳn bên kia đồi cước chúng mới trở về.


Hôm nay, dân chúng biểu tình kỷ niệm ngày kháng chiến.


Về đến bãi cỏ rộng trong rừng, trẻ con vẫn thả trâu, hai đứa thấy người đông như hội, chúng ngạc nhiên hết sưc vì rõ ràng cái chị lính tẩy, râu Hoa Kỳ đang hô dân quân bước một hai và bồng gậy tre thay súng. Trong khi ấy, ông chủ tịch Noọng đứng trên mặt bàn cao diễn thuyết bằng tiếng Thổ cho đồng bào ông nghe. "Chị đàn ông" to lớn cũng nhảy lên bàn như một võ sỹ nhảy lên võ đài, nói vang vang về vấn đề dân quân du kích, nông phu kháng địch, phụ nữ tòng quân ở đây, cũng như ở cái nước nào xa lắm.


Chị nói rất nhiều, ai cũng lắng nghe và ai cũng vỗ tay. Những cô gái Thổ vỗ tay theo những cô gái diễn kịch tóc quăn, quần bó ống. Những ông bà già Thổ cũng vỗ tay tuy rằng họ không hiểu "chị đàn ông" nói những gì. Anh em thằng Đanh cũng vỗ tay và lúc ngoảnh nhìn ở góc kia, chúng thấy mẹ bồng thằng chó, bố ngồi co ro dưới chân cái hàng rào người đang cười nói.


Hai đứa chạy đến đưa tiền bán chó cho mẹ, rồi hỏi bố:


-Thầy ốm thế, ra đây ngồi làm gì cho khổ. Ốm nặng nữa thì sao?


Xã Bèo lờ đờ mắt nhìn con. Anh đưa hai tay lên giữ lấy đầu. Cơn sốt rét lại nổi lên, khắp người anh run lập cập. Úp bàn tay lên miệng, anh nói như rên:


- Cũng phải cố ra một tý, ngày hội hè, người ta ra hết, mình nằm sao tiện.


Chị đàn ông diễn thuyết xong, lại hô dân quân "một hai ba". Và hát, chị hát oang oang như ễnh ương kêu nhưng ai cũng khen chị hát đúng nhịp, hát hay là khác.


Thốt nhiên, người ta nhốn nháo. Có tiếng hô cuốn hết cờ giấu đi, mọi người giải tán tìm bờ bụi mà nằm rạp xuống.


Tiếng phi cơ réo ngang trời. Người xô người mà chạy. Anh em thằng Đanh, đứa lôi mẹ, đứa kéo bố, chạy thục thân vào cái hố sâu cạn nước. Xã Bèo hai ba lần ngã xấp mặt xuống, lại vội vã nhỏm lên, đâm đầu chạy. Khi đã ngồi yên dưới hố, anh nhắm nghiền mắt, úp mặt vào lưng vợ, gần như ngất lịm đi. Đứa bé khóc thét. Chị lấy vạt áo che kín đầu con, mặt không còn hột máu.


Tiếng động cơ lúc gần lúc xa, hình như đoàn máy bay cổ ngỗng đang đánh vòng thám thính. Con càng khóc, chị càng cuống quýt, chỉ lo tầu bay nghe tiếng rồi thì... Chị giật bắn mình, tay ôm con, tay quái lại giữ chặt chồng bởi vì tiếng liên thanh lẫn cả tiếng bom vừa vang động gần ngay đấy.


Súng bắn rất nhiều. "Chị đàn ông" nằm trong bụi sim gần miệng hố nói với chị tóc quăn răng trắng:


- Đê-sê-a, mình bắn lên đấy.


Chị răng trắng làm dấu Chúa. "Chị đàn ông" mỉm cười:


- Ở Hà Nội chị chăm đi nhà thờ lắm nhỉ, có nhớ đêm No-en không?


Tiếng động cơ đến gần, rất gần. "Chị đàn ông" ôm chặt cô bạn bé nhỏ vào cánh tay cứng khỏe. Bàn tay chạm vào má bạn, thấy ướt, "chị đàn ông" khẽ nói:


- Việc gì mà khóc. Liên ơi, phải khỏe lên chứ! Chết thì thôi, cần gì...


Mấy tràng đạn réo trên đầu. "Chị đàn ông" càng ôm chặt bạn, cả hai cùng úp mặt, duỗi thẳng tay, mỗi khi ngừng tiếng đạn, "chị đàn ông" lại vuốt tóc cô bạn nhỏ:


- Không sợ, không chết được đâu, Liên ạ...


Cô bạn nhỏ thầm thì:


- A men!


Ở dưới hố, vợ chồng con cái Xã Bèo ngồi rúm vào nhau. Chị luôn mồm nhiệm Phật, ôm con sát ngực. Đứa trẻ lặng thiếp đi. Bèo tê điếng, gục mặt vào thành hố, đất cát dính đầy mắt mũi.Đoàn phi cơ lượn ba vòng, bắn thị uy, rồi bay cao và xa dần về phương Bắc.


Chờ cho tiếng động cơ im hẳn, người ta lại đổ ra, nhớn nhác. “Chị đàn ông” hô dân quân tập hợp. Mầu cờ đỏ lại nhuộm lẫn lá cây rừng. Vợ chồng con cái Xã Bèo lập cập dắt nhau về. Cụ Xã hớt hải chạy ra nửa đường, thấy còn đủ cả con lẫn cháu, thì mếu máo:


- Tao ở nhà lo quá, Khổ thằng chó phải mấy phen sợ hãi, sợ máy bay từ trong bụng mẹ sợ ra.


Bà cụ ẵm cháu hôn hít, nước mắt chảy xuống nếp da mặt nhăn nheo.Anh ngả xuống giường, cơn sốt bốc lên dữ dội.


(còn tiếp)


Nguồn: Đất. Tiểu thuyết của Ngọc Giao. NXB. Cây Thông,1950. Bản này đã được tác giả chỉnh lý năm 1991.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »