tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27840410
Tiểu thuyết
03.07.2012
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

Bao giờ người ta cũng sẽ được chứng kiến sự trở lại may mắn của những thi sĩ như thế, bởi vì từ thời đại này sang thời đại khác những người bảo lãnh quý báu đó trao tính bất tử cho cả thời kỳ ít xứng đáng được như vậy nhất. Nhưng thời đại của chúng ta phải chăng chính là một trong những thời đại không cho phép sự yên lặng đối với người trong sáng nhất, cô lập nhất, cái yên lặng của đợi chờ, của quá trình thành thục, của suy tưởng và của tĩnh lặng, nó còn được dành cho những người ấy trong thời kỳ hạnh phúc và yên bình ở châu Âu trước Đại chiến thế giới I? Tôi không biết ngày nay tất cả những thi sĩ ấy, Verhaeren, Rilke, Pascoli, Francis Jammes có giá trị gì, họ tiêu biểu cho cái gì đối với một thế hệ mà những lỗ tai vang vang từ nhiều năm thay vì tiếng nhạc tinh tế, tiếng tuyên truyền ồn ào không ngớt và hai lần bị xé rách bởi tiếng súng đại bác. Tôi chỉ biết và tôi cảm thấy nhiệm vụ phải tuyên bố với lòng biết ơn, rằng sự hiện diện của những người đã hiến mình như vậy cho việc tôn thờ sự hoàn mỹ trong một thế giới đã cơ khí hóa là một sự giáo dục đến thế nào, một ân huệ đến thế nào đối với chúng tôi. Và nhìn lại quãng đời đã qua của tôi, tôi không khám phá được điều gì quý hơn là cái đặc ân mà đời đã chấp thuận cho tôi được gần gũi nhiều người trong số họ và thường được kết hợp thêm một tình bạn bền lâu với lòng tôn kính sớm có của tôi.


Về tất cả những người ấy, có lẽ không ai sống một cuộc sống lặng lẽ hơn, bí ẩn hơn và mờ nhạt hơn Rilke. Nhưng không phải là sự cô đơn cố ý và ép buộc mà ông choàng lên người như một giáo chức tôn nghiêm và như, ví dụ, Stephan George ca tụng nó ở nước Đức; sự yên lặng dồn lại có thể nói là xung quanh ông ở bất cứ chỗ nào ông đi, ở bất cứ đâu ông đến. Bởi ông trốn khỏi mọi sự ồn ào ngay cả sự ồn ào về danh tiếng của ông - "Cái tổng số của mọi sự hiểu lầm chồng chất quanh một cái tên" như một hôm ông nói thật hay - làn sóng hiếu kỳ cồn lên một cách khoe khoang chỉ thấm ướt tên ông, không bao giờ ướt được con người ông. Rilke thật khó mà nắm bắt được. Ông không có nhà, không địa chỉ nơi người ta có thể kiếm tìm ông, không tổ ấm, không nơi ở thường xuyên, không nghề nghiệp. Lúc nào ông cũng trên đường đi ngang qua thế giới và không có ai, ngay cả bản thân ông biết trước được ông sẽ quay bước về hướng nào. Đối với tâm hồn nhạy cảm và mẫn cảm quá đỗi của ông, mỗi quyết định đề ra, mỗi dự định và mỗi thông báo đều đã là một gánh nặng. Vậy là bao giờ ta gặp ông cũng là ngẫu nhiên. Ta đang ở trong một nhà bảo tàng Italia và cảm thấy, không biết rõ từ ai, một cái mỉm cười thân ái dành cho anh. Chỉ lúc đó ta mới nhận ra cặp mắt xanh của ông, mà lúc chúng nhìn anh, một ánh sáng bên trong làm cho linh hoạt lên những nét tự bản thân chúng ít gây chú ý. Nhưng chính cái việc lẩn mình không để ai thấy, là điều bí mật sâu nhất của bản tính ông. Hàng ngàn người ắt đã gặp một con người trẻ tuổi có ria mép màu hung rủ xuống hơi sầu muộn, có khuôn mặt hơi Xlavơ chẳng có gì đáng chú ý mà không ngờ rằng người đó là một thi sĩ và là một trong những thi sĩ lớn nhất của thế kỷ chúng ta; tính đặc biệt của ông chỉ biểu hiện trong mối giao du thân tình hơn, tôi muốn nói: sự dè dặt phi thường của bản tính ông. Ông có một cách rón rén bước đi và làm nhẹ bớt giọng nói mà người ta không thể hình dung. Khi ông bước vào một căn phòng ở đó đã có nhiều người tụ họp, ông đi không có tiếng động, đến mức mà hầu như không ai chú ý đến ông. Sau đó ông ngồi im lặng nghe, đôi khi bất giác nhíu cặp lông mày lại ngay khi mà một vấn đề dường như làm bận tâm ông, và khi bản thân ông bắt đầu nói, bao giờ cũng không có chút nào kiểu cách và không có chút nào lên giọng. Ông kể chuyện một cách tự nhiên và giản dị, như một người mẹ kể một câu chuyện cho con mình, và với cùng một vẻ dịu dàng trìu mến, thật tuyệt vời khi nghe ông: ông làm nổi bật lên và tạo tính chất hình tượng cho một đề tài vô nghĩa nhất. Nhưng ngay lúc ông cảm thấy mình là cái đích của một nhóm hơi rộng, ông ngừng lời và lại chìm vào trong sự im lặng lắng nghe của mình. Trong mỗi động tác của mình, trong mõi cử chỉ của mình, ông đều giữ gìn như vậy, ngay cả cái cười của ông cũng chỉ là một thứ dấu hiệu nhẹ nhàng. Chặn bớt tiếng động là điều cần thiết với ông, và không gì có thể làm ông bối rối bằng tiếng động và, về mặt tình cảm, mọi thứ hung hăng mãnh liệt. Một hôm ông nói với tôi: "Họ làm tôi kiệt sức, những người phì cảm giác của họ ra như người ta khạc máu, và chính vì thế mà tôi quan hệ với những người Nga với liều lượng rất thấp, như những thứ rượu mạnh". Cũng như sự dè dặt trong cách cư xử của ông, trật tự, sự sạch sẽ, sự yên tĩnh đối với ông là những nhu cầu thể chất; nếu ông đi trong toa tàu chất đầy, nếu ông ở trong một căn nhà ồn ào, ông cảm thấy bị đảo lộn trong nhiều giờ. Mọi cái tầm thường khiến ông không chịu đựng nổi, và, dù rằng thu nhập của ông vào loại khiêm tốn nhất, áo quần ông bao giờ cũng chứng tỏ sự hoàn hảo về thị hiếu, về sự chăm chút, sự sạch sẽ. Bản thân quần áo của ông cũng thế, chúng là một kiệt tác khéo sắp đặt, một kiệt tác được cấu tạo nhằm không lôi cuốn sự chú ý nào hết, tuy nhiên bao giờ cũng với một nét hoàn hảo riêng tư, mặc dầu khó có thể nhận thấy, một cái thứ yếu nhỏ mà ông lấy làm thích thú một cách kín đáo như một cái vòng mảnh dẻ bằng bạc đeo cở cổ tay chẳng hạn. Bởi vì ngay cả trong những vật sâu kín và riêng tư nhất, ông cũng thể hiện thị hiếu về sự hoàn thiện và cân xứng của mình. Một hôm tôi ngắm ông sửa soạn hành lý vào chiều hôm trước một chuyến đi - ông từ chối có lý sự giúp đỡ của tôi viện cớ tôi bất tài - Cứ như là công việc của người thợ ghép mảnh; mỗi đồ vật được sắp đặt, tôi nói gần như với sự trìu mến, vào chỗ đã được dành riêng một cách cẩn thận cho nó. Tôi có thể coi như là phàm tục nếu bằng sự giúp đỡ có ý tứ của tôi, làm mất trật tự của sự lắp ráp quý báu đó như của một bóng ma. Và cái ý nghĩa sơ đẳng về cái đẹp đó theo ông cho đến những chi tiết thứ yếu nhất; không phải chỉ riêng những bản thảo mà ông viết nắn nót một cách cẩn thận bằng chữ viết tròn trĩnh của ông đến mức mà những khe dòng dường như được đo bằng thước gấp, ngay cả đối với bức thư ít quan trọng nhất ông cũng chọn giấy tốt, và chữ viết đều đặn, sáng sủa và tròn trặn của ông dẫn một cách chính xác tới cái lẽ mà ông đã dành sẵn. Không bao giờ ông tự cho phép gạch xóa một từ, ngay cả trong những thư giao tiếp vội vàng nhất, những khi một câu hoặc một từ đối với ông tỏ ra không đắt, ông viết lại cả bức thư với tính kiên trì tuyệt vời của ông. Không bao giờ Rilke đưa ra một cái gì đó không được hoàn thiện một cách tuyệt đối.


Việc áp dụng thường xuyên sự chặn tiếng ồn ấy và đồng thời sự tĩnh tâm của con người đó tạo nên một ảnh hưởng không cưỡng nổi lên tất cả những ai đến gần ông. Vì không có thể quan niệm một Rilke dữ dội, cũng không có ai trước sự có mặt của ông là không bị nhiễm bởi thứ rung động toát ra từ sự tĩnh lặng của ông, không dập tắt mọi sự vẻ vang oanh liệt của mình và không mất đi mọi sự tự phụ. Rồi sự giữ gìn ý tứ của ông tác động quanh ông như một sức mạnh bí ẩn có tác động giáo dục, một sức mạnh đạo đức. Sau một cuộc nói chuyện dài với ông, người ta trong nhiều giờ và ngay cả trong nhiều ngày hoàn toàn không có khả năng làm một điều gì dung tục. Quả thật cái bản tính ôn hòa đó, không bao giờ hiến mình hoàn toàn, cản trở ngay mọi mối thân tình thực sự, tôi tin rằng ít người có thể khoe đã là những người "bạn" của Rilke. Trong sáu tập đã in về thư từ trao đổi của ông hầu như không bao giờ thấy tiếng gọi đó, và dường như từ những năm đi học ông đã không bao giờ đồng ý cho ai gọi mày tao thân mật. Sự nhạy cảm phi thường của ông không chịu đựng được bất cứ cái gì và bất cứ ai đến quá gần ông, và hoàn toàn đặc biệt là một tính cách đàn ông nổi bật gây ra ở ông một thứ khó chịu của cơ thể. Trong chuyện trò, ông tận tình dễ dàng hơn với phụ nữ. Ông vui lòng viết cho họ luôn và cảm thấy thoải mái hơn khi có mặt họ. Phải chăng việc thiếu sự uốn giọng kim trong câu chuyện của họ làm ông thích thú, vì những giọng nói khó chịu khiến ông thực sự đau đớn. Tôi như còn thấy ông tham gia vào một cuộc trao đổi với một nhà quý tộc loại giàu có nhất, hoàn toàn tự thu mình lại, đôi vai đau khổ và không ngước mắt lên nhằm tránh để lộ ông đã cực nhọc đến mức nào vì cái giọng kim đáng ghét đó. Nhưng thật là thú vị được ở với ông khi ông có thiện cảm với anh! Lúc đó người ta cảm thấy lòng tốt sâu kín của ông, mặc dù nó tỏ ra tiết kiệm lời nói và cử chỉ, như một tia sáng sưởi ấm và chữa khỏi bằng cách rọi vào tận đáy sâu của tâm hồn.


Nhút nhát và dè dặt, Rilke cho ta cảm tưởng ông cởi mở ở Paris, cái thành phố làm mở tấm lòng nhiều hơn ở bất cứ nơi nào khác, có lẽ vì ở đây người ta còn chưa biết đến tác phẩm của ông cùng tên ông và ông luôn tự cảm thấy tự do hơn và sung sướng hơn ở nơi nào mà ông là một người ẩn danh. Tôi lần lượt đến thăm ông ở hai căn phòng ông đã thuê. Phòng này và phòng kia đều đơn giản và không trang hoàng, nhưng óc thẩm mỹ của ông ngự trị ở đó lập tức tạo nên phong cách và sự yên tĩnh của chúng. Không bao giờ ông ở một căn nhà lớn thuê cùng những người láng giềng ồn ào, mà thường ở một nơi cũ kỹ, thậm chí thiếu tiện nghi trong đó ông có thể cảm thấy như nhà mình, và bao giờ ông cũng biết bố trí nội thất để cho nó có một ýnghĩa và phù hợp với bản tính của ông, và như vậy là nhờ ở khả năng sắp đặt chỗ nào cũng ngăn nắp của ông. Bao giờ ông cũng chỉ có rất ít đồ đạc quanh mình, nhưng bao giờ hoa cũng rực rỡ trong một chiếc bình hay một cái cốc: có thể đó là quà tặng của phụ nữ, có thể do bản thân ông nâng niu mang về. Nếu anh cho ông mượn một cuốn sách mà ông chưa biết, ông trả lại anh bọc trong một tờ giấy lụa không một nếp nhăn và buộc một dải ruy băng màu như một tặng phẩm ngày tết; tôi còn nhớ ngày hôm đem đến phòng tôi để làm tặng phẩm quý cho tôi bản thảo quyển Không khí của Tình yêu và của Cái Chết và tôi còn giữ được dải lụa quấn bên ngoài. Nhưng điều tuyệt diệu nhất vẫn là đi dạo quanh Paris với Rilke, bởi điều đó có nghĩa là những sự vật vô nghĩa nhất biến thành quan trọng và chợt được nhận thức bằng những con mắt có thể gọi như là được rọi sáng; ông để ý những chi tiết nhỏ nhất, và ông thích cao giọng phát âm những tên ông đọc thấy trên những biển cửa hàng khi chúng tỏ ra có âm hưởng thật nhẹ nhàng; một đam mê đối với ông là được biết cái thành phố độc nhất này đến cả những xó xỉnh cuối cùng và những chiều sâu của nó, và hầu như đó là đam mê duy nhất mà tôi nhận thấy ở ông. Một hôm nhân chúng tôi gặp nhau ở nhà những người bạn chung, tôi kể với ông rằng bất ngờ tôi đến chỗ "Barière" cũ nơi những nạn nhân cuối cùng của máy chém trong số đó có André Chénier đã được chôn ở Nghĩa trang Picpus; tôi tả cho ông cái bãi cỏ nhỏ đầy xúc động đó với những nấm mồ rải rác mà người nước ngoài ít khi thấy. Lúc quay về tôi chợt thấy qua một cửa mở ra một trong những đường phố, một tu viện với những kiểu nữ tu sĩ "bêganh" lặng lẽ, không nói, tràng hạt trong tay, quay vòng tròn như trong một giấc mơ thành kính. Đó là một trong những lần rất hiếm mà tôi thấy con người trầm tĩnh đến thế và tự chủ đến thế tỏ ra gần như nôn nóng: ông phải nhìn thấy những cái đó, phần mộ của André Chénier và tu viện. Hôm sau chúng tôi đến đấy. Ông đứng trong một trạng thái hân hoan và lặng lẽ trước nghĩa địa đã bị bỏ hoang đó và ông gọi đó là "nghĩa địa trữ tình nhất của Paris". Nhưng lúc quay về, cửa tu viện lại đóng. Và đầu hơi cúi xuống, ông đứng vào chỗ để có thể nhìn thấy qua cửa đó lúc nó mở ra. Chúng tôi đợi có lẽ đến hai mươi phút. Lúc đó một bà sơ của dòng tu từ phố trở về, bấm chuông. "Đây rồi" ông thốt lên đầy hưng phấn. Nhưng bà sơ đã để ý sự rình rập yên lặng của ông - tôi có thể nói là với ông người ta cảm thấy từ rất xa bởi những luồng khí qua không trung - bà lại gần và hỏi xem ông chờ ai. Ông mỉm cười với bà ta bằng nụ cười dịu dàng lập tức gây được sự tin cậy, và nói thật với bà rằng ông rất muốn thăm tu viện. Đến lượt nữ tu sĩ mỉm cười: bà lấy làm tiếc, nhưng không thể để ông vào được. Tuy nhiên bà khuyên ông đi sang bên cạnh vào ngôi nhà nhỏ của người làm vườn: ông sẽ thấy rõ từ cửa sổ tầng gác. Thế là cả điều đó ông cũng được cho phép, như biết bao nhiêu điều khác.


Từ dạo ấy, bước đường của chúng tôi còn nhiều phen gặp gỡ, nhưng mỗi lần nghĩ tới Rilke, tôi cứ thấy ông ở Paris, Paris mà ông đã không phải sống những giờ đen tối nhất của nó.


*


*           *


Những người với phẩm chất như vậy có lợi ích to lớn cho một người mới vào nghề, nhưng tôi còn nhận được sự giáo dục có tính quyết định hơn cả, sự giáo dục sẽ có ý nghĩa cho suốt cả đời tôi. Đó là một tặng phẩm của cái bất ngờ. Ở nhà Verhaeren chúng tôi đang bước vào một cuộc tranh cãi với một nhà lịch sử nghệ thuật, ông ta phàn nàn rằng cái thời của nền điêu khắc lớn và nền hội họa lớn đã qua rồi. Tôi kịch liệt phản đối ông ta. Phải chăng Rodin còn giữa chúng ta, nhà tạo hình ấy không chịu thua những bậc tạo hình lớn nhất của thời xưa? Tôi bắt đầu nêu lên các tác phẩm của ông và như luôn xảy ra khi người ta đấu tranh với người nói trái ta, tôi sa vào những sự hăng hái gần như nổi khùng. Verhaeren mỉm cười một mình.


"Người nào yêu Rodin đến thế, cuối cùng ông nói, phải biết về ông. Ngày mai tôi sẽ đến xưởng của ông ta. Nếu điều ấy hợp với anh, tôi dẫn anh đi".


Nếu điều ấy hợp với tôi! Cả đêm tôi không sao nhắm được mắt vì mừng rỡ. Nhưng tại nhà Rodin tôi câm lặng. Tôi không có can đảm ngỏ lời với ông và đứng im cạnh những pho tượng của ông, giống như một pho tượng trong số đó. Sự bối rối của tôi dường như khiến ông thích thú vì lúc chia tay ông già hỏi tôi có muốn xem xưởng thực sự của ông ở Meudon không, và ông còn mời tôi dùng cơm. Tôi lĩnh hội bài học đầu tiên của tôi, đó là: Những người vĩ đại nhất bao giờ cũng là những người nhã nhặn nhất.


Bài học thứ hai là những người đó hầu như bao giờ cũng là những người giản dị nhất trong lối sống của họ. Tại nhà con người mà vinh quang đầy ắp thế giới, mà những tác phẩm hiện diện từng nét một đối với thế hệ chúng ta như những người bạn gần gũi nhất, người ta ăn một cách giản dị như tại nhà một nông dân cỡ trung bình: thịt bổ dưỡng, vài trái ôliu, thật nhiều hoa quả cùng với các thứ đó một loại vang mạnh của quê hương. Điều này cho tôi thêm can đảm; cuối cùng tôi bắt đầu nói không gò bó, y như ông già và bà vợ ông ta là những người quen biết cũ.


Sau bữa ăn chúng tôi qua xưởng của ông. Đó là một căn phòng rộng mênh mông tập hợp những phiên bản các tác phẩm quan trọng nhất của ông; trong số đó nằm la liệt hàng trăm những hình nghiên cứu nhỏ quý - một bàn tay, một cánh tay, một cái bờm ngựa, một cái tai đàn bà, phần nhiều bằng thạch cao; tôi còn nhớ rõ mồn một bức tượng phác thảo coi như để tập dượt đó và tôi có thể nói trong nhiều giờ về cái giờ duy nhất mà tôi đã ở đấy. Sau cùng vị thầy dẫn tôi tới trước cái bệ nơi tác phẩm mới nhất của ông được phủ những tấm vải ẩm, một chân dung phụ nữ. Ông gỡ những tấm vải bằng những bàn tay nông dân nặng nề và nhăn nheo của ông và đi lùi lại. Bất giác tôi thốt ra từ trong lồng ngực bị đè nén của tôi một tiếng "Tuyệt diệu!" và lập tức xấu hổ về sự tầm thường đó. Nhưng với thái độ khách quan bình tĩnh của ông, trong đó người ta không thể phát hiện thấy một chút khoe khoang nào, ông chỉ thì thầm trong khi ngắm công trình của bản thân mình: "Có phải thế hay không?". Rồi ông ngập ngừng: "Chỉ riêng, chỗ này, ở vai… chờ một lát!". Ông cởi áo vét trong, khoác áo blu trắng, cầm lấy con dao phết và láng bằng một động tác bậc thầy làn da mỏng trên vai người đàn bà dường như đang sống và đang thở. Ông lùi lại nữa: "Và kia", ông nói thầm. Hiệu quả lại được tăng thêm bởi một sự sửa chữa rất nhỏ. Đoạn ông không nói nữa. Ông tiến lên và lùi lại, ngắm kỹ bức hình trong một cái gương, thốt ra những lời càu nhàu, những tiếng rời rạc, thay đổi, sửa chữa. Cặp mắt ông lúc ở bàn ăn nhìn đây đó một cách lơ đãng và đầy tình thân ái, giờ đây ném ra những ánh kỳ dị, ông hình như cao lớn lên và trẻ ra. Ông làm việc, làm việc, làm việc với tất cả niềm đam mê và sức mạnh của cơ thể lực lưỡng và nặng nề của ông; mỗi lần ông tiến lên và lùi lại đột ngột, sàn nhà kêu răng rắc. Nhưng ông không nghe thấy gì. Ông không để ý rằng phía sau ông một người trẻ tuổi đang đứng lặng im, cổ họng thắt lại, sung sướng được ngắm nhìn một bậc thầy độc nhất như vậy làm việc. Ông đã quên hẳn tôi. Đối với ông, tôi không còn ở đây nữa. Riêng bức hình, tác phẩm của ông còn tồn tại và ở bên trên, không nhìn thấy, ý tưởng về sự hoàn thiện tuyệt đối.


Một phần tư giờ, một nửa tiếng qua đi như vậy, tôi không thể nói là bao nhiêu giờ. Những giây lát đầy ắp nhất bao giờ cũng ở bên ngoài thời gian. Rodin bị thu hút, chìm đắm trong lao động của mình đến mức giá có một tiếng sét cũng không làm ông tỉnh lại được. Những cử động của ông trở nên mỗi lúc một đột ngột hơn, mỗi lúc một giận dữ hơn. Một thứ man dại hoặc say sưa đã chế ngự ông. Ông làm việc mỗi lúc một nhanh hơn. Rồi các bàn tay ông ra vẻ chần chừ. Hình như chúng đã nhận ra rằng chúng chẳng còn việc gì để làm nữa. Một lần, hai lần, ba lần ông lùi lại, không thay đổi gì thêm nữa. Rồi ông thì thầm điều gì đó trong chòm râu của ông, nhẹ nhàng phủ lại những tấm vải xung quanh bức tượng, như người ta choàng tấm khăn lên bờ vai một người đàn bà yêu dấu. Ông thở sâu như đang được thư giãn. Vóc người ông hình như trở nên nặng nề. Ngọn lửa đã tắt. Lúc đó xảy đến với tôi lời giáo huấn tối cao không sao hiểu nổi. Ông cởi bỏ áo blu, mặc lại áo vét trong và sẵn sàng ra đi. Ông hoàn toàn quên tôi suốt trong cái giờ tập trung cực độ đó. Ông không còn biết rằng một người trẻ tuổi mà bản thân ông đã dẫn tới xưởng để giới thiệu với anh ta những tác phẩm của mình, đang đứng phía sau ông, bàng hoàng, hơi thở như ngừng lại, bất động như những pho tượng của ông.


Ông ra đến cửa. Khi ông sắp khóa cửa ông phát hiện ra tôi và sững nhìn tôi, gần như độc ác, cái anh chàng không quen biết này là ai mà lọt vào xưởng của ông? Nhưng lát sau ông sực nhớ lại và đến gần tôi như xấu hổ. "Xin lỗi ông" ông mở đầu. Nhưng tôi không để ông nói tiếp. Tôi chỉ nắm tay ông với lòng biết ơn, tôi những muốn ôm chầm lấy ông. Suốt trong cái giờ đó tôi đã nhìn thấy hiển hiện bí quyết vĩnh cửu của mọi nghệ thuật lớn và, tóm lại, của mọi sáng tác của con người: sự tập trung, sự tập hợp toàn bộ sức lực, toàn bộ các giác quan, khả năng tách mình khỏi bản ngã, tách mình khỏi thế giới, nó là đặc trưng của tất cả mọi nghệ sĩ. Tôi đã học được một điều gì đó cho cuộc đời.


*


*           *


Ý định của tôi là rời Paris đi Luân Đôn vào khoảng cuối tháng năm. Nhưng tôi buộc phải đi trước ngày dự định mười lăm hôm bởi vì chỗ ở mê hồn của tôi trở nên không thể chịu nổi do một hoàn cảnh không lường trước. Điều này xảy ra trong một tình tiết đặc biệt làm tôi vui thú và đồng thời mở ra cho tôi những cái nhìn bổ ích về cách suy nghĩ của những giới người Pháp rất đa dạng.


Tôi không có mặt ở Paris trong hai ngày lễ Pentecôte, để cùng với các bạn ngắm nhìn nhà thờ Chartres kỳ diệu mà tôi còn chưa biết. Buổi sáng ngày thứ ba khi quay về phòng tôi ở khách sạn, lúc muốn thay bộ áo quần, tôi không tìm thấy chiếc vali của tôi suốt những tháng qua vẫn nằm yên trong góc của nó. Tôi xuống dưới nhà và đi tìm người chủ khách sạn nhỏ suốt ngày thay phiên với vợ, ngồi ở căn phòng nhỏ xíu của người gác cổng: đó là một anh chàng người Marseille nhỏ con nhưng béo mập, má đỏ, tôi hay nói đùa với anh ta và chơi cả trictac trò chơi ưa thích của anh, trong quán rượu bình dân trước mặt. Lập tức anh ta sục sôi giận dữ và bèn vừa đấm xuống bàn, vừa kêu lên với nỗi cay đắng những lời nói bí ẩn: "Vậy đúng là như thế!". Vừa mặc áo vét - anh ta như mọi lúc, vẫn mặc sơ mi trần - và thay giày păngtúp thoải mái bằng giày da, anh giải thích tình huống này cho tôi; và để làm cho dễ hiểu tình huống có lẽ cần trước hết nhắc lại một trong những điều kỳ cục của các nhà ở và khách sạn ở Paris. Ở Paris những khách sạn nhỏ và phần lớn những nhà tư không có chìa khóa mở cửa ra vào, chính người gác cổng - chủ nhà tự động mở cửa phòng ông ta khi có người bấm chuông bên ngoài. Nhưng trong những khách sạn nhỏ và các nhà, người chủ hoặc người gác không ở trong phòng gác suốt cả đêm, mà chính là từ đáy sâu của giường ngủ vợ chồng họ mở cửa ra vào và thường thường trong cơn ngái ngủ - bằng cách ấn một cái nút; ai muốn rời khỏi nhà thì kêu: "Cho xin dây kéo cửa", và tương tự như vậy, ai từ ngoài vào đều phải xưng tên, và do vậy về lý thuyết, không có người lạ nào có thể lọt vào nhà ban đêm - Thế là vào lúc hai giờ sáng có người bấm chuông ở cửa khách sạn của tôi, một người nào đó đi vào, đã thốt ra một cái tên giống với một trong những khách trọ và lấy chìa khóa một trong số các phòng hãy còn treo ở phòng người gác cổng. Lẽ ra nhiệm vụ của người gác cổng là phải xác định bằng cách đưa mắt nhìn qua cửa kính nhận dạng của người khách muộn đó, nhưng hẳn là anh ta quá ngái ngủ. Tuy nhiên một giờ sau, ai đó gọi từ bên trong, lần này "Cho xin dây kéo cửa!" báo hiệu rằng người đó rời khỏi nhà, anh chàng của tôi lúc đó đã mở cửa ra vào, thấy rất lạ lùng là một gã kỳ dị nào đó lại đi đâu sau hai giờ sáng. Anh ta trở dậy và nhìn ra đường phố, nhận thấy một người đàn ông đã rời khỏi nhà với một chiếc vali, lập tức anh ta dận giày păngtúp mặc áo ngủ đi theo con người khả nghi đó. Nhưng từ lúc anh quan sát thấy người đó, vòng góc phố, đi vào một khách sạn nhỏ phố Petits-Champs, tự nhiên anh ta không còn nghĩ về một tên ăn cắp hoặc về một tên trộm và đi ngủ lại một cách bình tĩnh.


Hết mức kích động bởi lỗi lầm của mình, anh ta đã lập tức cùng tôi đến đồn cảnh sát gần nhất. Người ta cho hỏi ngay tin tức ở khách sạn nhỏ phố Petits-Champs và xác minh rằng vali của tôi đúng là ở đó, nhưng không có tên ăn cắp, hắn ta hẳn đã ra để ăn lót dạ trong một quán bên cạnh. Hai cảnh sát điều tra rình kẻ gian trong phòng người gác cổng của khách sạn phố Petits-Champs; vì hắn trở về không một chút ngờ vực, nửa giờ sau, hắn liền bị bắt.


Lúc đó chúng tôi phải ra tòa thị chính, ông chủ nhà của tôi và tôi, để dự việc làm biên bản. Chúng tôi được đưa vào văn phòng ông thị trưởng, một ngài ria mép rậm, bụng phệ và rất vui tính đang ngồi cởi khuy áo trước chiếc bàn chất đầy giấy tờ lộn xộn. Bàn giấy sặc mùi thuốc lá và một chai vang to trên bàn chứng thực rằng ông thị trưởng không thuộc về những môn đồ của hội Sainte-Hermandad, những kẻ thù độc ác của đơi sống. Trước hết theo lệnh ông, người ta mang vali của tôi đến; tôi được yêu cầu kiểm tra xem có thiếu thứ gì thiết yếu không. Chỉ có một vật giá trị nhất là một tín phiếu 2000 francs, đã bị hao hụt mạnh bởi sự lưu lại năm tháng của tôi ở đây, và nó đương nhiên không thể dùng cho một người ngoài, thực sự là còn nằm ở đáy vali chưa bị đụng tới. Sau khi lập biên bản về những lời khai của tôi rằng tôi thừa nhận chiếc vali thuộc quyền sở hữu của tôi và không có gì trong đó bị mất cắp, ông thị trưởng ra lệnh dẫn tên ăn cắp vào: tôi không kém phần hiếu kỳ ngắm nhìn bộ dạng anh ta.


Và thật đáng công. Ở giữa hai người cảnh sát to lớn làm nổi bật sự lố bịch của vẻ ngoài ốm yếu và gầy gò của hắn, hiện ra một gã nghèo khổ đáng thương khá rách rưới, không cổ cồn giả, với hàng ria mép nhỏ rủ xuống và một bộ mặt chuột ủ rũ rõ rành rành là đang đói. Đó là, mong người ta bỏ quá cho tôi cái thành ngữ này, một tên ăn cắp kém, chứng minh rõ điều đó là cái kỹ thuật vụng về của hắn đã không xui hắn biến đi lúc sáng sớm cùng với chiếc vali của tôi. Hắn đứng trước ông thị trưởng to lớn, mắt cụp xuống, hơi run run như là hắn bị lạnh, và, tôi phải xấu hổ nói ra điều đó, không những hắn làm tôi thương hại, mà tôi còn cảm thấy có tình cảm với hắn. Và mối quan tâm đầy lòng thông cảm đó còn được tăng thêm khi người cảnh sát trình ra xếp thành dãy một cách long trọng trên một tấm ván lớn, tất cả những vật người ta phát hiện được khi lục soát người hắn. Người ta không thể tượng tượng một sưu tập khó tin hơn nữa: một chiếc mùi xoa bỏ túi rất bẩn và rách, một tá chìa khóa giả và móc đủ các cỡ xâu vào một cái vòng đụng vào nhau kêu leng keng, một cái ví sờn, nhưng thật mừng không có vũ khí, điều đó ít nhất chứng tỏ rằng tên ăn cắp này hành nghề của hắn như một kẻ thông thạo, nhưng một cách hòa bình.


Người ta bắt đầu bằng việc xem xét trước sự chứng kiến của chúng tôi cái chứa đựng trong ví. Kết quả thật bất ngờ. Không phải nó đựng giấy bạc loại hai trăm hoặc nghìn francs, cũng không có tờ ngân phiếu nào - nó giấu không ít hơn hai mươi bảy bức ảnh những vũ nữ và những nữ nghệ sĩ danh tiếng để hở cổ hở vai rất nhiều, cùng với ba hay bốn tấm ảnh khỏa thân, điều đó không hề nêu rõ tội phạm nào cả, trừ phi cái cậu gầy gò và sầu muộn này là một tay tài tử say mê cái đẹp và muốn ít nhất để cho chân dung những ngôi sao không thể với tới được của thế giới sân khấu Paris nằm nghỉ trên trái tim y. Dẫu rằng ông thị trưởng ngắm nghía với cái nhìn cố làm cho nghiêm khác hết cái này đến cái khác những tấm ảnh khỏa thân đó, vẫn không lọt khỏi mắt tôi rằng cái thú kỳ lạ làm người sưu tập nơi một kẻ phạm tội thuộc loại này khiến ông cũng vui thú như tôi. Bởi thiện cảm của tôi đối với kẻ phạm tội khốn khổ này còn được tăng lên một cách đáng kể do cái khuynh hướng ưa cái đẹp mỹ học đó nên khi ông thị trưởng trịnh trọng cầm lấy cây bút của ông và hỏi có phải tôi muốn "khiếu nại điều gì" hay không, tôi trả lời ông rất nhanh một tiếng không hồn nhiên.


Để hiểu rõ tình huống, có lẽ cần đưa vào đây một dấu ngoặc mới. Trong khi ở nước chúng tôi và trong nhiều nước khác sự buộc tội trong trường hợp phạm tội được tiến hành mặc nhiên, nghĩa là Nhà nước, với thẩm quyền thực sự của mình, khởi động nền công lý, ở nước Pháp kẻ bị xúc phạm có quyền tự do khiếu nại hay là tự do không khiếu nại. Cá nhân tôi cho rằng cái quan niệm về luật pháp đó công minh hơn nền công lý cứng rắn. Bởi nó tạo khả năng tha thứ cho người khác lỗi lầm mà họ đã gây ra cho anh ta, trong khi ở Đức, giả dụ như một người đàn bà trong cơn ghen tuông đã gây thương tích cho người tình yêu dấu bằng một phát súng lục, tất cả những lời thỉnh cầu và những lời van xin của người bị thương không thể cứu được bà ta khỏi bị kết án. Nhà nước can thiệp, tách phăng người đàn bà ra khỏi người đàn ông bị tấn công trong một lúc kích động, có lẽ như thế anh ta càng yêu nàng hơn bởi niềm say đắm mà nàng đã chứng tỏ; bà ta bị nhốt vào tù, trong khi đó ở nước Pháp, cả hai người, sau lời xin lỗi được chấp thuận, khoác tay nhau trở về và có thể coi như sự việc đã được giải quyết giữa họ với nhau.


Tôi chỉ vừa phát ra tiếng "Không" cương quyết mà nó đã làm nổ ra ba phản ứng. Anh chàng trẻ tuổi ốm yếu ở giữa hai người cảnh sát bỗng thẳng người lên và đưa về phía tôi một cái nhìn biết ơn mà không bao giờ tôi quên được. Ông thị trưởng đặt bút của ông xuống với sự hài lòng, ông thấy dễ chịu vì việc tôi từ chối kiện tên ăn cắp tránh cho ông phải viết giấy tờ mới. Ngược lại ông chủ khách sạn của tôi mặt đỏ gay vì tức giận, bắt đầu kêu rằng tôi không thể làm như vậy, rằng "cái đồ vô lại đó" cần phải bị tiêu diệt. Tôi chẳng có khái niệm gì về cái hại mà loại người này có thể làm. Ngày và đêm, một người đứng đắn cần phải đề phòng để không bị những kẻ rượu chè trụy lạc đó đánh cắp, và nếu để xổng một tên, đó là sự khích lệ đối với trăm tên khác. Tất cả sự lương thiện và lòng trung thực và đồng thời trí óc hẹp hòi của một anh tiểu tư sản bị quấy rầy trong sự làm ăn của anh ta nổ tung ra. Anh ta hạch tôi bằng một giọng thô lỗ và dọa dẫm, rằng tôi phải đổi ý kiến về sự tha tội của tôi căn cứ vào những phiền toái mà vụ việc này đã gây ra cho anh ta. Nhưng tôi vẫn vững. Tôi đã lấy lại được cái vali, tôi tuyên bố một cách dứt khoát, vì thế tôi không chịu chút thiệt hại nào, và như vậy đối với tôi thế là xong. Trong đời tôi chưa đệ đơn khiếu nại một người khác và tôi sẽ ăn lót dạ một miếng bít tết ngon rất béo mà không cảm thấy khó chịu về chuyện đó, nếu tôi có thể tự nhủ là một người khác không bị theo lệ thường, đưa vào nhà tù do lỗi của tôi. Ông chủ nhà tôi đập lại càng thêm hăng hái, và khi ông thị trưởng giải thích rằng sự quyết định không tùy thuộc ở anh ta mà ở tôi, và rằng, do sự từ chối thưa kiện, sự việc đã được kết thúc, anh ta quay ngoắt đi và tức giận rời khỏi bàn giấy và đóng cửa đánh sầm sau lưng mình. Ông thị trưởng đứng lên, ném một nụ cười về phía nhân vật bị kích động mới đi khỏi và bắt tay tôi với dấu hiệu đồng tình không nói thành lời. Vậy là công việc chính quyền đã xong, và tôi đã xách vali lên để mang về nơi ở. Nhưng đúng lúc đó xảy ra chuyện không bình thường. Tên ăn cắp tiến lại gần rất nhanh và với một điệu bộ khúm núm: "Ồ! Không thưa Ngài, anh ta nói, tôi sẽ xách vali hầu Ngài". Và như vậy tôi lên đường và đi lại quãng đường bốn phố cách khách sạn của tôi, trong khi tên ăn cắp biết ơn xách vali của tôi đi theo sau.


Bằng cách đó một sự việc lúc ban đầu khá gay cấn dường như kết thúc như thể là vui vẻ nhất và hoan hỉ nhất. Nhưng nó còn gây ra, nối tiếp nhau nhanh chóng, hai đoạn kết đã góp phần rất bổ ích để giúp tôi hiểu biết về tâm hồn Pháp. Hôm sau khi tôi đến thăm Verhaeren, ông chào tôi với nụ cười hóm hỉnh: Cậu có những cuộc phiêu lưu kì cục, tại đây ở Paris, ông vui vẻ nói với tôi. Và trước hết tớ không biết rằng cậu là một anh chàng giàu sụ như thế". Trước hết tôi không hiểu ông muốn nói gì. Ông đưa một tờ báo cho tôi và tôi đọc trong đó một tường thuật lạ lùng về sự kiện đêm hôm trước: hẳn là tôi khó nhận ra những tình huống thực sự trong sáng tác tiểu thuyết hóa này. Với một nghệ thuật thành thạo của nhà báo, người ta kể rằng trong một khách sạn khu trung tâm, một thượng khách người nước ngoài - tôi được trở thành một người danh vọng để cho lý thú hơn - đã là nạn nhân một vụ trộm: người ta đánh cắp của ông ta một chiếc vali đựng nhiều vật có giá trị, đặc biệt, một tín phiếu 20.000 francs, - 2000 bị tăng gấp mười lần trong vòng một đêm - cùng với những vật quý khác không thay thế được, - những thứ này trong thực tế chỉ bao gồm sơ mi và cravat - Thoạt đầu có vẻ tên trộm đã hành động với một sự tinh vi lạ thường và thao tác của hắn chứng thực một sự hiểu biết chính xác các địa điểm. Nhưng ông thị trưởng của quận, Ngài "nọ" đã lập tức chuẩn bị tất cả các phương án với nghị lực "nổi tiếng" của ông và sự "sáng suốt to lớn" của ông. Tiếp sau thông báo điện thoại của ông và vào quãng một giờ đồng hồ, tất cả các khách sạn và nhà trọ ở Paris đã được khám xét với sự cẩn thận chính xác nhất, và những biện pháp này được thi hành với sự đúng đắn thường có, đã dẫn tới trong một thời gian rất ngắn việc bắt giữ thủ phạm. Cảnh sát trưởng đã biểu thị ngay tức khắc cho người công chức mẫu mực đó sự tán thưởng đặc biệt về kỳ công đáng kể này; bởi đầu óc quyết đoán và sự sáng suốt của mình, ông đã minh họa một lần nữa về tổ chức kiểu mẫu của cảnh sát Paris - Rõ ràng không có một chút sự thật trong bản báo cáo này; ông thị trưởng trung hậu không rời khỏi bàn ông một phút, người ta đã có thể gọi là giao nộp trong phòng làm việc của ông tên ăn cắp và chiếc vali, sẵn sàng đâu ra đấy rồi. Nhưng ông đã lợi dụng dịp này để tạo cho mình một cái vốn quảng cáo nho nhỏ.


Nếu sự kiện này đã xoay quanh một chiều hoan hỉ đối với tên ăn cắp cũng như đối với cảnh sát cấp trên, đối với tôi không có gì như thế cả. Ngay từ lúc đó người chủ khách sạn, trước vui tính đến thế, nay làm tất cả cho sự lưu lại của tôi thành không chịu đựng nổi. Tôi bước xuống thang gác và lễ phép chào vợ anh ta trong phòng gác cổng, bà ta không đáp và quay cái đầu của người tư sản đức hạnh đi với một vẻ bị xúc phạm. Người hầu phòng thôi không chăm sóc phòng tôi như đã thỏa thuận, thư từ thất lạc một cách bí hiểm. Ngay cả trong những cửa hàng khu phố và ở quầy thuốc lá nơi với tư cách dân nghiện thuốc nặng, tôi được đón tiếp như "bạn nối khố" thực sự bây giờ chỉ gặp những bộ mặt bỗng nhiên lạnh băng. Đạo lý của giới tiểu tư sản không chỉ của ngôi nhà, mà của cả phố thậm chí cả quận nổi lên chống lại tôi, bởi vì tôi đã "cứu" kẻ cắp. Và cuối cùng không còn gì hơn là tôi ra đi với chiếc vali mà tôi đã cứu thoát được, và rời khỏi cái khách sạn đầy đủ tiện nghi một cách nhục nhã y như bản thân tôi là tội phạm vậy.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 27.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 25.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 24.06.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
xem thêm »