tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28869483
Tiểu thuyết
26.06.2012
Ngọc Giao
Đất


Bà cụ nói với vợ Lý Còng:


- Lạy thánh, ở hiền lại gặp lành. Cứ tưởng người ta ở rừng thì ác như hổ báo. Thế mà nhân đức quá.


Trong khi ấy, anh Xã và Lý Còng thu gọn gồng gánh vào một xó tường kín đáo, đoạn lên đồi bẻ cành vơ lá khô để lát nữa thổi cơm. Anh em thằng Đanh, thằng Cõn dắt trâu lên một bãi cao cho gặm cỏ.


Bóng tối xuống dần dần. Bà cụ dỡ thùng tìm đĩa đèn dầu lạc, rồi trải lá chiếu cũ xuống đất ngồi nhìn ra cánh đồng, bóng núi mịt mù xa.Ông già Thổ quay trở lại với giá gạo, bát cá kho. Vừa lúc ấy thì anh Xã và Lý Còng ôm củi, lá khô về. Ông già vồn vã nói:


- Chỗ đồng bào một đời người mới vì việc nước mà lên đây một lần thôi. Rồi mai kia hết loạn, đồng bào lại về dưới ấy, chúng mình còn giúp đỡ nhau sao được nữa.


Bà cụ bảo con dâu lấy trầu cau mời ông già Thổ. Bà mếu máo:


- Thế này thực là quý hóa, được cụ giúp đỡ, không bao giờ dám quên ơn.


Ông ta đón nhận miếng trầu, chào mọi người rồi ra về.


Chị Lý và chị Xã ra phía sau đền, bắc gạch làm bếp thổi cơm. Trời tối mịt và đứng gió. Ánh lửa sáng hắt lên cây đồi, vàng lung linh. Chung quanh im lặng như tờ. Đôi trâu tròng vào gốc cây trước cửa đền, còn đói bụng, bứt cả lá tươi nhai, thở phì phì trong bóng tối.


Anh Bèo thắp đĩa đèn dầu lạc, ngồi bó gối nhìn mẹ, nhìn con và vợ mệt mỏi nằm ngổn ngang trên chiếu mà đau lòng. Anh lại nhớ quê, nghĩ đến những buổi tối ngồi trong ổ rơm êm ấm, vợ con xúm xít quanh nồi cơm nếp hay rá khoai lang nóng, chuyện nắng, chuyện mưa, rồi trùm chiếu ngủ, anh mơ ước mua được thêm sào ruộng tốt này ở bên kia sông mà ngả mạ chiêm, sào ruộng tốt kia ở bãi Bầu mà trồng khoai đỗ thì thích quá. Cả cuộc đời anh chỉ cầu được sống ở làng, trẻ thì mua cái chức xã nhiêu, già thì - nếu ông trời cho khá- ngồi cai đám, mổ con bò con lợn trả nợ miệng người ta, gọi là đóng góp với đời một tý…


- Cha đời chứ, nào ai ngờ lại lưu lạc đến chốn này. Nằm đường nằm chợ, ngủ đình ngủ điếm.


Lý Còng nằm sau lưng Xã Bèo, thở dài, rống lên như bò kêu mà than thở. Cũng như anh Xã, Lý Còng vừa chợt nhớ đến những buổi sáng chiều khất khưởng rượu cơm nhà, thỉnh thoảng lại được mời đi cúng lễ, rượu thịt lao đao hết xã này sang tổng khác, đến mấy ngày mới khệnh khạng về, ném cái khăn gói vải tây đỏ đựng xôi gà, chân giò lợn, chè hộp, cau tươi ra mặt chiếu cho vợ con sung sướng ăn lộc thánh. Chả bù mấy hôm nay thèm rượu bỏ bố thế này.


Buồn tình, Lý nghêu ngao:


Ngại ngùng một bước một xa.


Bèo trôi sóng vỗ biết là về đâu.


Trông ra đồng lúa dầu dầu.


Con người ngủ với con trâu mà buồn.


Lý Còng vẫn chắp nhặt thơ phú lăng nhăng như thế là thường. Anh có tài làm vè, chắp thơ nhanh lắm, bởi vì ngày còn trẻ Lý Còng đã nổi tiếng tay hát trống quân giỏi nhất vùng Nguyệt Đức, gái mê chí chết.


- Thôi, mời các ông xơi cơm đi. Chả sung sướng lắm đấy mà còn hát hỏng.


Chị Lý dò dẫm bước lên thềm, bưng nồi cơm vào đặt cạnh đĩa đèn đã gần cạn dầu lụi bấc. Bà cụ Xã lay gọi anh em thằng Đanh, thằng Cõn dạy:


- Thế nào mà đã thi nhau ngáy thế này. Cha bà chúng mày, trẻ con lại hóa ra sướng. Vô lo, vô lự, chả biết gì là đói rét.


Nồi cơm đầy chỉ một loáng đã vơi. Anh Xã vẫn như mọi khi, ăn ít để nhường phần cho mọi người. Lý Còng không ném đũa, dằn bát như buổi tối nọ ở sân đình làng kháng chiến kia nữa. Anh ăn thật sự, ăn như bò ngốn trâu nhai.


Một lúc sau, mọi người đi nghỉ. Đĩa đèn sắp cạn hết dầu bốc khói khét lẹt. Xã Bèo vẫn ngồi bó gối trước ngọn đèn leo lét. Anh nhìn những con muỗi cỏ bay trên lửa bấc và giẫy giụa trong đĩa dầu. Anh lại nghĩ đến bà con, họ hàng làng xóm đang giẫy giụa như bầy muỗi kia trong lũy tre bao kín, có lẽ giờ đây đang cháy ngút như ngày nọ anh đã đứng nhìn khói lửa rừng rực ở Mỹ Hào và Phố Vàng.


Anh gục đầu xuống gối thở dài. Chị Xã cựa mình ho. Anh biết vợ anh kể từ ngày ra đi, không đêm nào ngủ được bởi nhớ thương bố và em còn ở lại nơi đất chết.


Nhìn vợ co tròn trong lá chiếu với lũ con, anh Xã lại thở dài.


Bỗng đứa bé con nhà Lý Còng khóc thét lên. Chị Lý ngồi dậy ôm con, khẽ vỗ ru. Nó càng khóc lặng, rồi giẫy trên tay mẹ. Bà cụ nhỏm dậy, đến sờ vào trán đứa bé. Nó sốt nóng bừng bừng, càng khóc dữ, ưỡn trên tay chị Lý.


Bà cụ lo lắng bảo:


- Nguy rồi, thằng chó bị sài đây.


Lý Còng nghe nói vậy, vùng dậy hoảng hốt:


- Sài ư? Trời đất ơi, làm thế nào hả cụ?


Bà không đáp, đứng lên quay vào trong hậu cung cửa sơn long lở đóng kín, dễ từ lâu không còn hương khói, bà lâm râm khấn vái.


Đứa bé càng khóc càng rướn trên tay mẹ. Lý Còng kêu khổ luôn mồm, anh bứt tóc bứt tai, đứng lên ngồi xuống như điên dại:


- Chỉ tại con khỉ kia nó làm rơi thằng bé xuống sông, nó giết con tôi. Sài đẹn ở đây thì làm gì có thuốc, đành là chết!


Bà cụ thôi lễ quay ngay lại:


- Phỉ phui nào, việc gì mà chết. Đợi sớm mai chạy ra phố núi mà mua thuốc. Ban chiều đi qua đấy, tôi đã trông thấy hai ba hiệu to như hiệu khách ở phủ Thuận mình. Số nó sống thì nó gặp thày gặp thuốc, can gì mà cuống quýt lên.


Vợ chồng Xã Bèo cũng xúm xít quanh đứa bé, cùng sực nhớ lại những ngày thằng Đanh, thằng Đá bị sài đẹn thế này, vợ chồng anh đã lo sợ suốt đêm, cho đến khi con khỏi thì bố mẹ quay ra ốm vì bỏ ăn thiếu ngủ.


Đêm về khuya, gió lại nổi, thổi cái lạnh giá buốt vào trong gian đền hoang. Ngoài đồi quằn quại gió, một con chim lợn vút bay ngang, buông vào bóng đêm mấy tiếng kêu gở khiếp. Chị Lý ôm chặt con vào lòng, thốt rùng mình. Chị nắm lấy tay bà cụ run giọng hỏi:


- Cụ nghe thấy gì không?


Bà cụ gật đầu, không nói. Bà lại đứng lên, quay vào trong cung khấn vái.


Ở sau lưng bà, hai người đàn ông lặng nhìn nhau, lo sợ. Họ cùng tin cái điềm chim lợn bay kêu trên đầu người ốm là điềm báo chết, trăm lần đúng cả trăm.


Đứa bé không khóc to được nữa. Bây giờ trở bệnh, nó vừa rên vừa rướn, chân tay co quắp, miệng giật méo một bên, mắt đảo ngược toàn lòng trắng.


Đĩa đèn cạn hết dầu, sợi bấc cháy khô lại, không còn dầu mà đổ vào đĩa nữa. Tối như bưng mắt. Tiếng chị Lý nức nở lẫn tiếng đứa bé sài rên.


Đêm dài dằng dặc. Gió khuya bứt lá giào giạt đổ ngoài đồi. Đôi trâu đói lạnh không ngủ được, phục bên chân tường, hùng hục thở và quật đuôi sua muỗi cỏ.


Gà gáy ở xóm đồi đâu đó. Xã Bèo vẫn ngồi tựa vào cột gạch, ngủ thiếp đi. Chợt anh mở mắt, quàng quáng đứng lên chạy ra ngó đôi trâu. Hai con vật đang gối vào nhau ngủ. Anh quay vào, ngao ngán nhìn mọi người nằm co quắp, tóc rối đầu bù, áo quần nhem nhuốc. Chị Lý ôm đứa bé đã ngủ yên, chị cũng ngủ ngồi, miệng há ra vì nhọc mệt.


Anh ngồi hút thuốc, rồi hai tay thu bọc, nhìn ra ngoài trời đang nhạt loãng. Đồi gần, núi xa, đồng ruộng, mấy mái gianh thấp bé ở bên kia bãi ngô bát ngát hiện ra mờ mờ.


Sáng rõ, bà cụ hé chiếu ngồi lên. Không nói với ai, bà vội vã ra phố núi. Trời rét buốt, bà chập choạng bước nhanh, mấy lần suýt ngã. Đến hiệu khách, người ta chưa mở cửa. Bà không dám gọi, đi loanh quanh ngắm nghía. Dẫy phố nhà gạch kiểu mới chạy dài san sát, nhà nào thềm cũng cao. Đầu phố là con đường dốc, những cây thông chạy dài thẳng tắp lên mãi tận tòa nhà tây hai tầng chót vót. Bà ngơ ngác đoán là dinh tòa gì, bà chắc chả ai dám đến gần. Đứng sau một gốc cây, bà nghé nhìn lên một cách sợ sệt.


Một người đàn bà trong một nhà mở cửa bước ra đường. Bà cụ hỏi khẽ, gần như nói thầm:


- Bẩm cụ, dinh tòa quan lớn nào mà to thế ạ?


Bà ta vén áo ngồi đái xong mới đáp:


- Trước kia là dinh ông phủ, bây giờ là tòa án của Uỷ ban.


Bà ta quay đi, nhưng lại đứng sững nhìn bà Xã:


- Bà hỏi làm gì?


- Nhà cháu mới đến đây, thấy đẹp thì hỏi cho biết.


Bà ta thấp giọng nói:


- Không có việc gì thì tôi bảo thật, bà chớ đừng lởn vởn chỗ người ta làm việc. Ấy vừa hôm qua, có một bọn mới tản cư lên, không biết bị nghi ngờ là vẫy tàu bay tàu bò gì mà bị bắt lên Công an đấy. Các ông ấy tha rồi, nhưng là tha tạm để điều tra kín. Có gì khả nghi là họ tóm ngay, chứ họ chả quên đâu. Ở trên này, ghê lắm, chỗ bà con, tôi bảo thật.


Bà cụ xanh cả mặt:


- Vâng, cụ thương mà bảo thật cho là may lắm. Chúng tôi còn lạ nước lạ cái, biết thung thổ ra sao.


Bà kia quay vào khép cửa. Bà cụ vội quay trở lại. Bà đi qua chợ. Hai dẫy chợ xây gạch, bó thềm cao nhất, có nhiều bậc bước lên. Bà sực nhớ lại hình như ngày còn mồ ma ông Xã Bèo, đã một lần, ông qua đây rồi rẽ sang Bố Hạ mua cam giống về trồng. Ông Xã đã kể chuyện chợ Nhã Nam to lắm. Thế mà thực không ngờ, cái chợ mà chồng bà kể chuyện từ hai mươi năm xưa, bây giờ lại có thể ở ngay trước mắt bà.


Bà đến hiệu khách. Người đàn bà Tàu hé cửa. Thím khạc đờm nhổ qua mặt bà ra vỉa cống. Cục đờm theo giòng nước rãnh đen ngòm trôi đi. Con chó ghẻ ở trong cánh cửa chui ra đuổi liếm cục đờm rồi vẫy đuôi chạy lại nhẩy lên liếm bàn tay mụ đeo hai ba chiếc nhẫn.


- Bà mua thuốc gì?


Bà kể bệnh con chị Lý.


- Được rồi, nói qua qua là tôi biết. Chỉ một viên, nó khỏi ngay, không làm sao hết!


Mụ quay vào rồi quay ra ngay, đưa bà Xã một gói giấy vuông:


- Mười đồng, thấy bà nhà quê, tôi lấy rẻ.


Bà rụng rời chân tay, bước lùi khỏi bậc thềm:


- Thưa thím…


Mụ ta cong cớn:


- Ai là thím, bà này nhà quê lắm.


Bà cụ vội vàng chữa ngay:


- Thưa bà, xin thương cháu bé, chúng tôi nghèo không có đủ mười đồng.


Mụ Tàu giật ngay gói thuốc, quay phắt vào, khép cửa.


Bà gục đầu đi. Buồn bã bà lại rảo bước quay lại con đường lồi lõm xuyên qua đồng lúa về ngôi đền khuất ở chân đồi cách đấy hơn cây số.


Về đến đền, bà thấy “các ông ấy” của Ủy ban đã tề tựu ngồi làm việc.


Thằng Cõn thập thò sau tường, chạy ra vẫy bà vào sau miếu. Dưới một gốc cây, chị Lý ẵm con, nước mắt chảy đầm đìa.


- Cháu nó làm sao thế này, cụ ơi! Từ nãy lên cơn sài uốn ván một lúc, rồi lịm đi thế này.


Bà cụ nhìn đứa bé, kêu lên:


- Hỏng mất rồi, ẵm con trên tay mà không biết gì cả. Khổ chưa trời đất ơi!


Chị Lý khóc rống lên. Thằng Cõn sợ hãi, không dám đến gần em, đứng cách xa mà hu hu khóc.


Ở trong đền, Lý Còng và Xã Bèo đang đứng chắp tay chờ đợi ông chủ tịch đến ký giấy cho mình. Nghe tiếng khóc, hai người chạy vội ra sau tường. Lý Còng ngồi thụp xuống nhìn con rồi gục xuống mặt đứa bé mà nức nở.


Một lát Xã Bèo khẽ nói:


- Số cháu nó không được làm người thì thôi, khóc cũng không sao được nữa. Để tôi vào trình Ủy ban rồi xin phép chôn cất ngay đi vậy.


Anh quay ra. Một con ngựa nâu thấp bé lon ton ở trên đường chân đồi rẽ xuống, nhạc kêu nhong nhong. Trên yên ngựa, một người quãng tứ tuần, mặc áo tây dạ tím, lưng đeo giây da gài đạn, bên đùi lõng thõng bao da đựng súng lục, quần vải nâu nhét vào đôi “bốt” Nhật.


- Ép! Đi đâu mà liều thế?


Anh Bèo quáng quàng bổ ra suýt đâm vào đầu ngựa. Nghe tiếng gắt, anh giật bắn mình, lùi lại, vấp vào cái rễ cây mọc nổi trên mặt đất, ngã ngửa ra. Đầu anh đập vào hòn đá, máu vọt sũng chân tóc bò xuống cổ. Anh quên đau, bước đến bàn giấy của các ông làm việc, chắp tay kể lể sự tình.


- Phiền quá nhỉ, thế thì chôn! Các ông tự liệu cũng được rồi. Trẻ con, chôn ở chỗ nào cứ việc chôn ngay đi.


Ông chủ tịch bảo thế rồi ngồi xuống ghế, giở thuốc lá hút. Ông thở khói, ho một cách khó nhọc để tỏ rằng ông làm việc nhiều, lao lực quá. Bỗng ông ngoảnh ra bảo một người:


- Này, anh đi cắt lá tre cho ngựa ăn nhá. Cắt rồi rũ phơi một chốc cho hết sương. Hôm nọ ăn lá tre sương, nó đau bụng phải nhờ ông thú y chữa mất hai trăm đấy.


Nói đoạn, ông ngồi móc túi lấy ra con dấu, ấn vào hộp mực son, rồi cong hai ngón tay sần sùi dí con dấu xuống tờ giấy chữ nghĩa lèm nhèm.


Anh Bèo len lén quay ra, rồi cùng Lý Còng hai người lẳng lặng cầm mai cuốc leo lên đồi cây rậm.


Một lát, huyệt đào xong, anh Lý xuống bọc xác đứa hài nhi vào mảnh chiếu, ẵm lên đồi. Chị Lý khóc rũ rượi. Bà Xã, chị Xã và anh em thằng Đanh, thằng Cõn lủi thủi bước theo sau. Thấy động, mấy con liếu điếu cong đuôi xòe cánh bay chuyền sang đồi cây bên cạnh, làm rụng vài cành lá xuống sườn đồi đầy son vụn và hoa hạt rẻ nhọn sắc như gai.


 


II- Người ta đã cấp giấy cho bọn Xã Bèo đến ở tại xóm Dã, cách phố Núi độ năm cây số.


Đây là một thôn xóm vắng teo, chừng mươi nóc nhà gianh lụp xụp. Con sông máng từ miền thượng du chảy về, nước cạn trơ lòng đất núi, váng xanh phủ lầy nhầy. Rừng lim, trám mọc cao vút trên đồi rộng, yên tĩnh suốt ngày đêm. Gần xa, bao bọc sơn thôn này là đồi dẻ và đồi cước.


Bọn Xã Bèo cả người cả vật đông lúc nhúc, vào đâu người ta cũng hãi, nhưng sau cùng họ cũng được một nhà chịu chứa. Chủ nhân là một người tàn tật, bộ đùi hình như không có xương, mềm nhũn và bé như đùi trẻ hài nhi. Lúc nào gã cũng ngồi dưới bếp bên tấm liếp, yên lặng chẻ tre đan rổ rá. Thỉnh thoảng nghỉ tay, gã lại ngẩng nhìn cái tổ ong mật làm bằng một khúc cây lớn đẽo tròn và khoét rỗng treo trước mặt.


Căn nhà vách đất núi và mái cỏ rừng này làm theo kiểu nhà mạn ngược, thấp và nông lòng. Gã không còn cha mẹ, chỉ có mụ vợ Thổ áo tràm, răng cải mả, tóc rối bồng, mắt lúc nào cũng đỏ sọng giương nhìn hết mọi người. Tên gã là Rõi. Vợ chồng Rõi ở một buồng nhỏ. Cả ngày, chị vợ vào rừng chặt cành cây làm củi, gánh ra chợ bán kèm với dăm chiếc rổ rá của anh chồng đan rất khéo và nhanh.


Bọn Xã Bèo, những ngày đầu, lấy làm dễ chịu vì được chiếm cả hai gian nhà trên, cả gian bếp cạnh cái giếng sâu đến ba bốn con sào.


 Sang ngày thứ hai, bà cụ thả đàn gà ra sân. Vẫn như mọi khi, việc thả gà phải là công việc của bà, vì những con gà bà thả đều chỉ quanh quẩn kiếm ăn gần nhà, không bao giờ lạc mất. Để làm phép, bà lấy kéo cắt lông đuôi lông cánh chôn xuống dưới chuồng. Bà bảo làm thế thì gà không quên ổ. Anh Bèo, một buổi sáng bảo con rót nước mời vợ chồng bác Rõi, rồi ngồi nhìn lũ gà ngơ ngác trên sân. Chúng nhìn chung quanh một lúc rồi mới tha thẩn đi tìm sâu bới bọ trên đất mới. Anh nhìn lũ trẻ giắt trâu ra. Nhà ở đồi cao, đôi trâu phải khó nhọc bước xuống nhiều bậc đá.


Người vợ bảo chồng:


- Phải nghĩ cách thế nào mà kiếm gạo, chứ nghỉ ngơi đã ba bốn hôm nay rồi, có ít tiền hết cả thì khốn lắm.


Xã Bèo nín lặng, Lý Còng cầm chén nước nóng lên, di di chiếc chén vào mi mắt toét đầy rử. Rồi anh chậm rãi uống. Nước trôi vào cổ làm nhấp nhô cuống họng lộ hầu. Nhìn ra ngoài rừng cây còn trắng trong sương sớm, anh cất tiếng lè nhè như cái thói quen của anh khi chưa có rượu và khi đã có rượu rồi:


- Tôi tính, ta hãy tấn công ngay bằng cách kéo cả vào rừng mà lấy củi. Xem ra ở chợ, củi bán được nhiều, mà quái nhỉ, ở đồng xuôi vẫn cứ tưởng ở miền rừng thì củi rẻ, thế mà tôi thấy người ta mua những bảy tám đồng một gánh củi tươi không lấy gì làm nặng lắm.


Anh Xã chặc lưỡi, thói quen, hễ bàn chuyện gì với vợ là anh phải chặc lưỡi:


- Ừ thì đi kiếm củi, thử thay nghề xem nào.


Chị Lý mắt đã đỡ sưng vì khóc con, đứng ngoài sân nói qua tấm liếp:


- Biết lấy củi ở rừng nào. Mình còn bỡ ngỡ, nhỡ ra thì khốn.


Chị Rõi nhe hàm răng vẩu cải mả, nói như là khóc:


- Các bá cứ theo tôi. Không có gì mà nhột. Người tản cư vào rừng kiếm củi ối ra, chả riêng các bác.


Bà cụ cũng chêm vào:


- Rừng đây có hổ báo gì không ạ?


Anh Rõi, từ ba bốn hôm nay, trừ cái câu anh nói đầu tiên là dặn tất cả mọi người đừng ai mó máy vào tổ ong, đến lúc này mới ngẩng lên nhe răng cười, ngoảnh về phía bà cụ đang quét nhà dọn ổ rơm cho gọn ghẽ. Nhưng anh nói líu ríu như tiếng chim, không ai hiểu. Chị vợ thông ngôn lại:


- Làm gì có cọp. Trước kia cơ, ở vùng đây cọp về luôn. Chính trên sân này, một đêm có con cọp to lắm đứng rình bắt lợn. Chúng tôi đánh gõ nồi niêu, thúng mẹt, đuổi được cọp đi. Thỉnh thoảng cọp mới về, còn hươu nai thì khối.


Bọn Xã Bèo cùng chị Rõi giắt dao vào rừng. Họ đi men bờ sông máng. Hôm nay nước máng được tháo về tràn ngập, đôi bờ có những bụi sim dại hoa tím xẫm và những búi hoa bướm, hoa mua. Tiếng chim nhặt khoan vọng từ đồi này sang đồi khác. Sương lạnh loãng dần. Trời vàng trong và cao. Muôn vàn bông hoa dẻ sắc như kim phủ khắp mặt đường cát sỏi làm đau buốt bàn chân, bọn Xã Bèo kêu ôi ối. Chỉ có chị Rõi quen gai sắc, cứ bước như thường.


Đồng ruộng bao quanh các đồi cây. Bọn Xã Bèo vừa đi vừa ngắm nghía. Chị Xã nhìn qua ngọn đồi cao, giọng buồn rầu:


- Chả còn thấy quê mình đâu nữa. Cách bao nhiêu là núi sông rồi nhỉ!


Chị Lý toan đáp, nhưng lại thôi, cúi xuống thở dài.


Anh Xã đi sau cùng, nói vẩn vơ:


- Ruộng trên này xem chừng phải ăn nhiều phân tro lắm mà không tốt như lúa đồng ta.


Bà cụ ngao ngán nói:


- Chuyện, bì thế nào được với đất vùng mình.


Lý Còng bỗng trở nên lo lắng:


- Mà cỏ ở miền này cũng khan hiếm quá. Toàn đồng khô, bãi trụi, núi cằn. Phen này thì đôi trâu chỉ còn xương bọc da thôi.


Câu nói ấy khiến cả bọn thở dài, im lặng bước. Họ đã vào rừng. Chị Rõi chặt cây bẻ cành phăng phăng, rất khỏe, rất nhanh. Mọi người theo chị Rõi làm việc. Đến đầu ngọ, nắng lên làm sáng cả cánh rừng. Anh Bèo kêu mọi người nghỉ tay.


Chị Rõi cắt giây leo làm lạt, vừa bó chặt củi vừa cười:


- Các bá đã ăn trứng kiến bao giờ chưa?


Bà cụ cũng ngừng tay, moi miếng trầu ở cạp váy ra ăn:


- Lại còn cái món lạ thế cơ à? Chúng tôi ở đồng ruộng tìm đâu ra trứng kiến, chỉ mới ăn trứng quốc thôi.


Chị Rõi chỉ lên một cành cây:


- Kia, trứng kiến vàng bám trên cành lá, lấy về xào với hành mỡ, uống rượu thì ngon lắm.


Lý Còng đang ngồi ngả đầu vào gốc cây thở nhọc mệt, nghe nói đến món nhắm rượu, mở choàng mắt ra ngay:


- Thích nhỉ. Thế thì bác chỉ chỗ nào có trứng kiến cho chúng tôi cùng lấy. Từ thuở mọc làm người, tôi chưa nghe ai nói đánh chén với trứng kiến bao giờ.


Chị Rõi trèo ngay lên cây. Chị trèo nhanh như loài khỉ, thực là có máu người rừng. Chị vươn mình bẻ một cành lá rũ mạnh cho những con kiến kềnh vàng mầu sáp ong rơi xuống đất. Chị nhặt một tảng trứng trắng nõn, bé bằng hạt kê, bỏ vào cái rọ nhỏ mà hôm nào đi lấy củi chị cũng đeo bên mình để đựng trứng kiến làm món ăn hàng ngày.


Mọi người bắt chước, đi tìm trứng. Rất nhiều, cây nào cũng có. Riêng Lý Còng lấy được nhiều hơn mọi người, hơn cả chị Rõi chuyên nghề, là vì mới nghe nói anh đã thấy thú cái món nhắm này rồi. Anh cũng trèo cây, cũng chuyền cành, rồi cởi phăng chiếc áo cánh nâu mặc ngoài ra gói trứng.


Mọi người đã đói. Bèo ngẩng lên, trông thấy trên đỉnh núi cao một ngôi đền cổ.


- Bây giờ ta lên xem đền, ăn cơm nắm, nghỉ một tí đã.


Họ lên đền. Cảnh tượng hoang phế, mái trống tường rêu, bát hương giăng mạng nhện khiến bà cụ và chị Lý rùng mình. Họ lại khấn vái, tưởng như bóng vía thánh thần ngay trước mắt. Tiếng chân người và tiếng Lý Còng ho khiến mấy con dơi trên xà gỗ loạng choạng bay vụt ra.Trong bục gạch sụt gần quá nửa, một con rắn cạp nong trườn mình chui qua khe tường nứt biến ra ngoài.


Họ ngồi xuống, giở cơm nắm ra ăn. Nghỉ một lát, họ lại làm việc cho đến mãi gần chiều mới ra về.


Tối hôm ấy, Lý Còng đau ê ẩm cả thịt xương vì làm việc nặng, nhưng cái món trứng kiến xào nhắm với chai rượu mà anh bắt thằng Cõn lùng mua cho được ở hàng cơm ngoài chợ đã khiến anh bắt đầu thấy cái thú tản cư:


- Ừ, từ ngày để chỏm đến lúc có râu mà cứ ru rú ở làng không đi đâu một bước thì còn biết trời đất thiên hạ ra sao nữa. Mẹ kiếp, đốt bố nó cả nhà, bỏ cha nó cả đất, sống bệ rạc nhờ vả thế này khổ thì khổ thật, nhưng mà đã được trông thấy rừng thấy núi, đã được ăn trứng kiến, kể thì cũng thích, có phải không a, bác Xã!


Xã Bèo cũng vừa cao hứng tợp vài hụm rượu:


- Cái đó đã đành. Mấy hôm đầu, mình còn thấy khổ sở tức bực, nhưng rồi cũng quen đi. Không loạn, mình còn cơ hội nào mà lưu lạc đến cái xứ này. Từ thuở bé đến giờ chỉ biết loanh quanh từ cổng nhà ra ngoài ruộng, rồi lại ra đình ầm ỹ thịt với sôi. Cứ thế mãi cũng chán, già đi, rồi chết, tò te mấy tiếng đưa ra cái mả.


Lý Còng khoái trí cười sằng sặc, khen phải, và để nhắm câu nói chí lý ấy, Lý ta ngửa cổ nốc luôn một chén đầy.


Cây đuốc nhựa thông cắm giữa nhà, chiếu ánh sáng đỏ và khét lẹt khắp ba gian hẹp. Bên tấm liếp, anh Rõi vẫn ngồi như vậy suốt từ mờ đất, cắm cúi đan rổ rá, thỉnh thoảng lại ngẩng lên nghe tiếng vo vo của con ong về muộn. Mắt anh chớp chớp mấy cái. Chỉ một mình anh hiểu rằng tên lính đi vận tải mật hương kia bỏ đàn về trễ, đang bị lũ ong gác tổ lên tiếng mắng và báo tin vào nội cung cho ong chúa biết.


Miệng anh Rõi cười méo mó, rồi lại cúi xuống thoăn thoắt đưa sợi tre mềm vào những sợi ken ngang dọc.


Ngọn đuốc nhựa lúc sau tắt hẳn. Mọi người đi nằm. Trong khi ấy, anh Rõi vẫn ngồi yên như thế. Anh ngủ ngồi suốt cả một đời tàn tật. Đầu anh tựa vào cái cục gỗ lót bông mà, quen lệ, cứ tối đến chị vợ mới bưng ra.


Sớm hôm sau, chị Xã, chị Lý dậy theo tiếng gà gáy, nấu cơm. Bà cụ cũng tung chiếu ngồi lên. Gió rét suốt đêm qua từ con sông máng đồng khô trũng thấp, thổi bốc lên gian nhà lá trên đồi cao làm bà co rúm không sao chợp mắt. Có chiếc chăn chiên mỏng, bà nhường cho cháu rồi. Mở mắt ra bà đã thấy anh Rõi cắm cúi đan rổ rá, tay làm thoăn thoắt, âm thầm và kiên nhẫn như guồng khung cửi quay đều. Việc đầu tiên, bà ra ngay sau bếp xem chuồng gà. Bà lấy mắt điểm kỹ rồi thốt kêu lên:


- Cha bố nó, hụt mất đôi mái mơ rồi! Thế có chết tôi không, công gánh từ làng lên mãi tận đây vậy là công cốc.


Chị Rõi đang đứng thả gầu xuống giếng nước sâu, tất tả chạy đến chuồng gà.


- Bà cụ ơi, đúng là cầy cáo nó tha mất rồi. Nó ở chân núi kia, đêm nào chả mò đi các nhà tìm gà vịt. Khổ quá, cháu quên mất không bảo cụ nhốt gà vào bu mà đem để ở trong nhà.


Chị Xã đang vần cơm, ngồi tiếc đôi gà, chị không nói ra nhưng nghĩ bụng:


- Đem ra chợ bán quách đi là chắc.


Bà không nói với chị Rõi, không nói với con dâu, tuy vậy bà cũng nghĩ như người con dâu: “Bán cả đi cho xong, nuôi gà trước miệng cáo cầy thì dại thật”.


Bữa cơm hôm ấy lại ồn lên câu chuyện bán gà.


Lý Còng ngồi mâm bên, giốc nốt tý rượu còn sót trong vỏ chai, nói trõ sang:


- Không bán, nó cũng ngã nước chết toi phí của. Ở miền này, người còn ngã nước mạnh, nữa là gà.


Nghe câu “ngã nước”, mọi người đều thấy lo sợ, họ cúi xuống ăn cho xong bữa, không nói gì thêm nữa.


Rồi đó, cả đoàn quảy gánh củi xuống núi, ra chợ bán. Chị Rõi gánh rổ rá đi trước.


Lũ trẻ đánh trâu xuống đồng. Chúng cũng bắt đầu thấy tản cư là thú vị. The hồ trèo núi, xem rừng, đánh khăng trên sườn đồi vắng, tha hồ hát. Chúng dự định rồi mai kia mùa hè, chúng sẽ làm cái diều rõ to đứng trên núi cao mà thả, chúng sẽ tha hồ tắm lội sông máng, ăn sim, bắn chim nữa, nếu chúng góp được tiền xuống chợ mua mỗi đứa một đôi giây cao su.


Thằng Cõn bàn chưa có giây cao su hãy tạm dùng ống sì đồng vậy. Nó có tài thổi ống sì đồng bởi nó là học trò anh Bếp Năm. Hồi ở làng, nó đã kiếm được khá nhiều chim đem về cho bố đánh chén. Tất cả cái chương trình to tát ấy khiến lũ trẻ quên cánh đồng quê hương và lũy tre làng. Nhưng chúng thương cha mẹ độ này vất vả, gầy đi nhiều quá. Chúng thương cả đôi trâu độ này kém cỏ, kém rơm, cũng gầy trơ xương xảu.


Lũ trẻ đánh trâu sang bên kia đồi tìm đồng cỏ khác, trong khi đoàn người gánh củi, gà, và rổ rá rảo bước tiến về chợ núi.


Chợ còn thưa thớt người. Nhưng khói bếp hàng cháo thịt, bún riêu và nhất là mùi chả chó đã bốc lên trong gió sớm. Lý Còng gò xương vai quảy gánh củi tươi, nặng nhọc bước từng bậc lên khu núi dành riêng cho hàng củi, hàng gà vịt.Mùi chả chó đưa vào mũi Lý Còng. Anh nuốt nước bọt, và đổi gánh vai, kéo vạt lên lau mồ hôi, tuy trời rét.


Chợ đã đông người. Vì là phiên chính, và muốn tránh nạn phi cơ đi đánh sớm, người ta mua bán vội vã để còn ra về.


Hàng củi đắt ngang hàng thịt cá. Bọn Xã Bèo không ai bị ế hàng. Bà cụ ngậm ngùi tiếc đàn gà. Bà nhìn theo người ta xách bu gà ra khỏi chợ, Lý Còng rẽ đám đông người, đến ngay hàng rượu. Nhưng anh chưa kịp ngồi ăn uống vụng vợ con, đã có tiếng cồng vang trên chòi canh đỉnh núi. Sóng bể người lại ào vỡ. Cô hàng rượu toan chui xuống hố đào dưới chõng tre. Lý Còng cuống cuồng, nhưng cũng moi cái vỏ chai trong áo ra cố níu cô hàng rượu lại, nài bán nửa chai rồi mới đâm đầu chạy.


Lại như bữa nọ, anh nhẩy xuống rìa ao đứng; nước nông chỉ ngập đến bụng.Hai chiếc phi cơ dồn dập xé trời tiến đến.Anh Còng ngụp xuống, chỉ để hở lỗ mũi lên đám bèo lúc nhúc đàn đỉa đói và lá rau, rác rưởi người ta vừa đổ xuống.Phi cơ lượn một vòng lại đi ngay. Lý Còng ở dưới nước ngoi lên, ướt như bị đắm thuyền. Mấy cô gái Thổ nhìn anh Lý cười khúc khích. Anh xấu hổ, lủi về trước, không tìm ai cả. Anh vừa chạy vừa rét run cầm cập, nhưng hai tay vẫn giữ chặt chai rượu và gói thịt chó sũng nước ao, trong đó vừa có mấy con đỉa hẹ chui vào lẫn cùng với thịt.


 


CHƯƠNG BA


I- Cứ như thế, ngày lại ngày, cánh Xã Bèo sống buồn tênh nơi đất khách.


Họ gầy đi vì lo buồn, sợ sệt ngày mai không biết sẽ thế nào. Áo quần rách nát dần mòn, vá tối nay lại rách mai, rồi thì chán đến nỗi không cần vá nữa.


Một sáng, Xã Bèo lom khom thả gầu xuống giếng, lấy nước lên rửa mặt. Nước trong veo trong lòng chiếc chậu sành in lờ mờ gương mặt võ vàng, hốc hác. Anh nhìn đôi mắt trũng, gò má giơ xương, râu tóc mọc dài như chổi rễ của mình mà buồn. Từ ngót hai tháng nay anh vẫn chẳng thiết đặt chân đến thợ cạo. Còn sung sướng nỗi gì mà râu tóc bảnh bao. Ngày ngày đi đẵn củi rừng làm cái nghiệp chú tiều, tối về nằm co nhớ nhà nhớ đất, - chao ôi, đất! - đất là xương là máu của đời anh. Vậy mà anh đã bỏ lại xương máu ấy ở quê hương. Biết đến bao giờ mới thấy. Mấy đêm nay, Xã Bèo nằm vắt tay lên trán nuôi cái mộng ngày mai người ta cho anh đất. Con trâu từ lâu bỏ vai cầy, chắc là thèm mùi đất vừa cầy lật lắm. Anh, vợ con anh, từ lâu xa luống cầy, gốc mạ, hương lúa chín, cũng thèm đất như trâu.


Lòng sôi vì đất, anh rửa mặt qua loa rồi vào bếp đứng nhìn những chiếc cuốc, cầy mà anh đã mất bao công mang theo, hiện chúng rỉ cùn trên giá bếp, không được đất mài rũa nên đành cho bồ hóng hun đen.


Chị ngao ngán thở dài:


- Bố nó không đi ngủ à?


Anh không đáp.


- Hay chửa, sao lại lù khù thế kia? Bố nó nghe trong mình ra sao, hay là ốm?


Anh chồng vẫn đứng yên. Anh đang nhìn con trâu nằm bẹp, mắt nó đỏ ngầu lim dim nghếch nhìn anh. Rớt rãi ở mép, ở mũi chẩy ra, nó đã ốm vì thiếu cỏ. Da con vật trước kia đen nháy, bây giờ đổi ra vàng trụi và hình như mỏng hơn, lộ rõ bộ xương.


- Bố Xã không đi củi, đứng làm gì thế?


Bà cụ ngồi trong bếp đun củi ướt khói mù, vừa lau nước mắt vừa hỏi con. Nhưng anh vẫn chẳng nói gì. Không ai biết rằng anh đang khóc, anh cố nén tiếng nấc của lòng đau nhớ đất, thương trâu, thương mẹ, vợ và con, thương cả đời mình.


Chị Lý Còng rụi lửa, bắc nồi canh bánh đa ra. Mấy hôm nay chị đã đổi nghề, không đi củi nữa. Chị quay về cách xoay sỏa như hồi ở quê nhà, làm quà gánh ra chợ bán. Hôm thì cháo trai, cháo hến, hôm thì bánh rán, bánh chông chênh, chưa phiên nào bị ế nhiều. Anh Lý vốn ngại làm và quen nằm cho vợ con nuôi. Anh đã thấy sợ cái cảnh sầy vai gánh củi, gai đâm cỏ cứa thịt da, mà kiếm chẳng đủ no lành. Mấy hôm nay chị Lý đổi nghề. Ấy thế mà ra khá.


- Bu mày chịu khổ tảo tần cho tớ nghỉ ít ngày, chứ đi củi khổ bỏ cha, ai mà chịu được mãi.


Chị Lý vốn chiều chồng. Bảo rằng sợ thì mới đúng. Từ ngày bỏ làng ra đi, chị chưa bị đòn chồng, chứ ở nhà mà rượu nhạt, đậu ôi, thịt sề, cá bé, chị lại là cây thịt cho ông chồng đánh, tát “Thôi cũng được, miễn ông ấy nằm yên cho. Vô phúc ông ấy trở chứng, liều trở về làng thì khốn” - Chị Lý thường nghĩ vậy để cam đành cái kiếp nợ chồng con. Chị sửa soạn quang gánh, sắp quẩy hàng xuống chợ.


-          Ơ hay, bố thằng Đanh có đi thì bảo. Nghe người khó chịu thì đi mà nằm, đứng làm gì đấy!


Anh quay ra. Người vợ trông thấy nước mắt chồng còn ướt má. Chị thở dài, ôm mớ áo quần ra bờ giếng giặt, nhìn về ngọn núi cao chót vót mà nước mắt chứa chan. Ngay lúc ấy, ngoài rừng, con chim “bắt cô trói cột” kêu trong sương mù. Thằng Đanh ngồi bó gối chờ cơm, thầm thì với em:


- Hay nhỉ, ở trên này cũng có “bắt cô trói cột”.


Thằng Đá ngây ngô nói:


- Chắc nó ở quê mình bay lên đây. Hay nó theo mình.


Thằng Đanh bắt bẻ:


- Nó biết đâu mà theo mình.


Thằng em quả quyết:


- Sao lại không theo! Ông trời cũng theo mình, đố biết?


Thằng anh trợn mắt nhìn em:


- Mày nói như ông thánh ấy. Ông trời nào theo mình. Ông ấy theo mình mà mình đói rách bỏ cha!


Thằng Đá chỉ lên trời:


- Thế sao cứ buổi trưa, buổi chiều là y như thấy một đám mây trắng trên kia. Mây giống mây trên bụi tre vườn nhà ấy. Ông trời không đấy thì đâu?


Chuyện hai trẻ khiến anh Xã lặng yên nghe. Anh nghĩ:


- Sống chết nhờ trời. Ông trời có mắt, chả đóng cửa mãi mình. Biết đâu ngày mai yên lành, hết loạn, mình lại về với đất của mình, lo chả đủ sức mà cầy cuốc.


Nước mắt khô hẳn và lòng nguôi nguôi gửi vào cái hi vọng mông mênh chớm nở theo lời trẻ, anh Bèo vào nhà làm điếu thuốc lào. Lý Còng thấy vợ xuống chợ rồi, lại trùm chiếu ngủ. Bên cánh liếp, anh Rõi cứ ngồi như tự bao giờ, chẻ tre đan rổ rá, không nói với ai, chỉ thỉnh thoảng ngừng tay nhặt củ khoai lang bỏ vào miệng nhai cả vỏ.


Xã Bèo thở khói, lơ mơ say, nhìn chiếc tổ ong treo gần anh Rõi. Trước cái lười của Lý Còng, anh nghĩ đến đức cần cù, chăm chỉ của bày ong ngày ngày chia quân vào rừng kiếm mật hoa, đem về tổ để dành, cắt đoàn đi hộ vệ chúa chơi xa, cắt lính canh giữ trại, thật là nghiêm cẩn. Chị Rõi kể thêm rằng những con ong nào già yếu, lười nhác, không trọng kỷ luật, bị bọn quân trai tráng khỏe mạnh khai trừ hay giết dần mòn cho kỳ hết.


Ngồi ngắm năm sáu con ong vừa gác cửa vừa vỗ cánh vo vo thổi gió vào trong tổ làm cho mật được mát tươi, anh Bèo lại nghĩ đến việc đồng áng cấy cầy, thèm ước những thửa ruộng mạ xanh ngắt, những ruộng lúa chĩu bông vàng được gặt hái quảy về đập trên sân, rồi thì thóc phơi nắng đổ bồ, quây cót, nhìn mà thích mắt.


Anh quay bảo vợ:


- Tôi không đi củi nữa, phải xin cái đất mà làm chứ. Tôi đi đây!


Nói rồi, anh bước phăm phăm xuống núi.


 


II- Xã Bèo đã được người ta cho đất. Anh mừng như trời cho của. Một buổi trưa ở phủ về, anh vui nói từ ngoài ngõ:


- Có thế chứ, đất cát là của ông trời chứ nào của riêng đếch ai mà giữ.


Nghe tiếng Xã Bèo về, Lý Còng thò đầu ra khe liếp. Trong khoảng tranh sáng tranh tối của nhà gian, cái đầu nhọn hoắt và cái mặt choắt chéo say khói thuốc lào của bác giống hệt đầu con thằn lằn say nắng thập thò giữa một khe núi đá. Lý hỏi to:


- Thế sao? Ăn thua chứ?


Bèo đáp:


- Sao lại chẳng ăn thua. Ông chủ tịch cho cầy ba mẫu. Nhưng mà…


Anh Xã ngừng lại, thoáng ý buồn, nhìn anh Rõi vẫn chẳng nghỉ tay đan rá rổ. Uống xong bát nước vối nguội tanh, anh nói:


- Nhưng lại phải dọn vào tận làng Dĩnh Thép cơ!


Bác Lý ngơ ngác hỏi:


- Dĩnh Thép ở về đâu nhẩy?


Anh Rõi ngẩng lên, tay vẫn đan thoăn thoắt:


- Ở gần Bố Hạ. Đang ở vui, ông đi thì buồn lắm.


Lý nói:


- Thôi, cứ ở quanh đây cho yên chuyện. Kiếm cái củi, bán cái quà, rau cháo xong thì thôi. Cầy cấy quá nửa đời người rồi, nay được dịp nghỉ xác thì nghỉ, cần gì. Biết đâu, mai có lệnh chiêu an, ruộng đất lại trả người, chán chết!


Xã Bèo cười nhạt:


- Kiếm củi là cách sinh nhai tạm bợ mà cũng chẳng phải nghề mình. Chỉ có đất cát mới nuôi được mình vững chãi. Các ông trên phủ nói còn đánh nhau lâu. Vậy phải cầy cấy mà nuôi thân chứ.


Buổi tối hôm ấy gia đình Xã Bèo thu xếp áo quần, nồi đất bát mẻ, chổi cùn rế rách, để ngày mai lại một phen nữa tản cư.


Vợ chồng Lý Còng sau một cuộc bàn tán thầm thì ngoài sân tối, xin ở lại nhà anh Rõi. Lý sẽ cứ ngày ngày nằm úp bụng trên giường xem anh Rõi vót nan đan rổ rá, và ngáp ruồi ngắm đàn ong sớm tối bay vo ve. Chị Lý thì vẫn theo nghề mọn bán quà các chợ. “Thế mà hay, tay làm hàm nhai, được ngày nào hay ngày ấy. Đất cát của người, làm quái gì cho ốm xác để rồi bỏ đấy mà bưng đít chạy”- anh Lý cho cái lý ấy là cứng lắm để bưng mồm chị Lý và lấp liếm tính lười nhác của mình. Chị Lý dầu sao vẫn băn khoăn. Không thạo việc làm đồng, nhưng chị lo nghề quà bánh này cũng chẳng bền, mỗi khi chợ vỡ vì phi cơ bay đến lại ế gánh về. Chị rất sợ tầu bay, chỉ mong được vào trong xó rừng nào yên ổn dù bị đói khát cũng còn hơn là hàng ngày vỡ mật vì tiếng gầm rú trên trời. Tuy nhiên nỗi sợ chết đói vẫn thắng cái sợ chết vì bom đạn. Chị Lý đành ở lại. Và chị vẫn xay bột làm bánh chông chênh như mọi bữa trong khi vợ chồng anh Xã rối rít xếp chiếu chăn, nồi bát vào quang gánh.


Bà cụ vừa thu xếp vừa lầu nhầu, tuy bà cũng vui như anh Xã từ lúc được người ta cho đất. Bà giúp con trai lấy cầy cuốc trên bếp xuống. Tay mân mê cái liềm cùn rỉ, bà sực nhớ đến hồi xưa, lưng còn thẳng và gối chưa chồn, bà đã dùng cái liềm này để gặt lúa thuê, cắt cỏ mướn, nuôi ông Xã rượu chè cờ bạc, ăn to nói lớn ở chỗ đình chung điếm sở, và đồng thời gây vốn cho vợ chồng anh Xã dựng nên mấy lớp nhà gianh mà bây giờ chiến tranh đã tàn nhẫn phá.


- Cái liềm thổ tả ấy bà cũng cố đèo đi làm gì thế? Vất nó đi cho nhẹ gánh.


Thằng Đanh nói vậy. Bà lườm cháu mắng:


- Cha mẹ mày, nứt mắt ra biết gì mà nói!


Thằng Đá bận việc cho gà vào bu. Đàn gà con lai giống gà Thổ, mới nở mươi hôm nay, đen như những hòn than nắm, rúc trong cánh con gà mẹ lúc nào cũng sợ diều hâu.


Ngoài rừng, chim đã hót trong sương sớm. Anh Rõi lại như chiếc thoi cửi đưa đều không mỏi mệt, nhanh nhẹn vót nan đan rổ rá. Nồi kê của chị Lý vừa chín trên bếp than hồng. Chị Xã thổi tắt ngọn đèn dầu vừa cạn trơ lòng đĩa, đầy xác muỗi và thiêu thân.


Cả nhà Xã Bèo gánh gồng, người và trâu, gà, chó cùng xuống núi.


Anh Rõi ngừng tay đan, nhìn qua kẽ rại đoàn người ra đi mà mấy tháng nay anh rất mến.


Chị Rõi và vợ chồng Lý Còng theo tiễn đến tận bờ sông máng, qua cầu mới chịu quay về.


Thằng Cõn, con bác Lý cũng lùa trâu cho ăn cỏ sớm. Nó họ trâu đứng lại đầu cầu bên này, nhìn theo bóng hai thằng Đanh, Đá. Từ nay xa cách, còn đâu cái trò chơi đánh khăng, thổi sáo trên đồi dẻ.


Con trâu thàng Cõn không buồn gậm cỏ, nó hếch đôi sừng nhìn con trâu bạn đang nặng nề cất bước theo con chó lài lũn cũn chạy trên đường ruộng, sau chân bà cụ. Nó hếch mãi sừng lên, kêu mấy tiếng liền, tiếng gọi đàn của đôi vật xa đồng cách núi khiến chị Xã bùi ngùi nhớ đến bố già, em nhỏ hiện đang sống nơi vùng tề xa thẳm, khuất chìm bên kia rừng lim, đồi chè, bãi cước này.


Đi xa chừng ba cây số, anh ngoảnh lại vẫn nom thấy ngọn lim trên đồi xóm Dã đang rõ hình trong sương tàn dưới nắng vàng.


Đến quá trưa, gia quyến Xã Bèo đã lạc sâu vào miền rừng rậm, họ bèn đỗ gánh, họ trâu giữa một sơn thôn, Ông chủ tịch là một người thiểu số, khăn tràm, áo bành tô kiểu nhà binh, ân cần đón tiếp Xã Bèo. Anh trình giấy và được sắp xếp ngay chỗ ăn ở, sau đó ba ngày, được người ta chỉ cho mấy miếng đất khô cằn, cỏ rậm rì, bao quanh một rặng đồi trụi thấp.


Bà cụ kêu lên:


- Đất thế này thì cầy cuốc làm sao được hả trời!


Anh đang say đất, hăm hở nói:


- Không làm sao cả! Tôi làm được. Thế này là phúc lắm rồi, còn mong gì nữa. Mồ hôi rỏ xuống, đá cũng phải mềm, nữa là đất đồi, sỏi núi. Tôi làm được!


Chị vợ lo ngại:


- Lấy nước đâu mà tháo vào ruộng?


Anh chồng nhìn quanh rồi méo miệng cười:


- Bu nó không nghe thấy tiếng suối ư? Thế là may lắm đấy, có nước là có thóc. Ta sẽ cố làm cả hai mùa, nếu dư sức thì cấy cả ba giăng. Bu mày phải tin ở mình mới được. Xưa nay mình lăn lộn với đất đã quen. Có bao giờ ngồi mát mà ăn được thóc.


Chị yên lặng nghe chồng nói, như mọi khi chị vẫn tin chồng chị rất kiên nhẫn trong công việc.


Thế là ngay buổi hôm sau, vợ chồng con cái Xã Bèo bắt đầu làm cỏ, vật nhau với cỏ ngập ngang đầu gối.


Công việc ấy đã chiếm mất mươi ngày mà đất vẫn chưa thành ruộng. Có lẽ xưa kia người ta đã đắp bờ cầy cấy một hai vụ chiêm gì đó rồi thì bỏ hẳn, vì đất rắn lại bị cỏ rừng mọc nhanh hơn lúa lép. Thêm ngót hơn hai mươi ngày nữa, vợ chồng Xã Bèo mới phạt xong cỏ trên hơn mẫu đất hoang.


Chị đã thấy hơi chán nản và lo lắng. Bụng chửa bây giờ vượt mặt, chị cúi xuống làm, đau buốt ngang hông, đến lúc ngẩng lên thì đầu váng mắt hoa. Vì thế, bệnh đau bụng như ngày còn ở quê nhà lại nổi lên dữ dội, nhưng chị vẫn cố giấu không cho anh biết. Chị thương chồng đến se lòng. Chị cũng thừa hiểu chồng vì tính anh hay làm, lại lo mẹ và vợ con đói rách nên cố lăn lưng ra với đất cát thiên hạ, mong đổi mồ hôi kiếm miếng cơm ăn. Nhưng ngót một tháng nay, chị biết cái hăng hái của chồng lúc ban đầu đã nhường chỗ cho nỗi nhẫn nại mệt mỏi hiện trong đôi mắt tối tăm kia, những khi anh họ trâu đứng lại để cúi nhìn những tảng đất không chịu cho mũi cầy sới rúc.


Cỏ cao níu giữ mũi cầy thép; sức trâu bỏ vai cày đã lâu ngày không sao kéo được cầy đi. Chị nhìn xương hông con vật đội lớp da xám bệch nhô lên theo mỗi bước nặng nề trên cỏ rậm, chị lại thêm thương chồng độ này cũng trơ cả xương sườn, xương vai vì nỗi bữa rau bữa cháo.


Trong khi ấy, người chồng gầy bước theo sau con trâu yếu, miệng tuy luôn luôn “vắt! họ!” nhưng mắt thỉnh thoảng nhìn vợ thai nghén nặng nề mà vẫn phải làm quần quật, anh thương đến không thể cầm nước mắt.


Thương vợ, anh thương cả mẹ già tối nào cũng mài liếc cái liềm cùn rỉ ngày xưa để giúp vợ chồng anh xén bớt cỏ cho lưỡi cầy và chân trâu đỡ vướng. Anh lắc đầu thương mớ tóc bạc và cái lưng còng lom khom lẫn với cỏ cao vừa cắt chiều nay, cách một ngày sau, chưa kịp cầy xới đến, đã lại mọc gần bằng hôm trước.


Bà cụ đang làm, thỉnh thoảng lại dừng tay chửi mấy câu, cái thói quen bà vẫn chửi mỗi khi bà phải làm một việc gì quá cực tuy rằng trong bụng không thù con, ghét cháu.


Độ này vợ chồng anh không dám gắt lại một câu, vì cả hai cùng nhận thấy rằng đã đem nhau đến nơi đất khách này không nên làm nhau khổ sở nhiều hơn.


Huống chi từ ngày lên tới miền này, bà cụ đã đem hết lực già ra kiếm củi, mót rau, mò cua bắt ốc, nửa đem chợ bán, nửa để nhà dùng. Mẹ già một nắng hai sương, anh rất thương sót mẹ, thường thở than với vợ.


Gia quyến Xã Bèo được ở dưới lớp nhà ngang của ông chủ tịch người Thổ. Ông ta tên Noọng, tính lành mà nóng. Nhà treo hai khẩu súng “mút cơ tông”, lỳ lỳ khi rượu nhưng lại hay ba hoa khi bắn được vài con cò, con sếu. Noọng thích khoe với Xã Bèo về tài bắn “mút cơ tông”. Ông lại giở cả thuốc súng, cắt nghĩa cho anh nghe về cách làm đạn ghém, bắn ra trăm phát không sai một, tuy rằng những khi gò lưng theo sát đuôi trâu, anh Bèo nghe tiếng súng của ông chủ tịch Noọng nổ vang cả rừng lim, trám, mà đến tối ông về, người ngựa lấm như vùi, chẳng có lấy được một con sáo sậu!


Noọng được cha mẹ để lại cho nhiều ruộng nương của cải từ cái thời mà mỗi khi có quan đồn đi ô tô đến chơi nhà, là ông Noọng sức hết dân trong bản đem chiếu hoa ra trải suốt đường; và mỗi khi quan châu hạ cố tới thăm,chính Noọng - hồi đó làm lý trưởng - lại hân hoan mổ bò mổ lợn làm tiệc rượu thết đãi, hết sức chiều chuộng để từ quan lớn cho tới anh lính dõng được hài long; thời Pháp thuộc tàn rụi, phong trào cách mạng bốc lên như giông bão; núi rừng không còn là nơi bí mật vì hàng ngày tiếng dân quân hò reo tập trận vang trời; cái oai danh một ông lý trưởng nhà giàu chơi với quan với súng, được người ta sợ hơn cọp cũng phút chốc theo thời thế mà đổi tính Noọng thành một con người tốt nết, cái chức Noọng bỗng được đổi thành chức chủ tịch liên xã đồng bào thiểu số.


Vợ chồng anh được chủ tịch Noọng rất mến. Ông ta luôn nhắc có thiếu thốn đồ làm đất thì cứ lấy của nhà ông mà dùng, lại cho cả phân tro, thóc giống. Bữa ăn, vợ Noọng có bát cà bung suông, bát canh nhạt cũng bưng xuống nhà ngang biếu.


- Để cái cụ, cái bá xơi, gọi là một tý!


Bà cụ cảm động đến ứa nước mắt:


- Cám ơn ông bà chủ tịch…


Bà cụ không nói nên lời, trệu trạo nuốt miếng cơm gạo rắn, húp một thìa canh cá mương tanh tanh. Bà thấy tình yêu thương lúc này là rất quý và nhận thấy lời bác bếp Năm ở làng bảo rằng người miền ngược thâm hiểm, chài bả người ta là nhảm nhí vô cùng.


Thường ngày, món ăn của gia đình anh là trám muối mặn với cua đồng, chất đầy hai ba vại.


Vợ Noọng dặn luôn mồm:


- Cái cụ, cái bá cứ lấy mà xơi, không cần phải hỏi gì hết.


Ăn mãi gạo đỏ với trám mặn, cua tanh, anh em thằng Đanh bàn với bố vót tre làm lưới mành quây ngoài suối bắt cá ăn. Xã Bèo khen thầm thằng con ranh mãnh. Ngay đêm ấy, ba bố con đã ngồi trên sân trăng, đan lưới mành theo kiểu lưới của người miền này vẫn đặt bắt cá trên sông máng.


Làm xong, ba bố con ra suối. Ánh trăng biếc sáng rừng cây. Đâu đây, một con cú rỏ vào trăng suông mấy tiếng kêu buồn thảm. Bố con anh yên lặng bước, lắng nghe tiếng cỏ may đập vào ống quần nâu và tiếng nhái sợ động nhảy trong cỏ ướt sương khuya.


Tiếng cú buồn kia nhắc nhở anh nhớ đến cây muỗm góc ao chùa làng, đêm nào con cú quen thuộc ở đâu xa cũng bay đến đậu kêu. Ngẩng nhìn ngôi sao hôm lấp lánh trên bầu trời cao, anh lại nhớ ngọn cây gạo bên cổng cái làng, ngôi sao ấy vẫn rỏ ánh sáng xuống những chùm hoa đỏ. Sắp đến một gốc đa cổ thụ, thốt nhiên Xã Bèo thấy rùng mình, vì trước mắt anh ngôi miếu thờ Đề Thám đứng sững dưới ánh trăng vằng vặc, tiếng lá đa đang reo rì rào.


Xã đi qua ngôi miếu, đầu cúi thấp, nhớ đến lời chủ tịch Noọng một buổi tối kể cho anh nghe sự tích ông tướng Hoàng Hoa Thám ngày trước kháng địch anh dũng lắm, rồi thì một đêm say ngủ, con hùm xám Yên Thế ấy bị cắt đầu bởi tên con nuôi Thương Phức ăn tiền của giặc Pháp - Noọng đã nghiêm trang kể: “Cụ Đề chết ngay ở bản hạt này, cho nên đất đây linh lắm. Xưa kia đây là cái miếu cổ, bị một cơn bão thổi bay đi, trong khi mái tốc đâu mất thì chân hương hóa đùng đùng. Ông cụ tổ nội tôi bỏ tiền xây lại miếu bằng gạch. Khắp miền này, ai đau ốm hễ khấn Cụ Đề là khỏi ngay. Tôi thì chưa thấy gì, nhưng các ông già bà cả bảo thỉnh thoảng lại nằm mơ thấy Cụ hiện lên, đi vơ vất trong rừng…”


- Bố ơi, có cái gì kia?


Xã Bèo đang nghĩ đến chuyện Cụ Đề, nghe thằng Đanh gọi, giật bắn mình, hỏi vội:


- Cái gì, cái gì đâu?


Thằng Đanh trỏ một vạch sáng chân đồi lau. Ở đấy một làn khói trắng dựng lên, dưới ánh trăng giống hình một ông già áo trắng tay chống gậy.


Anh rụi mắt nhìn, rồi chặc lưỡi:


- Đấy là cỏ đồi bu mày đốt ban chiều, chứ cái gì mà rối cả lên.


Ba bố con vào suối, đặt lưới mành xong rồi về ngay. Tới cổng, anh thấy mẹ già đang luống cuống bên chuồng trâu, lẩm bẩm:


- Tôm mấy cá, đi mãi không dẫn xác về. Nửa đêm nó đau đẻ có khổ không!


Anh vội nói:


- Sao? Bu nó đẻ hả bà?


Bà thấy Bèo, nghiến răng mà nói:


- Tưởng ma nó bắt rồi! Nó đang đau xoắn suýt kia, đẻ đái ở đâu? Ở nhờ vả nhà người ta mà làm uế tạp ra, không thể được.


Anh chạy vào, thấy vợ đang nhăn nhó ôm chặt lấy cột nhà. Chị vẫn gan góc như mọi bận, lúc chứng đau bụng kinh niên nổi lên khi làm đồng, hay làm bếp. Anh khêu to đĩa đèn dầu lạc, ngẩn nhìn vợ, rồi lại chạy ra sân, xuống chuồng trâu, xuống bếp thấy bà mẹ đang luống cuống tìm nồi đất, anh gắt khẽ:


- Bà tìm cái của khỉ ấy làm gì thế?


- Để chôn rau, chứ để làm gì? Anh làm như bây giờ mới có vợ đẻ con so ấy.


Bỗng giọng bà thấp xuống:


- Ta tính thế này. Ông chủ tịch đi vắng, bà ấy ốm ở trên buồng. Người ta tốt với mình, mình lại càng phải giữ cho chu đáo. Tất người ta cũng như phong tục mình, kiêng người lạ đẻ trong nhà. Bố nó đem ngay cái trõng ra bụi cây kín ngoài đồi kia, quây chiếu mà đẻ cho xong. Máu nó vốn nhanh, đẻ như gà ấy, lo gì.


Anh bèn làm theo lời mẹ, đội trõng lên đầu, tay ôm lá chiếu rách. Thằng Đanh xách cái chậu sành sứt mẻ, thằng Đá theo bà dắt mẹ đi.


- Bu có đau lắm không? khổ quá!


Bà cụ củng cháu, ghé tai nó nói:


- Tổ bố mày, nói khẽ chứ kẻo người ta biết!


Mấy người đi như lũ ăn trộm dưới bóng trăng suông.


Chị vừa cố bước vừa nhăn mặt xuýt soa đau. Bước cao bước thấp, hai ba lần vấp mô đá và rễ cây cổ thụ bò ngang mặt đường, chị lạng người đi. Bà cụ đỡ con dâu, lầu nhầu nói:


- Khổ đến thế là cùng!


Chị đã đến lúc quá đau, đứng dừng lại, xoắn chặt bàn tay mẹ chồng, không kêu, răng nghiến chặt.


Bà cụ thốt kêu:


- Bố nó đặt trõng đây cũng được. Nó đau quá sức rồi. Đẻ rơi thì khốn.


Anh thầm thì:


- Ở đây gần miếu Cụ Đề, gió bay ô uế, cố đi quãng nữa, rẽ ra phía sau đồi gần ngay kia thôi.


Dưới ánh trăng lờ mờ, anh thấy mặt chị tái xanh, mắt hơi khép lại. Chị thều thào nói với mẹ chồng:


- Sắp vỡ rồi, bà ơi! Đau lắm, mệt lắm!


Thấy nói “vỡ”, bà cụ vội giằng cái trõng trên đầu anh, đặt ngay dưới bụi cây.


- Vỡ “đồi ối” rồi, không đi được nữa.


Nói đoạn, bà đỡ con dâu ngồi xuống trõng. Xã Bèo vội vàng quây chiếu chung quanh. Thằng Đá đặt chậu sành xuống chân trõng, đoạn hai anh em ngồi dưới bụi cây gần bên trõng chờ mẹ đẻ.


Người vợ, quả như lời bà cụ đã nói với con ban nãy, đẻ dễ như gà mái.Nhờ ánh trăng, bà làm cái việc bà mụ đỡ đẻ cho con dâu. Ở quê nhà, bà đã làm việc đó hai ba lần rồi, nên tay bà không run lắm.


Mấy tiếng vạc trong đêm rừng. Anh ngẩng lên, nhìn theo bóng loài chim sương lướt chơi trăng, nhẹ như làn khói.Trong đầu anh hiện ra cái cảnh đêm nào chị sảy, anh đã đào đất chôn nồi máu. Đêm nay, anh sắp được chôn nồi rau của đứa con sắp ra đời.


-Kìa, nó đã oe oe - Bà cụ vừa bọc đứa trẻ vào chiếc váy, vừa thầm thì nói - Lại thằng cu ngẩu. Cha mẹ mày, hờn dỗi gì mà khóc to thế! - đoạn bà ngoảnh bảo con trai - Đưa mẹ nó về. Tao về trước cắt rau, tắm rửa cho nó, kẻo đây gió lắm.


Bà ủ đứa bé vào vạt áo, bước nhanh và đi nép bên bờ cây đang ngả bóng đen xuống mặt đường lồi lõm.


Chị cố đứng lên. Thấy vợ yếu ớt, và sợ dẫm đất ngay sẽ bị tê, anh nói:


- Để ta cõng, đi sao được.


Chị lắc đầu:


- Tôi đi được, làm gì đến nỗi thế.


Bèo gắt gỏng:


- Đẻ mà đi ngay, sa dạ con thì khổ! Khuya vắng thế này, ai trông thấy mà xấu hổ. Khỉ lắm. Nào, víu vào cổ.


Chị mỉm nụ cười nhợt nhạt. Anh khom lưng xuống. Chị bất đắc dĩ víu vào cổ chồng. Anh cúi đầu dò tránh đá tảng và rễ cây, bước ỳ ạch, nom thảm như con đười ươi già cõng đồng loại bị đạn.


Về tới nhà, anh đặt vợ lên giường. Ở góc vách, dưới ánh đĩa dầu cạn bấc, bà cụ đang cắt rau và tắm cho đứa bé khóc vang nhà.


Vợ Noọng tuy đang bị “mỏi”, nghe tiếng trẻ khóc cũng xuống ân cần hỏi han và giúp bà cụ bao bọc cho đứa trẻ. Chị ta chạy lên buồng, một lát cầm mấy vuông vải mới xuống, đưa bà cụ cắt áo và làm lót:


- Gọi là một tý, cái cụ, cái bá nhận cho. Cái bá có cháu thế này là sướng lắm, chúng tôi mừng.


Bà cụ hết lời cảm tạ và cảm động đến ứa nước mắt.


Xã Bèo đem trõng bẩn ra suối rửa. Việc chôn nồi rau, lần này anh giao cho anh em thằng Đá làm.


Anh về đến sân, thấy vợ Noọng trên thềm, hai tay bưng thúng gạo bước xuống tươi cười nói:


- Cái bá có con, vợ chồng tôi mừng quá. Có ít gạo trắng biếu cái bá xơi cho nhiều sữa để em bé bú.


Xã Bèo đón đỡ thúng gạo, run giọng:


- Ông bà tốt bụng quá, chúng tôi biết lấy gì báo đáp.


Vợ Noọng xua tay cười:


-          Cái bá nói gì ơn. Ở với nhau tử tế là hơn cả.


(còn tiếp)


Nguồn: Đất. Tiểu thuyết của Ngọc Giao. NXB. Cây Thông,1950. Bản này đã được tác giả chỉnh lý năm 1991.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 19.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »