tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29457322
Lý luận phê bình văn học
14.11.2008
Georg Wilhelm Friedrich Hegel
Mỹ học (34)

Các chân lí và các giáo điều của Thiên Chúa xét về mặt tôn giáo tự thân nó là đã được người ta biết, và một trong những hứng thú chủ yếu của thơ tóm lại là những học thuyết này xuất hiện trước mắt ta với tính cách những học thuyết phổ biến khiến cho người ta biết chân lí với tính cách một chân lí phổ biến và tin vào đó. Sự miêu tả cụ thể trong trường hợp này có một địa vị thứ yếu và ở bên ngoài đối với nội dung, và phúng dụ tỏ ra là hình thức thỏa mãn được đòi hỏi này dễ dàng nhất và thuận tiện nhất, chính vì vậy mà ở Đantê trong tác phẩm “Thần khúc” có nhiều yếu tố phúng dụ. Chẳng hạn thần học ở ông hòa lẫn với hình tượng nàng Bêatrixơ yêu quí. Nhưng sự nhân cách hóa này sở dĩ đẹp là vì nó không phải là sự hoán cải, người yêu của nhà thơ thời thơ ấu. Mới chín tuổi đầu Đantê thấy nàng lần đầu. Tác giả cảm thấy cô gái không phải là một người trần mà là một nữ thần. Bản tính bốc lửa của người Ý ở chàng tràn ngập một tình yêu đối với nàng không bao giờ tắt lụi bởi vì nàng đã thức tỉnh ở chàng cái thiên tài thi ca, cho nên sau khi bỏ mất điều yêu quí nhất trên đời do với cái chết của nàng, Đantê dành cho nàng ở trong tác phẩm chính của tất cả đời mình cái đài kỷ niệm của cái tôn giáo chủ quan có tính chất nội tâm của mình.


 


Ẩn dụ, hình tượng, so sánh.


 


Loại thứ ba thuộc phạm vi các tác phẩm đi theo sau câu đố và phúng dụ đó là yếu tố hình tượng nói chung. Câu đố vẫn còn che đậy một ý nghĩa bản thân biết được, và điều chủ yếu ở đây là khoác cho nó những nét tiêu biểu quen thuộc mặc dầu dị dạng và cách xa nhau. Trái lại, ở trong phúng dụ tính rõ ràng của ý nghĩa làm thành mục đích chủ đạo đến nỗi sự nhân cách hóa và các thuộc tính của phúng dụ đã bị hạ thấp xuống trình độ một ký hiệu thuần túy bên ngoài. Còn yếu tố hình tượng thì kết hợp ở bản thân nó sự sáng rõ của phúng dụ với cái khoái cảm do câu đố đưa đến. Một biểu hiện hình tượng làm cho cái ý nghĩa được nhận thức trở thành trực quan một cách hiển nhiên dưới hình thức một hiện tượng bên ngoài gần nó làm điều đó nhưng vẫn không gây nên một nhiệm vụ cần phait giải quyết. Trái lại nó sử dụng một hình tượng qua đó người ta thấy rõ cái ý nghĩa được biểu hiện và nhận ra ngay được cái ý nghĩa như nó tồn tại trong thực tế.


 


Ẩn dụ.


Xét ở bản thân nó, ẩn dụ đã là so sánh, bởi vì ẩn dụ biểu lộ một ý nghĩa tự nó là rõ ràng nhờ chỗ nó giống và được so sánh với một hiện tượng của hiện thực cụ thể. Nhưng ở trong bản thân so sánh thì cả hai mặt là nghĩa đen và mặt hình ảnh là tách rời nhau rõ rệt, trong lúc đó ở trong ẩn dụ thì sự tách rời này vẫn chưa được nêu lên thành điều kiện mặc dầu vẫn tồn tại tiềm tàng. Ngay Aritxtôt đã phân biệt so sánh và ẩn dụ như sau: ở trong so sánh có thêm từ “như”, từ này vắng mặt ở trong ẩn dụ. Như thế nghĩa là một biểu hiện ẩn dụ chỉ nói lên một mặt mà thôi, mặt hình tượng, người ta dễ dàng đoán được cái nghĩa đen được nói đến đến nỗi cái nghĩa tựa hồ được nêu lên trực tiếp và không tách rời khỏi hình ảnh. Khi chúng ta nghe một ngữ như “mùa xuân của những gò má ấy” hay “một biển nước mắt”chúng ta không thể nào hiểu theo nghĩa đen mà phải xem đó chỉ là một hình ảnh và nghĩa của hình ảnh này tựa hồ được gợi cho chúng ta một cách cụ thể do mối liên hệ của những biểu tượng này.


Ở trong tượng trưng và phúng dụ, mối quan hệ giữa ý nghĩa và hình thức bên ngoài không trực tiếp và tất yếu đến như vậy. Chỉ có những người thành thạo, am hiểu và uyên bác thì mới có thể tìm thấy một ý nghĩa tượng trưng của chín cái bậc của một cầu thang Ai Cập và ở hàng trăm trường hợp khác tương tự. Họ ngờ vực và tìm thấy một ý nghĩa thần bí, tượng trưng ở trong những vật đáng lí ra không nên tìm, bởi vì chúng không có cái ý nghĩa ấy. Tôi nghĩ rằng trường hợp này đôi khi đã xảy ra đối với ông bạn quí Kroixơ của tôi cũng như đối với các nhà Platông mới và những người chú giải Đantê([1]).


Số lượng các hình thức đa dạng của ẩn dụ là vô hạn song việc qui định nó lại đơn giản. Ẩn dụ là một sự so sánh rút gọn, bởi vì chính hình ảnh và ý nghĩa ở đây không đối lập nhau; trái lại ta chỉ thấy có hình ảnh, trong lúc đó cái nghĩa thực sự của nó bị bỏ qua; song nhờ mối liên hệ trong đó hình ảnh này được nêu lên, ẩn dụ cho phép chúng ta nhận ngay ra ý nghĩa ở trong hình ảnh, ý nghĩa này thực tế là cái người ta muốn nói đến mặc dầu không được nêu lên một cách hiển nhiên.


Bởi vì ý nghĩa này sau khi đã có được một hình thức hình tượng, chỉ được giải thích nhờ ngữ cảnh mà thôi, cho nên cái ý nghĩa được biểu hiện ở trong ẩn dụ không có quyền đòi hỏi có một giá trị độc lập, mà chỉ là một biểu hiện nghệ thuật đi kèm theo. Đối với ẩn dụ, điều này càng đúng hơn nữa: ẩn dụ chỉ có thể đóng vai một trang sức bên ngoài của một tác phẩm nghệ thuật bản thân độc lập.


Ẩn dụ được áp dụng chủ yếu ở trong ngôn ngữ nói, và chúng ta có thể khảo sát ngôn ngữ nói về mặt này theo nhiều khía cạnh sau đây.


(aa) Thứ nhất ngôn ngữ nào tự nó cũng có rất nhiều ẩn dụ. Ẩn dụ nảy sinh do chỗ một từ lúc đầu chỉ nói lên một ý nghĩa thuần túy cảm quan, bây giờ được áp dụng cho lĩnh vực tinh thần. “Nắm, đạt đến” và nói chung nhiều từ dùng để chỉ sự hiểu biết, lúc đầu được hiểu theo nghĩa đen, có một nội dung hoàn toàn cảm quan. Song sau đó, nội dung này bị vứt bỏ và bị thay thế bằng một ý nghĩa có tính chất tinh thần, nghĩa thứ nhất chỉ có một cái gì cảm quan, nghĩa thứ hai chỉ một cái gì tinh thần.


(bb) Nhưng sau đó, yếu tố ẩn dụ trong cách dùng từ của từ này dần dần biến mất, và do thói quen nghĩa bóng của từ này lại biến thành nghĩa đen. Hình ảnh và nghĩa do thói quen khiến cho chúng ta không thể phân biệt và hình ảnh không xuất hiện trực tiếp đối với chúng ta ở trong trực giác cụ thể nữa và ta chỉ có trực tiếp bản thân ý nghĩa trừu tượng mà thôi. Chẳng hạn khi chúng ta dùng từ “nắm” theo nghĩa tinh thần thì chúng ta hoàn toàn không nghĩ đến hành động cụ thể lấy tay mà “nắm”.


Trong các sinh ngữ, ta dễ dàng xác lập được sự khác nhau giữa các ẩn dụ thực sự với các ẩn dụ do chỗ dùng lâu nên đã bỏ mất cái ý nghĩa nguyên sơ và trở thành những biểu hiện được dùng theo nghĩa đen. Trong các từ ngữ làm điều đó thì khó bởi vì ở đây chỉ riêng từ nguyên thôi thì không thể cấp cho ta cách giải quyết vấn đề một cách dứt khoát. Bởi vì vấn đề không phải ở chỗ tìm nguồn gốc đầu tiên và sự phát triển sau này của từ này. Vấn đề ở đây chủ yếu là nói đến chỗ cái từ có vẻ hết sức hình tượng, sinh động và gợi cảm phải chăng đã bỏ mất cái ý nghĩa cảm quan đầu tiên của mình cũng như cái kỷ niệm về chỗ trong khi được dùng để nói lên một ý nghĩa tinh thần phải chăng nó đã nhận được một ý nghĩa cao hơn có tính chất tinh thần.


(cc) Gắn liền với điều này, nảy sinh sự cần thiết phải có những ẩn dụ mới, được tạo nên một cách đặc biệt bởi trí tưởng tượng nên thơ. Nhiệm vụ chính của sự phát minh này tóm lại là, thứ nhất chuyển những hiện tượng, những hoạt động, những tình huống thuộc một lĩnh vực cao hơn sang nội dung của những lĩnh vực thấp hơn và thể hiện những hiện tượng này của lĩnh vực thấp hơn dưới hình thức và hình ảnh của những ý nghĩa cao hơn: chẳng hạn vật hữu cơ tự thân nó là có giá trị hơn vật vô cơ và khi cái tự nhiên chết cứng được miêu tả bằng những hiện tượng nói lên sự sống thì ngôn ngữ làm cho nó hấp dẫm hơn. Chẳng hạn Phecđutxi viết: “Lưỡi kiếm của anh ta ăn não sư tử và uống dòng máu sẫm của người dũng cảm”.


Người ta đạt được một trình độ hấp dẫn còn to lớn hơn nữa, khi yếu tố tự nhiên và yếu tố cảm quan khác hình thức hình tượng của những hiện tượng tinh thần, và nhờ vậy mà được nâng lên và trở thành cao quí. Chúng ta vẫn quen dùng những từ ngữ như: “cánh đồng tươi cười”, “dòng suối hung hăng” chẳng hạn, hay nói như Canđêrôn: “Những làn sóng rền rĩ dưới sức nặng của những chiếc tàu”. Cái điều chỉ dành riêng cho con người ở đây được dùng để biểu hiện những hiện tượng của tự nhiên. Các nhà thơ La Mã cũng sử dụng những ẩn dụ tương tự, chẳng hạn Viêcgilơ (“thơ Nông tang”, III, câu 132): Quun graviter tunsis gemit area frugibus “Khi cái sân đập lúa rền rĩ dưới việc đập lúa nặng nề”.


Và ngược lại cũng thế, thứ hai yếu tố tinh thần có thể trở thành trực quan hơn nhờ những hình tượng lấy ở phạm vi những đối tượng của tự nhiên. Song tính hình tượng như vậy có thể dễ dàng rơi vào tình trạng cầu kỳ, giả tạo, hay rơi vào trò chơi chữ khi bản thân một vật vô sinh độc lập đối với tính chất của nó được nhân cách hóa và người ta gán cho nó một cách hết sức nghiêm túc một hoạt động tinh thần. Các nhà thơ Ý, hơn những người khác, đã lạm dụng những trò chơi như vậy và ngay cả Sêchxpia cũng không hoàn toàn thoát khỏi. Chẳng hạn trong “Risa II” (hồi V, cảnh 1) ông để cho nhà vua nói khi từ biệt vợ: “Trong những lời nói của nàng toát lên một nỗi buồn khiến cho những giọt nước mắt bốc lửa của sự đồng cảm tuôn ra từ những đống lửa vô tình và khi trở thành than đen hay thành đống tro xám chúng sẽ lại khóc thương vị vua chính đáng đã bị lật đổ”.


Cuối cùng, về mục đích và nhiệm vụ của ẩn dụ thì ta phải chú ý đến điều sau đây: cái từ được dùng theo nghĩa đen là một biểu hiện tự thân có thể hiểu được, còn ẩn dụ lại là một biểu hiện khác, và người ta có thể nêu lên câu hỏi tại sao lại dùng hai biểu hiện làm gì, hay nói khác đi tại sao lại cần đến ẩn dụ khi bản thân nó chỉ là một điều trùng lặp. Người ta thường nói rằng ẩn dụ được dùng để làm cho sự vật miêu tả nên thơ càng thêm sinh động và Hainơ đặc biệt đã nhấn mạnh tới điểm đó. Tính sinh động tóm lại ở chỗ làm cho bản thân biểu tượng mà người ta nói đến trực quan, tính trực quan này làm cho cằit thoát khỏi tính mơ hồ của nó và làm cho nó có thể được tri giác một cách cảm quan bằng những hình tượng.


Trong các ẩn dụ, thực tế có nhiều tính chất sinh động hơn là trong các biểu hiện thông thường được dùng theo nghĩa đen. Song ta không nên tìm sức sống chân thực ở trong những hình tượng riêng biệt hay nối liền với nhau; kể ra, tính hình tượng của chúng thường thường có thể chứa đựng một nét nhờ đó biểu hiện có được sự sáng rõ trực quan cũng như một trình độ chính xác cao hơn, song ẩn dụ lại thiếu sót ở chỗ dù cho ẩn dụ có làm cho từng chi tiết trở thành trực quan đi nữa, thì ẩn dụ cũng chỉ làm cho cái toàn thể thành cồng kềnh do chỗ có nhiều chi tiết.


Vì vậy chúng ta nên khảo sát ý nghĩa và mục đích của lời nói ẩn dụ – chúng tôi sẽ giải thích điều đó kỹ hơn dưới đây khi so sánh – ở trong sự đòi hỏi và sức mạnh về trí óc và tâm hồn là những cái không chỉ hài lòng với cái đơn giản, quen thuộc, mộc mạc, trái lại vươn lên khỏi chúng để chuyển sang một sự thể hiện khác, để dừng lại ở sự khác nhau và nối liền hai biểu hiện thành một thể thống nhất. Sự kết hợp này đến lượt nó, có những căn cứ đa dạng.


(aa) Thứ nhất, nó nhấn mạnh biểu hiện. Tình cảm và dục vọng khi được nâng lên một trình độ cao và được nhấn mạnh, một mặt muốn biểu hiện một cách cảm quan cái sức mạnh đang thúc đẩy nó, và mặt khác muốn thể hiện sự xáo động của chúng cũng như sự tồn tại của chúng bằng những biểu hiện đa dạng, những hình ảnh phức tạp nhưng họ hàng với nhau, bằng cách chuyển từ hình ảnh này sang hình ảnh kia, kéo chúng lại gần nhau, tóm lại bằng cách dùng hình ảnh này để nhấn mạnh hình ảnh kia.


Chẳng hạn, trong tác phẩm “Sự phụng thờ thập tự giác” của Canđêrôn, Giulia sau khi nhìn thấy xác của anh mình vừa mới chết đồng thời người yêu của nàng, kẻ giết Lixacđô là Oxêbô đứng trước mặt mình, nàng nói: “Tôi muốn nhắm mắt để đừng nhìn thấy dòng máu vô tội kêu gào trả thù, đang tung tóe thành những bông hoa đỏ. Tôi muốn thấy anh tự bào chữa mình trong những gọt nước mắt anh nhỏ ra: những vết thương,những con mắt chẳng phải là những cái miệng biết nói sao?”.


Và khi cuối cùng Giulia muốn trao mình cho Oxêbô thì Oxêbô trước mắt nàng bước lùi và kêu lên còn tha thiết hơn nữa: “Những ngọn lửa tuôn ra từ đôi mắt nàng, hơi thở của tiếng thở dài của nàng cháy bỏng, mỗi lời nói của nàng là một núi lửa, mỗi sợi tóc của nàng là một tia chớp, mỗi chữ là mỗi cái chết và mỗi sự vuốt ve của nàng là một địa ngục. Nhìn thấy cái thập tự giá, cái dấu hiệu kỳ diệu ở trước ngực nàng tôi cảm thấy một nỗi rùng rợn như thế”.


Chúng ta nhìn thấy sự vận động của một tâm hồn bị xáo động, thay thế vào một hình thức được trực giác trực tiếp, tâm hồn lập tức đưa ra một hình tượng khác và không ngừng tìm tòi những biểu hiện ngày càng mới mẻ để nói lên tâm trạng của mình.


(bb) Điều thứ hai, cách giải thích việc sử dụng những biểu hiện có tính chất ẩn dụ tóm lại là: khi sự vận động bên trong của tâm hồn bắt buộc tâm hồn phải vùi mình vào việc chiêm ngưỡng những sự vật quen thuộc thì đồng thời tâm hồn lại muốn được giải phóng khỏi cái nét bên ngoài của chúng. Tâm hồn lo tìm kiếm mình ở trong cái biểu hiện bên ngoài bằng cách làm cho nó được tinh thần hóa. Và tâm hồn làm được điều đó bằng cách khoác cho mình cũng như cho dục vọng của mình những hình thức đẹp đẽ; đồng thời chứng minh rằng nó có khả năng tự cấp cho mình một cách biểu hiện nâng nó lên khỏi cái dục vọng này.


Thứ ba, sự biểu hiện có tính chất ẩn dụ có thê chỉ là sản phẩm của một hư cấu dồi dào phong phú, khi đó không thể hình dung đối tượng dưới hình thức quen thuộc, cũng như cũng không thể quan niệm một ý nghĩa với cái vẻ mộc mạc không có hình tượng, trái lại nó luôn luôn đòi hỏi một tri giác cụ thể gần gũi với ý nghĩa. Sự biểu hiện có tính chất ẩn dụ cũng có thể bị qui định bởi cái trò chơi hóm hỉnh của thái độ võ đoán chủ quan, vì nó muốn tránh tẻ nhạt của thái độ võ đoán thiên về chỗ khao khát sự kích thích nó không thể nào yên tâm nếu chưa tìm được những nét họ hàng trong cái tài liệu đa dạng nhất và tạo nên một sự kết hợp bất ngờ từ những hiện tượng cách xa nhau nhất.


Thêm vào đấy, người ta có thể nói rằng tính phong phú của những cách diễn đạt dùng theo nghĩa đen hay dùng một cách ẩn dụ phân biệt không phải phong cách nôm na với cách thơ nói chung mà phân biệt phong cách cổ đại với phong cách hiện đại. Không những các triết gia Hy Lạp như Platông và Arixtôt hay các sử gia và các nhà hùng biện lớn như Thuxitđit và Đêmôxten, mà ngay cả những nhà thơ vĩ đại như Hômerơ, Xôphôklơ nói chung, hầu như bao giờ cũng dùng những cách diễn đạt theo nghĩa đen, mặc dầu ta cũng bắt gặp ở họ cả những so sánh nữa. Tính tạo hình nghiêm khắc của các tác phẩm của họ không chịu đựng sự pha trộn là cái nét khu biệt của những cách diễn đạt ẩn dụ. Nó cũng không cho phép họ vi phạm tính chất nhất dạng và tính phong bế đơn thuần, không cho phép họ vi phạm tính nhất dạng và tính phong bế đơn thuần, không cho phép vi phạm cái vẻ hoàn mĩ có tính khắc họa của tác phẩm của họ, để đi lệch về một phía đặng tìm những cái gọi là những mĩ từ pháp. Trái lại, các ẩn dụ bao giờ cũng cắt đứt dòng biểu tượng của chúng ta và làm cho sự chú ý bị phân tán. Nó thúc đẩy trí tưởng tượng của chúng ta và bắt ta kết hợp những hình tượng không có quan hệ trực tiếp với đối tượng và ý nghĩa, và vì vậy mà kéo sự chú ý của ta tới những đối tượng khác không có họ hàng cũng như xa lạ. Văn xuôi của các tác giả cổ đại thừa hưởng được tính chất vô cùng sáng rõ và tính uyển chuyển của ngôn ngữ và thơ của họ mang một nội dung được thể hiện hoàn toàn dưới hình thức hình tượng một cách bình thản, an nhàn, cho nên họ thoát khỏi việc sử dụng quá đáng các ẩn dụ.


Trái lại phương Đông, nhất là thơ Hồi giáo sau này một mặt, và mặt khác các nhà thơ hiện đại đặc biệt thích dùng những biểu hiện theo nghĩa bóng và thậm chí cần tới những biểu tượng ấy. Ngôn ngữ Sêchxpia chẳng hạn là rất giàu ẩn dụ. Các nhà thơ Tây Ban Nha vè mặt này đã đi đến dùng ẩn dụ một cách quá nhiều hết sức vô vị, và nhan nhản, cũng như thích những cách diễn đạt hoa mĩ. Người ta cũng có thể nói như vậy về Giăng Pôn, còn Gơt với tính chất trực quan rõ ràng và nhịp nhàng của ông thì dùng ít hơn. Sinle ngay cả trong văn xuôi cũng rất giàu hình tượng và ẩn dụ, sở dĩ thế là vì ông muốn diễn đạt những khái niệm sâu sắc dưới hình thức có thể biểu hiện được nhưng không dùng tới cách diễn đạt tư tưởng thực sự triết học. Ở đây, tính thống nhất tư biện hợp lí ở bản thân nó và lo tìm kiếm tìm được sự phản ánh của mình ở trong đời sống thông thường.


 


Hình tượng.


Giữa một bên là ẩn dụ và một bên là so sánh, ta có thể đặt hình tượng. Hình tượng có những nét gần gũi hiển nhiên với ẩn dụ đến nỗi thực ra hình tượng chỉ là một ẩn dụ phát triển một cách chi tiết, nhờ vậy ẩn dụ có được một sự giống nhau to lớn so với so sánh, trong khi tuy vậy nó vẫn khác so sánh ở chỗ ở trong cách diễn đạt hình tượng thực sự thì ý nghĩa không toát ra từ ở bản thân nó và không đối lập lại cái vẻ bên ngoài cụ thể dùng để so sánh với nó.


Hình tượng nảy sinh chủ yếu khi hai hiện tượng hay hai tình huống độc lập được kết hợp với nhau khiến cho một cái làm thành ý nghĩa và cái kia là hình ảnh nhằm mục đích làm cho ý nghĩa này tri giác được. Đặc trưng thứ nhất và là đặc trưng chủ yếu ở đây, do đó, là sự cô lập hóa, sự tồn tại cho mình của những lĩnh vực khác nhau trong đó ý nghĩa và hình ảnh của nó được vay mượn. Những đặc điểm chung, những quan hệ… của chúng không phải là một cái gì chung chung và cốt tử một cách mơ hồ như ở trong tượng trưng, trái lại ở cả hai mặt chúng đều có một tồn tại cụ thể và chính xác.


Xét theo quan hệ này, hình tượng có thể có cả một loạt các trạng thái, hoạt động, biến cố, phương thức tồn tại v.v làm thành ý nghĩa của nó, và có thể làm cho ý nghĩa này trở thành cụ thể bằng một phạm vi tương tự lấy ở một lĩnh vực độc lập nhưng họ hàng. Đó là không nói đến ý nghĩa với tính cách của nó trong phạm vi bản thân hình tượng. “Bài ca của Mahômet” của Gơt chẳng hạn là thuộc loại như thế. Ở đây, chỉ có nhan đề bài thơ là gợi cho ta thấy ý nghĩa của hình tượng: một dòng suối bắt nguồn từ núi non, lao qua các tảng đá chảy xuống vực thẳm, tỏa rộng ở trong thung lũng cùng với các dòng suối và các nguồn nước khác hòa lẫn với nó, trên đường đi tiếp nhận những con sông anh em, lấy tên mình đặt cho các nước, nhìn thấy ở dưới chân mình nảy sinh những thành phố mới và cuối cùng trong niềm vui sướng dào dạt, mang tất cả những tài sản này, - các em, các kho tàng, các con cái mình, tới bà mẹ vẫn đang chờ đợi họ. Chỉ có nhan đề của bài thơ này là nêu lên cho ta thấy rằng cái hình ảnh phác họa rộng lớn rực rỡ này của một dòng suối hùng vĩ là miêu tả sự xuất hiện táo bạo của Mahômet, sự phổ biến nhanh chóng học thuyết của ông, ý định của ông muốn hợp nhất tất cả các dân tộc vào một đức tin duy nhất.


Nhiều xêni của Sinle và Gơt, là những hình tượng tương tự, đó là những lời nói với công chúng và các tác giả một phần châm biếm một phần hài hước. Một xêni chẳng hạn nói:


“Chúng tôi lặng lẽ nghiền diêm sinh, than và lưu huỳnh, chúng tôi đã làm những ống và pháo hoa đốt lên làm các bạn vui vẻ! Một vài pháo hoa bừng sáng làm thành những đĩa sáng ngời, những chiếc pháo khác bắt lửa, và những chiếc thứ ba chúng tôi tung lên để các bạn mình vui mắt”.


Thực ra, xêni trong số này là pháo hoa đã được đốt lên và gây một sự bực bội to lớn nhưng lại làm cho cái phần ưu tú  nhất của công chúng cảm thấy vô cùng khoái trá: họ vô cùng sung sướng khi nhìn thấy những con người thuộc tầng lớp trung gian và thấp hèn trong một thời gian đã chiếm những địa vị tốt nhất ra sức la hét bây giờ đột nhiên phải câm miệng và để cho người ta dội nước lạnh lên người.


Nhưng trong những thí dụ vừa nói ở đây đã phơi bày một mặt khác của hình tượng mà chúng tôi cần phải nêu lên. Nội dung ở đây là một chủ thể hành động tạo ra những sự vật, trải qua những tình trạng nhất định và bây giờ được thể hiện ở trong hình tượng không phải với tính cách chủ thể, mà chỉ ở trong quan hệ với những điều y làm ra và y bắt gặp. Còn chủ thể xem như chủ thể thì được giới thiệu không phải dưới hình thức hình tượng mà chỉ có các hành động và các quan hệ là có được một hình thức biểu hiện được sử dụng theo nghĩa bóng. Và ở đây, cũng như ở trong hình tượng nói chung, không phải tất cả ý nghĩa đều tách ra khỏi cái vỏ của nó. Trái lại, chỉ có một mình chủ thể là được giới thiệu ở bản thân y, trong lúc đó thì cái nội dung nhất định của y lập tức có một hình thức hình tượng. Như vậy, chủ thể ở đây được giới thiệu tựa hồ như chính y làm ra những đối tượng, và những hành động ở trong sự tồn tại có hình tượng của chúng. Người ta đã thường chê trách sự xáo trộn nghĩa đen và nghĩa bóng như vậy, nhưng những căn cứ đưa ra để bênh vực sự chê trách như vậy đều yếu ớt.


Đặc biệt các nhà thơ phương Đông đã tỏ ra rất táo bạo về loại hình tượng như thế, họ đã nối liền và đan chéo những sự vật có một sự tồn tại hoàn toàn độc lập đối với nhau thành một hình tượng duy nhất. Chẳng hạn Haphidơ có lần đã nói như sau: “Cái dòng những biến cố của thế giới là một tấm thép đẫm máu và những giọt máu rơi từ đấy xuống là những vòng hoa”. Và ở nơi khác: “Thanh kiếm của mặt trời nhỏ xuống bình minh máu của ban đêm, mà nó vừa chiến thắng” và cũng hệt như vậy: “Chưa có ai đã cất được cái màn che những gò má của tư tưởng, như Haphidơ đã làm từ ngày người ta bắt đầu uốn những mớ tóc của người vợ chưa cưới của từ”. Ý nghĩa của hình tượng này hình như là như sau: tư tưởng là cô vợ chưa cưới của từ. Klốpxtốc chẳng hạn gọi từ là người anh em sinh đôi của tư tưởng, và từ ngày cô vợ chưa cưới này được trang sức bằng những từ diễm lệ, chưa có ai có khả năng nêu bật được cái tư tưởng được trang sức trong tất cả vẻ đẹp lồ lộ của nó như Haphidơ đã làm.


(còn tiếp)


Nguồn: Mỹ học. Phan Ngọc dịch. NXB Văn học, 1999.







([1]) Hegel chống lại lối chú giải Thần khúc của Đantê cho rằng mọi hình ảnh, số câu, số chữ… ở đây đều là phúng dụ. Lối chú giải này thực tế biến tác phẩm văn học thành một tác phẩm chơi chữ vô bổ.



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Một bộ ba toàn diện và căn bản về sự sống còn của loài người trên trái đất - Đỗ Quyên 20.09.2019
Nguyễn Xuân Khánh và cuộc giành lại bản sắc - Châu Diên 20.09.2019
Sóng lừng – Một tác phẩm tốt (Lật lại Hồ sơ vụ tiểu thuyết Sóng lừng - VN. Mafia bị thu hồi năm 1991) - Xuân Thiều 13.09.2019
“Sóng lừng” – Cuốn tiểu thuyết về Mafia ở Việt Nam - Bùi Quang Huy 13.09.2019
Ở Việt Nam có Mafia không? - Đỗ Ngọc Thạch 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Giấy trắng” của Triệu Xuân - Lê Phú Khải 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết “Đâu là Lời phán xét cuối cùng” - Trần Bảo Hưng 13.09.2019
Đọc tiểu thuyết "Cõi mê" của Triệu Xuân - Nguyễn Sĩ Đại 12.09.2019
Cõi mê - Hiện thực sâu sắc, tận cùng nỗi đau, đầy lòng nhân ái - Hoài Anh 12.09.2019
Cuộc sống kinh tế năng động trong “Giấy trắng” - Ngọc Trai 12.09.2019
xem thêm »