tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27840419
Tiểu thuyết
21.06.2012
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

Trong suốt ba giờ đó tôi học yêu thương con người này cũng như sau đó tôi đã yêu thương ông suốt đời. Bên trong toàn bộ con người ông có một sự yên ổn nó không hề gây cảm tưởng của tính tự mãn. Ông vẫn giữ độc lập đối với những phúc lộc do thời vận, ông thích sống một cuộc sống thôn dã hơn là viết ra một dòng chỉ có tính thời sự của ngày và giờ hôm nay. Ông còn độc lập đối với thành công, không săn đón tăng thêm cho mình bởi những nhân nhượng, những sự chiều lòng hay những tình cảm bạn bè - các bạn thân và sự cố kết trung thành của họ đối với ông là đủ. Ông còn độc lập cả đối với sự cám dỗ nguy hiểm nhất có thể quyến rũ một tính cách lớn, tôi muốn nói sự vinh quang, khi điều này đến với ông lúc ông đã ở tuyệt đỉnh của nghề nghiệp của mình. Ông vẫn cởi mở theo mọi nghĩa của từ ngữ đó, không vướng víu bởi bất cứ một sự cản trở nào, không lầm lạc bởi bất cứ thói khoe khoang nào, một người tự do và sung sướng, dễ dãi với tất cả những niềm hứng khởi; khi ở bên ông người ta cảm thấy sôi nổi bởi ý chí sống của bản thân ông.


Như vậy ông đứng trước mặt tôi, thanh niên mười chín tuổi đầu, ông ta, nhà thơ bằng xương bằng thịt, hệt như tôi đã mong ước, hệt như tôi đã mơ. Và sau cái giờ tiếp xúc cá nhân đầu tiên ấy, tôi đã có quyết định: phụng sự con người này và tác phẩm của ông. Đó là một quyết định thực sự liều lĩnh, bởi vì thi nhân này của châu Âu còn ít được biết tới ở châu Âu, và tôi biết trước rằng việc dịch tác phẩm thi ca đồ sộ và ba vở kịch thơ sẽ lấy đi ở sáng tác cá nhân của tôi hai hoặc ba năm. Nhưng trong khi mà tôi quyết định dồn tất cả sức lực của mình, thời gian của mình và niềm đam mê của mình cho một tác phẩm nước ngoài, tôi tạo cho bản thân tôi những gì tốt đẹp nhất mà tôi có thể mong ước một trách nhiệm đạo đức. Những tìm tòi và những mưu toan không chắc chắn của tôi giờ đây có một ý nghĩa. Và nếu như ngày hôm nay tôi phải khuyên một nhà văn trẻ còn chưa chắc chắn về đường đi của mình, tôi sẽ cố gắng thuyết phục anh ta phục vụ cho một tác phẩm lớn với tư cách là thông dịch viên hay dịch giả. Có nhiều điều yên ổn đối với một người mới bắt đầu trong công việc phục vụ vô tư hơn là trong sáng tác cá nhân, và không có gì mà người ta đã hoàn thành với một tinh thần hoàn toàn hy sinh là việc làm vô ích cả.


*


Suốt trong hai năm mà tôi cống hiến hầu như hoàn toàn cho việc dịch những bài thơ của Verhaeren và cho việc chuẩn bị một công trình tiểu sử về nhà văn lớn, tôi đã đi du lịch nhiều, một phần để diến thuyết. Và tôi được một phần thưởng bất ngờ cho sự tận tụy của mình đối với tác phẩm của Verhaeren, sự tận tụy chẳng hứa hẹn chút phần thưởng nào cho tôi; các bạn ông ở nước ngoài đâm ra chú ý đến cá nhân tôi và chẳng bao lâu trở thành bạn tôi. Vậy là một hôm Ellen Key đến tìm tôi, người phụ nữ Thụy Điển tuyệt diệu đó đấu tranh để giải phóng phụ nữ với một sự táo bạo không ai bì được ở cái thời kỳ của sự chống đối hẹp hòi đó, và bà, trong cuốn sách của mình Thế kỷ của tuổi thơ, đã buông ra lời cảnh cáo trước Freud từ lâu, tiết lộ rằng những tâm hồn trẻ thơ dễ bị thương tổn biết bao nhiêu; nhờ bà tôi được giới thiệu ở Italia với Giovanni Cena và câu lạc bộ thơ của ông, và tôi có được với Johan Bojer người Na Uy, một tình bạn đáng kể. George Brandes, vị thầy quốc tế về lịch sử các nền văn học tỏ ra chú ý đến tôi, và chẳng bao lâu tên của Verhaeren bắt đầu, nhờ sự can thiệp của tôi, được biết đến ở nước Đức nhiều hơn là ở Tổ quốc của ông. Kainz diễn viên bi kịch lớn nhất và Moissi đọc trước công chúng bản dịch thơ ông của tôi. Max Reinhardt đưa Le Clottre của Verhaeren lên sân khấu Đức: Tôi có thể cảm thấy hài lòng.


Tuy nhiên, đã đến lúc nhớ lại rằng tôi đã có những sự cam kết khác ngoài những cam kết gắn với Verhaeren. Tôi còn phải kết thúc sự nghiệp đại học và mang về nhà áo mũ tiến sĩ triết học. Vấn đề là lĩnh hội trong vài tháng tất cả các nội dung của kỳ thi mà các sinh viên nghiêm túc hơn đã nhồi nhét trong gần bốn năm. Tôi cày suốt nhiều đêm cùng với Erwen Guido Kolbenheyer, một trong những người bạn trẻ của tôi và đồng nghiệp văn chương. Anh ta có thể sẽ không bằng lòng người ta nhắc lại điều này bởi vì anh ta đã trở thành một trong các thi sĩ quan phương và giáo sư của nước Đức Hitler. Nhưng người ta không làm cho kỳ thi khó khăn đối với tôi. Ông giáo sư nhân từ biết quá rõ về hoạt động văn học của tôi để toan "đánh trượt" tôi về những chi tiết; ông mỉm cười nói với tôi trong cuộc trao đổi mở đầu giữa tôi và ông: "Chắc hẳn anh chẳng thiết được hỏi về lôgic hình thức phải không?", và sự thực là, ông nhẹ nhàng dẫn dụ tôi vào một lĩnh vực mà ông biết tôi nắm chắc. Lần đầu tiên tôi qua một kỳ thi đạt hạng ưu và rất mong đó là lần cuối cùng. Bây giờ đây tôi được tự do từ bên ngoài, và tất cả những năm kế tiếp, cho đến ngày hôm nay, tôi đã dùng cho cuộc chiến đấu mỗi ngày một gay go trong thời hiện tại, nó phải bảo toàn cho tôi một sự tự do bên trong ngang bằng như vậy.


 


PARIS THÀNH PHỐ CỦA TUỔI THANH XUÂN VĨNH CỬU


Với năm đầu của sự tự do giành được của tôi, tôi tự đặt một phần thưởng là Paris. Tôi chỉ biết rất hời hợt về thành phố vô tận này qua hai lần du lịch mà tôi đã thực hiện tại đó, và tôi biết rằng ai đã sống một năm thời trẻ tuổi ở đó sẽ mang suốt đời một kỷ niệm đại hạnh phúc. Với giác quan thức tỉnh, không đâu người ta cảm thấy tuổi trẻ mình tương hợp với bầu không khí như trong thành phố này, nó hiến mình cho mọi người và không ai có thể thâm nhập nó cho đến tận cùng.


Tôi biết rõ, thành phố Paris với tâm hồn bay bổng và luôn chắp cánh cho anh, thành phố Paris của tuổi trẻ của tôi không còn nữa; có lẽ không bao giờ nó được trả lại cái vô tư tuyệt vời đó, từ khi bàn tay thô bạo nhất của trái đất đã in hằn một cách bạo ngược vết sỉ nhục lên nó. Vào giờ mà tôi bắt đầu viết những dòng này, quân đội Đức, xe tăng Đức lăn như một đống mối xám để phá ruỗng triệt để tất cả cái cấu trúc hài hòa đó trong màu sắc thánh thiện của nó, ánh sáng trí tuệ của nó, vẻ muôn màu và sự tươi tắn không tàn héo của nó. Và giờ đây đó là việc đã rồi: lá cờ chữ thập ngoặc phấp phới trên tháp Eiffel, những đội quân xung kích màu đen hỗn xược thao diễn trên quảng trường Elysées của Napoléon, và tôi cảm thấy từ xa những trái tim thắt lại như thế nào trong các ngôi nhà, những người tư sản ấy xưa kia đầy lòng hiền từ là thế mà nay có cái nhìn tủi nhục như thế nào khi mà trong những quán rượu và tiệm cà phê quen thuộc của họ vang lên nặng nề những đôi ủng có mép lật của kẻ đi chinh phục. Có lẽ chưa bao giờ nỗi bất hạnh đánh vào cá nhân tôi làm cho xúc động, đảo điên, thất vọng như là nỗi sỉ nhục của thành phố này, một thành phố được phú cho nhiều hơn hết cái đặc ân làm cho những ai đến gần nó đều hạnh phúc. Một ngày nào đó, nó có lại được chăng cái khả năng ban cho nhiều thế hệ những gì nó đã cho chúng tôi, lời chỉ bảo khôn ngoan nhất và tấm gương tuyệt vời nhất để được vừa tự do vừa sáng tạo, cởi mở với mọi người và giàu có lên từ sự hào phóng tốt đẹp?


Tôi biết, tôi biết, Paris không phải đau khổ một mình, tất cả phần còn lại của châu Âu sẽ trong nhiều thập kỷ không còn như nó đã là như thế trước Đại chiến thế giới I. Một bóng đen thê thảm không bao giờ tan hẳn đi ở chân trời châu Âu dã từng sáng chói biết bao; nỗi cay đắng và sự nghi ngờ giữa quốc gia với quốc gia, giữa người với người vẫn còn là một thứ thuốc độc gặm nhấm trong cơ thể đã bị què cụt. Dẫu khoảng cách một phần tư thế kỷ giữa hai cuộc chiến tranh đã mang lại nhiều tiến bộ xã hội và kỹ thuật đến đâu, không một quốc gia nào trong cái thế giới phương Tây nhỏ bé của chúng ta lấy riêng ra, đã không mất đi khá nhiều niềm vui sống và niềm tin ngây thơ của nó. Người ta phải để ra nhiều ngày mới miêu tả hết sự thân mật và niềm vui trẻ thơ mà người dân Italia ngày xưa biểu lộ ngay cả trong cảnh cực khổ đen tối nhất; họ cười và hát xiết bao trong cái vẻ hè( ) của họ, họ chế giễu một cách trí tuệ xiết bao cái từ tính phủ(2) xấu, thay vì ngày nay họ phải đi đều bước, vẻ rầu rĩ, cằm hất lên và trái tim buồn bã. Người ta còn có thể hình dung được hay không một nước Áo dễ dãi và thoải mái đến thế trong sự hiền hậu của nó, tin một cách thành kính đến thế vào hoàng đế của họ và vào Thượng đế, đã cho họ cuộc sống dễ chịu đến thế. Những người Nga, người Đức, người Tây Ban Nha, tất cả bọn họ không biết "Nhà nước", con ngoáo ộp phàm ăn và không thương xót đã rút đi bao nhiêu là tự do và niềm vui từ nơi sâu kín nhất của tâm hồn họ nữa. Tất cả các dân tộc lúc này cảm thấy một bóng đen xa lạ trải ra và đè nặng lên cuộc đời họ. Nhưng chúng tôi là những người còn biết đến thế giới của tự do cá nhân, chúng tôi biết và có thể làm chứng rằng châu Âu đã từng có ngày vui mừng không lo lắng với tấm kính vạn hoa muôn màu mà nó trưng bày. Và chúng tôi run lên khi nhìn thấy thế giới trong cơn cuồng loạn tự sát của nó đã trở nên tăm tối hơn, u ám hơn biết bao nhiêu, nó bị dìm vào tình trạng nô lệ và cầm tù đến thế nào!


Không ở đâu, tuy nhiên, người ta có thể cảm thấy một cách hạnh phúc hơn là ở Paris, sự vô tư lự hồn nhiên mà lại rất khôn ngoan của cuộc sống, chính tại đó mà nó tự khẳng định một cách vinh quang trong vẻ đẹp của những hình thể, sự dịu dàng của khí hậu, sự giàu có và truyền thống. Những người trẻ tuổi chúng tôi đảm nhận cả một phần của sự nhẹ nhõm, và bằng cách đó góp phần của chúng tôi; những người Hoa và Scandinave, người Tây Ban Nha và Hy Lạp, người Brésil và Canađa, mỗi người tự cảm thấy ở trên bờ sông Seine như ở nhà mình. Không một chút gò bó nào: họ được phép nói, nghĩ, cười, mắng nhiếc, mỗi người sống theo ý thích của mình, ưa giao du hay thích cô độc, hoang phí hay tiết kiệm, sống mơ màng hay sống lang thang; có chỗ cho tất cả những hành vi độc đáo, có tất cả mọi khả năng đối với anh. Ở đây có những quán ăn tuyệt vời giá hai trăm hoặc ba trăm francs với tất cả những ma thuật làm bếp và rượu vang mọi loại, với rượu cô nhắc khiến người ta cam tâm chịu đầy hỏa ngục được cất giữ từ những ngày chiến trận Marengo hay Woterloo; nhưng người ta có thể ăn và uống hầu như cũng tuyệt vời như vậy tại quầy người buôn rượu vang ở góc phố. Trong những tiệm ăn đầy sinh viên khu phố La tinh, người ta có được với vài xu những đĩa nhỏ ngon lành nhất đựng bít tết ngon bổ, thêm rượu vang đỏ hoặc trắng và một ổ bánh mỳ trắng ngon tuyệt dài vài chục phân. Anh có thể ăn mặc tùy thích, những sinh viên mang mũ bêrê đi chơi ở đại lộ Saint Michel, "những người học vẽ", những họa sĩ phô trương những mũ phớt rộng vành và những áo vét lãng mạn bằng nhung đen, thợ thuyền rảo bước không chút ngượng ngập trên những đại lộ sang trọng, những lái buôn rượu vang khoác tạp dề xanh. Không phải chỉ có ngày 14 tháng 7 các cặp mới nhảy trên đường phố sau nửa đêm, và những cảnh sát thành phố cười về những chuyện này: phố xá không phải là dành cho tất cả mọi người ư? Không có ai cảm thấy ngượng ngập lúng túng trước bất cứ ai: những cô gái xinh đẹp nhất không xấu hổ đi vào các khách sạn nhỏ khoác tay với một anh mọi da đen như nhựa hoặc một anh người Trung Hoa mắt xếch; có ai bận tâm ở Paris về chủng tộc, giai cấp và nguồn gốc, là những con ngoáo ộp về sau trở thành đầy đe dọa? Người ta đi lại, người ta trò chuyện, người ta ngủ với chàng trai hoặc cô gái nào họ thích, và họ bận tâm đến người khác cũng như con cá quan tâm đến quả táo tây. A! Cần phải từng biết Berlin để thật sự say đắm Paris, cần phải trải nghiệm tinh thần nô lệ tự nguyện của nước Đức với ý thức về đẳng cấp và về những khoảng cách sâu sắc tới mức phải đau khổ về nó; nơi mà vợ một sĩ quan không "giao du" với vợ một giáo sư, vợ một giáo sư không tiếp vợ của một lái buôn, vợ một lái buôn hoàn toàn không thèm biết tới vợ một người thọ. Ở Paris di sản của Cách mạng đang còn ở trong huyết quản, người thợ vô sản tự cảm thấy mình là một công dân cũng tự do và đáng trọng như người thuê mình, cậu hầu bàn tiệm cà phê bắt tay một vị tướng đeo quân hàm như là với bạn đồng sự; những người đàn bà tiểu tư sản nhanh nhẩu, đứng đắn và sạch sẽ không nhăn mặt khi gặp cô điếm hành lang, hàng ngày họ nói chuyện với cô ta trong cầu thang, và những đứa con của họ tặng hoa cho cô ta. Một hôm tôi thấy vào một nhà ăn thanh lịch - La rue, gần Madeleine - những người nông dân giàu có xứ Normandie ở một lễ rửa tội ra về, họ vận y phục của làng quê, những đôi giày nặng đóng đinh sắt nện ầm ầm như những đôi guốc, và tóc học chải pom-mát sặc mùi đến tận trong bếp. Họ nói to và rượu vang càng chảy thì họ càng làm ồn ào, họ vừa đập vào vùng thắt lưng của các bà vợ sồ sề của họ vừa cười không chút ngượng ngùng. Họ không hề bối rối một chút nào khi tự thấy mình, những người nông dân thực sự, giữa người người mặc áo dài hẹp tà hoàn hảo và những người mang lễ phục, và người hầu bàn nhẵn nhụi bảnh bao không bĩu môi với những người nhà quê đó như họ có thể làm ở Đức, hoặc ở Anh, anh ta phục vụ họ với cùng sự lễ phép và cùng sự chú ý như đối với những vị bộ trưởng hoặc những quan chức, và người chủ khách sạn tỏ ra hài lòng được chào hỏi những người khách hơi thô lỗ đó đối với một sự thân tình hoàn toàn đặc biệt. Paris chỉ bày ra cảnh đặt kề nhau những tương phản không có trên cao, chẳng có dưới thấp, giữa những đường phố lớn lộng lẫy và những ngõ hẹp lầy lội không có ranh giới rõ rệt và bao trùm khắp nơi cùng sự náo nhiệt ấy và cùng sự vui vẻ ấy. Những nhạc công lưu động chơi nhạc ở các sân ngoại ô, người ta nghe thấy qua cửa sổ tiếng hát của các cô thợ khâu trong khi làm việc; lúc nào cũng có đâu đó trong không trung một tràng cười hoặc một tiếng gọi nhau thân mật; khi bỗng nhiên hai người đánh xe "mắng chửi nhau", họ kết thúc bằng việc bắt tay nhau, uống với nhau một cốc và nhắm với vài con sò huyết mà họ trả với giá tiền không đáng kể. Chẳng có gì là nặng nề hay giả tạo. Những quan hệ với các phụ nữ kết nối một cách dễ dàng, cắt đứt cũng thế, mỗi nam tìm thấy một nữ của mình, mỗi người trai trẻ một cô bạn đầy vui tính và không vướng víu cái sự làm ra vẻ đoan trang. A! Ở Paris cuộc đời mới dễ dàng làm sao, tốt đẹp làm sao, nhất là khi ta còn trẻ! Cuộc đi dạo đơn giản là một niềm vui và đồng thời là một sự học tập liên tục - tất cả đều cởi mở với anh, ta vào cửa hàng một người bán sách cũ, lật sách ra xem cả một khắc đồng hồ mà người buôn sách không lẩm bẩm một lời. Ta đi trong những gian trưng bày tư nhân, trong những cửa hàng bán đồ cũ linh tinh, và ta khảo sát tỉ mẩn hết thảy, ta tham dự kiểu ăn theo vào những cuộc bán của khách sạn Drouot, ta tán gẫu trong công viên với các chị bảo mẫu, không phải là dễ mà dừng lại khi ta bắt đầu đi dạo, đường phố hút lấy anh như nam châm và không ngừng tặng anh một dạng vẻ mới. Nếu mệt, ta có thể ngồi ở hiên của một trong mười nghìn tiệm cà phê và viết thư vào giấy mà người ta cung cấp cho anh không phải trả tiền, trong khi để những người bán rong trưng bày cả những hàng tầm tầm và những đồ phù phiếm của họ. Chỉ có một chuyện khó: Đó là ở nhà hoặc quay về nhà, nhất là khi mùa xuân hé lộ, lúc mà ánh sáng màu bạc dịu dàng óng ánh trên sông Seine, lúc mà cây trên các đại lộ bắt đầu xòe những tán lá xanh và lúc mà các cô thiếu nữ đính trên ngực một chùm hoa viôlet nhỏ giá một xu; nhưng không cần thiết cứ phải mùa xuân mới có được tâm trạng thư giãn ở Paris.


*


*           *


Vào lúc tôi làm quen với nó, thành phố còn chưa được hòa thành một tổng thể hoàn chỉnh như ngày nay, nhờ đường xe điện ngầm và nhờ ô tô; hãy còn chủ yếu là những xe chở khách kếch sù kéo bởi những con ngựa nặng nhọc thở phì phò bảo đảm sự đi lại. Thực ra người ta chỉ có thể khám phá Paris một cách dễ chịu hơn từ trên tầng thượng của những cỗ xe rộng ấy, hoặc từ những xe ngựa thuê ngỏ mui, chúng cũng vậy, không chạy quá hăng. Nhưng từ Montmartre đến Montparnasse còn phải đi một quãng ngắn nữa và khi xét tới ý thức tiết kiệm của dân tiểu tư sản Paris, tôi cho rằng truyền thuyết là hoàn toàn đáng tin khi kể rằng đã có những người dân Paris phía bờ bên phải chưa hề bao giờ sang bờ bên trái và những trẻ con chỉ chơi ở Vườn Luxembourg và chưa bao giờ nhìn thấy Vườn của điện Tuileries hoặc Công viên Monceau. Người tư sản thực sự hoặc người gác cổng vui lòng ở nhà mình, trong khu phố của mình, họ tự tạo nên Paris Lớn, và mỗi một trong những quận đó vậy là có tính cách riêng biệt của nó và thậm chí có cả tính cách tỉnh lẻ của nó. Chính vì vậy người nước ngoài phải có một sức quyết đoán nào đó để lựa chọn xem nên sống ở đâu. Khu phố La tinh không còn hấp dẫn tôi nữa. Tôi đã hấp tấp tới đó khi xuống tàu nhân một cuộc lưu lại ngắn ngủi hồi tôi hai mươi tuổi; ngay buổi tối đầu tiên tôi đã tới tiệm cà phê Vachette và lòng đầy tôn kính, tôi đã nhờ người ta chỉ chỗ ngồi của Verlaine và chiếc bàn cẩm thạch trên đó, trong cơn say, ông thường giận dữ gõ chiếc can nặng nề của mình để buộc phải kính nể. Và tôi, kẻ thù của rượu, tôi đã uống để chào mừng ông một cốc rượu ngải đắng, mặc dầu uống cái nước xanh lè này tôi chẳng thấy thú vị chút nào, nhưng trẻ tuổi và vốn đầy lòng hâm mộ, tôi cho rằng mình ở Khu phố La tinh nên buộc phải giữ nghi thức của các nhà thơ trữ tình Pháp; bởi quan niệm về phong cách, lúc đó tôi rất muốn ở gian áp mái tầng năm cạnh trường Sorbonne để sống và cảm nhận một cách trung thành hơn bầu không khí của Khu phố La tinh "đích thực" như tôi đã biết qua các sách. Năm hai mươi nhăm tuổi, ngược lại, tôi không còn những tình cảm lãng mạn một cách ngây thơ như thế nữa, đối với tôi khu phố sinh viên có vẻ quá đỗi quốc tế, quá ít chất Paris. Và trước hết tôi muốn chọn nơi định cư lâu dài không phải theo những điều sực nhớ lại ở tác phẩm văn học, mà để có khả năng tốt nhất tiến hành công việc riêng của mình. Tôi cân nhắc một cách thận trọng trước khi quyết định. Paris thanh lịch, quảng trường Elysées tỏ ra không một chút nào hợp với dự định của tôi, Khu phố Cà phê Hòa bình nơi tất cả những người giàu có nước ngoài vùng Bancăng gặp gỡ nhau và là nơi không có ai nói tiếng Pháp ngoại trừ những người hầu bàn, cũng chẳng hợp với tôi. Vùng yên tĩnh ở Saint-Sulpice, nấp bóng những nhà thơ và tu viện của nó, nơi mà Rilke và Suarès vui lòng trú ngụ, có lẽ hấp dẫn với tôi hơn; tôi có thể sẵn sàng hơn cả lựa chọn nơi ở cho mình trên đảo Saint Louis để được nối liền ngang nhau với hai nửa của Paris, ở bờ bên phải và ở bờ bên trái. Nhưng trong những cuộc dạo chơi, ngay từ tuần lễ đầu tiên, tôi đã tìm được một cái gì còn tốt hơn nữa. Trong khi đi lang thang dưới những gian trưng bày tranh của Palais Royal, tôi phát hiện thấy giữa những nhà xây dựng giống nhau vào thế kỷ mười tám bởi hoàng thân Philippe Egalité viền quanh khoảnh hình vuông to lớn này, một trong số những nhà đó đã bị rơi xuống hàng khách sạn nhỏ khá cổ lỗ. Tôi bảo, chỉ cho tôi một căn phòng và thích thú nhận thấy rằng cửa sổ nhìn sang những khu vườn của Palais Royal cứ chập tối là đóng lại. Lúc ấy người ta chỉ còn nghe thấy tiếng rì rầm khe khẽ của thành phố, mơ hồ và theo nhịp điệu như tiếng vỗ không ngừng của các con sóng vào một bờ biển xa xa, những pho tượng tỏa sáng dưới ánh trăng, và vào những giờ đầu tiên của buổi sớm mai đôi khi làn gió đưa đến từ khu Halles gần đó một hương thơm đậm đà của rau cỏ. Trong khoảnh hình vuông lịch sử đó của Palais Royal đã cư ngụ những thi sĩ, những chính khách của thế kỷ mười tám, thế kỷ mười chín, phía trước mặt là ngôi nhà nơi Victor Hugo và Balzac rất hay trèo hàng trăm bậc hẹp dẫn tới tầng áp mái của Marceline Desbordes-Valmore, nữ thi sĩ mà tôi rất cảm mến; chỗ kia ánh lên một vẻ rạng rỡ của đá cẩm thạch, địa điểm nơi Camille Desmoulins kêu gọi nhân dân xông lên chiếm Bastille, xa hơn nữa là lối đi có mái che, nơi viên thiếu úy nhỏ bé đáng thương Bonaparte đã tìm một người bảo trợ trong số những bà đi dạo hơi kém tiết hạnh. Lịch sử nước Pháp được gợi lại ở đây trong từng viên đá; mặt khác, tôi chỉ cần đi vào một đường phố để đến Thư viện Quốc gia nơi tôi làm việc các buổi sáng, Bảo tàng Louvre ở rất gần đấy với nhiều tranh, các đại lộ với dòng thác người của chúng; cuối cùng tôi đã ở nơi tôi hằng mơ ước, nơi mà từ nhiều thế kỷ nay đập nhịp trái tim nồng cháy của nước Pháp, ngay ở trung tâm Paris. Tôi nhớ một hôm André Gide tới thăm tôi và ngạc nhiên về sự yên tĩnh đó ở ngay giữa lòng thủ đô, ông tuyên bố với tôi: "Chính những người nước ngoài đã làm chúng tôi khám phá ra những nơi đẹp nhất của thành phố chúng tôi". Và sự thực, tôi không thể tìm thấy cái gì mang tính chất Paris hơn và đồng thời biệt lập hơn các căn phòng chăm chỉ và lãng mạn này ở ngay trung tâm của cái vòng bùa phép mà thành phố sống động nhất của thế giới này tạo nên.


*


Thời gian đó tôi đi lang thang khắp biết bao nhiêu phố phường, trong cơn nôn nóng của tôi, tôi đã nhìn thấy, đã sưu tầm được biết bao nhiêu chuyện! Vì tôi không muốn bó hẹp kinh nghiệm của mình ở riêng Paris năm 1904, với những giác quan thức tỉnh, với trái tim tôi, tôi đã đi tìm Paris của Henri IV, của Louis XIV, của Napoléon và của cuộc Cách mạng, của Rétif de la Bretonne và của Balzac, của Zola và của Charles - Philippe, với tất cả các đường phố của nó, các gương mặt của nó và các biến cố của nó. Nơi đây cũng như khắp mọi nơi trên nước Pháp, tôi cảm thấy với một sức mạnh thuyết phục rằng một nền văn học lớn hướng về cái thật mang lại cho dân tộc họ biết bao nhiêu khả năng làm cho nó bất tử, bởi sau hết, ở Paris, tất cả đã quen thuộc với trí tuệ của tôi, nhờ ở nghệ thuật đầy sức gợi cảm của các nhà thơ, những tiểu thuyết gia, những nhà sử học, những nhà họa sĩ phong tục, trước khi tôi tận mắt nhìn thấy nó. Tất cả chỉ sống động lại trong những cuộc gặp gỡ của tôi, cái nhìn cụ thể thực ra chỉ là sự nhận lại, cái thú vui "anagnôsis"( ) của người Hy Lạp mà Aristote ca tụng như là thú vui lớn nhất và huyền bí nhất trong các thú vui nghệ thuật. Tuy nhiên: người ta không bao giờ nhận biết một dân tộc, một thành phố ở những gì sâu thẳm nhất của chúng nhờ sách vở, cũng không thể nhờ những cuộc rong chơi cần mẫn, mà bao giờ cũng nhờ ở những đại biểu ưu tú nhất của chúng. Chỉ có trong tình bạn trí tuệ với những người đang sống mà người ta thâm nhập vào những mối quan hệ thực sự giữa dân tộc và đất nước của nó; tất cả những nhận xét từ bên ngoài mang lại cho ta một hình ảnh không đúng và non yểu.


Những tình bạn như thế đã được dành cho tôi, và tốt đẹp nhất trong tất cả những tình bạn đó là với Léon Bazalgette. Nhờ có những quan hệ chặt chẽ của tôi với Verhaeren, mà tôi đến thăm ở Saint-Cloud hai lần mỗi tuần lễ, tôi được tránh khỏi bị rơi vào, như phần lớn những người nước ngoài, cái giới xốc nổi những họa sĩ và nhà văn quốc tế hay lui tới quán cà phê Dôme và tựu trung - vẫn là như vậy ở khắp nơi - dù ở Munich, ở Rome hay ở Berlin. Với Verhaeren, ngược lại, tôi đến thăm những họa sĩ, những thi sĩ, mà giữa cái thành phố hưởng lạc và đầy cá tính này, họ sống mỗi người trong công việc sáng tác lặng lẽ của mình như trong một hòn đảo cô độc dành cho lao động; tôi còn thăm xưởng của Renoir và những người ưu tú nhất trong số học trò của ông. Nhìn bề ngoài, cuộc sống của một trong những nhà theo chủ nghĩa ấn tượng này, mà những tác phẩm ngày nay giá hàng chục nghìn đôla, không có chút gì khác cuộc sống của một người tiểu tư sản hay một người hưởng lợi tức niên kim; một căn nhà bình thường có một xưởng dựa lưng vào nó, không có "đồ trang trí lòe loẹt" như những Lenbach và những nhân vật nổi tiếng khác thường phô trương ở Munich cùng với những vi-la xa hoa muốn bắt chước kiểu Pompéie của họ. Những thi sĩ, với họ chẳng bao lâu sau tôi kết giao riêng, cũng sống một cách giản dị như các họa sĩ. Phần đông họ làm một chức vụ công cộng nào đó chỉ đòi hỏi ít lao động hữu hiệu, sự quý trọng lớn mà ở Pháp trong mọi cấp bậc hành chính, người ta dành cho sự sản xuất trí tuệ đã khuyên dùng từ nhiều năm cái phương pháp khôn ngoan là phong những chức vụ nhỏ nhàn rỗi không quan trọng cho những nhà thơ và những nhà văn không có thu nhập lớn từ sáng tác của họ; người ta bổ nhiệm họ giữ thư viện ở bộ Hàng hải hay ở Thượng nghị viện chẳng hạn. Điều đó bảo đảm cho họ một đồng lương khiêm tốn và khiến họ không phải làm việc nhiều, bởi vì những Thượng nghị viện rất hiếm khi tra cứu một cuốn sách, và cái người may mắn được hưởng một trong những khoản bổng lộc đó có thể sáng tác thơ một cách yên tĩnh trong các giờ làm việc ở cơ quan, tại tòa lâu đài Thượng nghị viện cổ và đẹp, trước khung cửa sổ nhìn sang khu vườn Luxembourg, và không bao giờ phải nghĩ tới quyền tác giả của họ. Và sự yên ổn khiêm nhường đó là đủ đối với họ. Những người khác làm thầy thuốc như Duhamel và Durtain sau này, hoặc hơn nữa họ làm giáo sư trung học như Romains và Jean Richard Bloch, họ dùng thì giờ ở hãng Havas, như Paul Valéry, hoặc là nhân viên làm thuê cho các nhà xuất bản. Nhưng không một ai có htam vọng, giống như những người nối nghiệp họ sau này, được nuông chiều bởi phim ảnh và những số lượng in lớn, tạo dựng tức khắc một cuộc sống độc lập trên những thành quả đầu tiên của thiên hướng nghệ thuật của họ. Điều mà những thi sĩ đó chờ đợi ở nghề nghiệp khiêm nhường của mình, được chọn lựa không có những ý đồ tham vọng, không gì hơn là đời sống vật chất chắc chắn, bảo đảm cho họ sự độc lập mà họ cần có để sáng tác. Nhờ có sự yên ổn đó, họ có thể coi thường những tờ nhật báo lớn của Paris tất cả nhiều hay ít đều bị mua chuộc, viết không đòi tiền thù lao cho những tạp chí đứng vững được nhờ những hy sinh cá nhân họ, và chịu đựng một cách kiên nhẫn rằng những vở của họ chỉ được diễn ra trong những sân khấu văn học nhỏ và rằng tên họ chỉ được biết tới trong vòng nhỏ hẹp những bạn bè họ giao du; về Claudel, về Péguy, về Rolland, về Duarès, về Valéry, chẳng ai biết gì hết về họ suốt hàng chục năm trời ngoại trừ một giới tinh hoa rất hạn hẹp. Riêng họ trong cái thành phố bận rộn với họ sống và làm việc trong im lặng cho một nhóm yên bình, ở cách xa "Foire sur la place"( ) quan trọng hơn là tiến thân một cách nhanh chóng, và họ không xấu hổ sống như những người tiểu tư sản hơi hà tiện, để bảo đảm cho tư tưởng sáng tạo của họ một sự tự do và một sự táo bạo càng lớn hơn nữa. Vợ họ làm bếp và đảm nhiệm việc nội trợ, sự giản dị và tình thân thiện ngự trị trong những cuộc hội họp của những người thân. Người ta ngồi trên những chiếc ghế tết bằng rơm quanh một cái bàn phủ tạm một tấm khăn kẻ ô vuông - không có sự xa xỉ hơn ở nhà người thợ lắp máy cùng tầng, nhưng người ta tự cảm thấy thoát khỏi mọi gò bó. Họ không có điện thoại, chẳng có máy đánh chữ, không có thư ký, họ tránh mọi dụng cụ kỹ thuật cũng như các phương tiện tuyên truyền chuyên tác động vào trí não, họ viết sách bằng tay như người ta đã làm cách đây một nghìn năm, và ngay cả trong những nhà xuất bản lớn như "Mercure de France" không hề có những điều quy định, chẳng có bộ máy phức tạp. Không gì bị lãng phí cho uy tín và sự giao tế; tất cả những thi sĩ trẻ người Pháp sống như toàn thể dân chúng, chỉ vì niềm vui sống, tất nhiên trong hình thức cao thượng nhất của nó, vì niềm vui sáng tạo một tác phẩm nghệ thuật. A! Những người bạn mà tôi mới làm quen đó, với sự trong trắng về tinh thần của họ, buộc tôi phải xét lại ý kiến mà tôi đã có về nhà văn Pháp, cuộc sống của họ khác biết bao nhiêu với những gì người ta thấy miêu tả trong Bourget và trong các nhà tiểu thuyết đúng mốt khác, đối với những người này "phòng khách" đồng nhất với cuộc đời! Và những người vợ họ dạy tôi biết bao nhiêu về sự sai lệch tội lỗi mà do niềm tin qua đọc sách chúng tôi đã hình dung hồi ở nhà về chân dung người đàn bà Pháp, người thích ăn chơi, chỉ nghĩ đến những cuộc dan díu, đến sự phung phí và cái bề ngoài! Chưa bao giờ tôi thấy những phụ nữ nội trợ đức hạnh và hiền hậu hơn là trong nhóm bạn bè này; tằn tiện, khiêm nhường và vui tươi ngay trong những điều kiện khó khăn nhất, họ vừa sửa soạn cho anh những món cao lương mĩ vị nho nhỏ trên một cái lò bé tí vừa chăm sóc con cái và cùng với điều đó là một sự tri kỷ trung thành về tinh thần với chồng họ. Chỉ có ai đó đã sống trong những môi trường ấy bằng tình bè bạn, tình đồng chí mới biết thế nào là nước Pháp đích thực.


Điều phi thường nơi Léon Bazalgette, người bạn trong số những người bạn của tôi, mà cái tên bị quên đi quá bất công trong phần lớn các bức tranh văn học hiện đại Pháp, - chính là ở giữa cái thế hệ thi sĩ đó, ông đem toàn bộ sức sáng tạo của mình phục vụ những tác phẩm nước ngoài và như vậy dành tất cả cường độ tuyệt vời của bản tính mình cho những người mà ông yêu mến. Ở ông, người "đồng chí" bẩm sinh, tôi đã học biết hình mẫu hiện thân và tuyệt đối của con người sẵn sàng với mọi hy sinh, thực sự tận tụy, coi nhiệm vụ của đời mình là đem lại cho những giá trị thiết yếu của thời đại mình hiệu quả trọn vẹn; và không chịu khuất cả với lòng kiêu hãnh chính đáng được ngợi khen vì đã khám phá và giới thiệu các giá trị ấy. Nhiệt tình tích cực của ông chỉ là chức năng tự nhiên của tình cảm đạo đức của ông. Vẻ ngoài hơi có dáng quân nhân, mặc dầu là người tích cực chống chủ nghĩa quân phiệt, ông đưa vào giao tiếp của mình sự thân tình của một người bạn thực sự. Bao giờ cũng sẵn sàng giúp đỡ, khuyên nhủ, không lay chuyển được trong tính trung thực của mình, đúng giờ như một chiếc đồng hồ, ông quan tâm đến tất cả những gì đụng đến người khác, không bao giờ nghĩ đến lợi ích cá nhân mình. Thời gian, tiền bạc ông không đếm xỉa khi liên quan đến một người bạn, và ông có những người bạn trên toàn thế giới, một nhóm người hạn hẹp, nhưng chọn lọc. Ông đã dành mười năm của đời ông để giới thiệu với người Pháp về Walt Whitman bằng một bản dịch toàn tập thơ của ông ta và một tiểu sử đồ sộ. Mục đích cuộc sống của ông là bằng cách đề xuất mẫu một con người tự do, yêu mến toàn thế giới, thúc đẩy quốc gia ông đưa mắt nhìn sang bên kia các biên giới, là làm cho đồng bào ông hùng tráng hơn, là khắc sâu vào trí não họ tinh thần bạn hữu: người tốt nhất trong những người Pháp đồng thời là kẻ thù hăng say nhất của chủ nghĩa quốc gia.


Chẳng bao lâu chúng tôi gắn bó với nhau bằng một tình bạn thân mật và anh em bởi chúng tôi đều yêu thích phục vụ những tác phẩm nước ngoài một cách tận tụy và không chút lợi ích vật chất và vì chúng tôi coi sự độc lập về tư tưởng là ân phúc tối thượng. Với ông lần đầu tiên tôi đã học để biết cái nước Pháp "ngầm" này; khi sau này tôi đọc trong Rolland cuộc gặp gỡ của Olivier với anh chàng người Đức Jean Christophe, tôi cứ ngỡ rằng trong đó ông đã thuật lại chính câu chuyện của chúng tôi. Nhưng cái kỳ diệu hơn cả trong tình bạn của chúng tôi, cái làm cho tình bạn ấy khó quên nhất đối với tôi chính là ở chỗ bao giờ nó cũng phải chiến thắng một điểm nhạy cảm và tế nhị, mà sự chống đối thường xuyên, trong những cảnh thông thường, đã có thể cản trở hai người viết văn xây dựng một tình thân trung thực và thân thiết. Điểm tế nhị, đó là Bazalgette với lòng trung thực tuyệt vời, kiên quyết bác bỏ bất cứ cái gì tôi viết lúc đó. Ông yêu mến con người tôi, ông có lòng quý trọng đầy hàm ơn về sự tận tụy của tôi đối với tác phẩm của Varhaeren. Mỗi lần tôi tới Paris, ông chung thủy chờ tôi ở nhà ga và là người đầu tiên chào tôi; bất cứ ở đâu ông có thể phục vụ tôi, ông đều có mặt; chúng tôi thống nhất với nhau hơn là anh em trên mọi vấn đề thiết yếu. Nhưng ông kiên quyết nói không về tất cả những công trình cá nhân của tôi. Ông biết những bài thơ và những đoạn văn của tôi qua những bản dịch của Henri Guilbeaux (ông này về sau giữ một vị trí quan trọng trong chiến tranh thế giới với tư cách là bạn của Lénine), ông cự tuyệt chúng với sự thô bạo chân thực. Tất cả những cái này không có mọt chút quan hệ nào với thực tế, ông phản đối không mệt mỏi, tất cả đều là văn học bí hiểm (mà ông ghét cay ghét đắng), và ông nổi giận thấy lại chính là tôi viết ra những thứ đó. Tuyệt đối trung thực với bản thân mình, ông không chấp nhận trong điểm này một nhượng bộ nào, kể cả những nhượng bộ vì lịch sự. Ví dụ như khi ông đứng đầu một tạp chí, ông yêu cầu sự hợp tác của tôi - nghĩa là ông yêu cầu tôi đem đến cho ông những cộng tác viên Đức tiêu biểu phần nào, tức là những bài viết có giá trị hơn những bài viết của tôi; về phần tôi, bạn thân nhất của ông, ông khăng khăng không đòi hỏi ở tôi lấy một dòng, không in lấy một dòng, mặc dù trong khi đó, với tinh thần tận tụy thuần túy đối với một người bạn thân, và không lấy một xu tiền công, ông đồng ý hiệu đính cho một nhà xuất bản bản dịch sang tiếng Pháp của một trong số những sách của tôi. Việc tình bằng hữu anh em ấy không có lấy một giờ nguội lạnh trong suốt mười năm, bất kể cái tình huống kỳ quặc đó đã khiến cho đối với tôi nó là đặc biệt quý giá. Và không có gì làm tôi sung sướng bằng sự tán thành của Balzagette, khi, đang trong thế chiến, - từ bỏ tất cả những gì mà tôi đã làm tới lúc đó, - cuối cùng tôi đã đạt tới một hình thức biểu hiện có cá tính riêng. Bởi tôi biết rằng cái gật đầu của ông đối với những tác phẩm mới của tôi cũng thành thực như cái lắc đầu thô bạo mà ông đối lập với tôi trong mười năm.


*


*           *


Nếu như tôi viết cái tên rất thân mến Rainer Maria Rilke trên trang giấy dành cho những ngày Paris của tôi, mặc dù ông là một thi sĩ người Đức, chính vì tôi thường gặp ông nhiều nhất ở Paris và vì sự giao tiếp của chúng tôi đặc biệt dễ chịu ở Paris, đến nỗi khuôn mặt ông, như trong những chân dung cổ, bao giờ đối với tôi cũng hiện ra nổi lên trên cái nền của thành phố này, mà tôi yêu mến hơn mọi thành phố khác. Ngày nay khi tôi nghĩ đến ông và đến những bậc thầy khác của Ngữ ngôn được tôi luyện như nghệ thuật uy nghi của nhà kim hoàn, khi tôi nghĩ tới những cái tên tôn kính đã chiếu sáng lên tuổi trẻ của tôi như những chòm sao không thể vươn tới được, tôi bị tấn công không cưỡng lại nổi bởi câu hỏi sầu muộn sau đây: những thi sĩ như thế đã hiến dâng hoàn toàn cho thơ trữ tình thuần túy, có thể còn có trong thời đại náo động và hỗn loạn phổ quát của chúng ta nữa hay không? Phải chăng một nòi giống đã biến mất mà tôi luyến tiếc, một dòng họ không con cháu trực hệ trong những tháng ngày của chúng ta mà tất cả những cơn lốc của số phận tràn qua - những thi sĩ đó không ham muốn một chút gì về đời sống bên ngoài, cả sự đồng tình của quần chúng, cả sự biệt đãi về danh dự, cả phẩm tước, cả lợi lộc, họ không khao khát gì hơn là liên kết những khổ thơ hoàn hảo trong một nỗ lực lặng lẽ ấy thế mà say mê, mỗi dòng thấm đượm chất nhạc, chói lòa màu sắc, rực rỡ hình ảnh? Họ hợp thành một phường hội, một đoàn thể gần như tu hành ngay giữa thời đại ồn ào của chúng tôi, họ là những người, đã quay lưng lại với cái thường nhật một cách quả quyết đến thế đối với họ không có gì đáng kể trong vũ trụ này ngoài tiếng hát êm dịu và nhẹ nhàng, vậy mà vẫn tiếp tục sống sau tiếng của thời đại, khi một vần thơ tương hợp với một vàn thơ khác giải phóng mối xúc động khó tả nên lời, nhẹ hơn chiếc lá rơi trong gió, vậy mà làm xúc động từ sự rung động của nó, những linh hồn xa xôi nhất. Nhưng chúng ta, những người trẻ tuổi, hứng khởi biết bao bởi sự có mặt của những con người trung thành với bản thân mình ấy, họ có những đức tính mẫu mực biết bao, những người đày tớ và người bảo tồn nghiêm khắc ấy của ngôn ngữ, họ chỉ dành tình yêu của họ cho lời lẽ trong sáng, cho lời lẽ không hề phục vụ cho thường nhật và cho báo chí mà phục vụ cho lâu dài và cho hậu thế. Gần như nhục nhã nếu ngước mắt nhìn họ: cuộc đời họ mới lặng lẽ làm sao, không tiếng vang và như không nhìn thấy, người này sống một cuộc sống quê mùa ở nông thôn, người khác yên thân trong một nghề nhỏ, người thứ ba đi khắp thế giới như người: Pasionate pilgrim( ) chỉ một số ít người biết họ và chính vì vậy mà họ càng được yêu mến mãnh liệt hơn. Người này ở nước Đức, một người khác ở Pháp, một người nữa ở Italia, vậy mà tất cả trong cùng một tổ quốc, bởi họ chỉ sống trong thơ, và, trong khi họ nghiêm khắc từ bỏ tất cả những gì là phù du, bằng việc sáng tạo những tác phẩm nghệ thuật, họ làm cho cuộc đời riêng của họ cũng là một tác phẩm nghệ thuật. Bao giờ tôi cũng cảm thấy tuyệt diệu là chúng tôi hồi trẻ tuổi có được trước mắt những thi sĩ trong sáng như vậy. Nhưng tôi vẫn còn tự hỏi với một nỗi lo âu thầm kín: những tâm hồn hoàn toàn hiến dâng cho nghệ thuật trữ tình như vậy liệu có thể tồn tại ở thời đại chúng ta được không, với những điều kiện mới của cuộc sống của chúng ta, nó kéo con người ra khỏi mọi sự tĩnh tâm và ném họ ra ngoài bản thân họ trong một cơn thịnh nộ gây chết chóc, như một đám cháy rừng đuổi muông thú khởi nơi ẩn náu sâu kín nhất của chúng? Tôi biết rõ, điều thần diệu của thi nhân không ngừng tái sinh qua các thời đại và lời an ủi cảm động của Goethe trong Bài hát đám tang Huân tước Byron cứ mãi mãi chân thực:


Bởi vì đất sẽ còn sinh ra họ.


Như nó đã luôn sinh ra họ.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 27.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 25.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 24.06.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
xem thêm »