tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27808391
Truyện ngắn
28.05.2012
Ngọc Giao
Yên hoa

Nửa giấc yên hoa cười mộng cũ


Hai hàng si lệ khóc tình xưa.


Tchya


- Bà đã về ạ. Mời bà vào hàng nhà cháu xơi chén nước. Có riêu cua ngon lắm. Rước bà vào.


Người đàn bà đon đả chào mời cô gái tỉnh thành. Quế cười không đáp. Cô cúi đầu dưới mái rơm tối thấp, bước vào quán nước. Hai người đàn ông quần vén cao đến bẹn, bắp chân đầy bùn, nhích ra mãi đầu ghế, nhường chỗ cho cô gái tỉnh thành. Quế xé mảnh báo trong chiếc làn mây, lau ghế rồi mới ngồi. Không ai lấy cử chỉ ấy làm lạ, người ta nghĩ rằng vạt áo lụa kia, đũng quần lụa trắng nõn kia không thể đặt dễ dãi xuống cái ghế cụt què bẩn thỉu. Phí của đi, vả người tỉnh thành bao giờ cũng sạch.


Bà hàng hai tay bưng bát bún riêu đặt lên chõng, trước mặt cô. Bà ta rút đôi đũa trong ống tre, lau cẩn thận rồi mới đưa cô. Quế “xin phép quà” tất cả mọi người. Bà hàng và hai người thợ cầy vội đáp: “Không dám ạ”. Họ đáp cùng một lúc, sốt sắng và kính cẩn. Quế ăn ngượng nghịu, cô liếc thấy không những lũ trẻ xúm đến nhìn cô, cả hai người thợ cầy cũng ngắm cô chăm chú.


“Cô tân thời, đẹp quá nhỉ!” - Lũ trẻ bảo nhau.


“Chuyện! Ăn trắng mặc trơn mà lại không đẹp. Chứ  như bu chúng mày ấy nhá!”. Một bà già ngồi phơi nửa mình da cóc, nghiêng mái tóc bạc, tuốt trứng rận ở mảnh áo ánh nâu cười, bảo với lũ trẻ.


Quế ăn xong, bưng bát chè tươi tráng miệng. Mùi ngai ngái của những chiếc lá xanh khiến cô nao nao nhớ lại những buổi chiều ngày xưa trên mảnh sân  rộng rãi lát gạch Bát Tràng của nhà, về vụ gặt, sau những bữa cơm ầm ĩ, cũng có những bát chè tươi vàng nóng thế này, dưới ánh trăng, tiếng đập thóc và tiếng hát của bọn thợ gặt cất vang làng xóm.


- Nước ngon đậm quá! Bà nấu bằng nước sông?


- Thưa bà, sông dạo này cạn, bẩn lắm. Nhà cháu nấu bằng nước giếng, nấu khéo cũng ngon.


Quế trả tiền, đứng lên. Ở sân nhà bên kia, cách quán một bờ rào dâm bụt có tiếng người con gái hát. Không phải câu hát ví von của gái đồng ruộng, mà là bài hát “gửi thư”. Cái hơi gió đoạn trường thấm ngay vào lòng cô, như hơi sương giá thấm mái tóc con người cô độc đi trong đêm khuya. Cô vén cành lá, ghé mắt nhìn vào sân. Người con gái mặc chiếc áo lót mình màu hồng đã vá, rách, đang ngồi giặt bên chum nước. Cô nghĩ tới phận mình. Năm sáu năm trời, đã có biết bao nhiêu buổi sáng, buổi chiều, cô cũng ngồi giặt như thế kia, cũng đôi khi buồn miệng thì hát lên vài câu hát thuộc lòng mà cô đã hát vào ban đêm cho người ta nghe. Hai cánh tay yếu đuối giũ vò mớ quần áo nát bẩn vì canh rượu nô đùa, vì cuộc yêu đương ô trọc phần nhiều là uy hiếp. Giặt giũ xong thì mắt cô hoa lên, hâm hấp sốt. Những lúc đó cô chỉ mong được giấc ngủ bù cho đỡ ốm, không thiết gì ăn uống.


- Khổ, ở đây thì ma nó hát ư!


Quế tắt vội ý nghĩ bằng câu nói thầm thì ấy. Cô rẽ ra xa. Người đàn bà bán bún riêu cũng chạy ra, chừng đi đâu nhổ cốt trầu rồi quay lại toe toét cười:


- Ấy, thưa bà, cái nhà tơ này mới dọn được hai tháng nay, cũng có khi có khách liền năm sáu tối. Khách toàn các thầy đề, thầy lại, chánh, phó, lý cả. Cũng có khi ba bốn đêm ngồi ế. Cứ sáng trăng mà vắng khách là các cô ấy mặc quần áo trắng lồm lộp dắt nhau đi nhởn nhơ như ma trơi, trông mà ghê.


Người đàn bà vui tính, hay nói lấy câu chuyện làm quà cho người hàng tỉnh. Nhưng cô không muốn nghe. Cô đi vội ra cỗ xe ngựa chở khách ở dẫy cây bàng cách sân ga một quãng.


Cỗ xe ngựa tồi tàn, thay xe kéo, đã có mấy người đàn bà, đàn ông ngồi giữ chỗ trước. Trên mui xe chất đầy thúng mủng. Xe đi khỏi nhà ga, hình ảnh người con hát gày còm trong góc vườn chuối nhắc cô nghĩ đến bao nhiêu hình ảnh người con hát nữa ở thị thành. Quế sáng nay vừa ở đấy lọt ra, cô những mong giải thoát linh hồn xác thịt dăm ba ngày. Dăm ba ngày sẽ qua đi rất chóng, cô sẽ phải quay trở lại đời người con hát, sáng tắm rửa giặt giũ, chiều đưa đón, đàn ca.


Nỗi buồn làm ê ẩm lòng Quế, cô quay nhìn ra bên đường. Khách đàn ông, đàn bà chuyện trò ầm ĩ. Vó ngựa giẫm lộp cộp trên mặt đất rắn khô đầy đá vụn. Gió mát lộng cánh đồng lúa xanh mướt, câu chuyện ồn vào về việc ruộng nương buôn bán trong xe làm cho cô khuây dần. Cô cũng góp dăm ba câu chuyện với họ. Niềm vui sống nơi đồng ruộng, quê hương bị mất đi trong thân hình héo tàn vì son phấn chợt trở lại một cách thư thái, hồn nhiên. Cô để ý nhìn người đàn bà ngồi trước mặt. Ở người đàn bà ấy, cô nhận ra cái miệng nhai trầu, giọng nói nhỏ nhẹ giống mẹ mình. Người đàn bà mở khăn tay lấy trầu cau ăn. Bà ta mời một bà bên cạnh, tiện tay mời cả cô. Bà bên cạnh cười bảo:


- Bà ấy răng trắng, ăn gì cái của nợ này!


Quế nhanh nhảu đáp:


- Có ạ, cháu xin cụ một miếng làm phần cho… đẻ cháu.


Cô toan nói là u. Nhưng gọi là u thì quê mùa. “Mình là người tỉnh phải gọi là mẹ hay là đẻ”. Cô vẫn nghĩ thế mỗi lần gặp mẹ, hay về quê.


Cô nhặt một miếng trầu, bỏ vào “sắc”. Mọi người chú ý ngắm chiếc ví da đen. Miệng ví mở ra, cái khóa mạ kền bóng nhoáng bấm vào nhau kêu “tách” một tiếng làm cho họ lấy làm lạ lắm.


- Bẩm, cụ lớn nhà có khỏe mạnh không? - Người đàn ông xanh xao, rách rưới ngồi ở cuối ghế gãi đầu hỏi. Quế sửng sốt quay sang phía người đó. Bác ta lại gãi tai, cặp cổ con chó vàng ghẻ lở vào giữa hai cái đùi gầy nhô xương - Bẩm bà lớn không biết cháu. Cháu là cu Hĩ, ở xóm Ruối làng bên đấy ạ.


Mặt cô đỏ bừng lên. Năm năm trời, bỏ bình khang lấy lẽ một ông quan già, chửa đẻ hai lần, rồi lại trở về bình khang, cô đã đành coi là một giấc mộng hồng nhan, hồ quên đi thì kẻ kia lại nhắc nhủ cô nhớ đến nỗi chua cay của số kiếp mình giữa một trường hợp bất ngờ, đột ngột.


Quế ngượng nghịu, khẽ đáp:


- Cảm ơn ông… nhà tôi vẫn mạnh.


“Bà phủ đấy”. Người đàn ông ôm chó ghẻ thì thầm với một ông già. Chừng ý anh ta muốn khoe khoang, sĩ diện với mọi người là anh ta quen biết một bà vợ quan. Cũng như những người làng bên, anh ta yên trí cô vẫn là bà phủ như thường. Người làng cô thì đều biết cô đã bỏ chồng, bây giờ đành phận gửi hai con cho bố mẹ ở quê nuôi. Họ còn tin rằng cô mở một cửa hàng thóc gạo ngoài Hà Nội.


“Vâng, cháu nó buôn bán ngoài ấy, nhờ trời phật cũng khá, bận lắm, thỉnh thoảng mới về thăm nhà được”.


Bà mẹ cô thường đáp mọi người như vậy. Duy ông cụ thân sinh ra cô, là nhà nho, chỉ thở dài lặng lẽ.


Từ nãy chiếc xe ngựa đã qua mấy cánh đồng và bao nhiêu quán nước cô độc bên đường vắng ngắt. Quế mong chóng đến nơi. Cô rất lo người đàn ông ôm chó kia gợi đến chuyện chồng con, chuyện “danh giá” của mình ngày cũ, những chuyện đã khiến cô khóc nhiều.


Xe đỗ, Quế đi trên con đường nhỏ vào làng. Làng vào đám. Cửa đình cờ lọng uy nghi. Dân đang tế. Cô qua cửa đình, đầu cúi xuống. Bao nhiêu người cất tiếng chào cô, nhất là những bà, những cô đang xem tế. Ông cụ thân sinh ra cô ngồi trong sân đình với các bô lão trông ra thấy con, vẫn ngồi yên không nhúc nhích. Bà mẹ cô thì tất tưởi dắt hai cháu chạy ra đón. Quế tay ẵm đứa nhỏ, tay dắt đứa lớn, chào hỏi mọi người, nói với mẹ, nựng hai con.


Về đến cổng nhà, con chó vện xổ ra sủa ầm ĩ. Bà mẹ quắt mắng chó. Cô cười bảo mẹ:


- Mẹ đừng mắng nó. Tại lần này nó trông con khác đi chăng, nên nó lạ.


Bà mẹ nín lặng, rồi đáp:


- Ừ, ta trông độ này cô béo đẫy đà ra đấy. Chó lạ là phải.


Quế vừa bước lên thềm vừa nói:


- Nhưng sao con vện gầy ốm thế kia?


Bà cụ lại nín lặng. Một lát, bà mới chép miệng:


- Trời đất này, con tính, ở nhà quê người chẳng có mà ăn, lại còn đi trách chó gầy.


Quế nghe mẹ nói, rầu mặt lại. Cô nhìn xuống đôi giầy mới và chiếc áo lụa màu rượu vang lộng lẫy của mình, cô nghĩ đến những bữa cơm gạo hẩm, cà mặn, rau già ở nhà quê để so sánh với những canh rượu trắng đêm của bọn khách chơi nói tục, uống say, đập phá, ném tiền như rác.


Quế thở dài. Bà mẹ mắng:


- Cái con bé này cứ thấy mặt là thấy thở dài. Không trách, trong tử vi, bố mày bảo còn là khổ.


Nỗi đau xót từ bao lâu đến lúc này cô không còn nén nuốt đi được nữa, cô lăn ra giường nức nở. Bà mẹ nhìn con, chép miệng cúi đầu bước ra sân, xuống bếp. Một lúc, bà lên, đập vào chân con gái:


- Con ngủ đấy à? Dậy ăn cơm. Có xôi thịt lộc thánh ông ấy dặn để phần cho con gái ông ấy đây. Chả báu lắm đấy!


Quế bừng mở mắt, vươn vai, ngồi lên, cười:


- Thế mà con ngủ thật à. Đêm qua thức suốt tới sáng mà.


Hai đứa con xán đến gần mẹ. Cô ôm con vào lòng hôn hít. Bà mẹ ngồi xuống giường, xới cơm cho con ăn:


- Mày là mẹ trẻ con rồi mà vẫn như con trẻ, khóc ngay đấy, cười ngay đấy. Giá mày đi hát chèo thì đóng vai Vân dại được. Ăn đi, rồi tối ra đình. Đón được một phường, thấy bảo là hay lắm.


Quế buông đũa, nhìn ra sân. Bóng nắng chiều đã tắt. Cô mỉm cười nghĩ bụng: “Ừ, anh ấy, một lần, cũng viết thư bảo mình khóc cười như Vân dại”.


Đó là Phong, một người đàn ông trẻ tuổi đã thương và yêu cô. Mối tình gặp gỡ trên chiếu rượu, thường như mọi sự gặp gỡ của ái tình. Nhưng có lẽ do nợ nần, duyên nghiệp gì đó nên Quế đã thấy ngay tình che chở, tình đùm bọc lâu bền có thể trông chờ được ở con người này. Anh không nhìn cô như nhìn một con hát. Mỗi lần ngồi trước anh, cô lại nhận thấy ở đáy lòng những tình cảm kính nể, trong đó chứa cả sự phục tòng. Cô đã thú lòng mình. Người đàn ông ít nói, chỉ lặng lẽ dang cánh tay ra đón lấy mái tóc đen ngả xuống, và chỉ im lặng “nghe” những giọt lệ rơi trên má cô.


Quế đang nghĩ miên man, ngoài ngõ lao xao tiếng người cười nói. Mấy người bước vào sân, thì ra mấy cô bạn ngày nhỏ của Quế. Bây giờ họ đã có chồng, có con. Cô nào cũng làm ra đứng đắn, ăn mặc thì già nua, xồ xề.


- Bà đã về đấy ư?


Một cô khác nói:


- Ăn cơm ngoài tỉnh quen, về quê gạo thế kia nuốt sao được.


Họ nói thực tình chứ không có ý gì. Nhưng cô tưởng đó là những câu mỉa mai. Cô đáp:


- Các chị đến hay! Bọn đánh chắt với nhau cả mà sao bây giờ các chị cứ gọi em là bà. Em ít tuổi hơn các chị. Gọi thế còn gì là thân tình nữa.


Sự thực thì cô cũng biết họ kính nể cái danh “bà lớn” của cô, tuy đã hai năm nay cô bỏ chồng. Cho nên sự tôn trọng kia càng thêm gợi tủi hờn cho cô và càng bắt cô đau đớn cái oan nghiệp hiện giờ. Quế đứng lên. Các cô bạn vui vẻ kéo nhau ra ngõ, họ đến rủ cô đi xem chèo. Tiếng guốc dép khua lẹp kẹp, tiếng cười nói nô đùa của các cô gái vang ngoài ngõ tre.


Quế đứng lặng giữa sân, lẩm bẩm:


- Ấy, thà rằng cục mịch nhà quê. Các chị ấy như thế là yên phận. Có chị tốt số đã được nhà chồng có trâu cày ruộng cấy. Có chị đã gây nên cơ nghiệp, ruộng cá ao liền. Cũng có chị gặt thuê, cấy mướn, nhưng thôi thì cũng lần hồi đủ áo mặc cơm ăn cho chồng cho con. Còn mình thì… lênh đênh đâu nữa vẫn là lênh đênh, chả ra làm sao cả!


Cô chạnh thương phận, nấc lên khóc. Bà mẹ đã dắt hai cháu đi nhờ người đến trèo cau trẩy một buồng cho cô con gái chốc nữa ra chùa lễ.


Cô đứng khóc một mình giữa sân. Bóng trăng non mờ xanh giãi tà tà trên nền sân gạch. Một lần nữa, trong cái vắng lặng, thấy mình chơ vơ, cô lại vụt nghĩ đến ngày xưa, ruộng đất còn nhiều, đã có những tối sáng trăng về vụ gặt, trên khu sân rộng rãi này ngát mùi cơm mới, vang lên tiếng đập lúa, tiếng hát ví lẳng lơ của phường trai gái gặt thuê. Bây giờ sa sút đi rồi, ruộng đất về tay kẻ khác. Bố mẹ thì già. Cô thì không chồng mà vẫn đèo bồng hai con. Thân tàn đi, tuổi lên mãi, cô chưa biết rồi mai sau ra thế nào.


“Anh Phong ơi!”.


Người kỹ nữ xót xa ngửa mặt ngước nhìn ngôi sao Hôm mọc bơ vơ giữa vùng trời cao rộng. Cô nghĩ đến hình bóng đôi cánh tay ai giơ lên trong ánh trăng lạnh đêm xuân.


Người đàn ông trẻ tuổi buổi chiều nay cũng đi với Quế một chuyến tàu. Mỗi người xuống một ga. Cảnh chia tay trên đường trường lần thứ nhất đã khiến cô lo sợ ngày biệt ly. Vẫn đã biết “Ca trường nào thiếu biệt ly”. Cô trải biệt ly nhiều rồi. Nhưng lần này, tạm chia tay người đàn ông trẻ tuổi kia trong cuộc đồng hành, cô thấy lòng muốn khóc, tưởng như là chia tay trọn kiếp. Cô tưởng tượng giờ này người ấy cũng đang đứng một mình giữa cái trại mênh mông ở quê nhà, và có lẽ người ấy cũng nhìn sao để nghĩ đến mình. Cô nhớ, một lần người đàn ông ấy đã ngỏ lòng mình trong một phút rung động nhất: “Đêm kia, ở trại, anh đã ngủ dưới một tà áo xanh”. Cô không hiểu. Nhưng rồi cô cũng hiểu được rằng: anh ấy nằm dưới một vòm trời đêm xanh, mà nghĩ rằng nằm dưới tà áo xanh của cô. Thâm tình đó khiến cô kiêu hãnh với chính mình, nhưng càng khiến cô phải khóc thêm nhiều.


Bà mẹ đã nhờ được người về bẻ cau. Bà vui vẻ giục con rửa mặt để ra đình.


Quế dắt con, cùng mẹ ra ngoài xóm. Trong đình, phường chèo đã khua trống mõ giáo đầu.


Cô bước vào đình. Ai cũng ngoảnh ra nhìn người đàn bà tỉnh thành sang trọng, xinh đẹp, nhất là người đàn bà ấy đã là một bà quan. Cô cúi chào các cụ. Các cụ bèn truyền cho phường hát tạm im trống mõ. Cô đưa ông thủ từ cái khay đồ lễ, kèm ba đồng bạc giấy mới. Ông từ mời cô vào lễ. Một hồi chuông trong cung thánh vang lên. Không khí u tịch. Lễ xong, các cụ sai “giai hóa” mời “bà phủ” ngồi lên chiếu hoa nghe hát.


Quế cáo mệt xin về. Sau lưng, cô nghe thấy người ta xì xào khen mình trẻ đẹp. Họ bàn với nhau “Bà ấy buôn bán chắc phát tài lắm. Người cứ mỗi ngày thêm béo trắng ra”.


Ra khỏi chỗ ồn ào, cô thấy dễ chịu. Vẻ trang nghiêm mà người ta đã tạo nên vì cái sự “lễ thánh” và chính cũng vì cái “danh giá không còn nữa” của mình khiến cô hổ thẹn và khó chịu.


Bà mẹ giữ cháu ở lại xem hát. Một mình Quế ra khỏi đình, đi về xóm.


Ánh trăng trắng các ao bèo và loáng trên những cành tre.


Về đến nhà, cô thấy ông khóa đang buông màn ở cái giường vẫn dành riêng cho cô những khi về đình đám hay giỗ Tết. Ông quạt muỗi gài màn cẩn thận rồi bảo con, giọng nghiêm mà nhân hậu:


- Thôi con đi mà nghỉ. Đi xa về mệt.


Ông chỉ nói vậy thôi, rồi lẳng lặng ngồi bên đèn, mở sách xem. Quế biết tính cha vẫn thế. Từ ngày cô lạc vào chốn yên hoa, rồi thì cuộc đời chìm nổi bao lần, ông chỉ nghiến răng, vuốt bụng thở dài. Ông không mắng, không han hỏi, cũng không bao giờ nhìn dung nhan con gái. Do thế, cô càng kính sợ cha, kính sợ để thương xót thêm nhiều.


Quế lẻn ra ngoài thềm, ngồi phệt xuống dựa lưng vào thân cột. Cô nhìn bóng ông khóa in lên vách, câm lặng như một tượng hình khổ hạnh nghìn đời, cô nhắm mắt lại, mơ trong ánh trăng đôi mắt chiêu đăm và nghiêm nghị của người đàn ông trẻ tuổi chắc đêm nay cũng ngồi câm lặng như cha mình.


Tiếng trống chèo ở ngoài đình đưa văng vẳng vào trong xóm, tiếng tù và rúc xa ngoài cánh đồng.


Ông khóa, không ngẩng lên, khẽ gọi:


- Quế vào thầy bảo.


Cô rón rén bước vào.


Ông nạp mồi thuốc lào vào điếu, hút. Giọng ông thấp xuống như những khi tàn canh rượu, một mình thủ thỉ với sách đèn.


- Số con đào hoa thủ mệnh. Bấy lâu tình duyên lênh đênh, âu chẳng qua số mệnh. Nhưng tới hạn năm nay khá, thiên khôi, thiên việt, quý nhân tới, đào, hồng, hỷ hội ở cung phu, chiếu vào cung mệnh. Tất năm nay con gặp được người tử tế.


Quế đỏ mặt cúi đầu, tay mân mê vạt áo. Dáng điệu thẹn thò như cô gái đào tơ lần đầu nghe đến chuyện lương duyên.


Một lát, cô ngẩng nhìn ra sân. Cô có cảm tưởng ánh trăng xanh hơn ban nãy.


Đăng Tiểu thuyết thứ Bẩy, số 458/1943


Nguồn: Rút từ Bến đò Rừng. Tuyển truyện ngắn Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB.  Văn học, 03-2012.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm huyền sử - Triệu Văn Đồi 09.06.2019
G. - Võ Đình 05.06.2019
Đêm cỏ tuyết - Kiệt Tấn 05.06.2019
Cô gái làm ren Nachia/ Pautopsky ở Trà My - Konstantin Georgiyevich Paustovsky 01.06.2019
Kẻ ở nhờ - Phạm Thanh Khương 01.06.2019
Truyền thuyết về Quán Tiên - Xuân Thiều 16.05.2019
Sau lưng là rừng thẳm - Hoàng Hiền 20.04.2019
Khai bút - Vũ Thư Hiên 09.02.2019
Bóng người dưới trăng - Nguyễn Luân 25.01.2019
Khói hoàng hôn - Tống Phú Sa 25.01.2019
xem thêm »