tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27664919
Tiểu thuyết
28.05.2012
Thomas Mann
Gia đình Buddenbrock

 


Ông buồn vô cùng khi cảm thấy cái hố ngăn cách giữa ông và con trai ngày càng sâu. Ông không để người khác nhìn thấy nỗi lòng đó. Ông lại sợ làm người khác hiểu lầm là ông cố tình làm vui lòng con. Ông cho đó là một điều nhục nhã hết sức. Hàng ngày, thời gian nhàn rỗi để bố con gặp nhau quả thật là ít ỏi. Ông chỉ có thể nói với con dăm ba câu chuyện trước và sau bữa ăn. Thái độ ân cần vồn vã của ông có phần nghiêm nghị, nhưng ông không làm cho con sợ hãi.


Này, con – vừa nói ông vừa vỗ vào đầu con hai cái rồi ngồi xuống cạnh con trước mặt vợ. - Thế nào? Con làm những gì? Học chứ?... Chơi pianô nữa chứ? Khá lắm! Nhưng không được chơi nhiều quá đấy, không thì sẽ không thích những thứ khác nữa. Rồi đến lễ Phục sinh suốt ngày sẽ phải ngồi trên cái ghế giá lạnh đấy.


Thái độ của Hannô như thế nào? Những lời thân mật đó của ông, chú trả lời ra sao? Ông sốt ruột chờ đợi, nhưng các thớ thịt trên mặt ông không hề để lộ những điều phiền muộn trong lòng ông. Cuối cùng, khi chú bé rụt rè ngước đôi mắt to màu nâu, có quầng, nhưng lại không nhìn vào mặt ông, rồi lặng lẽ cúi xuống ăn, thì bất giác lòng ông quặn đau… Mặc dù vậy, nhưng ông cố làm ra vẻ không có gì xẩy ra cả.


Nếu con bẽn lẽn ngốc nghếch mà mình cũng tỏ ra lo lắng thì chẳng phải là chuyện nhỏ mà mình xé ra to hay không? Bổn phận của người làm bố là nhân cơ hội gia đình đoàn tụ trong chốc lát, lợi dụng khoảng trống giữa bữa ăn, ví dụ khi thay đổi món ăn, nói với con vài lời, kiểm tra con một số hiểu biết thông thường về đời sống thực tế, chẳng hạn như thành phố chúng ta có bao nhiêu ngàn dân? Có mấy đường phố từ bờ sông Tơravơ đến khu trên? Mấy kho chứa lương thực của hãng ta tên là gì? Không cần suy nghĩ cũng có thể trả lời được! – Nhưng Hannô làm thinh, không nói được một lời nào. Không phải chú muốn làm cho bố nổi cáu hay cố tình làm cho bố khổ tâm. Những chuyện như dân cư phố xá thậm chí kho lương thực gì gì nữa, ngày thường chú không lưu ý tí nào hết. Cho nên nghe bố đặt câu hỏi kiểm tra thì chú chán ghét quá thể. Trước khi ông Tômát hỏi những câu kia chú hoạt bát lắm, có thể còn nói với bố dăm ba câu chuyện thoải mái. Nhưng khi cuộc trò chuyện mang tính chất kiểm tra thì lòng chú trở nên giá lạnh. Khả năng chống chế của chú cũng biến đâu mất. Mắt chú ươn ướt, miệng chú xệ xuống. Chú vừa đau khổ, vừa oán giận bố không đoán trước giùm cho chú. Lẽ ra bố nên hiểu rằng kiểm tra như thế không có kết quả gì, chỉ làm cho bữa ăn mất vui đi mà thôi. Chú rưng rưng nước mắt, cúi đầu nhìn cái đĩa trước mặt. Bà Iđa huých khẽ vào người chú, nhắc khẽ cho chú biết tên đường phố và kho hàng. Tiếc thay, bà làm thế cũng phí công vô ích. Bà không hiểu chú. Thực ra những tên đó chú biết, ít ra chú cũng nhớ được một số, và chừng mực nào đó, muốn làm cho bố thỏa mãn cũng không phải là chuyện khó. Nhưng có một nỗi buồn không sao chống lại được đang ngăn cản chú trả lời… Lúc đó, bỗng giọng nói nghiêm nghị của bố và tiếng dao nĩa chạm vào nhau, làm cho chú run lên. Chú đưa mắt nhìn mẹ và bà Iđa định mở miệng nói, nhưng hai ba tiếng đầu đã bị tiếng nức nở át mất, không thể nói tiếp được nữa.


Thôi! – Ông nghị giận dữ - đừng nói nữa! Tao không buồn nghe nữa! Mày không phải trả lời nữa! Mày làm thằng câm, thằng ngốc suốt đời đi!


Hôm ấy, cả nhà lặng lẽ buồn rầu ngồi nuốt cho xong bữa.


Mỗi khi ông nghị nghĩ đến chuyện Hannô say sưa học nhạc thì ông buồn rầu không vui, bởi vì ông thấy con mềm yếu quá, hơi một tí là khóc, thiếu sinh lực, thiếu kiên nghị.


Hannô xưa nay vốn yếu ớt, đặc biệt hàm răng của chú là nguồn gốc gây ra không biết bao nhiêu tai ương đau khổ cho chú. Lúc mọc răng sữa thì hết sốt lại lên kinh giật, suýt nữa thì toi mạng, về sau chân răng của chú hay tấy lên, mưng mủ. Bà Iđa Iungman phải lấy kim khâu chích mủ ra. Lúc thay răng chú lại khổ hơn bao giờ hết. Hình như chú không chịu đựng nổi những cơn đau đó. Thường là suốt đêm ngủ không yên, cứ rên rỉ nức nở trong cơn mê. Nhìn bề ngoài những cái răng mới mọc không đều. Để chữa chạy những cái thiếu sót ấy, chú đành phải để cho một người đáng sợ trà trộn vào cuộc đời bé nhỏ của chú: ông Bơrétsơ, một nha sĩ có cửa hiệu phố Nhà máy xay…


Cái tên ấy thoáng nghe như những âm hưởng khiến người ta phải rùng mình, những âm hưởng xè xè phát ra từ hàm răng khi nhổ chân răng, kìm cặp mài dũa… Ngồi trong phòng khám bệnh của ông, Hannô thường túm người lại trên chiếc ghế tựa, trước mặt bà Iđa Iungman trung thành. Chú vừa ngửi mùi thuốc hăng hắc trong phòng rộng lớn, vừa xem họa báo, lo lắng chờ ông nha sĩ ra đứng trước cửa phòng phẫu thuật nói tiếng “mời vào”, khách khí mà rất dễ sợ. Hai tiếng đó đủ làm cho trái tim bé nhỏ của chú thắt lại. Nhưng căn phòng khám bệnh này cũng hấp dẫn vì ở đó có một con vật kì lạ làm cho người ta thích thú, một con vẹt lông ngũ sắc, mắt độc ác, nhốt trong cái lồng sơn đen. Không hiểu sao lại đặt tên là Giôdépphút. Lúc nào nó cũng nói the thé giọng bà cụ già “ Mời ngồi… sẽ tới ngay”. Trong trường hợp của chú, câu nói đó có vẻ mỉa mai đầy ác ý, nhưng đối với nó, Hannô lại vừa yêu vừa sợ. Một con vẹt, một con vẹt lông ngũ sắc có cái tên Giôdépphút lại còn biết nói! Có phải là loài chim ở cái rừng đầy yêu quái trong truyện cổ tích Grim mà bà Iđa thường đọc ở nhà không nhỉ? Ngoài ra còn hai tiếng “mời vào” mà ông Bơrétsơ nói khi mở cửa. Con Giôdépphút cũng bắt chước luôn miệng, giọng nó bức thiết giục giã đến nỗi Hannô khi đã bước vào phòng phẫu thuật, ngồi xuống cái ghế bành to tướng nhưng rất không thoải mái ở cạnh cái khoan răng trước cửa sổ rồi, mà không hiểu làm sao chú cứ buồn cười mãi.


Nói về ông Bơrétsơ thì vẻ mặt ông ta cũng không kém gì con Giôdépphút. Trên bộ râu lốm đốm trắng của ông ta, cái mũi quặp vào vừa cứng vừa cong y hệt mỏ con vẹt. Tệ hơn nữa, có thể nói là thần kinh ông không vững. Do nghề nghiệp, ông ta làm người khác bị dày vò, nhưng chính bản thân ông ta cũng không chịu đựng nổi.


Nhất định ta phải nhổ đi thôi, bà ạ!


Mặt ông ta tái mét khi ông ta nói với bà Iđa như thế. Lúc đó, Hannô trợn tròn mắt, toát mồ hôi lạnh không còn sức lực nào để chống cự, mà cũng không còn sức lực nào để trốn thoát nữa, tâm trạng chú chẳng khác gì tên tội phạm bị kết án tử hình. Chú giương to mắt nhìn ông Bơrétsơ dấu cái kìm trong tay áo, bước từng bước một tới chỗ chú. Lúc đó chú phát hiện ra là trên cái trán hói của ông nha sĩ cũng lấm tấm mồ hôi và cái miệng ông ta cũng méo xệch đi vì sợ hãi. Sau quá trình  điều trị đáng ghét đó. Hannô mặt cắt không còn máu, người run cầm cập, nước mắt trào ra, mặt méo đi vì đau. Chú nhổ máu vào cái ống nhổ để bên cạnh. Ông Bơrétsơ cũng ngồi xuống ghế, vừa lau mồ hôi trán, vừa uống mấy ngụm nước…


Người ta nói với Giôhan rằng, việc ông ta làm có lợi cho chú, khiến chú đỡ phải đau khổ hơn nhiều. Nhưng khi chú cân nhắc cơn đau do ông Bơrétsơ gây ra với kết quả cơn đau đó mang lại cho chú thì rõ ràng cơn đau do ông Bơrétsơ gây ra nặng hơn kết quả kia nhiều. Vì vậy, nói gì thì nói, chú vẫn cho những lần đến phố Nhà Máy Xay gặp ông nha sĩ là những lần xúi quẩy hết sức. Để cho răng khôn có chỗ mọc, cần phải nhổ bốn cái răng trắng đẹp chưa hề sứt mẻ gì, nhưng lại muốn cho không ảnh hưởng quá đến sức khỏe của chú thì chú phải điều trị khoảng bốn tuần. Ôi, lâu làm sao! Quả thật không thể chịu đựng nổi sự dày vò dai dẳng đó! Hình phạt lần trước làm chú rã rời, chưa hồi phục lại được, thì hình phạt tàn khốc lần sau đã đến! Sau khi nhổ cái răng cuối cùng, Hannô nằm liệt tám ngày sức khỏe của chú bị tổn hại quá thể!


Bệnh đau răng không những ảnh hưởng đến tinh thần chú mà còn ảnh hưởng đến cơ năng, một số bộ phận nào đó trong người chú. Vì nhai không được kỹ nên ăn không tiêu, do đó mà đau dạ dày, rồi vì đau dạ dày mà ảnh hưởng đến nhịp đập của tim. Có lúc tim chú đập nhanh quá, có lúc lại đập chậm quá. Ngoài ra chú lại hay chóng mặt và mắc cái chứng bệnh kỳ lạ cứ tăng dần lên, không hề giảm mà bác sĩ Gơrabô gọi là pavor noclurnus . Không đêm nào chú không nằm mê rồi giật mình vài ba lần, tay bắt chéo vào nhau, hoảng hốt gào lên, kêu cứu hoặc van xin, tưởng chừng đang xảy ra chuyện gì khủng khiếp lắm, giống như chú bị ném vào trong đống lửa hoặc ai bóp cổ chú… Sáng hôm sau, chú không còn nhớ gì nữa. Cách điều trị của bác sĩ Gơrabô là mỗi buổi tối cho chú uống một cốc nước phúc bồn tử, nhưng cũng chẳng ăn thua gì cả.


Bị những chứng bệnh đó và những nỗi đau khổ khác quấy đảo, tự nhiên khi còn thơ ấu chú đã hiểu khá nhiều chuyện, chú “khôn trước tuổi” như người ta nói. Cố nhiên vì phong cách thùy mị của chú nên cái “khôn trước tuổi” đó không bộc lộ ra, mà dù bộc lộ ra cũng không chướng tai gai mắt. Có lúc nó được biểu hiện dưới dạng kiêu căng thầm lặng. Ví dụ khi người nào đó trong nhà hoặc các cô Bútđenbrúc ở phố Brêten hỏi chú:


Sức khỏe của cháu thế nào, Hannô?


Chú không nói gì chỉ khẽ nhếch mép nhún vai một cái dưới cái cổ áo lính thủy. Đó là câu trả lời của chú.


Cháu có thích đi học không?


Không thích! - Hannô lơ đãng trả lời, không giấu giếm. Thái độ thẳng thắn đó chứng tỏ rằng chú có những việc nghiêm túc hơn trong lòng, nên chú không thèm nói dối.


Chao ôi! Không thích ư? Thế nhưng người nào chả phải học?... Nhất định phải biết đọc, biết viết, biết làm toán…


Và biết nhiều cái tương tự như thế nữa chứ? - Chú bổ sung.


Không, chú không thích học ở cái trường cổ hủ kia không thích cái nhà trường kiểu cũ hành lang chữ thập mái gôtích cạnh tu viện. Chú thường nghỉ học vì ốm, mà chú đến lớp cũng chẳng chăm chú nghe thầy giảng, bởi vì chú không nghĩ đến một hòa thanh liên âm nào đó thì cũng đang liên tưởng tới một láy luyến tuyệt diệu trong một bản nhạc nào đó mà chú nghe mẹ hoặc ông Phít chơi, nhưng chưa rõ lắm. Tự nhiên những cái ấy làm cho chú không thể nào học tiến tới được. Còn đối với các thầy giáo lớp dưới, và học sinh trường sư phạm, thì vì họ xuất thân thấp hèn, trí thức nông cạn, quần áo lôi thôi, nên Hannô chỉ sợ bị trừng phạt chứ không có ý khinh thầy. Ông Thicơ dạy toán, một ông già loắt choắt, mặc cái áo vét đen nhẵn lỳ, từng dạy ở trường này thời mồ ma ông Mácxelút Xtengnghen, mắt lác kinh khủng, nên đeo một cặp kính dày như kính ở boong tàu. Lần nào lên lớp ông ta cũng nói với Hannô rằng hồi nhỏ ông nghị đẻ ra chú học chăm lắm, thông minh lắm… rồi ông ta ho sặc sụa, khạc ra một cục đầy những đờm!


Nói chung thì Hannô rất lãnh đạm với bạn bè, chỉ chơi qua loa mà thôi, nhưng có một cậu ngay từ khi mới vào trường đã rất thân với chú. Cậu là con nhà quý tộc, nhưng bề ngoài lại rất tồi tàn, đó là bá tước họ Múclen tên Cai.


Vóc người cậu cũng bằng Hannô. Cậu không mặc kiểu lính thủy Đan Mạch như Hannô, mà là một bộ quần áo lam lũ màu đã bạc, khuy đứt sạch. Đít quần vá một miếng to, ống tay áo ngắn cũn cỡn, hai tay lòi ra ngoài, bê bết bùn, lúc nào cũng đen nhẻm, nhưng bàn tay thì nhỏ nhắn, rất đẹp, ngón tay thon thon, móng tay nhọn. Đầu và tay của cậu rất tương xứng. Mái tóc bù xù, bẩn thỉu, nhem nhuốc, nhưng khuôn mặt có những nét đặc trưng của con người thuộc dòng họ cao quý, thuần khiết. Mái tóc màu vàng sẫm của cậu rẽ giữa, hai bên vuốt ra đằng sau, để lộ cái trán như nặn bằng thạch cao, sống mũi nhỏ hơi quặp xuống, cánh mũi rất mỏng hơi nhếch lên. Cậu tuổi còn nhỏ mà tính cách đã bộc lộ rõ.


Trước khi đến trường, Hannô đã thoáng nhìn thấy ngài bá tước tí hon ấy hai ba lần rồi. Ấy là khi chú cùng bà Iđa ra ngoài cổng thành, đi dạo lên hướng bắc. Gần tới làng đầu tiên cách ngoại thành khá xa, có một trang trại bé tí tẹo, không đáng kể, tên cũng không có nốt. Đưa mắt nhìn chỉ thấy một đống phân chuồng, mấy con gà, một cái ổ chó và một ngôi nhà vắng vẻ, tương tự nhà của người công dân bình thường, mái ngói đỏ lụp xụp gần sát mặt đất. Đó là nhà của bá tước Ebêra Gơrát Môn, bố của Cai.


Vị bá tước già này là một người kỳ quặc, ở luôn trong trang trại của ông, cách biệt với đời, nuôi gà, chó, trồng rau, rất ít khi xuất đầu lộ diện. Ông thân hình cao lớn, đi đôi ủng cao cổ, mặc cái áo len ngắn màu xanh lục, đầu để trần, râu xồm xoàm, lốm đốm bạc như trong truyện nhi đồng, không có con ngựa nào nhưng tay lúc nào cũng cầm roi ngựa, dưới hàng lông mày rậm có cái kính một mắt cắm chặt vào hõm mắt. Ngoài ông và cậu con trai, trong nước này không tìm thấy vị bá tước thứ ba trong dòng họ ấy nữa. Số người trong gia đình quý tộc từng một thời hiển hách ngày càng hao mòn, hầu như gần tuyệt tự. Bây giờ chỉ còn một bà cô của Cai sống ở trên đời này nữa thôi. Từ lâu, bà này với ông bố Cai không đi lại với nhau nữa, bà viết tiểu thuyết với một bút danh nghe rất lạ tai đăng trên các tờ tạp chí chuyên viết cho các gia đình đọc. Nhắc tới bá tước Ebêra, người ta thường nhớ một mẩu chuyện về ông. Sau khi dọn đến trang trại ở ngoại thành này, không muốn cho kẻ cắp và ăn mày đến quấy rầy, một thời gian dài, ông treo trên cái cổng thấp lè tè một tấm biển đề: “Ở đây chỉ có bá tước Môn mà thôi. Ông ta không cần bất cứ cái gì, không mua bất cứ vật gì, cũng không muốn bố thí gì cho ai cả!”. Cho đến khi tấm biển đã phát huy tác dụng, không ai tới quấy đảo nữa, ông mới hạ xuống.


Cai mồ coi mẹ từ bé, bá tước phu nhân qua đời khi sinh ra cậu, bây giờ chỉ có một u già trong coi việc nhà, nên cậu đã lớn lên trong đám gà chó, y hệt một con vật nhỏ không ai cai quản. Lần đầu tiên Hannô Bútđenbrúc thấy Cai ở đấy, chú đứng đằng xa khép nép nhìn. Cai chạy lại, nhảy lui nhảy tới như một con thỏ nhảy trong khoảng vườn trồng cải trắng, trà trộn vào bầy chó con, chơi trò lộn nhào giữa ruộng hoặc đuổi đàn gà mái kêu oang oác.


Về sau Hannô gặp lại cậu ở trường. Lúc đầu, vẻ man rợ của vị bá tước tí hon này làm cho chú sinh ra rụt rè. Nhưng không bao lâu, nhớ có bản năng quan sát tinh tế, chú không để ý đến cái bề ngoài luộm thuộm của cậu ta nữa, mà chăm chú nhìn cái trắng trẻo cặp môi mỏng dính và hai con mắt lá răm màu xanh nhạt lúc nào cũng có vẻ bực bội hay lạnh lùng. Trong số bạn bè, Hannô chỉ có cảm tình sâu sắc với chú. Tuy vậy, vì bản tính nhu nhược, chú không đủ can đảm tỏ ý muốn đánh bạn trước. Nếu như Cai không phải là người lỗ mãng thì hai người chưa chắc đã kết thân với nhau. Đúng như thế. Đúng, Cai làm quen với Hannô nhiệt tình quá, lúc đầu khiến cho Hannô hơi sợ. Cậu bé lôi thôi lốc thốc đã mãnh liệt tấn công. Chú bé tính tình trầm lặng, áo quần bảnh bao này khiến cậu thú vị đến nỗi mất hết khả năng tự kiềm chế. Cố nhiên Cai không giúp được gì cho Hannô về bài vở, bởi vì ý nghĩ mông lung trời biển và tính hoang dã của cậu cũng như những ý nghĩ mơ màng và tính lơ đãng của chú Bútđenbrúc đều không thích hợp với bản cửu chương chút nào, nhưng lại có thể lần lượt đem cho Hannô hết tư gia tài sản của cậu, nào là bi ve, nào là con quay, thậm chí cả khẩu súng lục bọc kẽm cong cong, mặc dù đó là vật quý nhất của cậu. Giờ nghỉ, Cai dắt tay Hannô, kể cho chú nghe chuyện nhà cậu, chuyện ổ chó, đàn gà. Buổi trưa, lần nào cũng như lần nào, bà Iđa Iungman cầm chiếc bánh mì phết bơ đến chờ ở cổng trường để dẫn Hannô đi dạo chơi thì Cai cũng đi chơi với chú xa bao nhiêu hay bấy nhiêu. Bấy giờ cậu mới biết người nhà gọi Bútđenbrúc là Hannô. Từ ngày cậu ta biết được cái tên thân mật đó, cậu không gọi bằng cái tên nào khác nữa.


Một hôm, Cai bảo Hannô đừng đi dạo phía Nhà Máy Xay mà đến trang trại của bố mình xem đàn lợn con mới đẻ. Hai đứa nằn nì mãi, cuối cùng bà Iungman cũng bằng lòng. Bọn trẻ đi chơi trên phần đất của bá tước, xem đống phân, vườn rau, đàn gà, đàn lợn, sau cùng thì vào nhà. Trong ngôi nhà thấp lè tè, nền phẳng lỳ, bá tước Ebêra ngồi trước cái bàn thô ráp, xem sách, cô đơn nhưng ngạo nghễ. Thấy khách đến, ông hỏi đến làm gì, rất lỗ mãng.


Từ dạo ấy, bọn trẻ nói thế nào thì nói, bà Iđa Iungman cũng không đến đó lần thứ hai nữa. Bà khăng khăng bảo nếu còn muốn chơi với nhau thì tốt nhất Cai đến nhà Hannô. Rút cuộc, ngài bá tước tí hon có dịp bước vào ngôi nhà tráng lệ của bạn. Tuy có vẻ kinh ngạc lắm, nhưng cậu không chút rụt rè. Từ ấy, cậu chăm đến nhà Hannô, chỉ mùa đông tuyết phủ, đường khó đi, buổi chiều không thể đi một chặng dài được, thì cậu mới không đến nhà Hannô chơi vài ba tiếng đồng hồ như thường lệ.


Hai đứa cùng ngồi trong căn phòng rộng rãi dành cho trẻ con trên gác ba, làm bài tập nhà trường ra cho chúng, chúng giải những bài toán dài, viết đầy cả hai mặt tấm bảng đá đủ các phép tính cộng trừ nhân chia, đáp án cuối cùng là một con số không đơn giản. Không phải số không, thế là chắc chắn sai chỗ nào đó rồi, phải tìm cho ra con “thú nhỏ” đáng ghét kia, tiêu diệt đi mới chịu thôi, mong sao nó không trốn ở đoạn trên cùng, nếu không phải làm lại cả bài từ đầu chí cuối. Làm xong toán còn phải làm ngữ pháp tiếng Đức, học thuộc lòng các kiểu so sánh, làm bài tập thật sạch sẽ, ví dụ như: chất ngà voi trong suốt, thủy tinh càng trong suốt, không khí trong suốt nhất vân vân. Sau đó, lại lấy sách chính tả, nghiên cứu những câu chứa đầy cạm bẫy, cố ý để cho người ta vào tròng. Làm xong đâu vào đó, hai đứa mới dọn dẹp sách vở, ngồi trên khung cửa sổ chờ bà Iđa đọc chuyện cổ tích.


Con người tốt bụng ấy đọc cho chúng nghe những chuyện như Công chúa Bạch Tuyết, Cái kẹo kỳ quặcVua nhái. Bà nhẫn nại đọc, giọng trầm trầm, mắt lim dim vì trong đời, bà đọc những chuyện này không biết bao nhiêu lần rồi, hầu như đã thuộc lòng, mặc dù vậy, bà vẫn thấm nước bọt vào đầu ngón tay máy móc giở hết trang này sang trang khác.


Sau trò tiêu khiển đó, xảy ra một chuyện làm nhiều người để ý. Cậu Cai nảy ra một ý nghĩ muốn bảo bà Iđa gấp sách lại để cậu kể chuyện gì đó. Bởi vì những chuyện kia cậu đã dần thuộc lòng rồi, vả lạ, có lúc bà Iđa muốn nghỉ ngơi một lát, nên Cai làm như vậy, bà cũng hoan nghênh. Lúc đầu chuyện Cai kể rất ngắn và rất đơn sơ, nhưng về sau chuyện của cậu kể càng ly kỳ, càng phức tạp. Hơn nữa, không phải chuyện tưởng tượng hoàn toàn mà có kết hợp với hiện thực (cậu phủ lên hiện thực một lớp sơn hoang đường, quái đản), cho nên nghe càng hấp dẫn. Hannô rất thích nghe câu chuyện  lão phù thủy. Lão phủ thủy ấy rất ác nhưng bản lĩnh rất cao cường. Lão biến một ông vua rất đẹp trai tên là Giôdépphút thành một con chim có bộ lông ngũ sắc, nhốt vào lồng, lão lại dùng những phù phép độc ác để dày vò mọi người. Nhưng ở một nơi nào xa lắm, có một vị anh hùng mang nhiều trọng trách xuất hiện, rồi chàng dẫn một đội quân gồm những gà, chó, lợn con tiến đến, vừa vung thanh bảo kiếm lên đã phá được phù phép của lão, cứu được nhà vua và tất cả mọi người và nhất là Bútđenbrúc. Giôdépphút được giải thoát khỏi phù phép của lão phù thủy trở về nước mình làm vua, thì Hannô và Cai cũng được làm quan to!


Ông nghị Bútđenbrúc đi qua căn phòng dành cho trẻ, cũng có lúc trông thấy đôi bạn trẻ ấy ngồi với nhau. Ông không phản đối hai đứa chơi thân như thế, vì rất dễ thấy rằng cả hai cùng có lợi. Hannô sẽ làm cho Cai trở nên dịu dàng, thuần thục, nhã nhặn, bởi Cai rất thích được Hannô chiều chuộng và mê đôi bàn tay trắng như tuyết của chú. Cũng vì Hannô mà Cai ngoan ngoãn nghe lời bà Iungman lấy bàn chải và xà phòng cọ hai bàn tay của cậu. Mặt khác, Hannô cũng nhiễm được một ít cái hoạt bát hoang dã của ngài bá tước tí hon, đó là điều muốn cũng không được. Ông nghị thấy rõ rằng, sự chăm chút của phụ nữ đối với Hannô không thích hợp tí nào cho sự phát triển chí khí trượng phu của con.


Bà Iđa Iungman đã hầu hạ người trong gia đình Bútđenbrúc đã hơn ba mươi năm rồi. Bà trung thực và hết lòng vì người khác, quả thật vàng cũng không đổi được. Lớp cha chú Hannô đã được bà bù chì nuôi nấng, quên ăn quên ngủ, còn Hannô thì lại càng được bà nâng niu, săn sóc, yêu như yêu một bức tượng. Bà tin một cách ngây thơ và cố chấp rằng, Hannô là nhất ở trên đời này, không ai hơn nữa và đáng được hưởng đặc quyền đặc lợi. Lòng tin của bà đến mức buồn cười. Chuyện gì liên can đến quyền lợi của Hannô thì bà không còn kể gì hết, bất chấp tất cả. Quả thực, bà làm cho người ta phải kinh ngạc, thậm chí có lúc cảm thấy không thoải mái… Ví dụ bà dẫn chú ra mua bánh thì lúc nào bà cũng tự tiện thò ta vào quầy chọn đi chọn lại, cuối cùng mới chọn cho chú một cái bánh vừa ý nhất. Nhưng bà lại không trả tiền – chả nhẽ đưa bánh cho Hannô mà chủ hiệu không thấy vẻ vang sao? Khi cửa hiệu đông khách, bà thường nói tiếng miền tây nước Phổ, lễ độ mà kiên quyết, mời họ tránh cho cậu ấm đi. Đúng như vậy, trong mắt bà, Hannô hơn hẳn người khác bà không tìm thấy đứa trẻ nào xứng đáng gần gũi chú. Riêng về Cai, chẳng qua vì hai trẻ thân nhau quá, dù bà không tín nhiệm cũng không được. Ngoài ra, có lẽ cái hàm bá tước của cậu cũng lay chuyển bà phần nào. Nhưng nếu những lúc hóng mát trên bờ đê gần Nhà máy xay, hai trẻ ngồi với nhau trên ghế dài, mà đứa nào theo người vú em đến gần, thì bao giờ bà Iungman cũng đứng dậy ngay, không bảo muộn rồi thì cũng bảo gió to quá, tóm lại là tìm cớ nào đó vội vàng dắt hai trẻ đi nơi khác. Những cớ đó rất có thể làm Hannô nghĩ rằng, trên đời này, tất cả trẻ con nếu không bị dịch hạch cũng “thối tai”, chỉ có chú là ngoại lệ. Chú vốn đã rất ngại tiếp xúc với người lạ, hay bẽn lẽn thẹn thùng, nên rõ ràng như thế không giúp chú thay đổi được tính tình của chú đi.


Ông nghị Bútđenbrúc không biết những chuyện vụn vặt đó, nhưng ông thấy rằng, do bẩm tính trời sinh và ảnh hưởng bên ngoài, con trai ông không sao có thể phát triển theo hướng ông mong muốn. Nếu ông có thể trực tiếp giáo dục nó luôn luôn ảnh hưởng đến tính tình của nó thì hay biết bao nhiêu! Nhưng ông không có thì giờ. Mấy lần làm thử, ông đau khổ vô cùng, thấy không những thất bại thảm hại mà càng làm cho cha con ngày càng xa nhau, càng lạnh nhạt với nhau. Trong tâm tư ông có một hình ảnh khắc sâu từ hồi còn nhỏ, ông hy vọng dựa vào hình ảnh ấy mà uốn nắn con trai ông. Đó tức là cụ cố của Hannô, một con người sáng suốt, lạc quan, giản dị, rất hấp dẫn và rất có nghị lực. Lẽ nào con ông không trở thành người như thế được ư? Lẽ nào đó là chuyện không thực hiện được ư? Tại sao lại không?... Nếu như nó bỏ cái say mê âm nhạc đi thì hay quá! Âm nhạc làm cho thằng bé xa rời cuộc sống hiện thực, đã không có lợi cho sức khỏe của nó, lại thu hút hết hoạt động tinh thần của nó. Cái tính mơ mộng kia rồi sẽ có ngày không khiến nó trở thành nhu nhược hay sao?


    Một buổi chiều, khoảng bốn mươi lăm phút nữa thì ăn trưa (thường ngày ăn trưa vào khoảng bốn giờ chiều), Hannô một mình xuống gác hai. Chú tập đàn pianô một lúc, bây giờ nhàn rỗi đi đi lại lại trong phòng khách, vẫn không tìm thấy việc gì làm. Chú ngả người trên đivăng, tay mân mê chiếc nơ dính trên cái áo lính thủy, mắt lơ đãng nhìn bốn chung quanh. Lúc đó, chú trông thấy cái cặp da đựng tài liệu của gia đình hé mở để trên bàn xinh xắn bằng gỗ hồ đào của mẹ. Chú chống cùi tay lên thành đivăng, bàn tay đỡ cằm, nhìn một lúc. Chả phải nói thì chắc chắn là sau bữa ăn sáng lần thứ hai ngày hôm nay bố chú đã mở ra xem, chưa xem xong nên vẫn để đấy. Một số tài liệu cất trong cặp, lại có mấy tờ để ở ngoài có cái thước kẻ bằng đồng chặn lên. Cuốn sổ ghi chép viền vàng đóng bằng nhiều thứ giấy khác nhau cũng mở ra để đấy.


       Hannô uể oải rời khỏi đivăng, bước tới cạnh bàn. Cuốn sổ mở đúng trang các vị tổ tiên của chú (cuối cùng là ông thân sinh ra chú) chép gia phả dòng họ Bútđenbrúc bằng những nét bút khác nhau, ngoài tên tuổi còn có những dấu ngoặc, tiêu đề và năm tháng rất rõ ràng. Chú quỳ một chân trên cái ghế quay, đưa tay vuốt mái tóc màu nâu nhạt, nghiêng đầu ngắm nhìn. Khuôn mặt thờ ơ của chú lộ vẻ khiêu khích và khinh miệt. Còn tay kia chú mân mê cái quản bút gỗ mun bịt vàng của mẹ. Chú lướt nhìn tên những người đàn ông, đàn bà ghi trên trang giấy. Có những tên xếp ngang nhau, có những tên xếp theo thứ tự trên dưới, có mấy tên viết kiểu chữ cổ, có nhiều móc nhỏ, móc lớn. Có tên mực đã phai, ngả màu vàng; có tên nét mực còn đậm, còn dính ít bột vàng dùng để thấm. Cuối trang, Hannô nhận ra nét chữ thảo rất đẹp của bố, dưới tên bố mẹ là tên mình: Giúttút Giôhan Cácpa sinh ngày 15 tháng tư năm 1861. Sự phát hiện này làm cho chú cảm thấy thích thú. Chú hơi ưỡn người, uể oải cầm cái thước đồng và cái bút, để cái thước đè lên tay mình, đưa mắt nhìn tất cả cái tên đó một lượt rồi lấy bút gạch xiên suốt trang giấy hai đường song song với một động tác máy móc như trong cơn mê. Chú gạch sạch và đẹp, nét trên đậm hơn nét dưới như người ta trang trí vở tập làm toán. Lúc gạch, nét mặt chú bình tĩnh, thận trọng, nhưng chú lại không nghĩ mình đang làm gì… Chú nghiêng đầu ngắm một lúc rồi mới đi ra.


Ăn xong, ông nghị gọi chú đến trước mặt, chau mày nghiêm nghị hỏi:


Cái gì thế này? Sao lại thế? Mày gạch phải không?


Có phải chú gạch hay không, phải để chú nghĩ mới có thể trả lời được. Một lát sau, chú run run “vâng” một tiếng.


Thế là thế nào? Mày định làm cái gì thế này? Nói ngay, sao mày vẽ bậy thế này?


Ông nghị gào lên và cầm cuốn vở cuộn tròn trong tay đánh vào mặt Hannô một cái. Hannô thụt lùi một bước, vừa lấy tay xoa mặt, vừa nức nở:


- Con tưởng… Con tưởng… không dùng đến nữa!


 


Chương VIII


Dạo gần đây, khi cả nhà họp nhau ăn bữa cơm đoàn tụ hàng tuần vào ngày thứ năm dưới tượng thánh ngậm miệng cười thêu trên bức thảm treo ở tường, có thêm một chuyện mới, hết sức nghiêm túc. Câu chuyện này làm cho ba cô gái họ Bútđenbrúc ở phố Brêten trở nên lạnh lùng, thận trọng, nhưng bà Tôny thì lại xúc động không thể tự kiềm chế được. Điều đó có thể thấy được qua nét mặt hoặc cử chỉ của bà. Bà ngả đầu ra đằng sau, hai cánh tay không duỗi thẳng thì cũng giơ cao lên, trông vẻ bực tức, giận dữ; sự phẫn nộ phát ra từ đáy lòng bà. Bà bắt đầu từ câu chuyện cụ thể này nói đến tình hình chung, nói đến bụng người tồi tệ. Ngoài những cơn ho khan vì bệnh dạ dày thỉnh thoảng làm ngắt quãng, còn thì giọng bà ồ ồ từ trong cổ họng (mỗi lần giận dữ giọng bà ồ ồ như thế) thốt ra hàng loạt cái tên bà ghét cay ghét đắng: “Tơrixơcơ!”, “Gơruynlích!”, “Pécmannêdơ!”. Điều làm người ta ngạc nhiên là sau những cái tên đó bà còn thêm một cái tên mới nữa mà bà thường thốt ra, giọng khinh miệt, căm giận không sao tả được. Đó là “ông kiểm soát Môrít Haghenxtruêm”.


    Một lát sau, khi ông giám đốc Huygô Vaisen bước vào phòng khách lớn (vì bận công việc nên lần nào ông cũng đến muộn), hai tay nắm lại, người lắc lư trong bộ lễ phục, bước tới, môi chìa ra sau hàng ria mép mỏng dính, để đến chỗ ngồi của mình, dáng điệu không chú ý đến ai, hết sức tự nhiên, thì câu chuyện bỗng lắng xuống. Không khí trở nên buồn tẻ vô cùng, lần nào ông nghị cũng phải phá tan đi. Ông lơ đãng hỏi ông giám đốc Huygô Vaisen chuyện đó bây giờ ra sao rồi như là nói chuyện buôn bán vậy. Ông Vaisen trả lời tốt, thuận lợi lắm rồi vui vẻ bắt sang chuyện khác. Ông ta phấn khởi hơn bất cứ lúc nào, mắt nhìn ngược nhìn xuôi, trơ tráo, và mặc dù ông ta hỏi câu mà không ai trả lời, ông ta vẫn cứ hỏi lần này lượt khác chuyện bà Ghécđa Bútđenbrúc kéo đàn viôlông. Ông ta nói luôn mồm. Khó chịu nhất là khi cao hứng, ông ta nói không lựa lời những câu chuyện lạc lõng không đâu vào đâu. Ví dụ, ông ta kể chuyện một chị vú em nào đó đầu hói, đứa bé người ta thuê trông coi cứ còm cõi đi. Ông ta bắt chước giọng thầy thuốc lấy một điệu bộ mà ông ta cho là buồn cười lắm, gào lên: “Ai đánh rắm thế nhỉ? Ai đánh rắm thế nhỉ?”. Nghe xong vợ ông ta mặt đỏ bừng, bà cụ tham, ông Tômát và bà Ghécđa thì đực như phỗng. Ba cô gái họ Bútđenbrúc nhìn nhau, ánh mắt sắc như xoáy vào thịt đối phương. Ngay cả chị Sêvơrin ngồi ở cuối bàn cũng cảm thấy như mình đang bị làm nhục. Chỉ có cụ tham Cơruêgiơ là cười gằn một tiếng. Đáng tiếc là từ nãy tới giờ cụ không chú ý nghe thì ông kia cũng đã nói ra rồi…


     Rốt cuộc, ông Huygô Vaisen bị chuyện gì vậy? Thì ra con người cần cù, nghiêm túc, thân thể mạnh khỏe, tay vụng về, không quen phép xã giao nhưng lại hết lòng vì chức vụ, chăm lo công việc, con người như thế lại phạm phải một tội nặng nề, nghe nói không chỉ một lần mà liên tục. Đúng, người ta đã đâm đơn kiện, đưa ông ta ra tòa, tố cáo ông ta không minh bạch. Hiện nay còn đang xét kết quả thế nào không biết. Vậy thì, ông ta đã phạm tội gì? Sự việc như sau. Nguyên nhân là nhiều nơi xảy ra những trận hỏa hoạn nặng, đáng lý công ty bảo hiểm đã ký hợp đồng với các khổ chủ rồi thì phải bỏ ra một khoản tiền rất lớn để bồi thường. Nhưng nghe nói ngay sau khi ông Vaisen nhận được tin mật của những người đại lý gửi về thì ông ta giở trò bịp bợm chuyển các khổ chủ ấy sang cho một công ty bảo hiểm khác, đổ tai vạ cho họ. Hiện giờ, hồ sơ đang nằm trong tay ông kiểm sát Môrít Haghenxtruêm.


  - Anh Tômát, - lợi dụng cơ hội có thể nói chuyện riêng với con trai, bà cụ tham hỏi ông nghị - anh nói qua cho tôi nghe với… tôi chẳng hề biết gì cả. Về việc này, chúng ta nên thế nào nhỉ?


- Vâng, mẹ ạ! Nên nói thế nào với mẹ đây nhỉ? Tất nhiên nói với mẹ rằng không có chuyện gì là tốt nhất. Đáng tiếc là con lại không thể làm như thế được. Nhưng con không nghĩ là Huygô Vaisen đã phạm tội gì ghê gớm lắm như một số người nào đó tưởng. Trong công việc làm ăn ngày nay, có cái người ta gọi là “thói tục” tức là một mánh khóe không phải hoàn toàn không thể chỉ trích được mà cũng không phải hoàn toàn phù hợp với pháp luật đã ghi thành văn bản. Người ở ngoài nhìn vào có thể cho là không thành thực, nhưng người trong nghề thì theo ước lệ ngầm có thể thông cảm với nhau. Ranh giới giữa “thói tục” và trò bịp thật khó mà thấy rõ được… cái đó ta cứ bỏ sang một bên. Nếu quả Vaisen có làm việc gì đó thật thì việc nó làm cũng không tồi tệ hơn những việc đồng nghiệp nó đã làm, chẳng qua những kẻ kia lọt lưới mà thôi. Nhưng… cũng không phải vì thế mà con cho là vụ án này sẽ kết thúc tốt đẹp. Ở thành phố lớn có lẽ nó sẽ được trắng án, nhưng ở chỗ chúng ta đây, chuyện gì cũng do quan hệ bè phái hay quan hệ cá nhân tốt hay xấu quyết định… vì thế, khi nó tìm luật sư bào chữa cũng nên nghĩ kỹ một chút. Trong thành phố chúng ta không có vị nào giỏi, không có vị nào vừa có tài hùng biện lại vừa có nhiều kinh nghiệm có thể giải quyết được những việc khó khăn. Nhưng các vị ở đây cũng có đặc điểm của họ. Họ cấu kết với nhau thành một bọn, vì lợi ích riêng, vì bà con họ hàng với nhau, hoặc vì mời nhau vài ba bữa cơm đàn đúm nhau vài ba bận nên họ bao che cho nhau. Theo ý con, nếu Vaisen biết điều, thì nó nên tìm luật sư ở vùng này. Nhưng nó lại khăng khăng không chịu. Nó cho là cần phải – nói cần phải có nghĩa là nói nó đã tính toán rồi – mời một vị ở Béclin bào chữa cho nó. Đó là tiến sĩ Brétlaoơ, một gã vô lại, chỉ được cái lợi khẩu, nổi tiếng cãi liều. Đồn rằng hắn ta đã giúp cho nhiều tên bịp bợm bị phá sản khỏi ngồi tù. Lần này hắn thấy sẽ được hậu tạ, thế nào hắn cũng giở trò như những lần trước thôi. Nhưng làm thế liệu có lợi không? Con đoán chắc là các vị luật sư đáng kính của chúng ta ở đây sẽ dốc hết tài năng ra đánh gục kẻ xa lạ ấy. Với lại các quan tòa cũng có thành kiến, họ nhất định sẽ nghe lời biện hộ của tiến sĩ Haghenxtruêm… Ngoài ra cũng cần  phải kể đến người làm chứng. Người làm chứng như thế nào? Con thấy hình như những người làm trong công ty của Vaisen không sẵn sàng hết sức. Cái bề ngoài thô bạo của nó – không những người tốt bụng như chúng ta nói thế, mà theo con, chính nó cũng thừa nhận thế - không giúp nó có nhiều bạn bè đâu… Tóm lại, mẹ ạ, con thấy sự thể không hay ho lắm! Nếu xảy ra chuyện gì không may, tất nhiên đối với Êrica sẽ là điều đáng tiếc, nhưng con lại thấy khổ tâm cho cô Tôny hơn. Cô ấy từng nói, nếu Haghenxtruêm nắm được vụ này thì hắn đắc ý lắm đấy. Câu nói đó rất đúng. Chuyện này liên can đến tất cả chúng ta, Vaisen xấu mặt thì tất cả chúng ta cũng xấu mặt, bởi vì dù thế nào đi nữa, thì nó cũng là người trong gia đình, ăn cùng bàn với ta. Về phần con, con sẽ có cách để khỏi dính vào. Con biết con nên làm thế nào. Trước mặt người khác, con phải làm ra vẻ chuuyện này hoàn toàn không dính gì đến con. Cả lúc tòa án xử con cũng không dự, mặc dù con rất muốn nhìn mặt lão Brétlaoơ một tí. Ngoài ra, để người khác khỏi bàn tán, cho là con định dùng thế lực của con can thiệp vào thì con còn phải làm ra vẻ không quan tâm đến. Nhưng còn cô Tôny thì sao? Quả thật con không muốn nghĩ đến chuyện ấy chút nào hết, nếu Vaisen bị tù tội thì đối với cô ấy thật là thảm hại. Cô ấy cố biện bạch rằng nó mắc bẫy người khác, vì ghen ghét nhau mà sinh chuyện nhưng nhìn vẻ sợ hãi của cô ấy khi cô ấy nói cũng đủ hiểu rồi… Cô ấy sợ là mình gặp bao nhiêu chuyện không may, nay địa vị vẻ vang cuối cùng của mình là thay con gái làm công việc nội trợ cũng tan thành mây khói. Chà, mẹ cứ để mà xem, sự thật càng làm cô ấy hoài nghi lòng thanh bạch của Vaisen thì cố ấy càng kêu oan cho nó. Tất nhiên rất có thể là nó thanh bạch, hoàn toàn thanh bạch, không có lỗi gì… Chúng ta phải chờ xem, mẹ ạ! Ngoài ra chúng ta phải đối xử với Vaisen, cô Tôny và cháu Êrica chu tất hơn nữa. Nhưng con vẫn cảm thấy thế nào ấy!


    Ngày lễ sắp đến, đã có nhiều triệu chứng báo hiệu từ đầu tuần Giáng sinh, tường phòng ăn nhà bà nội có treo bức tranh màu vẽ ông già Nôen to bằng người thật. Lại một buổi sáng, Hannô thấy trên chăn, đệm, quần áo của mình, ai rắc đầy bột vàng. Mấy hôm sau, vào một buổi chiều, bố nằm trên đi văng trong phòng khách xem báo, Hannô đang đọc bài thơ nhan đề là Mụ phù thủy Endóc trong tập Lá cọ của Kơrốc1 thì giữa lúc đó, ông già Nôen đến hỏi thăm “trẻ em ở đây”. Mặc dầu mỗi năm “ông già” xuất hiện một lần, nhưng lần nào cũng mang đến cho người ta một cảm giác bất ngờ. “Ông già” mặc áo choàng da, phía ngoài đầy lông, đính kim nhũ và tuyết, đội cái mũ da cũng trang sức như thế, mặt trát vôi, râu dài trắng như bông, hàng lông mày rậm người thường không có, lại đeo những sợi kim tuyến lấp lánh. Được mời đến, “ông già” lê đôi chân bùn vào. Như mọi năm, ông tuyên bố, giọng khản đặc nói rằng, cái đãy này, cái đãy ông đeo ở vai là dành cho những cháu ngoan, thuộc làu kinh cầu nguyện. Trong đãy toàn táo và đào. Còn cái roi mây ở vai bên phải là dành cho những trẻ hư… Đó là ông già Nôen thật. Biết đâu lại không phải là ông thợ cắt tóc Venxen lộn trái áo da của bố mặc vào. Có điều, ông già Nôen cũng không phải là chuyện hoàn toàn bịa đặt thì rất có thể chính ông già này rồi. Thế là như những năm trước, trái tim nhỏ bé của Hannô đập thình thịch, chú đọc thuộc lòng bài kinh cầu nguyện, chú đọc một mạch thì hết bài, chỉ vì vội quá, phải dừng lại thở nên có bị ngắt quãng vài lần. Sau đấy, chú được thò tay vào cái đãy dành cho trẻ em ngoan, bốc một nắm. Nhưng cái đãy này khi về “ông già” quên không mang đi.


  Ngày lễ bắt đầu như thế. Trước ngày lễ, nhà trường còn phát cho tờ phiếu điểm. Năm nay, bố xem phiếu điểm cũng vui vẻ cho qua… Phòng khách lớn cũng đóng lại một cách bí mật. Trên bàn ăn bày sẵn người đường làm bằng bột hạnh nhân và bánh gatô màu cà phê. Khắp thành phố đâu cũng là cảnh tượng ngày tết. Tuyết xuống, trời trở lạnh. Trong không khí trong trẻo và buốt như kim châm, từ đầu phố vọng lại tiếng đàn áccoócđiông vui hoặc buồn của người ý, mặc áo nhung, râu đen, đến góp vui. Trong tủ kính của các cửa hàng bày các món quà Nôen, đủ màu sắc. Chung quanh vòi phun nước kiểu gôtích trung tâm chợ, đã dựng dãy lều các trò chơi nhân ngày lễ. Đâu đâu cũng ngửi thấy mùi thơm của các cây thông bày bán hòa lẫn với hương vị ngày tết.


Cuối cùng, ngày 23 tháng Mười hai đã đến. Tối hôm ấy, trong phòng ngôi nhà ở ngõ Hàng Cá đã chia quà Nôen. Tới dự buổi chia quà lần này chỉ có mấy người thân nhất trong họ. Đây mới là buổi đầu, là màn giáo đầu, là lễ khai mạc mà thôi. Bởi vì theo lệ thường, đêm Nôen long trọng sẽ được tổ chức ở nhà bà cụ tham. Bấy giờ mọi người trong họ mới đến dự, cho nên, tối ngày 24 tất cả những người thường có mặt buổi đoàn tụ ngày thứ năm đều tụ tập trong phòng phong cảnh ở phố Manh. Ngoài những người đó ra, còn mời ông Giếcghen Cơruêgơ ở Uýtmác, bà Thêredơ Vaisơbrốt và bà Kêthenden nữa.


    Hôm ấy, bà cụ tham mặc bộ sa tanh kẻ sọc xám, mặt tươi cười, hai gò má đỏ ửng, khắp người ngào ngạt mùi nước hoa, đón tiếp hết tốp khách này đến tốp khách khác. Khi bà cụ lặng lẽ ôm khách vào lòng, chiếc xuyến vàng trên tay khẽ kêu leng keng. Tối hôm ấy, bà cụ nói rất ít, nhưng rất vui, người run run.


Lạy Chúa tôi, mẹ hơi run đấy mẹ ạ! Khi ông nghị cùng bà Ghécđa và Hannô bước vào, ông nghị nói với bà cụ như vậy… - Con cho là mọi việc sẽ tốt đẹp thôi!


Hôn ba người xong bà cụ lại nói khẽ:


Cầu mong đức Chúa Giêsu phù hộ mẹ lúc mẹ lên thiên đàng!


Quả thật như vậy. Nghi lễ trang nghiêm mà ông cụ tham đã qua đời từng bày đặt ra, vẫn tiến hành đầy đủ không bỏ sót một chi tiết nào. Bà cụ tham cảm thấy trách nhiệm của mình là làm cho các hoạt động trong đêm nay vui một cách chân thành và có ý nghĩa sâu sắc, nghiêm túc, nên cũng không hề nghỉ ngơi phút nào, hết đến nơi này lại tới nơi nọ, đâu đâu bà cụ cũng để mắt tới. Trong gian phòng cột tròn, bọn trẻ con trong đội hát của nhà thờ Xanh Mari đã đến đông đủ. Ở phòng ăn chị Sêvơrin đang tu sửa lại cây Nôen và sắp xếp khay đựng quà lần cuối cùng. Mấy cụ già nghèo đến nhận quà, dáng điệu thật thiểu não, từ phòng ăn đi ra, đứng lại ở hành lang rồi đi về phòng phong cảnh. Cả nhà ồn ào, mọi người chuyện trò với nhau thoải mái. Nhưng khi bà cụ tham lặng lẽ đưa mắt nhìn xung quanh thì ai nấy im bặt. Có thể nghe tiếng đàn gió quay tay xa xa. Tiếng đàn không biết từ đường phố tuyết nào vọng tới, thánh thót, rõ ràng, chẳng khác gì tiếng đồng hồ chuông. Lúc này, trong nhà có tới gần hai mươi người hoặc ngồi, hoặc đứng nhưng lặng lẽ hơn cả nhà thờ. Đúng như ông nghị nói khẽ vào tai cậu Giúttút, người ta cảm thấy hơi giống không khí một buổi tang lễ…


Ngoài ra, không khí ấy cũng không thể bị tiếng cười nói của bọn trẻ con phá tan. Cả nhà không ai lo lắng đến điều này. Nhìn qua cũng có thể biết, tất cả những người họp mặt ở đây đều đã đến tuổi mà sự biểu lộ buồn vui đã định hình. Có ông nghị Tômát Bútđenbrúc, sắc mặt hơi nhợt nhạt, cảnh giác, sắc sảo trông đến buồn cười của ông không tự nhiên chút nào. Bà Ghécđa, vợ ông, ngồi im lặng trên ghế tựa; khuôn mặt xinh đẹp nhưng hơi xanh của bà ngước nhìn lên hai con mắt mọc gần nhau, có quầng thâm, tỏa sáng kỳ dị, đang chăm chú nhìn cái cọc nến có hình cành cây bằng thủy tinh long lanh. Bà Tôny, em gái ông Giếcghen Cơruêgơ, em họ ông, một con người trầm lặng, ít nói, ăn mặc giản dị, các cô Phiđơríchcơ, Henriét và Phípphi, ba người chị con ông bác, trong số này, cố Phiđơríchcơ và cô Henriét, so với trước thì gầy hơn, cao hơn, còn cô Phípphi thì thấp hơn, béo hơn nhưng cả ba chị em có đặc điểm chung là nét mặt không hề thay đổi, bao giờ cũng lạnh nhạt, xoi mói, bất cứ với ai, hay đối với việc gì họ cũng hoài nghi và không cho là thực, như muốn hỏi: “Có thật không? Không thể tin được!”. Cuối cùng ở đây còn có cô Cơlốthinđơ đáng thương, sắc mặt xám xịt, đang tập trung tư tưởng vào bữa ăn tối sắp tới. Tất cả những người này đã ngoài bốn mươi. Bà chủ nhà, chị dâu bà chủ nhà và bà Thêredơ Vaisơbrốt gầy còm và khô đét đã ngoài sáu mươi. Còn bà cụ tham Xtuyving, vợ cụ Gơthôn, và bà Kêthenden điếc đặc, đã ngoài bẩy mươi rồi.


    Người đang tuổi thanh xuân chỉ có một mình Êrica Vaisen. Nhưng mỗi khi cô đưa đôi mắt xanh lơ giống hệt mắt lão Gơruynlích liếc nhìn về phía chồng – ông chồng có mái tóc cắt ngắn, tóc mai đã hoa râm ngồi cạnh xôpha phía trước bức thảm vẽ cảnh điền viên, luôn luôn trong tầm mắt của cô – người ta có thể trông thấy lồng ngực căng phồng của cô đang thở dồn dập, có điều không phát ra tiếng. Chắc những ý nghĩ hỗn loạn và đáng sợ như “thói tục”, sổ sách, người làm chứng, quan kiểm soát và luật sư bào chữa, quan tòa đang giày vò cô. Nhưng nói cho cùng thì trong nhà ai là kẻ không đau khổ vì ý nghĩ trong lòng không phù hợp với không khí ngày lễ? Con rể bà Tôny, bị đưa ra tòa, trước mắt mọi người là một tên phạm pháp, phá hoại trật tự xã hội, làm trái đạo đức, chưa chừng anh ta phải ngồi tù, bấy giờ còn mất mặt hơn nữa. Mọi người đều có ý thức một cách mơ hồ rằng một bóng đen kỳ dị và đáng sợ đang bao trùm buổi họp mặt đêm Nôen. Cả nhà Bútđenbrúc vui mừng thì lại có một tên phạm pháp ngồi lù lù ở đây! Bà Tôny ngả người vào ghế, thần sắc hết sức trang trọng nghiêm nghị. Ba cô gái họ Bútđenbrúc ở phố Brêten nét mặt càng xoi mói…


   Bọn trẻ con thì thế nào nhỉ? Người nối dõi tông đường thế nào nhỉ? Có phải chú cảm thấy không khí không bình thường này có phần khủng khiếp không? Tâm trạng của ÊlIđabét, chúng ta không thể biết được. Cô gái mặc cái áo nhỏ viền xatanh (thoáng nhìn người ta biết là điệu bộ bà Tôny) ngồi trong lòng chị vú em, ngón tay cái để trong nắm tay, chút chút đầu lưỡi, hai con mắt hơi lộ đờ đẫn nhìn phía trước, thỉnh thoảng hét lên một tiếng, chị vú em liền khẽ lắc một cái. Đứa trẻ kia – Hannô – thì ngồi im trên chiếc ghế thấp dưới chân mẹ, và cũng như mẹ chú đang ngước lên nhìn cái cọc nến hình cành cây thủy tinh.


    Chỉ có ông Cơrítxtian là vắng mặt. Ông ta đi đâu? Mãi đến bây giờ ai nấy mới phát hiện ra là trong nhà còn thiếu con người đó. Bà cụ tham liên tiếp đưa tay vuốt từ khóe miệng lên tóc mai, một động tác bà vẫn quen làm dường như là vuốt lại mái tóc rối. Động tác này sau mỗi lúc một lúng túng… Bà cụ vội nói gì với chị Sêvơrin, thế là chị Sêvơrin lách qua tốp trẻ trong ban đồng ca của nhà thờ, đi qua gian phòng lớn cột tròn, qua chỗ những người nghèo khổ đang chờ nhận quà, qua hành lang đến gõ cửa phòng ông Cơrítxtian. Ông Cơrítxtian vội vàng ra ngay. Ông vừa lê đôi chân vòng kiềng khẳng kheo (sau khi bị thấp khớp, chân ông ta hơi khập khễnh), vừa lấy tay lau trán hói, thong thả bước vào phòng phong cảnh.


Trời ơi, - ông ta nói oang oang – suýt nữa thì con quên mất!


Suýt nữa con quên mất… bà cụ tham nhắc lại rồi thờ người ra…


Chứ lại không ư? Suýt nữa con quên hôm nay là ngày Nôen… con ngồi trong phòng xem sách, xem cuốn viết về chuyến du lịch Nam Mỹ… Ối dào, không hiểu con dự bao nhiêu ngày lễ Nôen rồi! – Ông ta nói thêm. Ông ta đang định kể tràng giang đại hải cho mọi người nghe chuyện ông ta dự lễ Nôen trong một phòng nhảy hạng năm ở Luân Đôn như thế nào thì bỗng không khí im lặng trong phòng đã lây sang ông. Thế là ông ta chun mũi, bước rón rén đến chỗ ngồi của mình.


“Hãy vươn lên các cô gái trên núi tiên!”.


Bọn trẻ con trong ban đồng ca nhà thờ cất tiếng hát. Mười phút trước, những đứa trẻ con này đang cười nói ồn ào ở bên ngoài, ông nghị phải đóng cửa phòng một lúc mới dẹp yên được. Nhưng bây giờ chúng hát rất hay. Tiếng trẻ con lanh lảnh lại có tiếng đại phong cầm đệm theo, nghe thật thanh thoát hồ hởi, khiến lòng mọi người rộn rã và nét mặt ba cô gái già cũng trở nên ôn hòa hơn. Tiếng hát làm cho người già nghĩ tới mình, hồi tưởng lại quá khứ, đồng thời làm cho người đứng tuổi tạm thời quên mọi nỗi bực dọc trong lòng.


Hannô từ nãy vẫn ngồi ôm đầu gối, bây giờ buông tay ra. Mặt chú trở nên nhợt nhạt, tay chú sờ sờ bông lúa chạm trên thành cái ghế thấp, lưỡi liếm răng, miệng hé mở, vẻ mặt đờ đẫn. Một lúc, chú mới cảm thấy phải hít một hơi thật dài. Bởi vì, tiếng hát du dương bay bổng trong không trung như tiếng chuông ngân, làm cho chú vừa sung sướng, vừa đau khổ. Bất giác lòng chú se lại. Ôi, đêm Nôen! Bây giờ đây, qua khe hở giữa hai cánh cửa cao to, sơn trắng đóng chặt, mùi cây thông đưa ra thoang thoảng làm chú tưởng tượng không biết bao nhiêu điều đẹp đẽ về những cái ở bên trong đó. Mỗi năm một lần, chú phải chờ đợi như chờ đợi một vật gì quý báu vô cùng, hiếm có trên đời, không cầm được ở tay. Trái tim bé nhỏ của chú vui sướng quá cứ đập thình thịch… Ở bên trong, người ta chuẩn bị cho chú những gì nhỉ? Đúng, chắc chắn là những cái chú mong ước, trừ những cái không thể có được. Vì từ trước người lớn khuyên chú bỏ những ý nghĩ đó đi, những cái chú cầm được ở tay bao giờ cũng là những cái chú mong ước. Một nhà hát! Một nhà hát múa rối. Nhà hát ấy sẽ hiện ra ngay bây giờ đây, trước mắt chú, sẽ gọi chú đến ngay bây giờ đây, trước mặt nó. Trong mảnh giấy viết cho bà nội ghi món quà chú ước mơ, đồ chơi đó được liệt vào hàng đầu, phía dưới gạch một nét đậm cho nổi bật. Từ sau khi được xem vở Phiđêliô rồi, thì hầu như nhà hát múa rối là cái chú thường thấy trong giấc mơ.


Trước đây ít lâu, để thưởng cho chú về chuyện chú đến nhà ông Bơrétsơ chữa răng, lần đầu tiên chú được đến nhà hát thành phố xem hát. Chú ngồi trong “lô” dựa sát vào người mẹ, chăm chú nghe nhạc và xem diễn vở Phiđêliô. Từ lần đó, mỗi khi nằm mơ là chú chỉ mơ thấy ca kịch quên ăn, quên ngủ. Có lúc ở ngoài đường gặp người giống chú Cơrítxtian, cùng là khách quen của nhà hát chẳng hạn, ông Duuêman, ông Gốtxơ, làm nghề môi giới chào hàng, chú hâm mộ họ vô kể. Những người như họ hầu như tối nào cũng có thể đến nhà hát để tiêu khiển. Làm sao có thể được hạnh phúc đó nhỉ? Nếu mỗi tuần một lần, chú được đến nhìn qua sân khấu nghe thử dây đàn, xem cái màn khép chặt trước khi biểu diễn thì sung sướng biết chừng nào! Bất luận mùi dầu khí hay là chỗ ngồi, nhạc công hay là phông màn… không một thứ gì trong nhà hát, chú không thích.


Nhà hát múa rối của chú to hay nhỏ, rộng hay chật? Phông màn như thế nào? Hễ có trong tay là chú phải chọc một lỗ nhỏ ở phía trên tấm màn, chả phải trên tấm màn nhà hát thành phố cũng có một lỗ để nhìn ra hay sao? Bà nội hoặc chị Sêvơrin – vì bà nội không thể chú ý được nhiều như thế - có thể tìm thấy được tất cả những cảnh dùng để diễn vở Phiđêliô không nhỉ? Sáng sớm ngày mai, chú phải trốn vào một chỗ yên tĩnh, diễn thử một mình xem… Trong tưởng tượng, vai chú đóng đã hát lên rồi, bởi vì trong đầu óc chú, âm nhạc và biểu diễn gắn chặt với nhau làm một!


Hãy vui cười lên thật thoải mái, Giêsudalem! Bài hát đã đến đoạn cuối, theo cách hát đuổi thì hát đến âm tiết cuối cùng, các thứ giọng đều dừng lại và chồng lên nhau làm một. Tiếng đàn trong trẻo lắng xuống, không khí ở trong phòng cột tròn và phòng phong cảnh yên tĩnh trở lại. Như bị sự yên tĩnh nén xuống, những người ngồi đây đều nhìn xuống đất, chỉ có ông giám đốc Vaisen và bà Tôny là không như thế: ông Vaisen vẫn nhìn ngược nhìn xuôi trâng tráo, còn bà Tôny thì thỉnh thoảng ho khan một tiếng, tiếng ho này không thể bị vật gì đè nén được. Bà cụ tham thong thả đi tới trước bàn, ngồi trên chiếc xôpha giữa mọi người (luôn tiện nói qua, chiếc xôpha này không để trong góc cô đơn như trước, bây giờ đã dời tới trước bàn). Bà cụ cầm cái đèn ở trên bàn, dịch lại gần, lấy quyển kinh thánh to tướng viền vàng đã bạc màu, đeo kính vào, mở hai cái khuy da dùng để khóa sách, giở chỗ đánh dấu. Trước mặt bà cụ là một trang sách dày cộp, đã ngả màu vàng, in kiểu chữ đặc biệt. Bà cụ nhấp một ngụm nước đường, bắt đầu đọc.


Bà cụ cố đọc những câu, những chữ cụ đã thuộc, thật chậm, thật rõ ràng, thấm thía. Trong không khí nghiêm túc và thành kính của căn phòng, giọng bà cụ nghe sang sảng và xúc động. Bà cụ đọc: “Hãy đem phúc đức đến cho người đời!”, vừa dứt thì trong phòng cột tròn vọng ra tiếng hát ba bè bài Đêm yên tĩnh, đêm thiêng liêng, thế là những người trong phòng phong cảnh cùng hát theo. Họ hát rất thận trọng vì phần lớn không được học nhạc, thỉnh thoảng có ai đó hát thấp xuống thì tất cả lạc giọng ngay… nhưng vẫn không làm cho bài hát mất sức hấp dẫn. Bà Tôny vừa hát vừa mấp máy môi. Trong số những người ở đây chỉ mình bà trước kia là đau khổ nhất, chỉ mình bà muốn hồi tưởng quá khứ trong khoảnh khắc yên tĩnh ngắn ngủi trong ngày lễ thiêng liêng liêng này. Với lại, bài hát này đúng là bài hát có khả năng làm cho những con người như vậy cảm thấy vừa ngọt ngào, vừa cay đắng… Bà Kêthenden thầm nuốt nước mắt, mặc dù tai bà không nghe thấy gì hết.


(còn tiếp)


Nguồn: Gia đình Buddenbrock. Tiểu thuyết của Thomas Mann. Nobel Văn học năm 1929. Hồng Dân Hoa dịch. NXB Lao động, 1975.


 








1 Karl Gerok (1815-1890), nhà thơ, nhà thần học Đức.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 17.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »