tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30515446
Tiểu thuyết
22.05.2012
Ngọc Giao
Đất

Chương Hai


I- Sáng hôm sau, bầu đoàn thê tử nhà Xã Bèo lên đường chạy loạn. Gia đình anh khởi hành trước nhất ngay từ lúc gà vừa gáy sáng.


Xã Bèo kĩu kẹt gồng gánh nặng trên vai, cùng với con trâu bước nặng nhọc qua cổng cái làng. Người vợ đi đầu. Chị rảo bước cách xa chồng, kéo vạt áo lau nước mắt. Chị muốn khóc một mình, bởi vì đêm qua từ lúc chồng cuốc trúng phải cái nồi đất chôn cục máu, chị đã thổn thức, khóc mãi gần đến sáng. Anh Xã phải thét lên, chị mới chịu thôi. Thằng Đanh, thằng Đá, đứa gánh, đứa giắt trâu, cố theo kịp mẹ. Bà cụ Xã thì bịn rịn đi sau cùng. Bà phải đứng lại bên bờ giếng khi ba bốn người níu quang gánh bà ân cần từ biệt.


Ông cụ Từ già, bao giờ cũng vậy, sớm chiều hai buổi vắt chiếc khăn vải đỏ và áo the thâm lên vai, cụ chống gậy ra đình, ra miếu, đèn nhang cúng thánh. Cụ đứng lại nhìn bà Xã, lặng đi một lát rồi kéo đầu chiếc khăn vải đỏ:


- Cụ Xã đi trước, rồi bà con làng xã cũng đi theo sau. Lạy thánh mớ bái, phù hộ cho cụ đi một về mười. Tôi kề miệng lỗ rồi, tôi xin ở lại giữ miếu mạo, đình chùa. Thế là mãn nguyện. Các ông các bà còn mạnh chân, sáng mắt, cứ đi đi. Tre pheo, ao giếng của làng, già này xin giữ giúp.


Cụ Từ lại cười lên như nấc. Cụ chống gậy, dò dẫm từng bước một trên con đường gạch.


Bà cụXã cảm động. Lũ trẻ con anh mõ thỉnh thoảng được bà dúi cho củ khoai mẩu sắn, níu lấy bà và tò mò nhòm vào trong thúng xem có củ khoai sống nào không. Bà cụ Tăng vốn xưa nay bóp cổ người ta bằng cách cho vay nặng lãi và gây cảm tình với làng xóm bằng cách tốc váy, nhảy chồm lên chửi tam đại kẻ nào cho trâu bò qua bờ ruộng của bà, kẻ nào qua ngõ mà lẩn mẩn nhòm con gà con chó nhà bà, thế mà hôm nay bà le te chạy đến nắm tay bà cụ Xã Bèo như là xưa nay họ vốn thân yêu nhau lắm, tuy rằng hai người vẫn nói xấu nhau bất cứ ở trước mặt nhà sư ngoài chùa, hay trước mặt chị mõ trong góc điếm. Bà khóc òa lên y hệt một người hiền đức vốn xưa nay dễ khóc.


- Bà chị bỏ em ở lại đấy à?


Bà nức nở không nói ra lời. Bà cụ Xã khóc theo. Nhưng rồi bà cũng phải sụt sùi đặt gánh lên vai, vì có tiếng anh em thằng Đá đỗ gánh ngoài bờ sông đang nheo nhéo gọi qua ao, giục bà đi theo cho kịp.


Từ nãy, vợ chồng anh Xã, vì đợi mẹ, đã đỗ gánh trước sân đình, dưới gốc cây đa cổ thụ bên sông. Vợ chồng anh cùng nhìn mấy mảnh ruộng trồng khoai đỗ bên kia bãi sông; mầu xanh non của lá khoai lá đỗ trên những luống đất vừa mới xới làm vợ chồng anh Xã đau lòng đứt ruột. Chị lại khóc thầm trong giải yếm sồi đen. Anh mím chặt môi, mắt anh đỏ ngầu như mắt con trâu đang lội xuống bờ sông uống nước, chao ôi, nó uống lần cuối cùng ngụm nước sông làng để rồi sắp đi nơi xa thẳm nào không biết, thứ nước sông váng đục nó đã đầm, đã uống từ thuở nghé gọi mẹ vang cả cánh đồng nhà.


Bà cụ gồng gánh đến nơi. Bầu đoàn thê tử Xã Bèo ra khỏi lũy tre làng.


Con sông đào Nguyệt Đức lăn tăn gợn sóng suôi về phía cầu Gáy xa xa, lẩn giữa đôi bờ lau sậy, cỏ nước và những búi tre thưa vàng lá.


Ngôi sao mai lấp lánh trên nền trời mờ hơi sương, rọi yếu ớt xuống lòng sông. Gió đã mang theo lạnh.


Những bước chân dẫm nhẹ làm tan vỡ những màng sương trên cỏ đồng giá ướt và xua động những con cào cào xòe cánh đỏ bay hốt hoảng qua ruộng nước. Con cú trên cây muỗm góc vườn chùa rỏ vào màn sương sớm ghê rợn tựa tiếng hát đưa người.


Đoàn người, vật nhà anh Xã đã cách xa làng mấy cánh đồng, và đang đi trên đường cái quan.


Người vợ một bước một ngừng. Cứ mỗi lần đổi vai gánh nặng, chị lại quay nhìn mấy ngọn cau vườn nhà nhô lên khỏi giậu tre làng phơ phất trong sương gió sớm, nhìn về phía lũy xa tắp ở sau lưng, nghĩ đến ông bố đẻ yếu già và đàn em nhỏ dại không biết đã chạy đâu chưa, rồi chép miệng thở dài: “Chạy đi đâu được, mà chạy thì lấy gì mà ăn!”. Dễ đến nửa tháng nay chị chưa về thăm nhà một lần. Chị nhớ bố, nhớ em mà đành xa cách, tuy chỉ xa nhau một cánh đồng, bởi vì chị nghĩ đến lời mẹ chồng đay nghiến, ngờ vực chị bòn rút giấu giếm tiền nong đem về cho bố già nghiện hút. Lòng quặn đau, chị chồn chân chậm bước. Chị đưa bàn tay lên lau nước mắt, vô ý vấp vào mô đất, lặng cả người, suýt ngã. Một móng chân bật ra, chị xuýt soa, tập tễnh rảo cẳng theo chồng đã cách một quãng dài. Bỗng bà cụ đỗ gánh bên đường, bảo hai cháu đứng coi. Bà lon ton đi vội lên bãi đất cao, thắp hương cắm xuống ngôi mả ông cụ Xã, bà ngồi thụp xuống lầm rầm khấn vái. Khấn xong, bà khóc òa lên:


“Ông ơi, ông khôn thiêng phù hộ cho mẹ con tôi…”


Bà nghẹn lời gục đầu vào mộ mà nức nở, như ngày xưa, cách đây tám chín năm, bà đã nhất định lăn theo cỗ quan tài đang từ từ theo giây thừng xuống huyệt. Vợ chồng anh Xã cũng trèo lên bãi đất lễ. Bà cụ ngừng khóc, ngẩng lên thấy vợ chồng Xã Bèo không khóc thì nguýt dài một cái rồi lại ôm lấy mả rống lên:


- Ông ơi. Ông chết đi là mát mẻ, tôi sống là sống khổ, sống nhục, làm con vú già hầu hạ người ta…Ông khôn thiêng cho tôi theo mấy ông ơi…


Thốt nhiên, mấy tiếng súng nổ liền. Bà cụ nhỏm ngay lên, mặt tái xanh tái xám.


- Súng nổ sao lại gần thế hả bố thằng Đanh? Chết! làm thế nào? Liệu đi có được không?


Xã Bèo cũng hơi run:


- Vẫn sung nổ ở phía phố Vàng. Thôi ta đi mau, làm thế nào tối hôm nay đi qua tỉnh Bắc thì mới yên tâm được.


Cả đoàn lại gồng gánh kẽo kẹt trên đường cái quan xa vắng. Con trâu lắc lư đôi sừng cong vắt, bước chân nặng nhọc, mắt nhìn xuống đất và thỉnh thoảng thở phì phì vừa đi vừa ghé lại bên đường gậm cỏ. Thằng Đá đập khẽ vào lưng con vật. Không bao giờ nó dám đánh đau trâu. Nó yêu con vật với tất cả tấm lòng ngây thơ của nó. Con trâu đã cùng anh em nó lớn lên như thổi, bạn với nhau trên khắp cánh đồng hàng xã, có khi chúng đã vui chân cho trâu đi kiếm cỏ tận bên kia đường xe lửa, chờ tầu chạy qua thì anh em nó vẫy tay với hành khách, trong khi con vật ngừng gậm cỏ, vểnh tai nghe còi tàu thét trước sân ga.


Bây giờ chúng phải xa lìa những cánh đồng cỏ xanh chúng đã thả trâu để đánh khăng, đánh đáo, vật nhau với lũ trẻ làng. Chúng nhớ con sông trước sân đình, ngày để chỏm anh em nó đã bắt chuồn chuồn cắn rốn cho chóng biết bơi…Chúng nhớ cả cây đa Đống Ráu gần cầu Gáy, tối nào cũng có thần hiện lên đỏ như bó đuốc, bay lơ lửng trên đồng ruộng. Chúng nhớ cả những buổi chiều hè thả diều nghe tiếng sáo vi vu. Từ nay, thế là hết cả! anh em nó phải xa làng, mà chúng cũng biết như người lớn rằng xa làng thì tất khổ, có khi còn bị chết nữa.


Suốt ngày hôm ấy, Gia đình anh Xã cố hết sức đi. Trời về chiều, mưa bụi và căm căm rét. Bà cụ Xã không còn sức mà le te đi trước như lúc mới rời làng. Đường bị xẻ cắt nhiều đoạn dài, hố sâu ngập một đầu một với. Bà luôn miệng kêu rên mỗi lần run rẩy bước qua miệng hố. Lối đi chỉ vừa đủ hai gang. Thằng Đá khó nhọc lần từng bước dắt con trâu to nặng cho nó khỏi sa xuống vực. Người vợ nhăn nhó vì cơn đau bụng lại nổi lên như đêm qua. Nhưng chị vẫn cắn răng cố gánh theo kịp chồng con. Chị chỉ sợ đi sau cùng, lỡ lạc, hay gặp gian phi dọa nạt, nhất là lưng chị còn giắt một số tiền. Trên con đường trải đá từ bến Hồ lên tỉnh, người chạy loạn từng toán một đi rải rác, áo tơi nón lá, trẻ già, thơ dại dắt díu như những đàn kiến chạy nước to. Gió thêm buốt lạnh. Mưa chìm vào bóng chiều xam xám đang buông mau, dần dần bao phủ cánh đồng vắng ngắt, và xa kia, những bức tường gạch đổ nửa vời đã phơi màu vàng, trắng sau những ngọn cây trụi lá.


Vào lúc bọn nhà Xã Bèo đặt chân đến tỉnh thì trời tối mịt.


Đây là một thế giới hoang tàn. Những bức tường nghiêng vỡ ọp ẹp đỡ những chiếc rui kèo cháy dở vùi trong ngói vụn. Khắp đó đây, bãi trụi tường rêu, vôi gạch, ngói gỗ, và rơm rạ chất cao, trên đó giây leo, cỏ dại mọc. Những thân cây bị cháy thui dựng lên trời vô vàn hình ma bóng quỷ, mấy chiếc cành khô khẳng chơi vơi trong bóng tối tựa những cánh tay ma. Gió vèo qua. Vài chiếc lá héo vàng rụng xuống bãi hoang như những giọt nước mắt khóc trò dâu bể.


- Bố thằng Đanh! Tối mù tối mịt thế này, phải tìm chỗ nào mà ngủ chứ. Tao sợ lắm, tao không đi được nữa đâu.


Tiếng nói của bà cụ phều phào trong gió lạnh. Xã Bèo mở to mắt nhìn thấy mấy bức tường cao gần đấy trên bãi rộng. Anh tiến đến, cả bọn theo sau. Đây là một tòa nhà gạch đang phá dở, chỉ còn nửa mái. Anh đặt gánh xuống. Mọi người cũng làm theo. Anh sợ sệt bước vào bên trong. Tối mịt mù, phảng phất mùi hôi thối như mùi chuột trương, cóc chết.


- Bà đưa con bao diêm.


Bà cụ lóng ngóng sờ nắn mãi mới thấy bao diêm trong cạp váy. Que lửa lóe trên bàn tay run lật bật của anh, chỉ kịp soi vội mấy bức tường vôi xanh trần trụi và nền gạch hoa rác rưởi ngổn ngang.


- Ta nghỉ ở đây chờ sáng vậy.


Xã Bèo nói thầm thì. Cả bọn gồng gánh vào trong ngôi nhà đổ.


Thằng Đá ngơ ngẩn hỏi:


- Con trâu làm thế nào hả bố?


Anh cũng ngơ ngẩn nghĩ, thừ ra một lúc. Người mẹ khẽ nói bên tai con:


- Cứ dắt cả trâu vào, chứ biết làm sao. Nhà bỏ hoang, ai ở mà lo!


Thằng Đanh ra giắt trâu vào. Người vật lúc nhúc trong bóng tối, dưới mái ngói lộ thiên, gió mưa rội xuống vèo vèo như trên bãi tha ma.


- Đói lắm, bu ơi!


Thằng Đanh củng vào đầu em, mắng:


- Vừa ban trưa ăn bánh chưng ở hàng nước đã kêu đói, mày hư lắm.


Giá còn ở nhà mà bị anh đánh như thế thằng Đá thụi trả ngay, nhưng lúc này nó chịu ngồi im, nghẹo đầu vào vai mẹ,


Chị thương con, bà cụ cũng thương cháu đói, bà sờ soạng thúng này thúng khác, lôi được cái bẹ cau gói cơm ra, bẻ hai miếng đưa hai cháu. Thằng Đanh cũng đói cào gan ruột, nhưng nó nhường cả cho em.


- Bà và bố nó lấy cả cơm nắm ra mà ăn, đói ốm mai đi sao được, đường thì còn xa - Chị ngừng lại, rồi rất nhỏ - Tôi có tiền đây. Đã đến nông nỗi nào mà phải nhịn đói, nhịn khát, cơ cực thế này.


Anh gật gù:


- Ừ thì cứ ăn đi. Trời sinh voi sinh cỏ chứ, cần qué gì!


Năm người xúm vào một xó, sờ mó mấy miếng cơm khô rắn, chấm muối vừng đổ lên lòng bàn tay.


Con trâu đứng lù lù nửa gian nhà ngay bên cạnh năm người. Nó hùng hục thở, đập sừng vào tường. Thằng Đá vừa nuốt cơm, vừa nói:


- Trâu đói rồi bố ơi, làm thế nào bây giờ?


“Ừ làm thế nào bây giờ”. Mọi người cùng nghĩ như thằng bé.


Một lúc, thằng Đanh nói nhỏ:


- Thế này con dắt trâu ra bãi cho nó ăn. Trời tối bãi rộng, chả ai trông thấy đâu mà sợ.


Chữ “sợ” lúc nào cũng gieo nặng trong lòng lũ người khốn khổ này, dù ở trong làng nơi cắt rốn chôn rau của họ cũng như ở ngoài thiên hạ.


Bây giờ, họ đang lưu lạc nơi “đất khách quê người”. Họ cứ đinh ninh rằng chỉ cái mái rơm dựng trên nền đất tổ, chỉ đồng ruộng bên lũy tre làng họ đổ mồ hôi xuống mới là đất của họ, nhà của họ, còn thì đâu đâu cũng là dất của người ta, - người ta, những người mà họ phải sợ hãi, và đâu cũng là cái đất mà họ bước lên lạc lõng bơ vơ sợ sệt như là bước lên đất cát một xứ sở, một thế giới Tây, Tàu quái lạ nào.


- Ừ, thì dắt nó ra, ai biết mà sợ.


Anh em thằng Đá cùng với con trâu lừ lừ ra bãi cỏ lạnh trong mưa đêm. Gió bắc buốt xương, dứt thịt. Anh em nó đứng sát vào mình trâu, tránh chiều gió thốc vào mặt sắc như kim châm. Trong cõi tối dầy đặc như địa ngục, chỉ có tiếng gió rít vặn mình và xoáy mưa mỗi lúc một xuống mau.


Người mẹ thương con, mang áo tơi ra cho con khoác. Chị phải đứng yên một lúc, đón chiều gió, nghe tiếng trâu gậm cỏ mới tìm được chỗ hai đứa trẻ và con vật ở đầu bãi tít đằng xa.


Chị vừa đi vừa nhìn vọng về góc trời đen thẳm mịt mù ở phương Nam để nhớ quê nhà, và nghĩ đến cái lũy tre làng Lộng Thượng cách bên kia bờ sông Nguyệt Đức một cánh đồng, chị lại đau lòng thương sót bố già, đàn em thơ bé. “Không biết có còn yên ổn, hay là đã tan tành? Cha mẹ ơi, em ơi!...”. Chị khóc nấc lên. Gió vèo qua mặt chị, đem tiếng khóc gửi về đôi bờ con sông quê hương chìm khuất nơi chân trời.


Suốt đêm ấy, bầu đoàn thê tử Xã Bèo đã ngủ ngồi bên con trâu. Vào khoảng canh ba,chợt mở mắt, anh bật diêm soi đồ đạc. Bà cụ ngồi gục mặt xuống gánh chăn chiếu áo quần mà bà tự gánh lấy và lúc nào cũng lo mất mát dọc đường. Bà luôn nhắc anh em thằng Đá: “Vương vãi cái gì thì cũng đành, chứ cái chăn manh áo mà sểnh mất thì vô phúc đấy cháu ạ”. Không những bà, cả vợ chồng anh cũng chỉ lo mất thúng áo quần, vì anh nghe người ta nói trên miền rừng rét lắm.


Xã Bèo bật que diêm nữa. Ánh lửa lóe soi người vợ với hai đứa con ngồi bó gối tựa tường ngủ. Anh thở dài thương mẹ, thương vợ, thương con, sót cả thân mình. Uất hận làm nóng đầu anh: “Đang yên ổn làm ăn mà nay bỏ cả nhà, cả đất, màn trời chiếu đất thế này”.


Một cái bóng làm anh giật bắn minh. Anh ngồi yên nhịn thở chờ xem. Cái bóng đến gần, thì ra đó là một con chó hoang lạc nhà ai đi ăn sương. Con vật khẽ gừ, mon men đến ghé mõm vào chân thằng Đá đánh hơi rồi lại mon men đến chỗ con trâu đang nằm ghé sừng vào chân tường ngủ mà hít ngửi lông đuôi nó. Con trâu thấy động, quất đuôi vào mặt nó. Con chó kêu ẳng một tiếng, quay mình chạy vút ra ngoài trời tối. Tiếng chó kêu khiến bà cụ và chị hoảng hốt mở mắt ra. Họ ngồi yên chờ sáng, dạ đói lòng không.


Bóng tối ngả dần màu sữa loãng. Chị đánh thức hai con dậy, sửa soạn ra đi. Đoàn người, vật lại mệt mỏi gồng gánh lên đường.


Trời sáng rõ. Gió se khô không khí và đất cát, cỏ cây. Mây cao và nhẹ, mầu vàng nhạt.


Xã Bèo bỡ ngỡ nhìn cái tỉnh lỵ, bị tàn phá trước chiến tranh. Anh vừa đi vừa ngơ ngác ngắm bốn bề cây đổ, nhà hoang, tường xiêu, mái giỡ. Còn lại thưa thớt vài nóc nhà gianh, phên cửa che kín mít. Anh nhớ đã một lần, chừng ngót hai mươi năm nay, anh đã cơm nắm muối vừng theo cha lên tỉnh này hầu kiện tòa Nam án. Ngày ấy bố Trương Dần kiện bố anh về việc đào ao. À, ông cụ Xã đào ao thả cá, đào xong thì hai thằng con cụ Trương tự nhiên mù mắt. Thế rồi, cụ Xã bị lôi lên huyện, huyện tư lên phủ, rồi thì việc đưa lên tỉnh, cho đủ ba tòa quan lớn xét soi và cho món tiền đợ ruộng, cầm đất của hai lão dân đen cũng bay theo. Ngày ấy, anh đã đi sau cái ô đen cắp nách của ông cụ Xã, bỏ giầy khúm núm vào tòa. Cái dinh to tát ấy ở chỗ nào, anh Xã không nhớ nữa, những anh đoán chắc nó đã bị phá hủy rồi.


Họ đã ra khỏi khu đất hoang tàn.


Đường từ tỉnh Bắc càng ngược lên càng nhiều đoạn dài bị phá hoại khó đi. Người di cư chạy loạn, đó đây từng tốp, gồng gánh như gia đình anh Xã.


Vừa hẩng lên một lát, mây xám lại phủ kín bầu trời. Gió theo cơn, từ ruộng lúa hai bên trũng thấp thốc mạnh lên làm co rúm những mớ thịt xương bọc tã nâu đụp rách. Họ cắn cặp môi tím nhợt, bồng con bế cái, hoặc còng lưng quẩy gánh đi lên gió ngược từ nẻo trời xa thẳm dồn về.


Gập một đám đông, Xã Bèo đi sát vào, hỏi một cụ già đang hồng hộc thở:


- Các cụ, các ông, các bà định chạy đến đâu, cho chúng cháu đi cùng.


- Cứ đi, nào đã biết đi đâu!


Một anh con trai gánh nặng bước phăng phăng cười nói:


- Chỗ nào có gạo có cơm thì đến. Các cụ cứ yên tâm thẳng tiến! Có người có ta, cần gì ạ. Khổ một tý, rồi thì sướng hơn tiên.


Anh con trai cười vang như một con người sung sướng thật tình.


Tiếng đứa trẻ con khóc thét trên lưng người mẹ trẻ đang vừa rên vừa bấm ngón chân dò từng bước trên gờ đất trơn như mỡ bám lắt lẻo ở quãng đường xẻ đứt sâu thẳm tựa giếng khơi.


Dọc đường, hàng quán mọc rất nhiều để chứa dân chạy loạn. Đã mỏi, gia đình anh Xã đỗ gánh ở một hàng nước dưới gốc đa. Chiếc quán chông chênh đón gió lùa qua vách lở, một bà cụ già đang ngồi xua ruồi đậu trên mấy tấm mía quắt queo, rá bún to sợi màu tro xám, mấy tấm bánh chưng méo mó, lá bọc đã khô giòn.


Mưa lại bay trắng vòm trời ủng sũng, thấp tối. Bà cụ Xã tìm chỗ xếp gánh chăn chiếu vào trong quán tránh mưa. Tất cả vào ngồi trên chiếc ghế dài đóng bằng hai mảnh tre bương ghép lại. Bà cụ bán hàng đon đả mời:


- Xơi riêu cua ngon, nhà cháu hâm cho nóng.


Bà cụ Xã nhìn anh em thằng Đanh đang ngắm nghía đĩa rau diếp thái vụn và bát muối ớt khô. Bà đáp:


- Ăn bún thì đói ngấu ngay. Cụ thổi cơm cho chúng tôi ăn. Một tý muối, dưa là đủ.


Bà lão nhà hàng lấy gạo, xuống vũng nước trũng sau nhà, khỏa đỉa và váng mỡ, vo xóc qua loa. Thằng Đanh tính hay làm, đi nhóm bếp giúp bà lão, vì nó đang đói đắng cả miệng và hoa cả mắt.


Xã Bèo ra đường cái đứng đội mưa ngắm cánh đồng bát ngát để buồn rầu nghĩ đến mấy thửa ruộng anh vừa ngả mạ bên kia sông, và miếng đất vườn nhà chắc bây giờ không còn những luống rau xanh, những gốc mía đường mà mẹ anh, vợ chồng anh đã mất bao nhiêu công cầy bừa vun xới.


Anh lại nghĩ đến cái nền nhà trơ trụi của mình, chắc bây giờ đã xanh rêu, kín cỏ rồi. Ngậm ngùi, anh đưa bàn tay lên vuốt nước mưa trên mặt và nước mắt.


Bỗng thằng Đanh chạy ra gọi bố:


- U lại đau bụng, đang lăn lóc trong kia.


Xã Bèo chán ngán kêu trong cuống họng: “Rõ khổ về cái của nợ này!” Anh bước vào quán. Người vợ không nằm như mọi khi ở nhà mà đang lên cơn đau dữ dội. Chị ngồi bên cạnh bếp lửa, hai tay ôm bụng, mồ hôi chảy vã ra. Gan góc, chị không kêu một tiếng, chỉ cắn răng khẽ xuýt soa: “Xẩy nhà ra thất nghiệp, sống đầu đường xó chợ thế này, còn kêu làm gì nữa cho khổ chồng, khổ con”. Lúc nào chị cũng thương chồng, thương con hơn là nghĩ đến thân mình.


Anh cúi xuống, nhăn nhó hỏi:


- Đau gì mà đau luôn thế, biết làm thế nào bây giờ, lên giường mà nằm nhờ bà cụ nhà hàng một lúc rồi còn phải đi chứ, ăn vạ ai ở dọc đường này.


Anh cúi xuống đỡ, chị khẽ gạt tay chồng.


- Bố nó cứ mặc tôi, tôi đau đừng ai mó đến tôi.


Anh bực mình nói giữa hai hàm răng rít lại. Và đây là lần đầu tiên anh gắt vợ:


- Đã khổ bỏ đời như thế này còn làm người ta khổ thêm nữa chắc. Chết mẹ nó cả đi cho xong.


Chị ngước nhìn chồng rồi lại ôm lấy bụng:


- Bố nó không phải nhiếc tôi. Chỉ lát nữa là tôi gồng gánh được. Tôi chỉ cầu trời cho đủ ngày đủ tháng mà sinh nở cho ba vuông bẩy tròn. Tôi mang nặng đẻ đau, bố nó nhiếc tôi làm gì mãi…


Chị vừa ôm bụng vừa tủi thân gục xuống đầu gối khóc. Anh Xã bực bội lại ra ngoài đường đứng phơi mưa. Lòng đầy oán giận, anh nhìn trời, nhìn đất, muốn thét to lên.


Ngay lúc ấy, một đoàn bộ đội từ sau lũy tre dưới cánh đồng leo lên đường cao. Họ tiến đến trước mặt Xã Bèo. Anh tránh sang một bên đường, nhìn năm sáu người thanh niên quần áo nâu, đội mũ sắt, đeo súng máy và ba lô nặng, hăm hở bước và vui vẻ hát. Bỗng một người dừng bước, vồn vã nắm cánh tay anh:


- Anh Xã đi đâu mà lại thơ thẩn ở đây? Tản cư đấy chứ?


Anh ngờ ngợ một lúc mới nhận ra người chiến sỹ ấy là Trưởng bạ Tần ở bên làng vợ. Anh đáp:


- Vâng chúng tôi đang tản cư đây ạ.


Người chiến sĩ vỗ vai Xã Bèo thân mật:


- Ừ, tản cư là phải lắm. Không tản cư thì cứ là chạy lên trời.


Và anh ta ghé tai anh Xã:


- Chúng tôi về thăm làng đây. Có lẽ chỉ đêm mai là giáp chiến. Anh không biết là ở vùng mình có tiếng súng từ đêm qua đấy, trinh sát giặc nó lọt vào các làng, “tắc poọc” ngay giữa ban đêm, sáng sớm tinh sương “moóc chê” đã câu qua đường sắt tới mấy làng, nghe đâu nhiều nhà chưa giỡ kịp bị ra tro.


Xã Bèo tê tái cả người. Anh ngẩn mặt, miệng há hốc, hai tay buông thõng xuống. Người kia bóp mạnh cánh tay anh, cười rồi vừa bước đi vừa nói:


- Anh đưa gia quyến đi thế là hơn. Lên Bắc Giang, rồi đến vùng Nhã Nam mà làm ăn buôn bán. Người thiên hạ, cả người miền ta, tôi thấy nhiều lắm đấy.


Người thanh niên rảo bước đuổi theo đoàn. Xã Bèo nhìn theo mãi. Chuyện mười năm xưa trở lại trong đầu, anh Xã nhớ đến cái anh trưởng bạ Tần làng Lộng Thượng vốn là một tay chơi không mấy lúc chịu rời bố vợ anh.


Hồi ấy Tần mới ngoài hai mươi tuổi, thế mà trong đám dân chơi, anh đã được anh em nể và thiên hạ sợ vì cây thiết lĩnh giết người như ngóe của anh mỗi lần anh tung hoành trong vòng lửa hay trên đường làng có rắc chông và có phục binh cản diết. Cái anh chàng đẹp trai ngày xưa ấy, ban ngày mặc áo the, lành hiền cắp sổ lên hầu quan huyện, lễ phép cả với anh lệ, thầy nho, đêm đến thì vẽ mặt, độn bông vào bụng và nai nịt gọn gàng, một tay ném lửa đốt cháy trời, làm hoảng vía cả quan nha - cái anh chàng đó, ngày nay đã trở nên một chiến sĩ vai vác súng theo kỷ luật, đi làm việc nước.


Xã Bèo nhìn theo mãi. Anh nghĩ đến mẹ già, con bé, vợ ốm bụng mang dạ chửa, con trâu, bu gà và ba bốn gánh gồng nồi niêu chăn chiếu - chao ôi, con người con vật, cả một tảng đá lớn đè chúi đầu anh xuống, đè mãi xuống, anh héo già đi, anh sẽ chết dưới tảng đá ghê gớm ấy, trong khi anh trưởng bạ Tần bỏ đi tất cả, để vác súng lên đàng.


Anh buồn bã nhìn xuống bãi ngô dưới đường đê cao. Con trâu của anh đang hiền làh gậm cỏ. Thằng Đá con anh ngồi lưng trâu miệng kêu vờ làm tiếng súng dọa con cò mò tép trên dòng nước. Xa xa mờ trong mưa phủ trắng trời, mấy cái bóng áo tơi nón lá đi trên đường cái quan thẳng tắp.


Anh buồn rầu lững thững trở về quán nước.


Người vợ đã đỡ đau bụng, vừa gục xuống gối ngủ thiếp đi. Bà mẹ chồng vốn đã quen với cái đau của cô con dâu, bà cứ để chị nhăn nhó chán rồi cũng khỏi. Cơm vừa chín thì anh về. Chị mở mắt ra, gượng đứng dậy ngồi ghé vào mép chiếc giường giát tre nhà hàng, xới cơm cho mọi người.


Anh Xã thấy vợ xanh xao, phờ phạc thì thương sót:


- U nó ăn đi một tý cho đỡ mệt, rồi đi kẻo hết ngày.


Chị yên lặng, đánh miếng cháy chấm muối ăn. Nồi cơm bé, tuy chị cũng đói nhưng muốn nhường cho chồng con ăn no.


Giữa lúc ấy có một bọn đông đến đỗ gánh và họ trâu ở ngoài hàng.


- Còn gì ăn không đấy cụ? À, có bánh chưng, tốt lắm.


Cả nhà anh Xã nhìn ra. Và anh thốt kêu lên:


- Bác Lý, thế nào, tưởng gan lỳ không chạy?


Lý Còng vừa vuốt nước mưa trên mặt, nhận ra anh Xã, cũng kêu lên:


- Bác Xã! Kìa cụ, ngỡ cụ và các bác đã xa lắm rồi. Lại gặp nhau đây, ta cùng đi cho vui. May quá!


Lũ con Lý Còng cũng ríu rít xếp gồng gánh ướt sũng vào trong quán. Mọi người hỏi han nhau nhốn nháo. Vợ Lý Còng nắm tay chị Xã kéo ra góc vách thì thầm, mặt hoảng hốt. Bà cụ cũng bỏ cả ăn, ra ghé tai nghe. Bà rên thảm hại:


- Trời đất ơi, có khổ không. Ông ấy bị đạn, sống gì được nữa! Thế, nó đuổi theo ra ngoài đầm, có bắn ai chết nữa không?


Vợ Lý Còng nói khẽ:


- Cả làng ta, cả làng Hạ xô nhau nhẩy cả xuống dưới đầm. Chúng không bắn nữa, vẫy gọi lên. Rồi thì cũng phải lên, run bần bật xếp hàng trên bờ đầm mà van lậy như tế sao. Khổ mấy cô gái làng ướt như chuột bị họ ghẹo kéo yếm xuống, run bắn lên, trông đến thảm.


Bà cụ rùng mình nhắm mắt lại, rủa mấy câu liền. Chị Xã chỉ thở dài sườn sượt, mặt tái xanh hơn. Chị nghĩ đến bố già, em dại đang giẫy giụa trong vòng lửa ấy. Chị vào trong bếp, đứng ở cửa sau nhìn ra cánh đồng mưa. Đất trời mờ mịt trắng, chị không còn biết quê hương làng xóm ở phương nào. Xa gần, đây kia những lũy tre xám nhạt nổi trong hơi nước.


Trong lúc ấy, ở ngoài hàng, Lý Còng ngồi uống rượu với bánh chưng, bác gật gù nói oang oang:


- Eo ôi, ghê quá. Bị luôn một viên vào bụng, tội nghiệp, ruột gan ông ấy lòi ra, máu trôi cả xuống giếng đỏ lòm. Họ đi khỏi rồi, chính tôi chôn ông bên bãi sông. Ngoài chùa, chúng cũng chẳng từ. Đức Ông chùa nhà linh thiêng, chúng không dám mó vào cái gì cả mà lại còn ngắm nghía khen tượng đẹp. Chúng vào cả đình, xông vào trong cung, nhưng cũng không dám xâm phạm tới đức Thánh.


Chuyện Lý Còng khiến Xã Bèo hãi khiếp. Anh lấy làm mừng đã thoát nhà mình, nhưng thương họ hàng làng xóm đang chết dở ở nơi hòn đạn mũi tên. Cũng như người vợ, anh nghĩ đến gia đình vợ, và càng thêm thương vợ.


Mưa đã ngớt. Đoàn người vật lại lên đường. Thằng Đá có thêm thằng Cõn, con bác Lý làm bạn, càng vui chân. Hai đứa giắt hai trâu nghênh ngang giữa đường. Chúng nghêu ngao hát, và trố mắt nhìn mỗi khi có một vài người cỡi xe đạp phải lựa đường tránh trâu của chúng. Chị Xã có bên mình bác Lý gái cũng đỡ buồn. Hai người vừa quẩy gánh vừa trò chuyện nhỏ to, thỉnh thoảng móc túi lấy miếng trầu cau héo ăn cho đỡ rét. Bà cụ lúc nào cũng sợ xe đạp, cứ đi sát ở rìa đường, luôn luôn nhìn cái bu gà gài ở gánh thằng Đanh, sợ gà con chui ra mất. Đi sau cùng là anh Xã với Lý Còng. Rượu say, bác Lý đi chậm chạp, anh Xã phải vừa đi vừa đợi. Anh đi sát vào Lý Còng, nói khẽ:


- Mình đi thế này, không may ba bốn năm nữa mới được về, đất cát ruộng nương của mình ra sao, có mất được không?


Lý Còng đổi gánh, nhăn mặt vì đau buốt cả vai:


- Cái đó là nhờ trời đất, thần thánh, chứ biết thế nào mà nói trước. Vai tôi là vai thờ quen từ thuở bé, gánh mãi thế này chết mất thôi.


Bác ngừng để thở. Cổ bác bé dài như cổ cò hương nghẹn đi dưới chiếc đòn gánh tre già rung theo chân bước thấp cao và nghiêng ngả của cơn say, sức yếu.


Họ đi như vậy, kiên nhẫn như đàn sâu kiến trên con đường mưa gió. Họ chỉ nghỉ khi nào cả vật cả người quá mỏi. Tối hôm ấy họ ngủ trên sân đình một làng kháng chiến, lũy tre kín mít, đường xóm tứ phía rắc chông gai. Hầm trú ẩn sâu quá đầu người chạy dài khắp làng như mạng nhện. Cánh Xã Bèo đỗ gánh ở đình này từ lúc trời chưa tối cùng với hai ba toán người vật ở miền khác cũng cảnh ngộ bỏ làng như anh. Anh trình giấy phép tản cư và thẻ công dân của vợ con cho người ta vào sổ, rồi được đưa dẫn ra đình ăn cơm, và nhận chiếu cung cấp.


Ba bốn chục con người già lão, đàn ông, đàn bà, trẻ con, chia từng tốp năm người một, vây quanh một rá cơm, bát rau, đĩa muối, ngồi la liệt trên sân đình trong bóng tối nhá nhem.


Lý Còng chống đũa nhìn chiếc bát ngô sứt mẻ, đã buồn vì không có rượu, lại tủi nỗi cháo cơm bố thí, bác lắc đầu nói đỏng:


- Cha mẹ kiếp, đến thế này thì ra thân chó, chả bù với ngày nào ba lợn, một bò…bây giờ thì ngủ sân đình, cơm hành khất, chán đời chưa!


Bác Lý gái đưa mắt lừ chồng:


- Bố Lý nó đến hay thôi! Trời đất loạn lạc thì phải thế, cả bàn dân thiên hạ khổ, chứ nào có riêng mình. Người ta làm vua làm quan thiên tứ đỉnh chung mà còn khổ, nữa là mình có là cái gì mà sợ khổ…


Lý Còng vất đũa xuống mâm:


- Mặc kệ người ta. Đây khổ lắm, không rượu thì đây không sống được.


Rồi bác đứng dậy đi, bác định đi tìm hàng quán nhưng bọn dân quân gác cổng đình ngăn bác lại. Bác ngoan ngoãn quay trở bởi vì những người kia có súng.


Từ nãy Xã Bèo vẫn ăn. Anh dễ tính, giản dị, khổ từ thủa nhỏ đã quen rồi. Không bao giờ anh quên được những ngày mất mùa hai vợ chồng đi làm thuê gánh mướn. Vợ chồng anh đã thay trâu kéo cầy bừa hết làng này sang làng khác mà bụng lúc nào cũng đói, quần áo lúc nào cũng túm buộc tả tơi. Cho đến ngày trời bù cho có miếng ăn, vợ chồng anh vẫn luôn luôn ôn lại buổi cơ hàn. Không tản cư, ở nhà thì bữa cơm nhà anh cũng chỉ có bát rau khoai lang, đĩa tép hay cua muối mặn, chan nước đậu phụ nóng - món ăn anh ưa thích - cứ tinh sương anh đã gọi thằng Đanh xách liễn xuống làng dưới mua về. Lúc này vợ chồng Xã Bèo tình cờ cùng một lúc nhớ tới món nước đậu phụ ngọt bùi và trắng như sữa ấy.


Chị nhìn chồng:


- Không biết ở trên miền rừng, người ta có ăn nước đậu không nhỉ?


Anh Bèo đáp như là đã biết rồi:


- Nước đậu phụ bổ lành thế, đâu mà chả ăn.


- Tôi tưởng chỉ có vùng Nguyệt Đức mới biết ăn nước đậu.


Câu chuyện vẩn vơ của hai vợ chồng anh tan vào cái ồn ào của mấy chục con người đang ăn uống ngon lành. Lý Còng bước lên sân đình, hậm hực ngồi bệt xuống lá chiếu rách, mắt bác đỏ ngầu. Bác nhìn bức hoành phi treo trước cửa vọng cung, lẩm bẩm:


- Chữ đếch gì mà như gà bới, thế mà cũng thiếp vàng sơn son. Cái quân làng này vô học hết - Rồi ngắm câu đối, lư đồng, ngựa gỗ, mắt bớt đỏ dần dần, Lý Còng khẽ thầm thì - Lạy thánh mớ bái, đây thờ đức Thánh Gióng, vậy mà từ nãy mình không biết.


Lý Còng đứng dậy. Bác len qua đám người đang ăn uống, đến trước cửa cung khấn vái. Tiếng trẻ khóc, tiếng mẹ mắng con, tiếng ông già ho sằng sặc vì khói thuốc lào và tiếng hai con trâu đói cỏ đang rống ở ngoài gốc đa cửa đình làm át tiếng khấn vái của Lý Còng suýt soa trước cửa cung, trong đó mấy con giơi vừa bay ra chao muỗi đói.


Bọn Xã Bèo, Lý Còng đã xa nhà hơn năm mươi cây số. Càng đi họ càng thấy lạ nước, lạ non. Qua miền đồng chiêm nước gạch cua xa hút chân trời, tiếp đến miền đồi núi lầm đường bụi đỏ. Họ bỡ ngỡ, ngơ ngác nhìn đồi cao, cây rậm ở hai bên đường vượt cao, đổ dốc. Rừng hoang vắng, vi vút tiếng thông reo sườn đồi cỏ rậm. Trên ngọn đồi thấp thoáng mầu vôi trắng của một ngôi đền đứng cô độc dưới bóng thông già cỗi. Chị Xã và vợ chồng Lý Còng mỗi lần qua ngọn đồi nào có đền thờ lại bỏ nón cúi đầu đi lánh xa sang bên kia đường, lâm râm khấn. Xã Bèo không tin thần thánh nhưng anh cũng thấy rờn rợn, anh chợt nhớ đến những câu chuyện ma rừng thần núi mà bác Bếp Năm, trong một đêm gác ở cổng làng dạo nọ, đã kể anh nghe.


Càng đi, càng thấy thưa làng vắng xóm. Những lũy tre xa gần, màu xám đặm, ta vẫn thấy mọc thưa thớt trên những cánh đồng miền xuôi ở đây không còn nữa, mà chỉ còn bạt ngàn những rừng lim rừng trám um tùm bọc những ngọn đồi liên tiếp gối vào nhau.


Dọc đường, chừng ngót mười cây số mới có một cái quán bé nhỏ trống tuềnh tựa lưng vào sườn đồi hay một thân cây cổ thụ. Lưng đồi, một hai cô gái lom khom cắt cỏ giàng, họ không hát như những cô gái đồng xuôi, cũng chẳng buồn ngẩng nhìn đoàn người vật tản cư đang lặng lẽ đi dưới con đường đất đỏ.


Bà cụ lẽo đẽo đi sau rốt. Xã Bèo thương mẹ đã xẻ vơi nửa gánh của mẹ vào gánh của mình, nhưng bà vẫn cứ thấy đau nhừ cả thịt xương, nhức buốt vai và rời rã hai đầu gối đến mức lê không được nữa. Bà vừa bước vừa rên, nhất là khi lên đoạn đường thoải dốc, cát ngập ngang mắt cá chân.


Chị Xã và bác Lý gái cũng hết cả chuyện nhớ làng nhớ xóm, hết cả chuyện nói xấu nói tốt họ hàng bà con, bây giờ chỉ còn sức oán trời trách đất và lo cuộc sống bấp bênh nơi xứ lạ. Lũ trẻ thì càng đi càng mềm chân, vui thích. Từng quãng, chúng họ trâu đứng lại, nhặt đá sỏi ném chim và nhặt hoa thông như khi chúng nhặt bàng chín rụng trước sân đình làng. Anh Bèo, Lý Còng lúc nào cũng quẩy gánh đi đầu, luôn mồm giục giã mẹ và vợ theo sau đang nhăn nhó.


Thèm thuốc lào, lại đau vai quá mà đường xa chẳng thấy bóng một quán hàng nào, Lý Còng đỗ gánh ngồi phệt xuống chân đồi, lấy điếu cày ra rít mấy mồi liền. Đang đói mệt, Lý say lao đao nên nằm gối đầu vào hòn đá, ngửa mặt nhìn trời. Mây trắng lờ đờ trôi trên đồi thông.


Lý nhớ đến những buổi chiều, men rượu tà tà, Lý bắc trõng giữa sân nằm khểnh, nhìn con cò bay lả qua ngọn tre cong vút, những buổi chiều ấy cũng có những đám mây lững lờ bay qua ngọn thông cao như thế này.


 Xã Bèo sau khi đã ném nắm thóc cho đàn gà sớn sác kêu trong chiếc bu hẹp và giục thằng Đá dắt trâu đi tìm vũng nước cho nó uống, anh đến ngồi bên Lý, rít mồi thuốc ngon lành.


Dóng tre khô trên tay anh Xã kêu sòng sọc trong cái im lặng mênh mông hòa với tiếng chim kêu lẻ loi ở một ngọn đồi đâu đó.


Lý Còng, mắt vẫn nhìn trời, khẽ nói:


- Thế bác nhất định lên tận Nhã Nam?


Anh Bèo quả quyết:


- Tôi nhất định. Nghe nói trên ấy chợ búa sầm uất lắm. Ở nơi rừng núi, mình phải tìm chỗ đông người. Hai bác có muốn buôn bán gì thì buôn, chứ vợ chồng tôi thì xưa nay cầy sâu cuốc bẫm đã quen, trừ công việc đất cát ra, chả biết làm gì mà sống.


Lý Còng nhỏm dậy:


- Đi đường, nghe lỏm người ta nói Ủy ban Tản cư trên ấy đang chia ruộng và cấp trâu bò cho bà con tản cư. Nếu thế thì may ra chưa đến nỗi chết đói chăng.


Xã Bèo cười rủ rỉ:


- Chả biết thế nào! Ở làng mình cứ như người ta nói thì tưởng không đến nỗi chạy bán xới thế này. Bây giờ lại nghe người ta nói…


Bà cụ ngồi đấm lưng cạnh bu gà, rên rỉ:


- Chả biết có ma thiêng nước độc không. Giá biết cơ sự thế này thì tôi cứ liều sống chết ở làng. Anh giục tôi đi, anh làm khổ tôi…


Thốt nhiên có tiếng phi cơ kéo đến rất nhanh, vang đồi núi. Xã Bèo cuống quýt bảo mọi người:


- Nằm xuống gốc cây kia. Nhiều tàu bay lắm đấy.


Ngang trời, một đoàn phi cơ cổ ngỗng đen như đàn quạ ầm ầm kéo đến. Xã Bèo và Lý Còng úp mặt xuống đám cỏ giàng sắc nhọn, lắng nghe tiếng máy bay hình như mỗi lúc một sát mãi xuống đầu.


Tiếng động cơ đã lắng xa.


 Bèo đứng dậy trong khi Lý Còng và bà cụ vẫn còn úp mặt xuống đất mà niệm phật, lậy thánh. Đứa con Lý Còng, mới lên hai tuổi, khóc lặng trong chiếc thúng mà họ cứ gánh như thế từ làng ra đi. Chị Lý vạch lá chiếu bẻ khum trên thúng, lôi con ra, lật yếm nhét cái vú khô teo vào mồm đứa trẻ. Mặt người nào cũng tái mét.


Anh Bèo nhìn lên bầu trời một lần nữa rồi hối hả:


- Ở đây gần sông lạch, máy bay hay bắn xuống, tôi thấy bác bếp Năm thường bảo thế. Ta đi mau sang bên kia. Nhỡ sao đã có nhiều đồi kín.


Cả bọn lại gồng gánh tất tưởi đi. Họ đến một con sông nhỏ chảy giữa hai ngọn đồi. Trên sông, vắt chênh vênh một cái cầu mảnh dẻ ken bằng ba cây tre không tay vịn.


Họn đứng xúm xít cả ở đầu cầu để cùng sợ sệt, lo lắng. Họ nhìn cái cầu tre yếu, nhìn dòng nước tuy không có vẻ sâu nhưng chảy rất xiết, sóng giào giạt vỗ vào chân đồi.


Bà cụ lại cất tiếng kêu ca:


- Đường đi ba ngày dòng dã, cách sông cách đò, máy bay ầm ỹ thế này thì tôi đến sợ mà ốm đường chết chợ mất, thôi tôi quay về làng vậy, tôi sợ lắm…


Bà cụ bỏ gồng gánh đấy khóc nức nở rồi quay ngược trở lại. Vợ chồng Xã Bèo, vợ chồng Lý Còng vội đuổi theo níu lấy tay bà cụ mà lạy van bà mới không dằn dỗi nữa.


Anh Xã lại nhăn nhó đứng ngắm cầu, ngắm sông. Dầu sao thì cũng phải liều bò men từng bước trên cây tre ấy mà sang nhưng con trâu, con trâu yêu quý của anh?


Thằng Đanh thấy mặt bố cứ ngẩn ra, nó bảo:


- Chúng con cưỡi trâu bơi sang, khó khăn gì, có thế mà bố cũng không nghĩ ra?


Anh gắt gỏng:


- Tao biết, nhưng sóng thế kia mày muốn nó cuốn mất xác, hả?


Thằng Đanh nín lặng, lừa bố vừa ngoảnh đi, đánh ngay trâu xuống dìa sông. Thằng Cõn không chịu kém bạn, cũng đánh trâu theo liền. Hai con vật lội ùa xuống nước, cõng trên lưng hai đứa trẻ. Sóng mạnh kéo băng hai con vật ra giữa dòng. Trâu ngoi ngóp bơi ngang sóng, có lúc chỉ còn nổi mũi tai lên mặt nước. Hai đứa trẻ sợ hết hồn, cúi rạp ôm chặt lấy cổ hai con trâu đang hùng hục phi dưới nước.


Trên bờ, tất cả mọi người thét lên một lúc, nhất là cụ, bà gào, chân giẫm đành đạch xuống đất. Nhưng rồi đôi trâu cũng đưa được hai đứa trẻ lên sườn đồi dốc để lên đường.


Anh Xã thở dài, yên trí được một phần về con vật yêu quý của anh và bây giờ anh nghĩ đến phận con người. Anh ngoảnh lại Lý Còng:


- Tôi nghĩ ra cách này, bác với tôi gánh dần từng gánh sang trước. Đàn bà, con trẻ bò lần sang sau.


Nói rồi, anh quả quyết làm liền. Anh bước xuống cầu, hai tay nắm giữ quang cho gánh nặng đỡ đu đưa. Anh nghiêng người chắc chắn dò từng bước, từng bước men đi. Chiếc cầu tre chĩu dưới chân người kêu ken két, rung rinh trên sóng mạnh đang băng băng cuốn.


Anh Xã đã dò được gần đến giữa cầu.


Hơn mười con mắt lo âu nhìn như dán chặt vào hai bàn chân anh run run nhích dần trên ba cây tre trơn nhẵn.


Anh Xã đã dò được đến đầu cầu bên kia.


Anh đã đặt chân lên đất! Đặt gánh xuống, anh thấy chóng mặt, hoa mắt vì từ nẫy cứ phải cúi nhìn sóng nước cuộn dưới chân mình. Thở mấy hơi, anh cười gượng gạo, nhìn những người còn đứng lo lắng bên kia sông.


Anh vẫy tay, giục giã:


- Bác Lý sang đi! Cứ bấm chắc chân, cứ can đảm là không ngã được. Sang đi bác Lý.


Lý Còng vốn nhát nhưng bị thúc cũng đành dở khóc dở mếu bước xuống cầu với gánh nặng trên vai ốm yếu. Chị vợ thương chồng, níu lại:


- Thôi, bố Lý để tôi gánh sang. Bố nó không quen gánh, nhỡ đau quá mà đổi vai thì khốn.


Anh Lý không nói gì, cứ bước, chị vợ không dám giằng co, sợ chồng té ngã. Anh Lý bắt chước lối men dò từng bước chắc, như anh Xã vừa đi.


Mọi người, nhất là chị Lý, lại lo âu nhìn dán mắt vào mười ngón chân anh Lý bám chặt xuống chiếc cầu tre kẽo kẹt ru trên sóng.


Anh đã đến giữa cầu, bỗng anh đứng lại, lao đao. Anh chóng mặt. Sóng réo dưới cầu, xô cuốn, giạt sang bờ và dồn mạnh dòng. Anh chóng mặt. Chao ôi, anh thấy chóng mặt hơn là ngồi đu võng khi anh say rượu.


Chị Lý không còn hồn vía, thốt lên:


- Bố nó làm sao thế kia, khổ chưa trời đất ơi!...


Bà cụ và chị Xã cũng xanh cả mắt, nhưng không ai dám nói, sợ Lý Còng bối rối thêm. Ở bên kia, anh Bèo men ra, rất nhẹ cho khỏi làm cầu rung động. Anh men đến chỗ Lý Còng đang đứng lao đao, mặt nhợt như tàu lá. Xã Bèo nói nhỏ:


- Cố đi, đi cho thật vững, có tôi dắt đầu gánh đây.


Anh nắm lấy giây quang và lại giục:


- Bác cứ yên tâm mà bước cho thật vững. Có tôi đây là không còn lo gì nữa.


Và anh cố nói đùa, trong khi Lý Còng đã hơi tỉnh, men đi được dăm sáu bước rồi.


- Nếu ngã đã có tôi bơi được. Thì cũng như tắm chơi một cái cho nó mát chứ gì!


Lý Còng dò dẫm, dò dẫm mãi, chập chững, lật bật như đứa trẻ mới tập đi bước đầu tiên dưới cánh tay dìu đỡ của người mẹ. Rồi sau cùng, Lý cũng sống sót đặt được chân lên đất. Anh đặt quang gánh xuống, ngã lăn ra. Anh khóc nâng nấc, khóc ầm lên như đứa trẻ tập đi mà bị ngã. Xã Bèo lại men cầu sang bờ bên kia, gánh giúp cho vợ Lý Còng. Lần này, anh bước đã chắc và nhanh hơn. Chị Xã đứng nhìn cái đòn gánh nghiến chĩu vai chồng, khẽ thở dài thương xót.


Luôn một lúc, Xã Bèo gánh qua cầu bốn gánh liền. Sau khi cõng thằng Đá sang chuyến cuối, anh mệt nhọc ngồi thở cạnh Lý Còng lúc bấy giờ đã hết cơn khóc rống. Trong khi ấy bà cụ tự leo sang. Bà ngồi xuống mà bò, mãi mới nhích được một chút rồi lại ngồi vừa run lập cập vừa kêu rên. Rồi bà cụ Xã cũng qua được. Sau đó, chị Xã và chị Lý Còng cũng bò cầu một cách khó khăn khổ sở như bà cụ.


Chỉ còn một gánh của người bõ già nhà chị Lý. Mụ ta mắt toét nhoèn, một chân đi khập khiễng. Mụ không sợ ngã, nhất định gánh sang, chứ không chịu bò. Chị Lý rú lên:


- Để nhờ bác Xã sang ẵm em bé hộ cho. Bác đừng gánh thế, nhỡ sẩy chân rơi con tôi xuống thì khốn đấy.


Mụ lầu nhầu:


- Có thế mà cũng phải bò như chó ấy, tôi đi được, mặc tôi.


Dứt lời, mụ quảy gánh bước xuống cầu liền. Mụ bước mạnh bạo, như đi trên đất. Chiếc cầu tre ken két rung lên. Xã Bèo toan quay sang ẵm đứa trẻ nhưng không kịp nữa.


Ngay lúc đó, ngang trời lại có tiếng phi cơ, trước còn nhỏ, nhưng chỉ sau một phút đàn tầu bay ban nãy đã ầm ầm kéo đến.


Mọi người sợ mất hồn mất vía, nằm cả xuống. Đoàn phi cơ giặc bay thấp ngay trên đầu lũ người khốn khổ. Một chiếc quay trở lại, nghiêng cánh bắn một tràng đạn vang trời đất.


Mụ bõ già hốt hoảng làm bật cả đôi thúng đựng chiếu chăn và đứa bé xuống sông. Mụ bõ vẫn ở trên cầu, kêu ầm ỹ.


Xã Bèo liều mạng nhảy tòm xuống nước, bơi ra. Vợ chồng Lý Còng như điên dại, cũng bổ nhào xuống bờ sông nhưng không dám lội. Trong khi ấy, chiếc phi cơ thôi bắn nhưng vẫn lượn vè vè. Xã Bèo lấy hết sức sải âýchỉ đến chỗ đứa trẻ đang chìm nghỉm dưới chiếc thúng bị sóng cuốn xô đi. Anh nắm được đứa bé, bơi miết vào bờ. Chiếc phi cơ còn lượn thêm vòng nữa mới bay đi hẳn. Xã Bèo chưa đến bờ, vợ chồng Lý Còng đã lội ra ôm ghịt lấy con. Đứa bé nhợt như xác chết. Anh Xã chợt nhớ đến một buổi sớm, một đứa trẻ nghịch ngã xuốn ao làng bị uống nước nhiều, anh Bếp Năm lôi lên giốc ngược đầu nó xuống mà quay. Lúc này anh cũng giốc đầu đứa bé, khẽ vỗ vào lưng nó cho nước ộc ra. Mụ bõ già, anh em thằng Đanh cùng thằng Cõn chạy rối rít lên ngọn đồi gần đấy vơ cỏ giàng và lá thông khô đem đến đốt sưởi cho đứa trẻ. Một lát nó cựa quậy và khẽ khóc. Chị Lý nước mắt như mưa, ôm chặt con vào lòng, vạch vú cho bú. Đứa bé không chịu bú, khóc yếu ớt như mèo kêu.


Xã Bèo lên sườn đồi, nhìn tứ phía. Chỉ có đồi cây rậm rạp, nhặt khoan vẳng lại tiếng chim rừng, Không một nóc đền, không một bóng người, một mái rơm ở nơi hiu quạnh này. Chiều trời đã ngả mầu tro xám. Không mưa, nhưng gió lạnh hơn nhiều. Anh Xã thay quần áo rồi giục mọi người đi kẻo tối. Anh nghĩ phải đi tìm một ngôi nhà nào ngủ đêm nay, rồi nội ngày mai sớm muộn cũng phải đến được vùng Nhã Nam. Chính anh, anh cũng thấy mỏi mệt lắm rồi, đi nữa, anh sẽ ốm. Anh nhớ lại lời Bếp Năm vẫn nói mà rùng mình: hai mươi năm xưa, trước khi đi Tây, trong quân ngũ, bác đã từng đóng mãi tận Hà Giang, Bắc Mục,Lào Kay…Vậy mà từ thuở bé, bây giờ mới rời làng xóm một chuyến vài ba ngày bộ, anh Xã đã cho là một cuộc hành trình vĩ đại.


Họ lại lên đường, lúc nào cũng ngước nhìn trời, nghe ngóng tiếng động cơ, sau một phen hụt chết. Bà cụ lại càng kêu la hơn trước. Tiếng bà oán đất trách trời hòa với tiếng đòn gánh kĩu kịt nghiến vai đau. Chị Lý phải dồn gánh của mình sang gánh chồng và gánh mụ bõ già, để được đi không mà ôm chặt đứa trẻ vẫn còn xanh nhợt, lịm thiếp chưa chịu bú.


Qua một đêm ngủ đường nữa, họ đã đến Nhã Nam. Ở đây toàn đồi dẻ, đồi cước. Đường đất đỏ, rộng dài, chưa có quãng nào phá hoại.


Từ xa, họ đã trông thấy những bức tường gạch màu vôi vàng trắng trên một sườn dồi cao, đẹp như một tỉnh thành.


Đôi lúc, một chiếc xe ngựa lắc lư lăn trên con đường cát, nhàn nhã ru mấy người đắp chiếu ngủ dưới vòm mui phên nứa.


Trên đường, người đi lại rất nhiều. Xã Bèo hồi hộp nhìn dòng người xuôi lên phía Nhã Nam. Anh hỏi một người đàn bà gánh măng rừng:


- Hội hè gì mà đông thế ạ?


Người kia rảo bước đáp, không ngẩng đầu nhìn anh:


- Hôm nay phiên chợ Bùng. Ông ở đâu tản cư lên đây thế?


- Thưa, chúng cháu ở vùng tỉnh Bắc. Dữ dội quá phải bò lên đây.


Người đàn bà gánh măng chậm bước, nhấc vành nón nhìn anh rồi lại cúi xuống quảy gánh leo lên dốc.


Đến chợ Bùng, bọn Xã Bèo đỗ gánh cạnh những gánh nứa tươi người ta bày bán ngoài cửa chợ, bên đường cái. Chợ họp trên sườn núi. Cây cối bị chặt đi để dựng những hàng quán chạy liên tiếp ngổn ngang, đứng xa nhìn như bát úp.


Để bà cụ Xã, mụ bõ già và vợ Lý Còng ở lại giữ gánh gồng, vợ chồng anh Xã, Lý Còng với lũ trẻ con lên xem chợ núi. Người tỉnh rất nhiều. Anh em thằng Đá trố mắt ngắm những người mặc áo tây đội nón, mặc quần nâu, xách bị. Và những cô gái tỉnh xinh mơn mởn nhởn nhơ mua bán và ăn bún riêu xùm xụp, y như anh em nó vẫn ăn như thế ở chợ Nôm làng chúng mà không cần thẹn. Lần đầu tiên, bọn Xã Bèo trông thấy người Thổ, Mán mà ở đây người ta gọi rất thân mật là anh em đồng bào dân tộc thiểu số. Những cô gái Thổ, Mán áo tràm, khuyên bạc, đeo dây sà tích, má đỏ hồng hồng, môi ăn trầu cắn chỉ.


Anh Xã bấm Lý Còng nói khẽ:


- Đẹp thế kia, không trách Bếp Năm hồi đóng lính ở Cao Bằng, nó đã ôm luôn một lúc bốn năm cô vợ Thổ - Và anh rửng mỡ cười ngây ngô - Anh em mình phen này cũng cố kiếm cô vợ rừng để dối già, xem nó có khác gì không.


Lý Còng mắt còn mải nhìn cỗ dồi chó nướng quấn quanh chiếc ống nứa như con rắn, treo trên mấy chai rượu lậu trong như nước mưa. Anh đáp, vừa lúc một cô gái Thổ len qua chạm vào vai anh:


- Bác nghe thằng Bếp Năm phét lác ấy thì chẳng khác gì đổ thóc giống ra mà nuốt. Mặt rỗ, mắt chột, đến con ăn mày nó cũng tởm nữa là gái Thổ đẹp như thế này.


Mắt anh vẫn dán vào cỗ lòng, đùi chó luộc và những cặp chả đang reo chín, bốc khói thơm trên hỏa lò than.


- Thèm quá bác Xã ơi, ta ngồi đây đã. Cứ chén, rồi mai đói rách cũng bất cần. Làm ma no chứ mà làm ma đói thì ai cúng kem cho. Ngồi xuống!


Anh kéo tay anh Xã xà vào quán rượu. Ngồi xuống ghế rồi, anh Lý và anh Xã không bảo nhau mà cùng ngoảnh lại nhìn xem mẹ đĩ và lũ con có đấy không. Khi yên trí vợ con đã lạc trong đám đông, hai người cùng đội nón chùm hụp che kín mặt, xây lưng ra ngoài cho khỏi ai trông thấy.


Lý Còng gọi rượu thịt. Anh uống như người ốm thèm thuốc bổ, như người say nắng thèm nước mưa nhà chùa.


- Ông cho cút nữa nào! Rượu miền trên này ngon quá! Ông cho cút nữa.


Chủ quán vừa xẻ rượu vào cút vừa nhìn Lý Còng, vẻ dò la xét nét. Hắn ta đưa rượu, rồi ghé tai nói nhỏ:


- Này chỗ đồng bào, tôi bảo thật. Ở trên này họ không dễ dãi đâu.


Lý Còng và Xã Bèo ngơ ngác:


- Ông nói gì thế ạ?


Chủ quán ghé tai hai người:


- Thế các ông đi qua bóp công an mà không bị khám xét gì à?


Xã Bèo kinh hoảng:


- Có ạ, nhưng chúng tôi nào có gì, chỉ toàn quần áo rách.


Người kia nheo mắt ngắm hai người:


- Cả hai ông cùng mang màu tam tài trên người - Hắn chỉ Lý Còng - Ông đây thắt lưng xanh, áo cánh nâu vá mụn trắng - Rồi hắn chỉ Xã Bèo - Ông đây quần nâu vá đỏ. Chả tam tài, màu cờ của bọn Pháp là gì. Phải cẩn thận kẻo mà nguy khốn đấy. Đây chiến khu, không có chuyện nói đùa đâu.


Xã và Lý xanh mắt nhìn lại quần áo mình. Lý Còng tuy đã ngấm men, nhưng anh không còn cái say ngạo ngược như ở làng xóm. Vốn nhát xưa nay, anh vội giắt ngay giải thắt lưng vào trong bụng. Anh phân trần với chủ quán, cứ như đang phân trần với một người mang súng vậy:


- Nào tôi có biết lại khó thế, chiếc thắt lưng này của mẹ đĩ các cháu, nó thấy tôi gánh nặng đi xa sợ tụt quần, cứ bắt tôi phải thắt…còn miếng mụn vá trắng thì…nào tôi có ngờ đâu ạ…


Lý Còng xòe bàn tay che miếng mụn trắng vá trên ngực áo. Từ lúc ấy, anh không dám bỏ tay ra nữa. Ah cầm đũa, cầm chén rượu bằng tay trái.


Anh Xã gan góc hơn Lý Còng. Anh cho là vô lý, là dọa nạt. Anh không tin rằng việc đời lại có thể phiền nhiễu rắc rối đến như thế được.


Ah Xã cho tay vào trong cạp quần, moi túi tiền của vợ gửi bữa nọ nơi xó bếp trả tiền rượu thịt. Lý Còng tranh trả, nhưng tay Lý vẫn không sao cho vào túi, bởi vì bàn tay anh còn bận che miếng mụn áo và gắp nốt miếng xương bỏ miệng nhai trong khi xóc nách Xã Bèo đứng lên.


Đi trong chợ, Lý Còng cố ý đi tách xa anh Xã dăm bẩy bước cho người ta khỏi ghép mầu tam tài trên quần áo hai người.


Đến đầu chợ, gặp vợ con, Xã Bèo hơi ngượng vì cái mặt đỏ của mình. Anh bảo:


- Bu nó rủ bác Lý gái ăn quà bánh gì thì ăn đi, cho con nó ăn một tý, rồi nhớ mua gì đem ra cho mẹ ăn, đói mệt chịu sao được mãi.


Hai người đàn bà quen tần tiện, từ nãy chỉ nhìn người ta ăn mà không dám ăn gì cả.


Chị Lý kéo tay chị Xã:


- Thì ăn bánh đúc, chóng no mà lại rẻ. Tôi cũng đói lắm rồi.


Lũ trẻ con lăn vào trước. Ăn lưng lửng dạ, chị Xã mua bún, đậu nướng túm bọc với cả mắm tôm, phần mẹ chồng.


Họ ra khỏi chợ. Chị Lý khẽ bàn:


- Bác Xã ạ, xem thế nào rồi tôi xoay xỏa bán quà bánh lăng nhăng kiếm gạo, không thì chết đói. Cụ và hai bác còn có ít tiền mang đi, chứ chúng tôi thật chỉ có vài chục bạc. Tôi lo lắm.


Chị Xã cúi đầu đi. Chị còn lo sợ hơn chị Lý. Vợ Lý Còng có tiếng là người xoay xỏa giỏi nhất làng.


Hồi ở nhà, chị Lý đã bán bún riêu, canh cá, quà vặt ở cửa nhà hội đồng cho dân quân thức đêm đi phá hoại và trước kia chị cũng bán hàng như vậy ở cửa đình vụ tháng giêng, tháng tám làng vào đám hát chèo, xóc đĩa. “Còn mình, ngoài việc đồng áng, mình còn biết làm quái gì ra tiền nữa. Nhà một đống miệng ăn. Làm thế nào cho khỏi đói!” Chị lặng lẽ đi bên chị Lý, ruột gan bối rối ngẩn ngơ.


Bỗng một hồi cồng reo vang trên chòi canh đỉnh núi. Lớp song người trong chợ xô dạt tan vỡ như bể động. Người ta ùa chạy cả xuống ruộng lúa quanh chân núi.


Tiếng kêu ran trong các túp lều của những cô hàng sén không kịp chạy hàng đành cứ ngồi ôm lấy những hộp kính, bồ nan lẫn tiếng chửi của những cô hàng nồi đất bị người ta xô chạy dẫm bừa qua mặt. Các bác hàng thịt lợn, thịt chó, tay vẫn cầm dao pha thịt chui xuống hố sâu. Quanh chợ chỗ nào cũng có tăng sê, nhưng người ta sợ mất hàng, chỉ chui xuống khi nào có tàu bay đến. Hồi cồng nữa lại vang lên báo hiệu có tàu bay tới gần.


Như chim vừa thoát đạn, cánh nhà Xã Bèo có lẽ còn sợ hơn cả mọi người. Lý Còng dắt vợ ẵm con nhảy xuống cái ao con chân núi. Bà cụ nắm chặt tay hai thằng cháu nằm bẹp bên những đống nứa tươi ở bên đường và dù chết đến nơi bà vẫn không rời mắt nhìn gồng gánh xếp chung quanh. Trong khi đó, Xã Bèo chạy ra bờ ruộng xa, họ đôi trâu dói đang đi tìm cỏ trên bãi đất trụi không còn ngọn cỏ.


Tầu bay, một đoàn năm sáu cái qua chợ, rất cao. Chúng tiến về miền thượng du Việt Bắc, ở đó đang có cuộc hành quân lớn.


Khi tiếng động cơ đã xa rồi, mọi người ở dưới hố, trong quán lại chui ra, và ở dưới ruộng lại bò lên chợ. Vẻ ồn ào trở lại hơn thường.


Xã Bèo dắt trâu về chỗ đỗ gồng gánh, sắp lên phố núi trình giấy với Ủy ban đón tiếp đồng bào tản cư. Anh biết vậy, bởi ban nãy ngồi hàng thịt chó, có một ông mặc áo tây vàng, đi ủng da bảo anh như thế.


Anh đang theo trâu đi trên bờ ruộng thì hai người thanh niên mặc quần áo nâu, vác súng trường xông tới:


- Yêu cầu cho xem giấy!


Xã Bèo giật bắn người, móc túi lấy giấy má đưa trình. Hai người kia cùng châu đầu đọc giấy. Rồi bảo anh:


- Mau theo chúng tôi lên Công an, việc này quan trọng lắm.


Anh há hốc miệng, tim đập như vỡ ngực:


- Thưa rằng… tôi có làm gì đâu ạ. Tôi đủ giấy tờ.


Hai người kia kéo anh đi:


- Anh lên Công an nói chuyện. Chúng tôi không biết.


Thế là anh đi. Hai con trâu lầm lì đi trước, anh Bèo run lẩy bẩy đi sau, giữa hai người lạ tay cầm súng. Bà cụ, vợ con anh, và vợ chồng Lý Còng thấy anh đi với người cầm súng đều hoảng sợ, trố mắt nhìn và không ai dám lên tiếng hỏi.


Bèo nghẹn ngào bảo mọi người:


- Các ông ấy bảo lên Công an, thôi gồng gánh mà đi một thể.


Anh không nói ra lời nữa. Mẹ anh, vợ con anh và vợ chồng Lý Còng xanh xám mặt đi sau anh Xã.


Hai con trâu vẫn lầm lì đi trước. Đoàn người sợ hãi đi sau hai khẩu súng trường.


Người ta xúm xít nhìn Xã Bèo ủ rũ bước, đầu cúi thấp như đôi trâu câm nín.


Lý Còng có ý đi sau cùng, cách Xã Bèo một quãng xa. Anh bị ám ảnh vì câu chuyện “tam tài” ban nãy, tuy lúc này anh đã cởi thắt lưng trả vợ và đã thay chiếc áo có mụn trắng.


Xã Bèo tới Ty Công an. Người ta dẫn anh tới một ngôi chùa không tượng bụt nằm giữa cánh đồng khoai.


Mọi người đứng ngoài. Anh Xã theo hai người vác súng vào trong chùa. Anh đứng trước một cái bàn gỗ mộc, quanh bàn có năm sáu người ngồi rất nghiêm trang. Người vác súng trình rằng, ban nẫy giữa lúc có tầu bay đến thì họ trông thấy anh Xã chạy ra giữa ruộng vờ dắt trâu nhưng chính là vẫy tầu bay.


- À, đến thế thì ghê gớm nhỉ. Ông không biết rằng khi báo động thì ai cũng phải tìm chỗ lánh, nghĩa là không được đi đường, không được chạy giữa cánh đồng, không được vẫy nón vẫy mùi soa. Phạm tội ấy thì đích thị Việt gian.


Người ngồi giữa đeo súng nói rất ôn tồn, nhưng con mắt sắc bén kia, trong khi nói, nhìn anh Bèo từ mớ tóc rối đến đôi gói chân đen như chân trâu đầm vũng.


Anh Bèo run sợ:


- Thưa rằng, nhà cháu thực tình sợ trâu chạy mất phải ra giữ nó, chứ có ý gì đâu ạ. Nhà cháu quê mùa chất phác…


Người ngồi ở góc bàn cười nhạt:


- Quê mùa như ông già hôm nọ, lù khù thế mà đứng trên đồi chiếu gương cho tàu bay bắn xuống.


Một người khác ra lệnh cho hai người cầm súng trường vừa áp giải bọn anh Xã:


- Khám xem!


Người ta lục lọi khắp người anh Xã, khám tóc, khám tai, rồi bảo anh cởi áo quần, xét kỹ các móng tay móng chân.


Trong khi ấy, ngoài sân chùa, chị Xã và bà cụ chắp tay vái vọng vào cửa chùa khấn phật. Hai người kia ra lục lọi gồng gánh và khám tất cả mọi người. Không có gì khả nghi.


Người ngồi giữa đeo súng bảo anh Xã, vẫn rất ôn tồn:


- Thôi được, tôi cho ông ra Trụ sở Tản cư trình giấy, chúng tôi sẽ điều tra.


Anh Bèo tỉnh cả người. Anh kính cẩn chào, bước nhanh ra khỏi cửa. Mừng tủi, anh nhìn mẹ, nhìn vợ con, rớm nước mắt.


Cả đoàn lại men theo bờ ruộng gập ghềnh, quảy gồng gánh và giắt trâu ra đường cái, hỏi thăm đường đến Trụ sở Tản cư.


Trời đã ngả chiều. Không mưa, nhưng gió từ đồi núi tràn xuống cánh đồng mông mênh, chạy veo veo ngang trời làm chiếc nón anh Xã bay xuống ruộng sâu.


Thằng Đanh đỗ gánh lội xuống ruộng nhặt nón lên. Đôi cò hương đang thu đầu vào cánh, choàng thức giấc bay vút lên ngọn cây gần đấy.


Xã Bèo nhìn thằng con gày võ lom khom đuổi theo chiếc nón bay trên ruộng nước mà thấy lòng đau đớn, sót sa; nhìn mẹ, nhìn vợ, anh muốn khóc lên, khóc rõ to cho vợi nỗi đau buồn tha hương; anh thương cả con trâu, từ ngày bỏ cái chuồng kín trên bền dưới, từ ngày không được tắm nước sông, gậm cỏ non xanh mởn cánh đồng nhà, nó cũng gày giơ xương sườn, xương sống.


Đi hơn cây số nữa thì trời chiều ngả màu tro lạnh.


Người ta trỏ cho anh Xã biết Trụ sở Tản cư đằng trước mặt. Anh dụi mắt nhìn. Một màu ngói xạm đen cong vút đứng ở chân đồi giữa đồng ngô, đỗ.Đoàn người vật mệt mỏi đi trên đường hẹp bùn lầy. Và khi tới nơi họ chỉ thấy một gian đền bỏ trống, giữa đặt chiếc bàn gỗ nát, vài ba chiếc ghế nhà trường.


Một ông già mặc áo chàm, gánh bó củi từ trên đồi bước xuống. Lão dừng bước nhìn cả bọn:


- Các ông ấy về rồi. Đành cứ ngủ tạm ở đây, mai các ông ấy đến, tìm chỗ cho. Đừng lo, ai cũng có nhà tử tế. Các ông đi buôn, cũng được cho vay vốn. Các ông làm ruộng cũng được cấp trâu, cấp ruộng cho đầy đủ. Lên đây là tốt lắm, không lo chết đói. Ở vùng này có đến vạn người vừa dồn lên, ai cũng có nhà ở cả.


Bà cụ mừng ra mặt, xuýt soa như là khi bà lễ bái:


- Quý hóa, cảm ơn cụ dạy bảo cho.


Ông già Thổ tiếp:


- Các cụ có gạo chưa? Không có thì tôi biếu mà thổi ăn tối nay. Nhà tôi ở đồi bên kia, chật chội lắm, giá rộng thì xin mời các cụ về nhà tôi nghỉ.


Thực tình hết gạo rồi, nhưng anh Xã toan từ chối. Lý Còng đang đói mệt rũ người, bèn đáp:


- Chúng tôi vừa hết gạo, xin cụ cho vay, mai xin đong nộp cụ.


Ông già Thổ rảo chân đi, hẹn sẽ đem gạo đến ngay.


(còn tiếp)


Nguồn: Đất. Tiểu thuyết của Ngọc Giao. NXB. Cây Thông,1950. Bản này đã được tác giả chỉnh lý năm 1991.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 10.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »