tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28870024
Tiểu thuyết
21.05.2012
Ngọc Giao
Đất

IV- Thế là xong! Thằng người lại trần trụi như con trâu, con bò, con chó. Con vật không biết rằng chúng khổ bởi vì chúng an vui kiếp vật, chứ con người lúc này thấy mình khổ mà không thể nói, kêu nên càng tự thấy khổ hơn kiếp vật.


Xã Bèo, qua một đêm ngủ cạnh chuồng trâu, sáng nay trở dậy đã thấy mình đứng trước cái nền nhà cũ trơ dưới mưa phùn gió bấc. Mệt mỏi ngả đầu vào vách bếp và chùm chiếc chăn chiên mỏng kín đầu, anh nhìn lên cái nền đất trụi mà nhớ lại những ngày giỗ tết, bàn thờ khói hương nghi ngút; rồi ngày anh khao chức Xã tuần, chẳng gì vợ chồng anh cũng đã mổ một con cày kèm vài ba gà vịt đãi bà con hàng xóm ăn uống, vui cười như hội. Sau bữa rượu ấy cũng có sóc đĩa, cũng có tổ tôm. Chị Xã le te lên xuống têm trầu tiếp nước. Anh Xã đã thì thọt vào buồng thóc moi ít xu lẻ giấu giếm mẹ đĩ để cao hứng đánh một hai tiếng bạc cò con cho nó ra men say. Ấy thế mà... hôm nay! Thực anh không ngờ cuộc đời có thể đổi thay chóng thế.


Chị dậy từ mờ đất đi các làng dạm bán lợn, bán thóc để rồi chạy loạn. Chị vừa vào đến sân đã nhăn nhó thở dài. Chị ngồi bệt xuống đất, mệt mỏi nhìn chồng:


- Chả ma nào nó dám mua. Làng nào cũng đang giỡ nhà phá vách, trông khiếp cả người. Thôi thế là bỏ hết, mất hết, chứ đèo bòng làm sao được.


Anh Xã xịu mặt một lát, bỗng nhiên anh kéo mạnh cái điếu cày lại gần, rít một hơi rồi chặc lưỡi, ném hộp thuốc lào làm bằng vỏ quýt phơi khô ra ngoài mép chiếu:


- Mổ quách nó đi cho cả nhà ăn sướng miệng một bữa xem nào.


Chị mở tròn mắt nhìn chồng, chưa kịp kêu, thì bà cụ đang ngồi nấu cám ở gian bếp bên kia đã la lên:


- Gớm chưa, của đâu mà phí thế.Rồi không lo rã họng,nhăn răng ra đấy!


Anh Xã quả quyết hơn ban nẫy:


- Nhà ăn một phần còn thì bán thịt lẻ cho bà con làng xóm. Bán thịt lợn mổ dễ hơn là bán lợn sống, cứ bán rẻ là mười con cũng hết. Không mổ rồi của cũng chẳng còn ở trong chuồng. Mà gánh đi thì gánh làm sao. Thôi nhất định là cứ mổ, ăn miếng nào là lãi, rồi mai kia đói khát hay ấm no, cứ trông vào thiên địa vận.


Chị không phản đối, cũng không tán thành ý kiến của chồng. Chị ngồi yên vì đã có mẹ chồng chị nói. Bà mẹ chồng nghĩ rằng con trai bà nói vậy là phải lắm, không ăn rồi nó cũng cướp đi, công mình hóa ra công cốc.


Bà cụ nhìn hai thằng cháu. Bà thương cháu đến đứt lòng đứt ruột. Ngày còn bé tí, chúng đã năm bảy phen hết sài đẹn lại đậu mùa chết đi sống lại mãi mới lớn lên được thế này. Bà đã khổ sở vì nuôi cháu như đã nuôi bố nó. Cho nên bà cụ nuông cháu, bênh cháu đến nỗi cả làng phải kêu lên. Chúng chịu khó chăn trâu cắt cỏ, dúm tuổi đầu đã xay giã được thóc gạo, rỗi việc nhà việc đồng lại đi bắt ốc, mò cua. Nhà cũng dư dật bát ăn, chứ đến nỗi nào đâu. Nhưng chị vốn tần tiện, thỉnh thoảng ngày giỗ tết mới dám xuống chợ mua miếng thịt.


Hai đứa trẻ nghe nói nhà mổ lợn, tung ngay chiếu chồm lên, nhưng chúng chưa kịp reo đã tiu nghỉu nằm ngay xuống vì chúng thấy bà chúng đang giấu mặt vào vạt áo nâu rách mà nức nở.


Ngay buổi trưa hôm ấy có tiếng lợn kêu inh ỏi trong vườn anh Xã. Và sau đó có tiếng lợn kêu ở bên bờ ao nhà bác Lý Còng. Người làng mang rổ rá đến mua thịt đứng chật sân nhà anh Xã, chị Mõ cũng đến làm giúp để nhà chủ cho một ít tiết, ít ruột già.


Bữa cơm chiều, khói bếp trên những mảnh đất đang phá giở bốc lên lẫn với mùi xào sáo. Người ta ăn một bữa cơm cuối cùng để rồi còn lâu lắm, không biết đến bao giờ mới lại được trở về đất tổ mà ăn uống thế này với nhau.


Xã Bèo cuốc bên gốc cây chanh, moi lên hũ rượu ngang ngâm thuốc mà anh đã nghe lão lang Tàu trên phố phủ bảo anh hạ thổ đúng ba tháng mười ngày. Rượu ngâm nơi đất chưa đủ hẹn kỳ, nhưng đã đến lúc này thì anh cũng cứ đào lên mà uống cho say một bữa rồi mai mốt ra sao sẽ liệu. Nậy cái bát ngô trát kín bùn đậy miệng hũ, anh căng mũi ngửi mùi men thơm thuốc bắc. Nghĩ ngay đến Lý Còng, anh xẻ rượu vào chai to rồi sai con mang sang biếu bạn láng giềng, gọi là sướng khổ có nhau thì say sưa cũng có nhau.


Anh Xã đã uống nhiều hơn những khi ăn cỗ hiếu hỉ hay đình đám. Anh uống cạn ba chén tống mà vẫn ngồi vững trước chiếc mâm gỗ đầy lòng, thịt, tiết canh, nước suýt. Rượu càng vào anh càng lầm lỳ, mắt đỏ ngầu nhìn mẹ, nhìn vợ, nhìn con. Và anh nhìn cái nền đất cũ, mưa đang xuống, rêu cỏ bắt đầu xanh. Chẳng mấy chốc, cỏ dại sẽ phủ kín những vết chân anh; mưa gió sẽ làm tan hơi hướm và hình bóng anh, cả những người thân yêu của anh nữa, trên mảnh đất phế hoang này.


Xã Bèo lại rót rượu thêm, anh nâng cái chén tống lên: một giọt nước mắt rơi vào trong rượu. Anh uống cạn một hơi ráo chén. Say, nhưng anh vẫn chẳng nói năng gì, răng nghiến lại, hai tay đặt trên đùi, anh mở to mắt nhìn lũ gà con cung cúc và nhớn nhác theo chân mẹ, và lại vụt nghĩ đến con đường xa thẳm, trên đó, bầu đoàn thê tử và con trâu yêu quý của anh run rẩy đi ngược lên miền gió lạnh.


Trời tối, mênh mông tối như địa ngục. Gió bấc thổi lộng trời. Anh Xã say men nồng, nằm co dưới chiếc chiếu bên chuồng trâu. Có tấm chăn giạ anh nhường cho mẹ già và hai con. Bởi chưa bao giờ anh thấy thương mẹ bằng hôm nay. Trong bữa cơm chiều, khi vò rượu chưa vơi lắm thì anh Xã còn tỉnh táo để luôn tay chọn những miếng thịt ngon gắp bỏ vào bát mẹ, và luôn giục vợ con ăn. Anh có cảm tưởng đây là bữa rượu thịt cuối cùng trước khi rời làng bỏ đất. Nhưng bà cụ cũng như vợ anh ăn rất ít. Hai người chỉ thở dài. Anh lấy làm buồn rằng mẹ chồng con dâu, tình cảnh đã đến thế này rồi mà vẫn chẳng nói với nhau một tiếng, dầu là một câu than thở hay là rỉa rứt nhau. Không khí gia đình lúc nào cũng nặng nề. Như thế đã ngót mười năm nay rồi, ngót mười năm mẹ chồng nàng dâu cố tránh nhau cho khỏi cùng ăn một mâm, cùng ngồi một chiếu. Chán nản, Xã Bèo lo một ngày kia, di cư đi ở nhờ ở vả người thiên hạ, thế mà mẹ con cứ mặt trăng mặt trời như vậy mãi, anh sẽ buồn khổ đến mức nào. Đã có lúc anh nghĩ giá mẹ già trăm tuổi mất đi, hay là... vợ anh tật bệnh qua đời thì... thôi thế cũng cam đành, anh được nhẹ nợ và đỡ khổ. Ý nghĩ cuồng hận ấy, tuy nhiên chỉ thoáng qua đầu anh rồi mất vội ngay như con ruồi đậu trên đuôi trâu. Anh rùng mình mà nghĩ lại, đời anh không thể thiếu hai người thân yêu đó. Sở dĩ anh có được con trâu cày, đôi lợn giống... cũng là nhờ công mồ hôi nước mắt, thu vén, dành dụm của mẹ và của vợ, của cả hai thằng con anh nữa.


- Bố thằng Đanh này, tôi bảo, ngủ hay thức đấy?


Vừa lúc ấy anh Xã ngồi lên. Anh nhìn vào trong bếp. Bà mẹ lom khom thổi trấu lấy lửa hút thuốc lào. Hút xong, bà cụ bưng điếu sang, và trao que đóm cho anh Xã:


- Này, bố nó hút đi, rồi tôi bảo điều này.


Người vợ cựa mình sột soạt trong lá chiếu ngắn trên ổ rơm sát chuồng trâu. Bà mẹ nhìn về phía ổ con dâu nằm, im lặng một lát, rồi chép miệng như là bất cứ lúc nào nói chuyện gì cùng anh con trai mà bà vẫn kết tội là "nó chỉ bệnh vợ nó, nó chỉ biết có vợ nó mà thôi!".


- Này, tôi bảo thật, vợ chồng con cái anh mai kia có chạy đâu thì cứ chạy. Tôi không đi đâu hết. Tôi già rồi, tôi muốn được chết ở làng ở nước để được gần gũi tổ tiên nhà tôi.


Anh Xã nhìn vào que đóm tre ngâm đang cháy trên bát điếu:


- Bà đi với con với cháu chứ, sao lại ở nhà. Nhỡ ra thì ai cõng?


- Chào ôi, thà được chết đâm chết bắn ngay lại còn sung sướng hơn là chết héo chết mòn vì lời rỉa róc của người ta. Thôi, anh có vợ có con thì anh cứ lo chọ vợ cho con anh, đừng bận đến mụ già này nữa.


Chị lật chiếu ngồi ngay dậy, nghẹn ngào nước mắt:


- Bà cứ nói thế, chứ nào chúng con dám hỗn láo gì đâu. Lúc này mà bà không thương con cái còn thương ai nữa.


Bà mẹ lườm con dâu trong bóng tối rồi đứng lên sang ổ rơm bên gian bếp:


- Chém cha gái đĩ già mồm. Thực là con nòi cháu giống có khác, thằng Bèo ạ. Ở đây, chung quanh còn có làng có xóm mà nó còn chả coi tao ra gì, nữa là theo nó đi quê người đất khách thì dễ nó moi gan xé ruột tao ra chắc.


Chị uất ức khóc nấc lên. Anh Xã khổ sở nhưng anh không dám hé miệng. Mẹ anh cũng thương, mà vợ anh cũng thương, biết làm sao được. Anh hậm hực đưa tay lên đấm mạnh mấy cái vào ngực mình, rồi để rơi người xuống ổ rơm kéo chiếu phủ kín đầu. Anh giẫy mấy cái, kêu to lên trong chiếu:


- Mẹ ơi là mẹ! Vợ ơi là vợ! Thế này thì thà cứ nằm chờ giặc nó đến giết cả nhà đi cho hết chuyện rỉa róc lôi thôi. Khổ lắm, tôi khổ lắm. Chết đói, chết rách đến cổ rồi mà còn cứ ghét bỏ nhau.


Bà mẹ chồm lên:


- Chém cha thằng Bèo, ai đẻ mày ra để mày đội vợ mày lên đầu lên cổ. Dào ôi, chả báu lắm đấy giòng giống quân ăn cướp, quân giết người. Thằng Bèo không phải rủa bà. Bà chỉ mong giặc đến giết bà đây. Mày không phải rủa bà.


Chợt, ngay lúc đó, bên ngoài lũy tre ran lên mấy tiếng súng liền."Tắc poọc!", tiếng súng khô ròn trên cánh đồng gió khuya. Một con cú vừa rỏ vào đêm sâu mấy tiếng buồn thảm, vội vỗ cánh bay giạt qua mái chuồng trâu dưới đó đang quằn quại tiếng khóc, tiếng oán hờn của những con người khổ cực.


Xã Bèo ngồi bật lên, thảng thốt. Anh lẩm bẩm:


- Chết rồi!


Bà mẹ ngồi thin thít. Chị Xã cũng nhỏm lên run sợ:


- Làm thế nào? Dễ đến nơi rồi chắc!


Anh nín lặng, đứng lên sờ soạng trong bóng tối. Anh tìm thấy con dao dài gác trên chuồng trâu, rồi lò dò bước ra sân. Chị Xã níu cánh tay chồng, run hơn nữa.


- Bố mày đi đâu thế? Nguy lắm, đừng ra...


Xã Bèo nín lặng gạt tay vợ, cứ bước ra sân. Anh đứng yên nghe ngóng, rồi lom khom tiến lại bụi tre, nhìn ra ngoài cánh đồng. Không thấy gì lạ, anh lại rảo bước mở cổng, ra đường xóm.


- Ai? Đứng lại!


Trong bóng đêm dày đặc, mấy bóng người vút tới chặn ngang, có tiếng hỏi khẽ nhưng nghiêm. Xã Bèo vội đáp:


- Tôi! Tôi đây mà.


- Tôi là ai?


- Xã đây! Bèo đây mà!


Một người chống mạnh đầu gậy xuống ria đường lát gạch:


- Khẩu lệnh?


Anh xã cuống lên, nhưng cũng đáp:


- Quang Trung!


Một người rúc rích cười:


- Con khỉ! Bố Xã ơi là bố Xã. Hôm nay Toàn Thắng chứ, sao lại Quang Trung. Súng nó nổ bên tai rồi mà vẫn chưa hết men say. Bố liệu hồn đấy nhé!


Xã Bèo nhận ra tiếng Trương Dần. Anh ghé tai Trương thân thiện:


- Các ông nghe thấy nổ ở phía nào thế?


- Ở phía bờ đầm sau đình ấy. Đã bố trí các nơi rồi. Bố đừng đi loanh quanh thế, không được đâu. Tốt hơn là về phục sẵn ở phía lũy vườn nhà bố, hễ thấy gì lạ thì lẻn ra điếm báo cho anh em biết.


Trương Dần cùng mấy người nữa vội đi ngay. Anh Xã quay trở lại. Anh bỏ guốc cầm tay, đi rón rén. Tự nhiên, anh thấy rùng mình ghê sợ. Anh có cảm giác đã ở trong làng. Viên đạn đâu đây, trong bóng tối bay ra! Anh không ngờ một thôn xóm lành hiền, ai nấy yên phận với con trâu cùng đàn lợn và đàn gà lục cục lẩn lút suốt ngày dưới bóng tre xanh, thế mà cái chốn thanh bần an kiếp ấy ngày nay sắp thành chiến địa.


Xã Bèo gục đầu rảo bước. Cành tre lả ngọn xà xuống đầu anh. Con đom đóm gạch một nét lân tinh hư ảo trong nền tối mênh mang để chìm vào bóng lá. Anh ngẩng lên, không còn thấy hút bóng bọn Trương Dần. Anh mỉm cười nghĩ đến Trương Dần, một thằng cha trước kia quanh năm cờ gian bạc bịp, bả chó trộm gà để lăn vào cuộc đổ đen. Rồi được bạc, hắn đã làm nhà tậu ruộng và đã chửi ngang mặt Xã Bèo ngày anh còn túng đói. Đến khi vận xuống, hắn đã bán ruộng cho anh. Anh tậu ruộng để trả cái thù bị chửi. Bây giờ Trương Dần khác hẳn Trương Dần ngày trước. Hắn viết lên tường đình, hắn viết lên cổng cái, hắn viết vào bất cứ đâu khẩu hiệu hô hào không đánh bạc, không uống rượu. Đánh bạc uống rượu là phản quốc. Trương Dần hiện giờ là một cái loa nói khiến người ta ghê sợ, là một thanh mã tấu không ai dám chạm vào. Hắn vẫn thường nói đổng cốt sang tai anh Xã: "Ba sào ruộng đó ta gửi tạm Xã Bèo, một ngày mai, ta lấy lại! Ta lấy lại bằng quyền chứ không phải bằng tiền cho mà xem!". Anh Xã đã cố cười mà không sang tai ai đáp lại, nhưng thực thì anh cũng có ý lo. Anh tự biết anh không có quyền gì hết. Trước thời này hay đang ở thời này, lúc nào anh cũng chỉ là một thằng dân đen yếu đuối. Anh chỉ cầu được sống yên với đất, rỏ mồ hôi vào đất. Bởi anh nghĩ đất là máu, là xương, là thịt của chính mình.


Không khí trong làng vẫn nặng nề, khủng khiếp. Đôi lúc có tiếng chó sủa sau các rào tre. Anh Xã rảo cẳng bước vào đất nhà mình. Anh thấy lạnh ở hai vai và ở gáy. Mấy tầu lá chuối héo rũ trên thân cây, gió động trông chúng tựa bóng người thập thò, ngấp nghé. Xưa nay Xã Bèo có phải người nhút nhát đâu. Anh đã làm xã tuần, một mình một gậy đi như ma ngoài cánh đồng khuya canh lúa cho người ta để lĩnh thóc tuần mỗi sào năm mươi lượm. Anh đã ba lần đi sang làng bên đuổi cướp hộ vì có tiếng trống ngũ liên cầu cứu. Người làng ai cũng cho là anh Xã bạo. Vậy mà đêm nay anh thấy trợn thế nào. Hẳn vì tiếng súng. Cái tiếng súng quái gở kia ít lâu nay ám ảnh, làm người ta mất ăn mất ngủ, bởi vì đó là một dấu hiệu ghê gớm nhất đối với lũ dân lành. Anh Xã thường chiều chiều nghe bọn thanh niên bàn tán với nhau ngoài cổng cái: "Hễ ở đâu có tiếng tắc poọc, là có Việt gian báo hiệu, rồi thì moóc chê tức khắc câu ngay đến tận nơi, thật trúng vào tổ chấy, chả sai một ly nào. Làng xóm, người vật cháy ra than, chết không kịp ngáp". Ghê quá đi thôi! Xã Bèo suốt ngày đêm tưởng tượng những quả moóc chê sắp rơi xuống cái làng bé nhỏ này, thế rồi lửa bốc ngùn ngụt, xương thịt tan ra cám hết, trong đó có anh và những người thân của anh.


Xã Bèo đi vòng ra bờ ao. Có tiếng động ngoài bờ rào. Anh Xã né mình ẩn sau cây vối. Con dao nắm chắc trong tay, anh Xã căng mắt dõi theo bóng người đang xé giậu chui vào. Hai người chui vào một lúc, rồi lặng lẽ bước nhanh về phía bờ ao. Xã lên tiếng trước:


- Bác Trương đấy à?


Trương Dần "suỵt" một tiếng rồi kéo người kia đi thẳng ra phía cổng. Anh Xã nhìn theo. Tự nhiên, một ý nghĩ căm giận nẩy trong đầu. Anh mệt mỏi bước vào sân, lê con dao dài kêu lách cách trên mặt đất. Con mực chạy ra chồm lên ôm lấy chân anh. Anh ngồi thụp xuống kéo con chó vào sát mặt, một lát ngẩng lên, anh đã thấy vợ và bà mẹ đứng liền bên.


Qua một đêm ngủ chập chờn bên người mẹ và người vợ luôn luôn thở dài rên rỉ, bên con trâu nhai rơm sào sạo thở phì phào, anh Xã thức dậy nghe cơn sốt lại âm ỷ cháy trong thịt xương. Anh choáng váng ngồi lên, ngao ngán nhìn đàn gà con tha thẩn nhặt những hạt thóc còn vãi trên nền nhà vừa giỡ phá. Đàn gà con vụt nhắc anh nhớ đến thuở anh còn để tóc trái đào đã tập đi tập chạy trên mảnh đất thân yêu đó với một lũ anh em. Những đứa trẻ ấy đã khuất cả rồi, chỉ còn lại một mình anh.


Thằng Đanh, thằng Đá dắt trâu ra khỏi chuồng. Anh Xã nhìn theo con, lại nghĩ đến ngày mai, trên con đường xa thẳm, lũ trẻ với con trâu sẽ ra đi, đói rét... Anh rót chén nước nóng, kề lên miệng, mắt lim dim nhìn ra ngoài bìa ao, những buồng chuối chĩu gần mặt đất, những luống rau xanh tốt sắp bỏ hoang cho người ta dẫm nát.


Anh Xã vừa rã rời buông chén xuống thì anh em thằng Đanh hoảng hốt chạy vào, mặt cắt không ra máu:


- Bố ơi, ra cổng cái mà xem.


Anh cũng tái mặt, đứng phắt ngay lên:


- Xem cái gì?


Đứa trẻ líu cả lưỡi, nói không ra tiếng:


- Có xe ô tô chạy bên đường xe lửa, đứng ở cổng cái trông rõ cả mũ sắt, cả súng ống. Bố ra mà xem.


Anh luống cuống tìm đôi guốc mộc. Anh chạy sau hai đứa con, mắt hoa lên chỉ muốn ngã chúi. Anh vấp cả vào con Mực, làm một chiếc guốc đứt hẳn quai. Anh vất nốt chiếc guốc kia đi, đâm đầu chạy. Ra đến đường xóm, anh lại va phải mấy người đàn bà ở cổng cái chạy về nhà, người nào cũng mặt xanh mày xám. Trong số đó có bà cụ Xã. Bà nắm áo con khóc ồn lên:


- Chết đến nơi rồi con ơi, chạy đi đâu bây giờ được.


Anh gỡ tay mẹ run giọng nói:


- Bà làm gì mà cứ rối lên thế, khổ lắm!


Rồi Xã Bèo lại đâm đầu chạy. Trên các đường xóm chật hẹp, tới tấp những người chen chúc nhau mà chạy ngược chạy xuôi. Anh Xã ra cổng cái làng. Quanh hai gốc gạo, người xúm đông như kiến. Anh len vào đám đông, nghển lên trông. Đằng xa, khói lửa ở vùng Mỹ Hào bên kia đường số Năm đã tắt, nhưng ở bên đường xe lửa Hà Nội - Hải Phòng có một đám bụi mù bay.


- Vừa có một đoàn xe đi qua, đứng đây mà cũng thấy rung cả mặt đất.


- Eo ôi!


Anh bếp Năm quay lại nhìn anh Xã, cười nhạt:


- Có cái gì mà eo ôi! Đấy là xe thiết giáp hạng soàng. Còn nhiều thứ đáng eo ôi gấp vạn. Xe của quân Đức mới ghê chứ, nó gầm như hổ, nó phun ra lửa, hễ xông vào trận là quân địch chảy ra nước hết.


Xã Bèo và tất cả mọi người quay lại nhìn cái mặt choắt chéo của Bếp Năm. Người ta tin ngay lời anh Bếp là rất đúng, bởi vì anh Bếp đã đi lính Pháp hồi xửa hồi xưa, và đã đánhh nhau với quân Đức, chính tay anh bắn chết tươi mấy người lính già trong một trận giáp lá cà. Anh về đất tổ đã mấy chục năm nay, đi làm cu ly rừng cao su Nam Kỳ một dạo, lại quay ra làm phu than Hòn Gay một hồi, đã bị tù vì tội đá chết con chó bông của bà chủ mỏ. Anh chán kiếp giang hồ, về nhà lấy chị đĩ Năm. Chị đĩ tuy xấu người nhưng lại được cái hay làm để nuôi ông chồng cờ bạc. Thế rồi phong trào cách mạng nổi lên. Đúng thời dụng võ. Người ta lấy làm vinh dự được có ở trong làng một ông nhà binh cũ đã từng bách chiến với quân lính Đức, cho nên người ta mời anh Bếp nhảy ra làm việc nước, nghĩa là yêu cầu anh đem kinh nghiệm quân sự ra huấn luyện thanh niên để giữ làng. Anh Bếp chối từ, cả ngày nằm đắp chiếu trong gian nhà lá nhỏ làm nhờ trên miếng đất hoang của ông nhà giàu Hàn Cự.


- Anh Bếp chỉ được cái nói khoác là nhất. Hồi ấy Đức làm gì đã có chiến xa phun lửa. Giá có thì hẳn anh đã chết toi rồi!


Bếp Năm lườm Trương Dần, không thêm đáp. Anh biết Trường Dần độ này rất có đủ quyền lực hại anh. Trước kia anh có coi ai ra thớ gì ở vùng Nguyệt Đức tối tăm này. Nhưng bây giờ thì trái lại, anh tránh mặt từ thằng mõ, chị mụ thung đến anh Trương Dần lúc nào cũng lăm lăm thanh kiếm để buồn tay thì chém chơi mấy tầu lá chuối, hay búi sương rồng mọc chìa ra rìa đường làng.


- Chỉ được nói mép là giỏi lắm. Cái thằng hèn. Thời loạn này mà cứ sống lén lút như con chuột nhắt thì câm mẹ mồm đi cho xong kiếp!


Bếp Năm không đáp lại Trương Dần. Anh thấy cần phải sợ Trương, bởi anh biết mình đang đeo cái án "thằng phản động" mà ít lâu nay đã có người nói đến tai anh. "Coi chừng có ngày bị bỏ rọ ngâm ao, hay ít nhất cũng nằm nhà giác ngộ".


- Lại đoàn xe nữa, anh em ôi! Nhiều lính lắm.


Thằng Đanh reo váng lên. Thằng Đá níu chặt áo bố mà run. Mọi người nhốn nháo, lao xao bàn tán.


Trương Dần chống mũi kiếm xuống đất, bảo mọi người:


- Này đừng có chỉ trỏ mà súng lia đến tận đầu bây giờ đó. Giải tán đi, hay lẩn cả vào bụi cây kẻo lố nhố thế kia thì chết hết. Các người phải biết rằng ở xa mười cây lô mét ống nhòm cũng chiếu rõ từng cái tơ cái tóc.


Câu nói oai nghiêm của một người đã có tiếng là giầu kinh nghiệm về quân sự cũng như về chính trị như bác Trương Dần tay kiếm tay bút tinh thông kia, thì làm gì còn có kẻ nào dám không tuân lệnh. Ấy thế là mọi người lẩn cả vào bụi tre, hay chạy chúi sau cổng cái.


Từ đằng xa, cách đấy ba cây số, đoàn thiết giáp từ nãy vẫn ầm ầm rung mặt đất, bụi bay mù mịt che lấp cả những cột giây thép còn lơ thơ sót lại bên con đường sắt đã bị du kích cắt phá nhiều đoạn dài. Ba cha con Xã Bèo núp sau bụi tre gai nhìn về phía đường xa đang nhộn đoàn người và đoàn xe chinh chiến. Anh kéo hai con sát vào mình. Mắt anh mở rộng nhưng đang mờ đi vì sợ hãi. Tim anh đập mạnh như vận máu lên thái dương làm anh choáng váng. Anh nắm chặt lấy cành tre gai, tay chẩy máu mà không biết đau. Ngay lúc đó, hai chiếc phi cơ vang trời tiến đến. Phi cơ bay thấp gần sát ngọn cây gạo trước cổng làng và phơi bụng trên đầu cha con anh. Anh bịt tai nhắm nghiền mắt lại. Khi tiếng động cơ đã vẳng xa trên nền trời mây vẩn, anh mở mắt ra, thấy Trương Dần đang nằm ép sau chân anh, mặt úp xuống đất không nhúc nhích. Và ở một bụi tre sau gốc gạo, Bếp Năm từ nãy vẫn co gọn người ngồi giấu đầu vào hai đầu gối dài xương xảu.


Đoàn máy bay và xe thiết giáp đã thôi rung động đất trời vùng Nguyệt Đức. Xã Bèo cùng hai con đứng dậy về nhà. Đi giữa đám đông, người nào mặt mũi cũng hoảng hốt, lo âu, anh Xã lao đao bước.Vào đến sân, anh đã thấy bà mẹ đang tíu tít xếp chiếu chăn, nồi niêu bát đũa, chổi cùn rế rách vào thúng mủng, đóng thành gánh, để ngổn ngang ngoài cửa bếp. Vừa thấy mặt con, bà cụ kêu ầm ĩ:


- Thôi, tình cảnh thế này chỉ sớm muộn ngày mai là chết hết. Anh liệu xem dân làng họ đi đâu thì theo đi với, chứ gan lì ngồi tiếc của cũng chẳng được đâu. Anh bảo vợ anh thế, tôi thì tôi xin chịu. Tôi chả dám dự gì vào cái nhà này. Tôi chả có quyền hành gì hết.


Anh rối cả ruột gan, lẳng lặng bước vào trong bếp. Chị Xã đang vơ vén quần áo của chồng con nhét vội vào trong bị. Chị uất ức, lầu nhầu:


- Đến thế này mà còn rỉa róc. Vừa hôm qua nói nhất định không đi đâu cả, chỉ mong được chết, bây giờ lại rối rít cả lên.


Quay lại thấy chồng, chị ngừng bặt cúi xuống. Chị khẽ phân trần:


- Bỏ nhà bỏ cửa ra đi rồi thì chả biết no đói ra sao, ruột gan đã nẫu nát ra, lại còn khổ nỗi mẹ chồng đay nghiến, tôi chỉ những nghĩ đêm nghĩ ngày mà chết mất. Thôi thì tôi cũng mong chết quách đi cho ông lấy vợ khác để bà cụ được dâu hiền thảo, chứ tôi mà còn sống thì cái nhà này còn là rầu rĩ suốt đời.


Anh Xã thở phì một tiếng, nằm vật xuống ổ rơm. Anh trợn mắt nhìn lên nóc bếp, hai tay nắm lại đấm vào ngực như những khi anh phẫn uất chuyện gia đình, một bên thương mẹ một bên thương vợ, không biết xử thế nào cho êm ấm. Một lát, anh mới nói:


- Ngày nào cũng có chuyện lôi thôi. Thế này thì chết hết cho xong nợ. Tôi không sao chịu nổi. Ai đi đâu cứ việc đi, tôi ở lại, tôi chết, thế là xong.


Anh gào hộc như con chó dại. Giá mọi khi thì bà cụ không để anh đay nghiến, nhưng hôm nay bà nín lặng, bởi bà biết con bà đã đến độ liều. Tuy vậy, bà cụ cũng lầm bầm chửi một câu như mọi khi cho bõ tức:


- Cha tổ bố mày! Ai đẻ mày ra, ai gây dựng cho mày để bây giờ mày hùa với con vợ mày giả môi giả miếng bà, thằng Bèo kia, thằng trắng mắt kia!


Ngay lúc ấy, Lý Còng hớt hải chạy sang:


- Cụ Xã chạy đấy à. Cụ đi đâu cho chúng cháu đi theo với. Biết chạy về đông tây xứ sở nào cho khỏi mũi tên hòn đạn bây giờ.


Có tiếng phi cơ và tiếng liên thanh ở đâu xa. Bà cụ Xã nắm ngay lấy áo Lý Còng:


- Đấy, lại tầu bay, lại súng. Dễ quá Phố vàng rồi ông Lý ạ.


Lý Còng ngơ ngác lắng tai nghe tiếng máy bay:


- Không phải ở phía Phố Vàng. Cơ chừng ở mạn Cẩm Giàng. Hai bên đánh nhau dữ mấy đêm liền, Cẩm Giàng bị mất rồi, cho nên quân chúng mới đi qua được đường sắt chứ.


Tiếng phi cơ lại đến gần, Lý Còng chạy vụt về nhà, gọi vợ con nhẩy cả xuống bờ ao như mọi khi bác nghe thấy tiếng động cơ trên trời. Bà cụ Xã cuống quít hò cháu chạy ra ngoài rãnh cạnh bờ rào tre, ẩn nấp. Chiếc phi cơ bay một cách hiền lành, chậm chạp, có vẻ vô hại như một con cò mỏi mệt. Thằng Đanh ngóc đầu lên:


- Tàu bay bà già, chả sợ. Bà lên đi.


Bà cụ Xã vội kéo tay cháu xuống:


- Tổ bố mày! Súng chúng bắn xuống thì chết toi cơm.


Rồi bà khấn vái:


- Lạy thần thánh mớ bái, phù hộ cho chúng con tránh khỏi mũi tên hòn đạn, lạy thần thánh mớ bái…


Bà xuýt soa cầu khấn mãi cho tới khi tiếng động cơ dọa nạt, khủng khiếp kia đã mất hẳn vào cái im lặng của vòm trời xám lạnh.


Trong khi ấy Xã Bèo cứ nằm yên trên ổ rơm. Chị Xã đứng nép vào góc vách. Cả hai vợ chồng cùng thầm mong có một quả bom rơi xuống cho xong hẳn nợ đời. Họ liều với cái chết, vì cả hai cùng nghĩ rằng chỉ có chết mới hết rỉa róc nhau, ghét bỏ nhau. Nhưng đến lúc tiếng máy bay đã tắt xa, Xã Bèo ngồi nhỏm dậy, và chị cũng thở mạnh một hơi dài. Nhân lúc chị lúi húi gấp quần áo cũ xếp vào bị, anh nhìn vợ một cách vẩn vơ. Anh thấy vợ anh mấy hôm nay gầy hẳn đi, nhưng bụng thì to lên trông thấy. Xã Bèo nghĩ đến cái ngày vợ đẻ ở quê người đất khách mà rùng mình.


Muốn xua đuổi ám ảnh đó, anh Xã vùng đứng dậy, chạy khắp mọi nhà, xóm này xóm khác để xem dân làng định chạy đâu. Qua khóm tre bương bên bờ giếng đá, anh đứng lại. Một bọn người đang hăm hở đẵn tre. Họ không cần ngẩng lên để biết anh là chủ bụi tre họ đang chém, hùng hổ và tới tấp. Anh há hốc miệng đứng lặng đi một lát. Cơn phẫn uất bốc lên, anh sấn đến:


- Sao các ông ngả tre của tôi mà không cho tôi biết?


Không ai ngửng lên nhìn anh. Họ đang rầm rộ múa dao chém hết cây này cây nọ. Xã Bèo càng mở to mắt, càng há to miệng, và chân tay bủn rủn, anh đứng như bị chôn xuống đấy. Mỗi một nhát dao hạ xuống bập sâu vào gốc cây lại làm đau nhói thịt xương anh.


Một cây đổ xuống, một cây nữa đổ, anh nhắm nghiền mắt lại, có cảm giác mình muốn ngã ngay xuống đấy như những thân tre đang quằn quại đổ xuống ao bèo. Người ta reo hò và lại vung dao chặt mãi, chặt mãi. Mỗi lần tre đổ, một lần anh nghiến chặt răng, mồ hôi vã toát ra. Anh đau đớn tiếc những thân cây vô tội đang đâm cành xanh lá, đang cùng mưa gió đẻ măng. Bây giờ, thế là hết cả! Anh đã dỡ nhà để cho loài giơi loài sẻ lìa tổ ấm bay đi nơi khác, cũng như bầu đoàn thê tử anh sau đó sẽ lang thang. Anh thương loài chim rời mái cũ, lại sót thương măng đương độ mọc không còn bụi kín để đâm mầm.


Anh đứng ngẩn ra, tưởng chừng cuống họng mình như có bàn tay ai đùa nhả đứng đằng sau mà bóp. Thế rồi, thốt nhiên, Xã Bèo tiến đến nắm cánh tay một người vừa ngừng dao chặt giữa lúc một thân cây ngả răng rắc xuống bờ ao. Một cành tre theo thân cây đổ mạnh, quất ngang mặt. Anh bật kêu lên, như con vật bị đánh:


- Sao lại chặt tre của tôi! Không thể được! Không thể được!


- Có việc gì mà ghê thế, người anh em?


Xã Bèo ngoảnh lại, Trương Dần cầm ngang kiếm đứng bên anh tự lúc nào, nhìn anh cười mà nói tiếp:


- Chặt tre đem ngăn đường quân địch, đó là nghĩa vụ công dân. Anh phản kháng chăng, anh Xã?


Anh liếc nhìn con mắt Trương Dần cũng sắc như mũi kiếm. Anh cúi xuống, lủi thủi bước đi. Sau lưng anh, những lưỡi dao tới tấp múa lên và những thân tre quằn quại ngả xuống ao bèo răng rắc. Anh gục mặt xuống mà rảo bước trên con đường làng nhày nhụa phân trâu, rác rưởi. Và anh lại có cảm giác thịt xương anh đang có máu rỉ ra, cuống họng anh có bàn tay ai đùa nhả đứng đằng sau mà bóp.


Xã Bèo lủi thủi quay về. Bà mẹ đã xếp xong ba gánh nặng. Vợ chồng chị Xã hai gánh, bà một gánh, thêm một gánh nhẹ nữa cho thằng Đanh. Thằng Đá giữ việc dắt trâu, dắt chó. Bà hì hục xếp quang xóc gánh sẵn, chỉ chờ sớm mai là chạy loạn. Lúc nào bà cũng lo lắng nghe tiếng máy bay, và lơ láo nhìn qua hàng rào tre, chỉ sợ những chiếc mũ sắt của bọn lính Pháp ở Phố Vàng sộc đến hay ở đường xe lửa ập vào. Tay rụn lập cập, bà thở phì phào khó nhọc, nhưng không vì thế mà bà quên lẩm bẩm:


- Cha bố chúng nó chứ. Công bà nai lưng buộc bụng sắm từ cái nồi đất,bát đàn. Thế mà chúng nó vẫn mổ mắt vỗ công. Cha bố cái quân trắng mắt.


Anh Xã đang não ruột, lừ lừ bước vào trong bếp. Anh thấy chị vợ trèo lên mặt cối xay, với tay cậy cái nút bằng giẻ rách ở lỗ cột bếp đầy bồ hóng. Anh Xã lùi lại, rình chị vợ. Chị cho hai ngón tay vào lỗ cột, moi ra một cuốn lá chuối. Chị giở cuốn lá khô: một nắm giấy bạc. Không kịp đếm, chị đưa mắt nhìn lại phía sau. Anh lại gần. Người vợ không ấn tiền vào túi, tay chị buông thõng xuống, mắt mở lớn nhìn chồng.


Anh Xã mỉm cười khẽ nói:


- Bu mày nhiều tiền nhỉ!


Chị Xã cúi xuống đếm nắm giấy bạc, rồi ngước nhìn chồng, mắt sáng hơn thường. Chị nói thầm thì:


- Tôi dành dụm mãi mới được thế này, để phòng khi bất trắc, có cái mà tiêu chứ.


Chị moi chiếc bao lưng giấu kỹ trong cạp váy, giốc tiền ra đếm. Đó là tiền bán thịt lợn, rau, và thóc. Đếm xong, chị đưa chồng một nửa:


- Nhà giữ chỗ này, đi đường chẳng may xảy ra lạc nhau thì có cái mà tiêu. Một người giữ, nhỡ gặp chuyện gì thì mất hết.


Anh nhét tiền vào cái túi kín, khâu theo lườn chiếc áo tây vàng. Mặt anh lo sợ tái đi một phút:


- Bu nó chỉ hay nghĩ lẩn tha lẩn thẩn. Làm gì mà lạc. Cứ đi cho có đoàn, sát vào nhau là được.


Bỗng nhiên Xã Bèo nhìn vào mặt, vào bụng vợ. Anh băn khoăn, nghĩ có lẽ vợ anh nói gở, nhất là lúc này đôi mắt chị hơi có quầng thâm, và anh nhớ ra Lý Còng thường bảo đó là điềm vận hạn. Nao nao, anh thấy thương vợ vô cùng. Anh vồ lấy cổ tay vợ, nhưng rồi bỏ vội ra ngay. Mặt anh hơi đỏ, người vợ cũng chớp mắt mấy cái nhìn xuống chân. Hai vợ chồng cùng nhớ lại những ngày xửa ngày xưa, xa lắm rồi, trong đêm động phòng, anh đã vén vạt áo the thâm rón rén ngồi xuống góc giường, sờ soạng tìm cái cổ tay tròn lẳn của cô vợ mới.


Trời đã tối. Xã Bèo cùng vợ con xếp gọn gồng gánh vào góc vách bên ổ rơm. Trong khi ấy, bà cụ thổi cơm và lấy mấy chiếc mo cau cuộn treo trên nóc bếp xuống, đem ra ao ngâm rửa để lát nữa nắm cơm.


- Phải sẵn cái để ăn dọc đường, chứ tiền đâu mà quà bánh – nói đoạn bà quay bảo cháu - Chả gì chắc bụng bằng cơm. Bà cháu mình có mấy nắm cơm này là đi được cả ngày.


Nhưng vừa dứt lời, bà lườm hai đứa cháu một cái dài:


- Chúng mày thì lại bám vào đuôi con mẹ mày chứ cần gì bà. Đi với bà chỉ có cái cóc khô. Cha mẹ loài bạc bẽo. Tông môn cái giống mẹ mày!


Thằng Đanh không bao giờ dám cãi bà. Nó vẫn thường nhủ em: “Bà già rồi, bà có mắng cũng không được hỗn. Bà chả sống được bao lâu nữa”. Nhưng ấy là trước kia, chứ độ này chúng cũng không lấy gì làm yêu bà nội lắm. “Bà chửi u luôn miệng, u chỉ khóc bỏ ăn bỏ uống mà ốm chết”! Thằng Đanh đã thủ thỉ với em như vậy trong lúc chăn trâu. “Ừ, bà cứ mắng u luôn thôi. U sắp có em bé, u chỉ hay nhịn ăn, nhỡ làm sao thì khổ hết”. Thằng Đá tuy tí tuổi đầu cũng biết rủ rỉ với anh như vậy. Chúng thương mẹ, giận bà, vậy mà những khi nghe bà riếc móc, chúng không dám bênh mẹ, cũng không dám hỗn với bà nội một câu. Chúng chỉ thầm thì với nhau ở cánh đồng, ở ngoài lũy trong khi quét lá tre hay mót cành khô quảy về đun. Thằng Đanh sực nghĩ ra một việc. Nó đi tìm cái đó gác trên chuồng lợn, rồi ra chuồng gà sờ soạng bắt lũ gà con nhốt vào đấy để mai nó buộc kèm cái đó ấy vào gánh nó. Nó lại bảo em đi tìm cái bu khác nhốt gà mẹ riêng ra, phần thằng Đá xách.


Anh Xã vừa ngồi hút xong điếu thuốc thì có tiếng người ngoài ngõ:


- Tối nay phiên bác Xã ra gác đấy nhé.Sao chậm thế? Ngủ rồi à?


Xã Bèo không đáp, lừ lừ đứng lên. Và quen lệ, anh ra góc vách cầm con dao dài, ôm lá chiếu bước ra sân.


Chị nhìn theo bóng chồng khuất ngoài sân tối. Anh Xã vẫn thường đi gác suốt đêm, chị không biết sợ. Nhưng tối nay vắng người đàn ông, chị thấy trong lòng làm sao ấy, cảm thấy vườn tược, nhà cửa có một vẻ gì khủng khiếp khác thường. Chị khẽ dặn con:


- Anh em mày phải ở nhà nghe, hay lại sắp nhảy tót đi. Nhà vắng vẻ, chúng mày không biết lo gì cả.


Bà cụ vừa nắm cơm vừa lẩm bẩm:


- Giặc nó đánh đến lưng rồi, còn nay gác, mai gác. Gác để làm gì! Mỗi thằng một cái gậy tre chết tiệt thì hòng đánh nổi ai!


Thằng Đanh đang ấn cổ con gà mái và mấy con trống nhỏ vào bu, buộc nắp. Nhưng lũ gà cứ thúc đầu ra. Nó tức mình vừa ấn đầu gà xuống vừa ngoảnh vào trong bếp:


- Bà đến hay!


Thằng Đá cũng bắt chước anh:


- Cái gì bà cũng nói!


Bà cụ Xã lườm hai thằng cháu:


- Tông môn cái giống láo giống hỗn nhà mày!


Nhưng tiếng bà cụ bị át đi bởi tiếng gà kêu quang quác dưới cái nắp bu vừa chặn trên đầu chúng.


Xã Bèo từ nãy một mình đứng tựa lưng vào cánh cổng cái làng, nghe tiếng dế giun ran trong bóng tối, và nhìn mấy con đom đóm ngoài ao bèo chập chờn bay lên cành tre.


Buồn tay, anh khẽ gõ mũi dao vào cánh cổng. Đôi lúc, cho tỉnh ngủ, anh giơ tay cao lên đâm mạnh mũi dao nhọn xuống đất mềm. Buồn tình, anh lầm nhầm hát mấy câu chắp nối mà anh vẫn nghe hai thằng con hát. Rồi anh đứng lặng im, tựa đầu vào bức tường rêu mốc, tay nắm lỏng lẻo cái chuôi dao dài, mắt nhắm nghiền. Chợt nghe tiếng ai ho bên bờ giếng. Anh mở choàng mắt: bóng người mặc áo bành tô dạ khiến anh biết ngay là Trương Dần. Hắn ta đi tuần một lượt quanh làng, nhân thể xét xem việc canh gác có cẩn thận không rồi mới về nhà ngủ. Anh nào đến phiên gác cũng phải coi chừng Trương, lơ mơ ngủ gật là bị cảnh cáo hay bị phạt ngay lập tức.


Trương Dần hắng giọng đủ ba tiếng rồi mới đi khuất hẳn sang xóm Đoài. Anh Xã trải chiếu ngồi, đầu vẫn tựa vào tường, mắt lim dim nhắm. Anh hát lăng nhăng, khe khẽ trong cuống họng mấy câu “ba năm trấn thủ lưu đồn…”, vừa hát đến câu “chém tre đẵn gỗ trên ngàn…” thì anh buồn đến chết lịm người đi một lúc. Không phải anh buồn thương người lính tháng ngày nghe chim kêu vượn khóc nơi rừng xanh, mà anh buồn tiếc cửa nhà, đất cát và búi tre bương ở ngay bờ giếng khơi kia, đã bị người ta chặt hết,có khác nào họ đã chém anh, chém những người máu mủ của anh.


Đêm đã khuya. Anh Xã không hát nữa. Tiếng dế giun ri rỉ miên man trong màn đêm làm anh buồn ngủ rũ cả người. Anh tựa vào cánh cửa gỗ lim, thiu thiu nhưng vẫn nắm chặt con dao đặt trên đùi. Anh phấp phỏng nghe tiếng súng thưa thớt nổ ở tự đâu xa tắp. Anh Xã sợ nhất cái tiếng “tắc poọc”, và lúc nào cũng tưởng chừng như nó sắp nổ sau lưng anh, ngay bên ngoài cánh cửa lim này. Xã Bèo chột dạ, mở mắt vội và đứng phắt lên, tay nắm chắc con dao hơn nữa. Gió lạnh ngoài cây gạo lùa qua khe cửa, anh kéo cao cổ chiếc áo tây vàng đứng nép vào góc tường rêu. Nhưng dù đứng ở góc tường, anh vẫn thấy sợ: chỗ nào viên đạn cũng có thể vèo tới người anh, anh sẽ gục xuống, chết như một con chó con bị giết, thế là xong, vợ con anh không biết, làng nước không ai biết. Ý nghĩ ấy khiến Xã Bèo băn khoăn, ngồi đứng không yên chỗ. Anh mở to mắt nhìn con đom đóm bay chập chờn qua mặt, lơ mơ nghĩ đến chuyện ma chơi. Anh lại sực nhớ tới cả câu chuyện truyền từ các cụ, ở hai cây gạo cổ thụ ngoài cổng cái đêm nào cũng có hai con ma đàn bà rũ tóc hát véo von. Trước kia, hễ nghe ai nói đến chuyện ma quỷ, lễ bái là anh cho là nhảm nhí, “sà” một tiếng rồi đứng dây không thèm nghe. Thế mà ít lâu nay anh đâm nhát. Nhớ đến những đêm một mình đi tuần, đi đuổi cướp, hay mò mẫm kéo vó đêm ngoài đầm, ngoài sông, hoặc những đêm mưa giong đuốc đi bắt ếch trên đồng ruộng cho tới canh ba, canh tư, không biết mệt, không biết sợ hãi là gì, anhtự lấy làm xấu hổ, không hiểu sao độ này mình lại thay tâm đổi tính như thế được!


- Ai? Đứng lại.


Thố nhiên anh choáng choàng bật lên câu hỏi ghê gớm đó trước một bóng người đang xăm xăm tiến đến trước mặt anh.


- Mãn đây mà! Người anh em hôm nay khá nhỉ, tỉnh ngủ ghê. Về đi, tớ thay phiên.


Xã Bèo thở một hơi khoan khoái. Thế là hết nợ làng. Bởi anh nghĩ đêm nay là đêm cuối cùng anh sống ở làng. Mai sớm anh đi, chắc là đi xa lắm, còn bao giờ phải gác thế này.


Anh rảo bước về nhà, thấy lòng buồn như muốn khóc. Cái ý nghĩ “sớm mai sẽ ra đi” day dứt lòng anh. Ngay từ lúc này, anh đã thấy nhớ từ viên gạch dưới chân anh đang bước, nhớ từ cành tre xà xuống tóc anh cho đến vũng ao bèo váng nổi anh đã trần truồng tắm những ngày còn thơ bé.


Biết bao nhiêu là kỷ niệm. Xã Bèo khẽ thở dài. Về đến nhà, không muốn gọi cổng ầm ỹ, và như mọi khi, anh nhấc bỏ mấy cành chông vẫn dùng để bịt kín lỗ chó chui, anh bò vào trong vườn. Người vợ biết chồng về, lật chiếu ngồi lên. Anh vào bếp, lẳng lặng thổi lửa hút thuốc lào. Chị ngồi yên đợi chồng vào ổ ngủ. Nhưng anh cứ bó gối, gục đầu xuống không nhúc nhích. Chị rón rén đến ngồi bên cạnh:


- Bố nó!


Chị ngừng lại. Anh hỏi gần như gắt:


- Cái gì?


Chị ghé tai chồng:


- Tôi muốn bàn với bố nó cái này. Nhà có mấy chiếc mâm thau, cái nồi ba mươi đấy, lại còn bộ đỉnh nến đồng nữa gánh đi thì nặng quá. Mà ai là người gánh mới được chứ. Tôi tính cái cần mang đi là quần áo, chiếu chăn, nồi, bát. Như thế đủ nặng lắm rồi, nhưng dù sống chết cũng phải cố đèo cái cày cái cuốc, may ra đi cày thuê cuốc mướn được chăng.


Anh vẫn không ngẩng lên:


- Ừ, thế sao nữa hả?


Chị nói nhỏ hơn:


- Tôi tính bố nó chịu khó ngay đêm nay tìm chỗ đất nào kín đáo mà chôn mấy thứ đồ đồng kia đi. Vườn nhà mình rộng, chả ai đào trộm đâu mà sợ.


Xã Bèo ngóc đầu, mặt ngẩn ra, vừa nhìn màn đêm mịt mù lạnh lẽo vừa suy nghĩ, và anh thấy lời vợ bàn là phải.


Tức thì anh đứng lên. Bà mẹ nói vọng ra ngoài mép chiếu:


- Ừ, chôn đi cho xong. Tao già yếu rồi, không gánh được đâu.


Đoạn, bà lại nằm yên không nhúc nhích.


Vợ chồng anh đi làm cái việc chôn giấu của nả. Anh bước rón rén, lòng hồi hộp, tự thấy việc đang làm có vẻ gì to tát quá, tưởng chừng như có người rình nấp đâu đây, ở sau vách, sau đống gạch,…sau bụi chuối, bụi tre chẳng hạn mà nghe trộm lời thì thào bàn định vừa rồi.


Hai vợ chồng cầm mai, cuốc ra ngoài vườn tối. Xã Bèo vờ ho một tiếng, làm ra bộ đi giải, anh thu gọn cái cuốc vào sát nách, dừng chân bên cây muỗm ở góc vườn trông sang chùa, sau lưng là người vợ đang dỏng tai nghe ngóng. Anh cúi mình nhìn qua bờ rào thưa: ngoài kia là cánh đồng, có một ánh lửa chập chờn. Ánh lửa lúc đục, lúc xanh, có khi lên cao, có khi hạ thấp xuống. Giá như xưa thì anh nghĩ ngay rằng đó là Đức Thần nông hiện lên chơi đêm hay đi phó hội ở bãi ở gò nào, nhưng bây giờ thì anh biết ngay là ánh đèn pin của những người đi làm việc ban đêm, nghĩa là đi công tác, đi hội họp hay là đi phá hoại. Anh Xã chờ cho tới khi vệt ánh sáng đến gần phía hai cái tháp gạch mồ sư cụ làng cạnh giậu tre, anh nắm áo vợ kéo xuống cái rãnh khá sâu, ngồi cúi rạp mình xuống. Mấy bóng người đã tới gần, tiếng nói xì xào lẫn mùi khói thuốc lá bào theo gió vèo vào mũi vợ chồng anh. Anh nhận ra tiếng Trương Dần nói to hơn cả. Ánh đèn pin bỗng lóe sáng dọi đúng vào miệng hố. Nhưng luồng ánh sáng tắt ngay, và tiếng nói cũng xa dần.


Vợ chồng anh hoảng sợ, một lúc mới hoàn hồn, bước lên khỏi hố.


Xã Bèo hạ một nhát cuốc xuống chỗ đất gần khóm chối tiêu. Mũi cuốc xới bật tảng đất rắn lên, reo thành tiếng động. Anh dừng tay lại. Trên cây muỗm rìa bờ ao nhà chùa bên kia lũy tre, con cú đêm nào cũng về đậu ở cây này bỗng vỗ cánh kêu lên một tiếng rồi lại lặng im.


Chị Xã ở trong nhà khệ nệ bưng cái đỉnh đồng ra, rón rén bước lại chỗ chồng. Chị đặt đỉnh xuống đất, thì thào:


- Sao bố nó không cuốc đi. Khuya rồi còn gì nữa.


Không đáp và nhìn sang bên chùa, Xã Bèo lại lẩn mẩn nghĩ đến chú tiểu bên nhà phật. Cái chú tiểu mắt sếch, mồm rộng, béo như con cun cút, chúa là ranh ma. Gà chó nhà ai vào chùa, chú tiểu thường hay nhốt lại chơi, và nếu sư cụ đi làm lễ ở chùa xa thì chú tiểu ngả tục ngay bằng gà chó ấy.


- Thế mà mình tính chôn của ở đây, nguy hiểm thật. Dại quá chó!


Thấy chồng nói như mê ngủ, người vợ ngẩn ra:


- Bố nó bảo sao?


Anh Xã mỉm cười trong bóng tối, lẳng lặng đi tìm chỗ khác. Khi đã tìm được một chỗ kín đáo bên gốc cây bồ kếp dại mà xưa nay anh vẫn ủ phân tro ở đấy, anh giang tay cuốc. Chỗ này đất mềm, mũi thép xuống sâu mà không động mạnh.


Người vợ lại khệ nệ bưng chiếc đỉnh đồng, chân nến đồng đến chỗ mới. Rồi chị vào nhà bưng nồi, mâm thau ra. Vào ra ba bốn chuyến, và bởi ôm xách nặng nhọc, chị bỗng thấy đau tức bụng. Chi đưa tay xoa nắn cái bụng to, không dám suýt soa. Anh Xã vẫn hì hục lấy mai xẻ đất sâu thành hố. Bỗng lưỡi mai va phải một vật bằng sành, bật lên một tiếng kêu khô khẳn.


Xã Bèo dừng tay, ngồi thụp xuống, cho tay vào hố sờ mò. Anh kêu thảng thốt:


- Chết tôi rồi.


Người vợ ngồi cạnh chồng, hốt hoảng:


- Cái gì thế bố nó?


Xã Bèo nhặt lên mấy mảnh nồi đất vỡ nát. Anh thọc vội bàn tay bẩn vào túi áo tìm bao diêm. Que diêm vừa lóe chốc nhát thì gió làm tắt phụt.


Anh thở phì phào:


- Tôi cuốc phải chỗ đất chôn “cái ấy” dạo năm ngoái. Thế có khổ không!


Chị biết ngay “cái ấy” là cái gì rồi. Rất nhanh, cái đêm chị bị sẩy thoáng hiện ra trong tâm trí: Chị đau ngất lịm đi, trong khi ấy người chồng bỏ vội cục máu vào nồi đất đem vùi ở sau vườn.


Vậy mà lúc này, cái nồi máu huyết của vợ chồng anh, anh lại cuốc lên. Chị ôm lấy bụng vì tự nhiên chị thấy đau ghê gớm, nhưng cố nghiến răng không kêu. Người chồng đứng sững, tay mân mê mấy mảnh nồi đất vỡ bê bết đất đưa lên mũi ngửi, rồi nước mắt anh ứa ra, từng giọt rơi xuống má.


(còn tiếp)


Nguồn: Đất. Tiểu thuyết của Ngọc Giao. NXB. Cây Thông, 1950. Bản này đã được tác giả chỉnh lý năm 1991.


www.trieuxuan.info


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 19.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 13.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »