tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30546223
Tiểu thuyết
19.05.2012
Ngọc Giao
Đất

CHƯƠNG NHẤT


I- Trời mưa. Mưa phơ phất như sương khói dăng lạnh lẽo trên cánh đồng làng Nguyệt Đức.


Xã Bèo hôm nay nghỉ việc đồng, khoác lên vai chiếc áo bành tô lính tập cũ rách, anh đi loanh quanh trên đường xóm vắng, đầu gục xuống. Đôi guốc đẽo bằng gộc tre dưới hai bàn chân cóc cách, khua động con đường lát gạch rẽ ra chiếc giếng khơi trơn nhày nhụa vàng lá tre khô.


Búi tre bương bên bờ giếng làng gió đưa cót két. Anh đứng sững lại nhìn những thân tre chen chúc trên mảnh vườn nhỏ hẹp bên vũng ao bèo tấm. Anh thấy trong lòng vui vui khi nghĩ mình vừa mua được mảnh đất ấy của Trương Dần. Việc Xã Bèo tậu đất vừa tháng trước đây đã làm cả làng bàn tán mãi. Ai đời, Xã Bèo từ xưa vẫn trên răng dưới khố, ấy thế mà được mồ được mả ra sao mới có một năm trời anh đã tậu được vài sào ruộng tốt, mua được con trâu, ngâm được bè tre, nay lại mới tậu được thêm mảnh vườn bương này nữa. Miếng đất méo mó chỉ đáng dùng cho chó bậy, nhưng anh đã cứ nhất định mua bằng được. Không ai biết, chị Xã cũng không biết rằng chồng nhất định mua miếng đất ấy chỉ cốt để trả cái thù đối với Trương Dần. Bởi vì có một ngày lâu lắm rồi, Trương Dần trong bữa rượu đám ma đã trỏ mặt Xã Bèo đang gậm xương dưới bếp bảo rằng: “Thằng Bèo chỉ suốt đời ăn mày, ăn cắp, nó sống ngày nào là còn làm bẩn làng Nguyệt Đức”. Xã Bèo nuôi nhục ngót hai mươi năm trời và đến bây giờ trả nhục bằng cách cần cù làm ăn hai sương một nắng, để rồi đánh đùng một cái, Trương Dần vì cờ bạc đã cho con mời Xã Bèo đến khẩn khoản xin bán đất. Mua xong đất, Xã Bèo đóng cửa, chong đèn uống rượu một mình với củ khoai lang nướng, và chua chát cười với bóng mình in trên vách đất.


Xã Bèo bỗng ngồi thụp xuống, ngó kỹ mấy chiếc măng non giữa bụi bương. Anh lại nhìn chung quanh xem có ai trông thấy mình đang đếm măng không. Nhưng đường xóm vắng teo, không ai nhìn thấy anh. Tuy nhiên, anh cũng lo sẽ có người cắt trộm. Anh định bụng chốc nữa anh sẽ đem vôi ra đánh dấu và sẽ không quên nguyền rủa trước kẻ nào dám manh tâm nhòm ngó đến măng của anh.


Anh lững thững ra ngoài cổng cái làng. Dưới gốc cây gạo cổ thụ, mấy ông già và đám trai tráng đang ngồi ôm đầu nhìn về phía chân trời. Trương Dần ngoảnh lại bảo Xã Bèo:


- Bác có biết nó đốt vùng nào không?


Anh trố mắt nhìn vừng trời đỏ lửa vẩn khói đen, nói như mơ hoảng:


- Ở bên kia đường số Năm, chắc là vùng Mỹ Hào, các cụ ạ.


Một ông già run giọng tiếp:


- Nếu là vùng Mỹ Hào bên kia đường sắt, thì vùng mình đây cũng chỉ còn sớm tối.


Anh Xã thở dài, nói như một người sành sỏi:


- Tính từ Mỹ Hào đến đây, đường bộ thì xa chứ tính đường chim bay thì chả là bao, năm cây số là cùng. Năm cây số đối với tầu bay, xe tăng thì…


Anh ngừng lại, rùng mình, mặt anh xanh nhợt.


Chân trời mỗi lúc một đỏ thêm. Thỉnh thoảng vọng lên một vài tiếng súng. Và xa xa tiếng phi cơ ầm ì không ngớt trong vòm trời mưa gió lạnh.


Mọi người lại im lặng ôm đầu nhìn về phía chân mây, khói lửa đang nghi ngút.


Anh lủi thủi quay về nhà. Đầu anh lại gục xuống, lông mày cau ríu lại.


- Bố ơi, được một mẻ to vừa rô vừa diếc.


Anh ngó xuống dưới ao. Thằng Đanh, thằng Đá, hai đứa con trai anh đang trần truồng ngâm mình dưới nước ao lạnh buốt.


Chúng gò lưng kéo chiếc vó lên. Mấy con cá vẩy trắng giẫy trong đáy lưới. Hai đứa trẻ reo vui thích. Xã Bèo chợt nghĩ một sớm mai, hễ “nó” đến thì lũ dân quê này cũng sẽ không khác gì những con cá khốn nạn. Nhưng con cá còn giẫy lên một cái trước khi bị nhét vào trong rọ, chứ lũ người khốn kiếp này sẽ không còn sức mà giẫy trước một sức mạnh giết người vô tội vạ.


Anh bỗng đứng lại, Đầu anh gục hơn nữa. Qua búi tre bương, anh cũng không như mọi lần nhìn một cách sung sướng những thân tre to đẹp để mơ một ngày nào đó anh sẽ ngả những cây tre ấy xuống làm nhà cho hai thằng con trai trước khi cưới vợ cho chúng. Anh khổ sở, lo lắng, quên cả mấy chiếc măng mới mọc. Anh ngao ngán thấy rằng binh lửa rồi sẽ ập tới, thui trụi tàn phá hết huống hồ là mấy chiếc măng non.


Về đến cổng, con Mực chạy ra đón. Tự nhiên anh thấy thương con vật, và mang mang nghĩ chết chóc sẽ chẳng tha từ mạng con chó đến con người.


Anh không vào sân vội, đi tắt qua vườn sau nhà đến chuồng trâu và đứng sững nhìn con vật thân yêu của mình, lo sợ nghĩ đến một sớm mai người ta bắt nó đem đi mổ thịt, hay nó sẽ gục xuống vì một trong những viên đạn bắn vào bao nhiêu mạng con người vô tội.


Ý nghĩ ấy khiến Xã Bèo khiếp hoảng. Anh tựa đầu vào cột chuồng trâu, cay đắng nhớ lại cái công phu khó nhọc hơn mười năm làm ăn dành dụm mới mua được con nghé ở làng bên. Con nghé lớn lên trong đời gian nan của vợ chồng anh quanh năm vật cùng đất cát. Con nghé bây giờ đã trưởng thành, nghĩa là đã biết kéo cầy, vợ chồng anh hả hê cũng như trông thấy thằng Đanh thằng Đá đã biết góp sức với cha mẹ rỏ mồ hôi xuống những luống đất được luôn luôn sới bón. Thế mà con trâu của anh sắp chịu chung số phận với con người trong lửa máu.


Xã Bèo thảng thốt úp mặt vào lòng bàn tay. Anh ngồi bệt xuống đất, nước mắt ứa ra. Anh khóc trước con vật đang uể oải nhai mớ cỏ khô, mắt nó không nhìn anh mà ngước ra ngoài sân.


Bầu trời đùng đục, mưa bay lạnh giá. Lũy tre gai bọc quanh mảnh đất vườn nhà anhh la đà rung thả lá vàng.


Một con diều hâu lượn trên sân. Con gà mái mẹ nhớn nhác gọi đàn con chạy vào chuồng trâu, sù lông cánh thu gọn lũ con dưới bụng.


Thốt nhiên anh thấy rùng mình. Cảnh tượng cơn binh lửa lại hiện ra trước mắt. Những lưỡi lê nhọn hoắt, những khẩu súng trong bàn tay lông lá, những bộ mặt đầy sát khí sẽ xông xáo, hò hét trên cái mảnh đất tự xưa yên tĩnh này.


Bà mẹ già khệ nệ bưng nồi cám nóng ra, kề lên mảnh ván săng quây chuồng lợn. Đánh hơi thấy mùi cám thơm, hai con lợn hếch mõm kêu rối rít. Bà cụ vừa múc cám đổ cho lợn ăn vừa lẩm bẩm:


- Chắt bóp mãi mới mua được đôi lợn giống, rồi mai bọn giặc đến tha đi, thế là xong. Nước lã ra sông hết. Cơ khổ! Loạn ơi là loạn.


Anh đứng bên mẹ khẽ thở dài. Anh biết trước rằng cơ sự này rồi đến nhà tan cửa nát, nhưng anh cũng an ủi mẹ già:


- Chắc chả việc gì đâu. Bà cứ lo làm gì cho ốm xác. Có đến được cũng còn khó khăn. Đường xẻ, cầu phá, chúng nó đến được đây còn là nhọc.


Bà cụ “sào” một miếng, đổ tiếp cám vào cái lon sành vỡ, yên lặng xem đôi lợn ăn ngon lành. Một lát bà ngước mắt lên, hấp him nhìn vẻ mặt lo lắng của con trai.


- Anh tưởng xẻ đường mà chắc ư. Cứ tin thế thì súng nó chĩa vào ngực lúc nào không biết. Những làng dưới ga Cẩm Giàng đấy, cũng chỉ vì tin chắc vào việc phá hoại mà bao nhiêu nóc nhà ra tro, bao nhiêu người chết không kịp ngáp.


Anh vội nhìn ra ngoài lũy tre thưa, thấp giọng:


- Bà nói thế nhỡ tai vách mạch rừng thì khổ. Người ta bảo vậy thì mình cũng phải tin như vậy, biết thế nào mà nói.


Thằng Đanh, thằng Đá xách giỏ cá, hốt hoảng chạy đến chuồng lợn, run lập cập:


- Nguy mất rồi, người ta bảo nó đã bắc lại được hết các cầu. Toàn bọn lính mũ đỏ, lính da đen dữ lắm.


Anh đứng thừ ra, mặt nhợt nhạt, miệng há hốc và lao đao như đôi khi anh ham cày bừa, say nắng. Bà cụ lập cập bỏ rơi cả gáo cám nóng xuống đầu đôi lợn, cất tiếng rên thảm hại:


- Trời ơi, phen này thật chết hết. Làm thế nào bây giờ?


Có tiếng bàn tán xì xào ngoài bờ ruộng, bên kia lũy tre. Thằng Đá níu cánh tay bố, thì thầm:


- Người làng bên đang gồng gánh chạy cả. Hay nhà ta cũng chạy. Con sợ lắm. Cứ liều ngồi đây mà giữ nhà giữ lợn thì chết hết. Con sợ lắm bố ơi!


Xã Bèo lảo đảo bước ra sân. Anh đứng sững nhìn năm gian nhà lá. Mắt hoa mờ, anh nghĩ đến một ngày mai lửa sẽ bốc cao ngùn ngụt thiêu trụi cả cái cơ nghiệp vợ chồng anh trải bao nhiêu nhọc nhằn, tủi cực, đói rách mới dựng nên.


Thấy trong người mệt mỏi, gây gây ốm, anh uể oải bước lên thềm. Cái thềm nhà cũ cứ như lún thấp xuống dần. Anh nhìn mấy đống gạch xếp dưới sân anh nung cách đây mấy tháng, định xong mùa màng sẽ bó thềm, lát sân, xây bể. Từ bao nhiêu năm nay anh chỉ thèm tu sửa năm gian nhà lá cho tươm tất,rồi thì cũng sân gạch, cây mít, gọi là bằng người ta một tý.


- Ấy thế mà cứ đánh giết nhau mãi. Đời chó đểu!


Xã Bèo vẫn thường hậm hực chửi đời một cách đắng cay như thế. Nhưng anh chỉ dám chửi đổng trong cuống họng, chửi đủ cho mình nghe. Anh luôn luôn sợ câu “tai vách mạch rừng”. Những đêm dài sau giấc ngủ say vì làm ăn suốt ngày mệt nhọc, vào lúc gà gáy canh ba anh dậy hút thuốc lào vặt để lo lắng nghĩ đến những câu chuyện giết người, bịt mắt đem đi biệt tích chỉ vì tội nhân đã vạ miệng nói càn cổ động gián tiếp cho quân địch và làm giảm sức chiến đấu của quân dân.


- Khổ quá, khổ quá!


Xã Bèo càng thấy cái mệt mỏi ngấm nghía trong cơ thể. Anh nằm vật xuống giường. Đôi mắt rưng rưng đỏ nhìn trân trân lên mái nhà tối thấp, anh lắng nghe tiếng chuột rúc trên những rui kèo vương mạng nhện. Một con dơi bay ra đuổi muỗi ngày, vụt qua đầu anh.


Xã Bèo lẩm bẩm:


- Chuột rúc ban ngày, dơi ra ban ngày, lạ thật! Thế là thế nào? Điềm xấu chắc?


Anh thấy ớn cả người. Thốt nhiên tiếng phi cơ lại vang ghê rợn ngoài trời, không xa lắm. Anh lắng tai nghe. Thằng Đanh đứng ngoài thềm nói như mếu khóc:


- Thầy ạ, tàu bay bay thấp quá, cứ lượn sát xuống đường xe lửa, bay đi bay lại mãi. Trông thấy cả đầu người trên máy bay.


Xã Bèo ngồi bật dậy. Anh hoang mang đoán sắp có cuộc tấn công dữ dội đến miền này chăng. Bỗng có tiếng súng liên thanh “lục cục” ở đâu đây gần lắm. Thằng Đanh, thằng Đá chạy vào, nhợt nhạt đứng cạnh bố. Bà cụ cũng hốt hoảng bước lên thềm, vấp ngã dúi xuống rãnh mái gianh.


Anh vội chạy ra nâng bà cụ dậy. Người mẹ mặt tái không còn hột máu, kêu trời.


Chị Xã ở chợ về, đặt quang gánh xuống sân, ngoảnh vào trong nhà, vừa thở phều phào vừa nói:


- Chúng đã đến Phố Vàng rồi. Tiếng súng nghe gần quá, hai lần vỡ chợ. Gạo gánh đi lại gánh về, ấy là nhanh mắt nhanh tay giữ được, chứ không thì mất hết rồi.


Nghe vợ nói, anhh càng thấy ớn người. Thôi thế là đích thực! Cảnh chết chóc, bồng bế nhau lìa bỏ đất cát quê hương ít lâu nay vẫn ám ảnh, dọa nạt anh bây giờ đã là sự thực có thể xẩy ra một cách tàn nhẫn, mau chóng.


- Đến Phố Vàng rồi!


Anh thì thầm nói một mình như mê sảng. Que đóm từ nãy cháy giữa mồi thuốc đang hút giở bén vào ngón tay làm anh giật nảy mình.


- Đến Phố Vàng rồi!


Câu nói ấy như lửa đốt lòng anh. Phố Vàng cách làng sáu bảy cây số là cùng. Ở tình thế này, vùng Nguyệt Đức là miếng mồi ngon nằm giữa hai gọng kìm binh lửa. Bên kia đường sắt và đường thuộc địa số Năm, lửa cháy ở vùng Mỹ Hào hai đêm ngày nay chưa tắt. Ở đầu này: Phố Vàng, một khu xóm làng san sát, chúng đã đến thì tất là có lửa và có máu.


Chị Xã từ ngoài ao chạy vào sân, gọi thất thanh:


- Bố thằng Đanh đâu, ra mà xem kìa.


Xã Bèo bước vội ra sân nhìn theo tay vợ trỏ. Qua lũy tre thưa, chân trời phương đông rực lửa và đen khói. Tiếng nổ, tiếng kêu có lúc theo chiều gió xuôi, mơ hồ như vọng từ cõi chết xa vời.


Lý Còng đứng bên kia bờ ao cũng đang nghển cổ nhìn lửa chân trời, nói trõ sang bên anh.


- Cứ yên tâm ông Xã ạ. Lạy thánh mớ bái, Đức Ông chùa ta tối linh, tất ngài che chở cho dân vô sự. Xem như độ năm ngoái, tầu bay thả hai quả bom xuống làng mình, cả hai quả cùng cắm ngập xuống mảnh ruộng trước chùa, không nổ. Chả lo, ông Xã ạ. Trăm sự nhờ trời, nhờ Vua Mẫu hết.


Xã Bèo vốn không bao giờ tin thần thánh, giá người khác nói thì anh phản đối ngay, nhưng Lý Còng là chỗ bà con hàng xóm thân mật nhất nên anh chỉ cười nhạt:


- Trước kia là tầu bay bay qua ngứa tay ném chơi vài quả bom xuống ruộng bùn nên không nổ, chứ bây giờ thì khác, bây giờ súng chĩa tận ngực, dao kề tận rốn thì thần thánh cũng hết hồn.


Lý Còng không nói gì, lẳng lặng quay lên sân. Bác tỏ vẻ không bằng lòng vì Xã Bèo dầu sao cũng đã nói chạm đến Đức Ông chùa làng mà bác muốn ai cũng phải tin chính ngài đã làm hai quả bom tịt nổ.


Xã Bèo lủi thủi dạo quanh vườn. Mấy luống rau cải tốt xanh trên mảnh đất xốp tươi, vợ chồng anh đã dầy công tưới bón mà chưa chắc kịp ăn. Những buồng chuối tiêu đang mẫm quả, anh vẫn để dành chưa chịu ngả. Mấy cây na, cam, hồng bì được chăm bón phân tro, năm nay bói quả, thế mà một sớm mai những gót giầy sẽ đạp xéo tan tành, vợ chồng anh sẽ phải bỏ nhà bỏ đất mà đi. Xã Bèo thấy quặn đau vì ý nghĩ phải xa lìa miếng đất chôn rau cắt rốn.


Chán nản, anh ngồi phệt xuống. Tiếng súng nơi xa bỗng vang rền. Anh ngửa mặt lên trời, muốn kêu lên, muốn thét lên.


Có tiếng nói ồn ào ngoài cổng. Xã Bèo đứng dậy. Một bọn thanh niên vào, dóng dả:


- Ông Xã tối nay đi phá hoại đấy nhé. Nhớ mang sẻng cuốc đi.


Nói rồi họ rẽ ngang sang bên nhà Lý Còng và đi nhiều nhà khác. Càng chán nản, Xã Bèo lại ngồi bệt xuống. Anh thấy nỗi sợ sệt lo âu lúc này làm anh như ốm thật. Nghĩ mình lại vác cuốc sẻng cùng một bọn người quần manh áo mảnh, run lập cập, yên lặng đi trong bóng tối, đến tận nơi xa, phá cầu, xẻ đường, lần mò làm cho đến sáng, rồi mệt nhọc ôm bụng đói trở về để lại ra đồng làm việc như thân trâu ngựa, nghĩ thế Xã Bèo thật không còn muốn sống làm gì nữa.


Cắn chặt môi, anh nắm một túm cỏ nhổ bật lên. Và tẩn mẩn, anh đưa túm cỏ lên mũi ngửi. Mùi cỏ gấu thơm và mùi đất cũng thơm. Anh Xã mân mê tảng đất bám vào rễ cỏ. Anh thấy màu đất đỏ tươi, thoảng mùi hương kỳ dị: mùi đất tổ tiên truyền lại, đã qua bao đời kiếp, đượm mồ hôi cực khổ, và hiện giờ là cơ nghiệp của anh.


- Mưa rét mãi thế này. Cóng cả tay!


Xã Bèo ngoảnh lại. Người vợ ngừng tay xới đất vun mấy gốc mía phía sau lưng chồng, xoa suýt. Xã Bèo nhìn vợ. Người đàn bà hơn mười năm trời nay đã cùng anh chia đói rách, vẫn còn đôi mắt có đuôi, hàm răng đen nhánh giữ nét trẻ tươi cho khuôn mặt trái soan. Chị lại khom lưng vun gốc mía:


- Sao thầy nó không ra đồng xem ruộng gần chùa có cần nước thì khơi rãnh mà lấy nước dưới đầm lên. Cứ ngồi ngây ra đấy mãi thế.


Xã Bèo đứng dậy, nhưng không đi vội. Anh nhìn vợ, lặng yên một lát, mặt bần thần. Một điều nhận xét gì đó làm Xã Bèo muốn nói. Miệng anh hé ra, nhưng rồi lại không nói nữa, cúi đầu đi. Được mấy bước, Xã Bèo quay trở lại, dáng băn khoăn, lo lắng. Anh nhìn bụng vợ, ra vẻ tự nhiên:


-          Thế… bu nó lại có mang đấy à?


Người vợ nghe chồng hỏi đột ngột, ngừng tay làm, ngửng ngay lên, cười rồi khẽ gật. Cái cười làm đôi mắt có đuôi thêm, và hàm răng hôm nay người chồng thấy cũng đen hơn trước.


Xã Bèo bước đến gần bên vợ:


- Được mấy tháng rồi, u thằng Đanh nhỉ!


Người vợ cúi xuống, thẹn thùng như tính chị vẫn thẹn những khi tối đèn tắt lửa gần chồng:


- Hai tháng, tôi tưởng đã nói cho nhà biết rồi!


Xã Bèo lại ngẩn ra một lát, rồi rảo bước ra phía chuồng trâu lấy cái cuốc, đi nhanh ra ngoài ngõ. Bỗng Xã Bèo dừng lại trước lũy tre. Mấy chiếc măng non vừa nhú trồi lên mặt đất. Lòng vui vui, anh nghĩ đến cái bụng xinh tròn của vợ: lại một đứa con nữa sắp ra đời. Thế cũng hay! Măng mọc cho tre ấm bụi. Sau thằng Đanh, mười một tuổi, đến thằng Đá, chín tuổi, rồi tịt đi một thời gian dằng dặc đến bây giờ chị mới lại có tin mừng.


Xã Bèo tươi tỉnh chào hết mọi người, từ anh mõ đến đứa trẻ con nghịch trên đường xóm. Ra ngoài đồng, thấy anh em thằng Đanh bỏ mặc trâu lúi húi đi kiếm cỏ khô hun hang chuột, người bố sung sướng này cũng không chửi ầm như mọi bận. Anh chỉ mắng yêu con, vui vẻ dắt trâu đến bãi cao tốt cỏ rồi vén quần xuống ruộng khơi ngòi lấy nước.


Anh vừa làm vừa hát bằng một giọng ngô nghê, ngượng nghịu, một bài hát mà phong trào đã dậy tất cả trẻ già đều hát.


- A, khá nhỉ, ông Xã có cái gì mà cao hứng thế?


- Lửa mỗi lúc một to ở Phố Vàng. Rồi thì tha hồ mà hát!


Câu nói của hai người làng bên vừa tất tả đi trên bờ ruộng làm tắt hẳn cái vui đang nao nao nở trong lòng anh.


II


Thế rồi, đúng như lời người ta bảo trước, đêm nay Xã Bèo đi phá hoại. Mưa đã tạnh, trời hửng từ chiều. Trăng đầu cữ vàng trên bâù trời lạnh mờ sương nom tựa mảnh lá vàng nằm cô độc trên con sông đêm không bờ bến.


Giữa sân đình làng, hơn một trăm người đàn ông, từ bốn mươi xuống đến mười lăm tuổi, tụ họp trong bóng tối. Người ta gọi từng cái tên một ở trong nhà giải vũ. Tiếng gọi theo tiếng đáp.


- Nguyễn Văn Còng! Thế anh Nguyễn Văn Còng đâu nhẩy?


Có tiếng thưa yếu ớt, rồi ở trong bóng tối nhô ra một người đàn bà. Ánh lửa đĩa đèn dầu lạc soi lờ mò cái mặt răn rúm, sợ sệt của mụ. Đôi mắt toét của mụ nhìn như dán vào khẩu súng và hai quả lựu đạn bên lưng người đó. Mụ nói phều phào:


- Bẩm ông… bố cháu hôm nay khó ở, xin phép ông cho cháu đi thay bố cháu.


Người đàn ông đeo súng cười gằn:


- Chị nói dối. Vừa ban tối, tôi trông thấy anh Lý đi trong xóm cơ mà.


Một người khác cười to một tiếng:


- Tôi biết hiện giờ anh Lý ở đâu, tôi nói nhé: bố ấy đang lên đồng trong chùa ấy. Bố ấy đang lên đồng quan tướng, ghê quá mất thôi.


Mấy người đứng quanh người đeo súng cười phá lên một lúc.


- Có đúng thế không chị Lý?


Người đàn bà cúi xuống, mân mê góc bàn:


- Vâng, bố cháu phải hầu thánh, nếu chịu thánh thì thể nào cũng ốm đau. Xin các ông tha cho bố cháu lần này.


Người đeo súng nghiêm trang như một nhà chính trị nói với ai chứ không phải nói với một mụ đàn bà ngu dốt:


- Không được. Cách mạng không thể dung cho người dân mê tín. Bệnh mê tín làm con người thoái hóa. Óc duy thần làm giảm sức bành trướng của duy vật chủ nghĩa, làm giảm uy lực của cách mạng. Phải đả kích óc mê tín, óc duy thần, bởi vì… bởi vì…


Anh trợn mắt nhìn ra ngoài trời tối để tìm chữ nghĩa, danh từ gì đó, nhưng trời cứ tối mù mù, anh ta cáu kỉnh:


- Bởi vì… cụ Mác bảo thế.


Rồi anh đập tay xuống bàn, nói như một ông tướng cầm quân, khiến mụ đàn bà sợ quá:


- Tôi yêu cầu ba anh đây vào ngay chùa lôi Lý Còng ra cho hắn đi cuốc đất. Hắn sẽ phải cuốc nhiều hơn tất cả mọi người để cho hắn mở mắt xem có thần thánh giúp hay không.


Ba người vâng một tiếng, rồi vác gậy, cầm dao ra đi một cách quyết liệt.


Gió rít ào ào trên hai cây muỗn cổ thụ trước sân đình. Lũ người mình trần khố rách xúm xụm châu đầu vào nhau ở ngoài sân, ở sau tường giải vũ.


Họ rên lên vì rét. Người này người kia tranh nhau cái điếu cầy. Anh nào có thuốc thì lần lưng moi ra vứa đủ một mồi nhỏ, nạp nhanh vào điếu, lấy hết gân cổ ra mà rít. Anh này rít xong, anh khác đã giật nhanh lấy làm sái bập. Người ta giấu kỹ gói thuốc trong lưng để trữ thuốc hút cho đến sáng, và rất sợ ai chìa hai ngón tay ra vê vê trước mặt: “Cho tớ vay một mồi nào”. Đói, rách, người ta chịu được, chứ không có thuốc lào thì tưởng chừng không còn có thể làm ăn gì được nữa.


- Thằng bé cháu nhà tôi sốt, chỉ lo đêm nay giở cơn sài đẹn. Mẹ nó cũng ốm. Cháu nó có làm sao thì thật là giết con tôi.


- Đói bỏ bố đi thế này. Từ sáng mới chỉ có mấy củ khoai vào bụng. Bây giờ đi cuốc cả đêm thì chết mất. Thà chết mẹ nó đi cho xong kiếp chó.


Một người cất giọng yếu đuối trong lúc gục mặt vào hai cánh tay khoanh bó chặt lấy hai cái đầu gối dài xương xẩu:


- Khẽ chứ, khổ lắm. Có muốn bỏ làng mà đi không? Con chết thì chịu vậy. Đói rách thì nghiến chặt răng vào. Khổ, không có quyền kêu khổ. Nếu ai cũng phàn nàn thì còn gì là tinh thần nữa.


- Thế thì cắt mẹ nó lưỡi đi là hết chuyện.


- Ấy thế! Thà như thế!


- Mẹ kiếp, chán đời chưa!


Tiếng thì thào thảm hại, đau sót chìm lẫn vào tiếng ho, tiếng thở dài rười rượi. Ngoài kia, một tiếng cú rỏ vào đêm lạnh dưới ánh trăng héo thượng tuần.


Đoàn người được lệnh xếp hàng đôi để lên đường… Gió càng về đêm càng lạnh. Họ đi sát vào nhau, còng lưng xuống và run rẩy bước. Họ đi tắt xuyên ngang cánh đồng. Tiếng chân dẫm rào rạo lên những chân rạ và cỏ dại trên ruộng khô nẻ nứt. Đến cánh đồng chiêm, họ lội bì bõm, nước và bùn gần đến bụng. Sẻng cuốc vác trên vai, lũ người đói rách đi làm việc nước.


- Đi cho đều, và nếu anh nào bỏ hàng ngũ thì bị trừng trị ngay tại trận.


Người đeo súng truyền như vậy. Không ai đáp, họ ngậm tăm mà bước thấp bước cao, qua bãi, qua gò, rồi lại lội bì bõm qua ruộng nước.


Từ nãy, Xã Bèo đi bên cạnh Lý Còng ở cuối đoàn người. Anh Xã thở dài sườn sượt. Bó cuốc sẻng trên vai anh thỉnh thoảng va chạm vào nhau bật thành tiếng động trong đêm tối.


- Trời ơi là trời!


Tiếng ai thốt ra khe khẽ để rồi chìm vào tiếng giun dế kêu trên cánh đồng mù mịt.


Lý Còng bấm tay Xã Bèo, lùi lại một bước, rồi ngửa mặt lên trời mà nói cho gió lạnh mang đi:


- Ông Xã ơi, không biết cứ thế này thì đời mình sẽ xoay ra đến thế nào.


Xã Bèo nói như thở hắt ra:


- Biết thế nào mà hỏi. Cái đó còn tùy thiên địa vận. Khổ cực thì chịu vậy, chứ trời nào biết cho mình mà cứ gọi trời. Tôi tưởng không có trời ông ạ. Chỉ có người thôi, mà con người ta thì ác quá, càng ngày càng ác.


- Suỵt, nói gì mà nói nhiều thế? Sắp đến nơi rồi, không biết gió suôi à, ở đây gần bốt địch, súng nó nã ra thì đi đứt ráo cả.


Người đàn ông đeo súng quát lên như vậy. Mọi người bắt đầu sợ sệt, im lặng bước như một đoàn âm binh. Đi được quãng nữa, cả đoàn được lệnh dừng chân. Đây là con đường trải đá xuyên lên tỉnh. Người đàn ông đeo súng ra lệnh cho mọi người làm việc. Những nhát cuốc tới tấp bổ xuống mặt đá rắn làm chùn những cánh tay yếu mệt, những tiếng sẻng súc đất ghê rợn phá cái yên lặng đang triền miên chảy dưới trời đêm. Tiếng thở phì phào lẫn tiếng ho của người này người khác. Ở đâu xa, chân trời đôi khi rạn vỡ vì tiếng súng.


Họ chia từng tốp để thay nhau làm. Một bọn vừa được nghỉ, xúm dưới gốc cây đa bên đường, thổi mồi rơm hút thuốc lào. Người đeo súng thét lên:


- Bốt địch chỉ cách đây hai cây số. Các anh bật lửa thế kia thì “moóc chê” nó câu ra nát sọ bây giờ đó.


Câu nói ấy khiến mọi người rụi mau đóm lửa. Nhưng họ không nhịn được cơn thèm mãi, dù là nguy hiểm treo ở trên đầu. Họ ngồi quây tròn lại che ánh sáng. Chiếc điếu cầy rít lên sòng sọc chuyển qua những bàn tay lóng cóng.


Xã Bèo ném cuốc xuống, ngồi lên cái cán. Anh lầm lì nhìn hết mọi người. Những bộ mặt quằn quại nét lầm than khổ cực chìm vào bóng tối dằng dặc của đêm dài. Xã Bèo thấy thương cho người, và thương cả cho mình.


Anh ngước nhìn lên trời. Bầu trời thăm thẳm và mênh mang gió. Đầu gục xuống hai đầu gối, Xã thở dài chán nản.


Gà đã gáy ở thôn xóm gần đây. Lý Còng ngồi bó gối ngả đầu vào vai Xã Bèo, nhắm nghiền mắt lại. Bác ta vốn yếu gày, quanh năm ăn nhờ vợ trên mảnh đất xơ xác dăm ba khóm chuối cằn, mấy luống rau và vài con gà vịt nuôi gây giống. Thế mà hai vợ chồng vẫn ít khi phải nhịn đói nhường cơm cho lũ trẻ con lít nhít trong gian nhà lá hẹp như cái chuồng lợn bẩn. Lúc nào bác cũng tin có thần thánh độ, không bao giờ chết được. Vậy mà đêm nay Lý Còng nơm nớp sợ. Vừa cuốc bác vừa nhìn về cái bốt giặc ở xa kia. “Nếu chúng dọi đèn pha, thì chỉ một tràng liên thanh là không còn một mống” - Bác nghĩ vậy, rồi khẽ thì thầm bên tai Xã Bèo.


- Ghê quá ông Xã ạ. Ai lại dẫn thân đến trước hang hùm nọc rắn thế này cơ chứ, ông có trông thấy cái chòi canh lờ mờ xa kia không, hình như có ánh đèn. Tôi đến sợ mà đủ chết.


Xã Bèo nhìn về phía chân trời vừa lóe lên một vạch sáng lại tắt đi ngay.


Đang phẫn uất, Xã thoáng nghĩ đến cái chết, ngẩng lên, chặc lưỡi:


- Tôi chẳng còn thiết gì đời nữa. Tình cảnh này, không chết nay cũng chết mai.


Một tiếng truyền:


- Làm nhanh cho xong việc. Phải rút lui trước khi hẩng sáng. Cứ lúng túng là chết hết.


Lý Còng bật hẳn người lên. Anh vội đi trước Xã Bèo để tới khúc đường đang cắt dở.


Khoảng canh ba, người đeo súng ra lệnh rút lui sau một quãng đường dài đã bị hoàn toàn phá hoại.


Về đến làng thì trời sáng rõ. Xã Bèo mệt mỏi rừ cả thịt xương. Anh lên cơn sốt, nằm thẳng cẳng dưới chiếc chăn dạ rách. Bà mẹ gọi ngay thằng Đá bảo đái vào cái bát ngô. Bà cụ xoa nước đái vào đầu con, rồi lấy chổi sể đốt, lia đi lia lại dưới gầm giường. Anh Xã tỉnh dần. Bà mẹ vốn đã quen dùng lối cứu chữa ấy từ mấy chục năm nay. Ngày xưa ông cụ Đám Bèo quanh năm ốm yếu và quanh năm say rượu. Rượu say, có bữa ông nhảy xuống ao vớt bèo hay đánh cá để rồi bị cảm. Bà cụ chỉ chữa bệnh chồng bằng cách xoa nước đái và đốt chổi. Bà đi mách lối chữa ấy cho tất cả mọi người, đến nỗi lão lang Nghệ bên hàng xóm tức giận đã mấy bận chửi đổng ở bên kia hàng rào.


Chị Xã đi thăm đồng về, thấy thằng Đá báo tin bố nó cảm, vội chạy ngay vào buồng. Chị ngồi bên giường, sẽ đặt tay vào chân chồng. Lòng nao nao, chị thương chồng bằng tất cả tấm lòng người đàn bà đức hạnh. Không lúc nào chị quên rằng vợ chồng lấy nhau hơn mười năm nay, đã chia sẻ với nhau bao nhiêu đói rách, dắt nhau đi ở nhờ ở vả, làm thuê gánh mướn, hai vợ chồng chẳng hề đánh chửi nhau. Đến bây giờ, chuộc lại miếng đất tổ, dựng được nếp nhà lá, rồi thì cũng trâu cầy ruộng cấy, con cái lớn khôn, chị Xã thấy cái tình nghĩa của mình đối với chồng con càng thêm nồng mặn.


Chị kéo chăn đắp kín đầu chồng. Xã Bèo đã ngủ, tiếng ngáy đứt quãng vì thỉnh thoảng lại giật mình. Người vợ rón rén bước qua cái ngưỡng cửa hơi cao. Khép cửa buồng lại, chị khẽ nâng cánh liếp cho khỏi có tiếng kêu cót két. Chị xuống bếp nấu cháo cho chồng ăn, nghĩ rằng chỉ một bát cháo nóng trộn hành tươi với lá tía tô, mồ hôi thoát được ra là bệnh khỏi.


Bà mẹ già đang ngồi quấy cám bèo. Chị Xã đặt nồi lên bếp, cời rơm đun, khẽ nói:


- Bà cứ lên nhà để con đun cả một thể. Còn sớm, đã đến bữa nó ăn đâu mà vội.


- Thôi ạ, cô để tôi đun. Không làm thì người ta nhiếc cái con gái già còng lưng ăn hại cơm gạo của người ta. Dào ôi, mẹ nuôi con như sông như bể, con nuôi mẹ con kể từng ngày. Chém cha nó, chứ con với cái.


Chị cúi xuống cời rơm đun nồi cháo. Không mấy khi chị đáp lại lời đay nghiến của mẹ chồng. Chị biết rằng mẹ già trái nết và tự xét mình cũng chẳng hư hỏng gì, thôi thì cứ nhịn, nhục đi cho cửa nhà êm ấm. Trước kia có thế đâu. Bà cụ mới sinh ghét bỏ con dâu từ khi có gian cửa gian nhà, mua được con trâu con lợn, quanh năm trữ được vài ba cót thóc. Mẹ con hồi đói rách thì chả có chuyện gì. Bây giờ, mẹ chồng con dâu sung khắc nhau; đã nhiều đêm, chị nghĩ đến mà tủi cực khóc âm thầm. Chị đã ốm gầy đi một dạo vì nghĩ ngấm nghía không hiểu tại sao mà bị mẹ chồng rẻ rúng trong khi mình làm ăn khó nhọc, thu va hà vén từng hạt thóc rơi, cơm vãi. Trong làng ngoài xã ai cũng khen chị chịu thương chịu khó, ý tứ nết na, hễ đi làm đồng về lại cuốc vườn nhổ cỏ, tưới rau, chả ngồi không một lúc nào. Nhưng rồi chị cũng hiểu cái cớ bị mẹ chồng ghét bỏ mình: “Hay hớm gì cái dòng dõi quân trộm cướp giết người ấy. Thằng Bèo ôi, mày làm cho ốm sác, mà nhà không có đức thì rồi cũng mồ hôi ra sông hết. Nó bòn rút hết, nó đem đi cho bố nó. Mày tưởng nó thu vén cho mày đấy phỏng”. Người con dâu một hôm vừa dắt trâu về đến cổng, nghe thấy bà cụ Xã nói với con trai bà như vậy. Hôm ấy chị đã bỏ ăn, ra cánh đồng khóc mất nửa ngày. Chợ nhớ lại, xưa kia bố chị là một tay chơi có tiếng ở vùng này. Nhưng đó là một tay chơi nghĩa khí. Ông lấy của bọn giầu độc ác để giúp những kẻ nghèo. Rồi ông bị trọng thương trong một cuộc châm lửa đốt nhà người ta. Ông vẫn sống, nhưng ốm đau sa sút dần dần.


Hồi ấy chị mới lên mười. Lớn lên, chị nổi tiếng đẹp ở xã này. Anh yêu cặp má hồng, đôi mắt bồ câu đen nhánh của cô gái làng bên. Bà mẹ không bằng lòng, chê rằng nhà ấy không có đức, bố trộm cướp, con thì rồi cũng đến đĩ thõa theo trai. Anh Bèo đã nằn nì xin mẹ. Bà mẹ phải gượng bằng lòng. Người con gái đã về làm dâu, và đôi vợ chồng trẻ rủ rỉ làm ăn như đôi gà trống, mái nhường nhịn yêu thương nhau; bây giờ, gọi là ấm no một chút, chị lại sầu tủi vì nông nỗi mẹ chồng ghẻ lạnh, bêu xấu hết với họ hàng cùng hàng xóm. Ai cũng biết, nhưng chẳng ai khinh ghét chị. Trên kính dưới nhường, chị được người ta hiểu; anh Xã thường khẽ an ủi chị ở trong buồng: “Mẹ già lẫn cẫn. U nó cứ tin ở lòng tôi…”, chị đã lau khô nước mắt để rồi lại tươi tỉnh chiều chuộng mẹ chồng, và cặm cụi làm ăn.


Nồi cám đã chín dừ. Bà cụ bắc nồi ra. Miệng nồi nóng bỏng, bà cụ suýt soa, lẩm bẩm:


- Chồng nó ốm thì nó hầu. Giá gái già này có ốm, nó càng mừng rơn, rủa cho mà chết còng queo.


Chị cúi gục đầu. Ánh lửa rơm rọi long lanh mấy giọt nước mắt từ từ chảy xuống đôi má nhợt xanh. Chị đắp chiếu nhìn nồi cháo sôi sùng sục, trào bọt trắng ra cả bên ngoài. Chị thấy lòng mình nao nao, cuồn cuộn một niềm nhục tủi.


Tiếng chó sủa ran ngoài ngõ. Một người trẻ tuổi đeo súng và lựu đạn tiến vào sân, theo sau, hai người răng đen mặc tây và lê đôi ủng da, bước vụng về như gã lính chào mào.


- Anh Xã có nhà không đó?


Bà người bước lên thềm, cúi đầu xuống cho khỏi chạm mái gianh.


Chị ở trong bếp vẫn né mình sau đống rơm, ngấp nghé nhìn bọn khách lạ mặt đỏ gay đang vang vang cười nói trên sân nhà mình.


Tiếng anh Xã trong buồng rên rỉ nói vọng ra:


- U thằng Đá đâu rồi. Ai hỏi đấy?


Chị xưa nay vốn nhát, rất sợ người đeo súng, nhất là người đeo súng ấy lại đang ngồi giữa nhà mình. Nhưng dù sợ đến đâu mà nghe tiếng chồng rên rỉ trên giường bệnh, chị cũng phải liều rón rén bước lên chào khách.


Người đeo súng gieo mạnh cái mình béo tốt xuống giường giát tre cót két, nhìn vào mặt người đàn bà sợ sệt.


- Có lệnh tiêu thổ, chúng tôi yêu cầu anh chị dỡ ngay nhà để rồi chờ lệnh tản cư.


Câu nói như sét đánh ngang trời. Mắt chị mở tròn, miệng hé ra, tay đang cầm siêu nước sôi rơi xuống đất, nước nóng dội vào bàn chân, chị giẫy lên, nhảy lùi trở lại. Một tiếng kêu bật, thảng thốt:


- Thưa ông…


Người răng đen đi ủng kéo cái điếu cày lại gần, đánh diêm hút sòng sọc, nói bằng một giọng khàn:


- Mà phải dỡ ngay nội ngày mai cơ đấy. Dỡ lấy thì còn được cái rui cái kèo nguyên vẹn chờ một ngày kia lại dựng lên. Chứ để người đến dỡ hộ thì cứ là đi đứt ráo.


Có một tiếng động mạnh trong buồng. Chị bước đến ngưỡng cửa, đẩy cánh liếp ra: người chồng ngã dúi trên mặt đất. Chi vội nâng chồng dậy. Anh Xã rên thảm thiết:


- Thế là nghĩa thế nào. Không. Không. Tôi không dỡ nhà, tôi không đi đâu hết.


Chị cố sức vực chồng lên giường. Giọng chị run như khóc:


- Bố nó! Bố nó! Nói khẽ chứ.


Anh muốn nói, nhưng rồi mắt anh bỗng nhắm lại, hai tay chới với, kều quào trong bóng tối. Chân anh khẽ giẫy đạp vào vách đất. Chị thốt kêu lên:


- Bố thằng Đanh! Bố nó làm sao thế này?


Ngoài sân, con mực đuổi sau chân khách, sủa vang. Bị một hòn gạch ném trúng đầu, con vật vẫn cất tiếng sủa át tiếng cười của ba người lạ mặt.


Anh Xã vùng ngồi dậy, xô cả người ra ngoài ngưỡng cửa buồng. Không còn ai ngoài kia nữa. Chỉ còn con chó đứng trên thềm nhìn anh, mắt nó đỏ ngầu, lưỡi nó thè ra hừng hực thở. Anh quay vào, ngã xuống giường. Chị ngồi bên, nắm tay chồng, thổn thức.


III


Làng Nguyệt Đức cũng như bao ngôi làng khác thuộc Phủ Thuận Thành miền đất Kinh Bắc nhớn nhác về cái tin tiêu thổ, chờ lệnh triệt để di cư. Xã Bèo lại ốm hơn. Nhưng không nằm yên được trong buồng, anh dò ra ngoài nhà đứng sững, mắt đỏ ngầu nhìn bức hoành phi ám khói hương, cái ngai thờ sứt mẻ, đôi câu đối giấy cũ rách. Trong đời, anh tôn trọng nhất bàn thờ tổ, và sau cùng anh yêu quý nhất con trâu. Bây giờ, nhà dỡ bỏ đi, cái bàn thờ này anh biết để đâu? Người ta sẽ đến cướp đi, đem về cho vào lửa.


Anh nghĩ mới ngày nào, cách đây chừng năm sáu năm thôi, vợ chồng anh dựng nếp nhà này lên với bao nhiêu mồ hôi nước mắt. Vợ chồng anh đã lo từng mớ rơm, nút lạt, từng mẩu tre, cho đến một nắm bùn trát vách. Căn nhà ấy thoạt đầu có ba gian, mãi đầu năm ngoái vợ chồng anh cố nối thêm hai gian nữa, sau khi dành dụm mua lấn sang mảnh đất vườn rau của Lý Còng.


Vậy mà ngày nay đất trả lại trời, và nhà lìa bỏ đất.


- Thế này thì có khổ không, ông Xã ơi! Nhà cửa như vầy mà dỡ hết để rồi dắt díu nhau đi tha phương cầu thực nơi nào cho khỏi chết?


Lý Còng ở vườn sau nhà mình, xé bờ giậu bước sang sân nhà Xã Bèo, ủ rũ nhìn nếp nhà chạy dài trước miếng sân vuông của anh Xã mà than thở vậy.


Anh Xã ngoảnh lại nhìn ông bạn láng giềng, rồi hếch cái miệng vẩu lên trời vẻ nhăn nhó oán hờn, khổ não như con khỉ độc.


- Thật là trời không của mình, đất chẳng của mình. Dỡ nhà bỏ đất, bỏ làng, rồi đi đâu, làm gì mà sống hả?


Chị đứng sau chồng ngơ ngẩn tiếc những luống rau xanh tốt. Giá cứ bình yên thì hai sào rau dưa này cũng đủ nuôi gia đình. Cả làng ai vào cũng thích vườn rau và cứ làm lạ không biết chị Xã tưới bón ra sao mà xu hào, cải bắp to thế. Lại thêm mấy luống thuốc lá mà chị đã cất công lên mãi phố Hồ cách làng mười cây số để mua hạt giống của gã lang Tàu. Anh Xã đã nhiều lần hái thuốc tẩm rượu thái phơi đầy một nia to.Anh mới có một chiếc tẩu,nhờ người quen ra tỉnh mua hộ. Chiều chiều, vừa xong bữa cơm rau cà căng bụng, anh nằm khểnh phì phèo hút thuốc, ngắm ngai thờ, hoành phi, câu đối, rồi lại nhắm mắt mơ tưởng một ngày kia con trâu sẽ đẻ, đàn gà vịt sinh nở đầy sân, và cao hứng thì anh sẽ làm một cái chuồng chim lên cây hồng tàu đại bên bể nước mưa, gây mấy đôi cho nó đẻ, nó gù ghì, quấn quít nhau như… vợ chồng mình cho vui cửa vui nhà, cho có vẻ phong lưu một tí. Mơ ước ấy đã làm anh Xã say cùng với cái say của tẩu thuốc lá thơm ngon. Anh hút ở nhà, ra đồng anh cũng ngồi bờ ruộng phì phèo những khi đã tát nước hay cấy xong vài thửa ruộng.


- Hết! Thế là hết cả! Thế là xong!


Lý Còng lủi thủi đi ra, tiếng nói lầu nhầu bật qua bộ ria mép rậm cứng, nặng nhọc như hơi thở con trâu cầy.


Xã Bèo quay nhìn vợ. Chị vẫn cứ nhặt sâu trên những lá rau lá thuốc, cặm cụi và chăm chỉ như mọi sớm chiều. Anh Xã thở dài, giọng anh phều phào trong cơn sốt đang ngấm nghía thịt xương anh:


- Mai dỡ nhà bỏ đất, còn nhặt sâu nhặt bọ làm gì nữa.


Chị Xã ngẩng lên. Hai mắt chị loáng ướt không nhìn chồng mà nhìn vào khoảng trống không, khẽ chớp. Đôi mày chị cau ríu lại làm tối thêm khuôn mặt khô héo như chiếc lá rau cằn vừa ngắt bỏ. Bâng khuâng, chị nói đủ cho mình nghe.


- Làm thế nào bây giờ, bố thằng Đanh?


Người chồng đáp ngẩn ngơ:


- Làm thế nào! Làm thế nào! Cưỡng sao được, mà cưỡng thì bỏ xác chứ chơi à! Súng nó sắp đến kia.


Anh thở dốc một hơi dài, an ủi mình và an ủi vợ:


- Thì khắp các nơi đều cửa nát nhà tan như thế cả, riêng gì mình. Thiên hạ còn đau đớn gắp vạn mình ấy chứ. Nói ai xa, ngay như ở làng này, lão Hàn Cự mới đau bằng hoạn. Nhà tây, sân gạch, sập gụ, sà lông tàu sang như dinh như điện, thế mà dỡ đi, chẻ đi, thì cứ là lão phát điên.


Giọng anh bỗng run nhỏ như thầm thì:


- Còn nhà mình, mấy gian nhà tre ọp ẹp chửa bằng cái chuồng trâu, chuồng lợn nhà người ta, thôi thì cứ coi là không có như ngày nào vậy, chứ tiếc sao được nữa.


Chị Xã ngoảnh nhìn chồng, mắt hoe hoe:


- Chuyện bố thằng Đanh! Người ta phá nhà tây này, rồi mai kia người ta xây nhà tây khác to gấp đôi ngay được, chứ mình mất nhà thì cứ rúc bờ chết bụi suốt đời như đàn chó đói. Thế mà bố nó cũng đòi ví ví von von.


Cho ngay là vợ mình nói phải, anh Xã lại thừ ra. “Rúc bờ chết bụi như đàn chó đói” - câu nói đắng cay của người vợ ít nhời ít điều thế mà khi nào cần nói thì thật là chắc chắn, sâu cay.


- Làm thế nào được bây giờ!


Anh Xã thảng thốt ngẩng lên nhìn đàn cò trắng bay ngang bầu trời tối thấp, tiếng loài chim tha phương kêu gọi đàn, buồn thảm vọng theo gió chiều lạnh giá. Anh vụt nghĩ đến ngày mai, ngày kia là cùng, nhà cửa không còn, đất ruộng bỏ hoang cỏ mọc, vợ chồng anh sẽ cõng dắt mẹ già, con nhỏ, lang thang trên đường xa với đoàn người thân run áo rách. Đoàn người không cửa không nhà ấy biết đi về đâu. Họ sẽ đi như một đoàn kiến lụt. Họ sẽ đi như một đàn chó lạc, mèo hoang. Trong khi ấy, chị Xã đăm đăm nhìn qua lũy tre thưa, xa xa khói đen vẫn dâng ngút lên như núi. Chị rùng mình, hai bàn tay nắm chặt cán cuốc, khẽ cắn vành môi tê lạnh. Cũng như anh Xã, chị tưởng tượng cái cảnh sắp bỏ làng ra đi. Bỗng nhiên thấy bụng quặn đau, mặt mũi sầm tối lại, chị ngồi bệt xuống luống rau.


Thằng Đanh dắt trâu ở đồng về. Con vật no căng bụng, béo múp, nặng nề bước trên sân. Thằng Đá lon ton quẩy gánh cỏ đầy, đổ vào chuồng cho trâu ăn tối. Vợ chồng anh Xã nhìn con trâu rồi nhìn hai đứa con mới tí tuổi đầu đã biết làm ăn ngoan ngoãn, không hề kêu ca, vòi vĩnh. Vợ chồng anh càng thấy não lòng thương con và thương vật, lo lắng đến ngày mai không biết rồi bỏ nhà ra thất nghiệp, con mình sẽ xanh xao rách rưới đến thế nào, và con trâu chắc gì còn được béo khỏe như bây giờ nữa.


Ngày hôm sau, một lệnh cấp tốc nữa truyền ra, dân làng Nguyệt Đức giỡ nhà cuống quýt. Trong khi ấy tiếng súng ở Phố Vàng liên tiếp nổ và khói lửa thiêu tàn vùng đó bỗng lại bốc mãi lên làm đỏ rực nền mây xám nặng chĩu. Xã Bèo vẫn chưa khỏi sốt. Nhưng anh cũng phải làm ngay cái việc dỡ nhà. Anh lẩy bẩy trèo lên nóc, bốc rạ và tháo rui kèo vất xuống sân. Chị Xã cùng anh em thằng Đanh vừa khóc vừa lúi húi nhặt những mảnh tre mọt nát buộc xếp gọn vào một chỗ. Rơm rạ và bụi bậm bám vào quần áo đầu tóc, mẹ con chị Xã cũng chẳng cần phủi nữa. Chị khóc sưng cả mắt.


- Khóc làm gì nữa! Khổ lắm! Cứ khóc mãi thế thì tôi đến phát điên, tôi đến đâm đầu xuống đất cho xong kiếp.


Anh Xã thét lên với vợ, cứ như là đang nói với trời vậy. Từ trên nóc nhà cao, anh ngửa mặt nhìn trời mà nói. Nước mắt anh chẩy ròng ròng, anh khóc còn nhiều hơn người vợ, nhưng không ai biết rằng anh khóc, người không biết mà trời cũng không hay. Răng anh nghiến lại, mắt anh mở trừng trừng, không trông thấy gì hết. Cơn sốt hòa với nỗi phẫn uất, làm xương thịt anh Xã lịm tê đi. Hai bàn tay run cóng bám chặt vào chiếc xà tre lúc này như sắp rời ra để đẩy anh rơi cả cái mình gầy xuống đất. Mắt càng thêm hoa váng, anh nhắm lại, và càng bấu chặt tay vào cái xà tre. Tuy nhiên, anh thấy run hơn trước, run bắn người lên như lại trở về cơn sốt rét dữ mấy đêm nay.


Chị Xã ngẩng nhìn chồng, kêu to:


- Bố thằng Đanh! Bố nó làm sao thế?


Rồi vội bắc chiếc thang vào cột, chị trèo lên đỡ chồng. Anh Xã xuống đất, mồ hôi vã ra tuy trời gió lạnh. Bà cụ te tái ở đâu về khóc rống từ ngoài ngõ. Chị cũng nức nở khóc to. Anh em thằng Đá òa theo mẹ. Anh Xã trợn mắt nhìn mọi người. Những người thân yêu máu mủ của anh. Anh sẽ bồng bế mẹ già ra đi, anh sẽ trôi nổi phương nào với lũ người, đàn vật? À, con trâu của anh. Tất cả cuộc đời anh gửi vào con vật ấy. Anh sống vì nó, với nó, cũng như anh ham sống, cần sống với cha mẹ, vợ con. Ngày mai anh sẽ dắt nó đi đâu. Ngoài kia, đường xa thẳm đến chân trời, con vật và anh, và cả một cái đuôi dài lẽo đẽo sau lưng, không biết rồi có đủ sức mà chịu nổi được mưa dầm, gió bấc, cơ hàn, tật bệnh.


- Sao lại đến nông nỗi này, trời đất ơi!


Xã Bèo kêu trong nỗi nghẹn uất, tiếng kêu trời xoáy nghiến trong đầu óc đang bốc cháy, anh vùng đứng lên như điên dại:


- Cho nó mất sạch cả đi, thế là xong.


Dứt lời, Xã Bèo kéo cái cột tre. Cái cột trườn mạnh ra ngoài miếng đá kê trên nền đất, làm rung động tất cả rui kèo. Cái cột bật ra khiến Xã Bèo ngã ngửa. Chị nâng chồng dậy. Anh ngồi lên, ê ẩm cả thịt xương.


Thấy động, đàn chim sẻ hoảng hốt bay vù, cùng mấy con giơi loáng choáng liệng ra ánh sáng ngày. Tiếng chim kêu xáo xác, tiếng khóc ri rỉ của bà cụ Xã đang ngồi gục ngoài đống tre, đống rạ; bàn thờ, giường phản ngổn ngang xếp đống ngoài sân.


Ở bên kia bờ tre thưa, Lý Còng cũng đang giỡ mái, phá cột, phá vách. Lý Còng uống say hơn mọi ngày. Bác vừa hát vừa cười khanh khách, trèo lên giỡ từng nắm rạ ném tung ra bốn phía. Bác ngồi vắt vẻo trên nóc nhà, hát cười điên dại. Người vợ cũng khóc cùng với đàn con lúc nhúc, bên một bày gà con nhớn nhác rúc vào bụi cây tránh con diều hâu đang đánh vòng nhòm nhó xuống.


Lý Còng ngồi vắt vẻo trên nóc nhà cao nhìn sang bên anh Xã, nói gào lên:


- Giỡ làm gì, sốt ruột. Đốt mẹ nó đi cho xong, anh Xã!


Rồi bác thét to hơn:


- Này tôi đốt đây này, bà con làng nước ôi, tôi đốt nhà tôi đây này!


Nói, làm liền. Lý Còng móc túi lấy bao diêm. Lửa diêm bén ra, nghi ngút khói. Lửa bốc lên nhè nhẹ, rồi cao, cao dần.


Vợ con bác Lý kêu ầm trời đất. Lửa cháy càng cao. Cả làng kéo đến, hò Lý Còng trèo xuống. Nhưng bác cứ đứng ngây nhìn lửa cháy, không cười hát như ban nãy nữa, bác khóc như vợ, như con. Mấy người đàn ông trèo lên lôi bác xuống. Lý Còng không xuống bằng thang mà cứ để cho cả người tuồn tuột theo mái dốc rơi bịch xuống sân. Lửa ngùn ngụt cháy. Khói và lửa theo lên với gió. Người ta xúm quanh đám lửa, nhưng không ai nghĩ đến việc cứu chữa như những khi hỏa hoạn xảy ra. Mọi người lặng nhìn lửa cháy, yên lặng, cam đành nhìn cả cơ nghiệp của mình tan nát vì loạn lạc.


Từ nãy, anh Xã vẫn ngồi yên trên đống tre, rạ bề bộn của nhà mình nhìn sang bên kia bờ tre thưa, lửa rừng rực bốc trên mái nhà bác Lý. Bà cụ càng khóc to sau đống rạ. Vợ con anh Xã không còn nước mắt mà khóc nữa, họ mở to mắt, há mồm nhìn ngọn lửa. Đôi lợn giống của Lý Còng sợ lửa phá chuồng xông cả sang bên sân anh Xã. Không ai đuổi theo bắt lợn, vì vợ con bác Lý đang cuống cuồng chạy thóc trong căn buồng bốc lửa, đổ bừa ra ngoài sân.


Anh Xã nghĩ đến đôi lợn và hai cót thóc của nhà mình. Giọng anh như hụt hơi:


- Ừ, thóc, lợn thế kia, bây giờ biết bán cho ai. Của mười bán một, bán cũng chẳng ai mua mà bán.


Chị Xã càng không biết nói gì, cúi đầu. Người chồng yên lặng một lát, rồi ngẩng lên nhìn về phía chuồng lợn, chuồng trâu:


- Hay là u nó đưa mẹ, đưa con đi trước vậy. Đánh cả trâu đi. Tôi ở nhà bán lợn, bán thóc xong, rồi…


- Rồi… biết đâu mà tìm nhau. Lạc thì khổ. Không, bố nó cũng phải đi. Người sống lại làm ra của. Ngồi mà giữ của nhỡ mạng toi, mẹ già, vợ con nheo nhóc biết trông vào ai.


Anh Xã lại gục đầu nhìn xuống. Bỗng ở xóm giữa làng có một tiếng vang động rung mặt đất. Lát sau, thằng Đanh từ đâu chạy về, nhớn nhác:


- Nhà ông Hàn Cự đổ rồi bố ơi! Tường dầy quá, ông Hàn phải phá nhà mình bằng mìn mới đổ. Ông bà ấy tiếc nhà chết ngất đi. Ghê quá.


Vừa lúc ấy, tiếng người ngoài ngõ nói vọng vào:


- Anh Xã giỡ nốt nhà đi, mau lên. Có nghe thấy tiếng súng hay không mà cứ ỳ ra thế hả?


Tiếng người nói quen tai, anh Xã biết là người đi ủng hôm qua. Tiếng cười của người ấy lại rộn bên sân Lý Còng.


- À, bác này khá lắm. Cứ đốt đi rồi mai đây ta xây nhà mới. Đời mới cái gì cũng mới, cần cóc gì mà tiếc. Hoan nghênh Lý Còng!


Lý Còng không đáp. Anh Xã chỉ nghe thấy tiếng bác Lý gái khóc rống lên như là nhà có đám tang. Anh Xã lại như điên. Anh vùng đứng dậy, phá nhà. Người vợ và hai thằng con cũng giúp chồng làm cái việc xé lòng cắt ruột kia. Lý Còng chạy sang, mặt còn tái mét vì rượu ngấm, và mắt còn đỏ ngầu vì đã khóc nhiều trước lửa.


- Nào thì giỡ quách nó đi để rồi mai kia xây nhà mới mà ở cho nó sướng!


Nói rồi bác Lý cởi phăng chiếc áo tây vàng ném xuống đất, nhảy vào hăm hở phá nhà giúp bạn láng giềng. Cột này đổ theo cột khác, rui kèo rơi bừa bãi xuống đầu, nhưng không ai tránh bởi vì lúc này người ta không còn biết đau, không còn biết sợ chết là gì nữa. Mỗi lần đầu bị sưng lên, bác Lý lại cười khanh khách. Và mỗi lần bác Lý cười tiếng khóc của bà cụ, của chị Xã lại nấc lên. Anh Xã không thể khóc như mẹ và như vợ. Anh đau lịm với ý nghĩ mỗi tảng vách đổ xuống là một mảng thịt anh bị cắt, mỗi cái rui kèo rụng xuống ấy là xương cốt anh vừa bị ai moi rút.


Bà cụ đứng nhìn chuồng lợn, chuồng trâu. Bà không khóc vì nhà cửa nữa, bà khóc những con vật mà bao nhiêu ngày tháng bà đã còng lưng chăm nuôi như ngày xưa bà đã chăm đàn con đến bây giờ chỉ còn sống sót có anh Xã Bèo.


- Rô ta, nào rô… ta!


Lý Còng hăng hái lấy hết gân cốt cùng với Xã Bèo kéo một cái cột cuối cùng. Cái cột bật ra mạnh quá làm Lý Còng ngã lăn quay. Xã Bèo cũng ngã theo liền. Bác Lý cười sằng sặc, bác ôm cột ngửa mặt lên mà cười, như con đười ươi giữ ống. Bác cười to, tưởng chưa bao giờ bác có dịp được cười như vậy. Nhưng rồi tiếng cười tắt nhanh chóng. Lý Còng ngồi thừ mà nhìn vọng sang đám lửa cháy trên đất nhà mình, nước mắt ròng ròng rơi xuống má, lăn xuống chòm ria rậm cứng. Bác gục đầu nức nở khóc. Chao ôi! Lý Còng cười khóc như một đứa trẻ thơ, trong khi ấy Xã Bèo vẫn chưa ngồi dậy. Anh nằm co quắp, gối lên hòn đá kê chân cột, nhắm mắt trong cơn sốt để nghe tiếng khóc của Lý Còng.


Mưa bay mù trắng ngoài cánh đồng sau lũy tre thưa rụng lá. Tiếng tường đổ, tiếng ngói rơi, lẫn vào đó tiếng khóc, tiếng kêu của con người, con vật, ran từ xóm này sang xóm khác.


(còn tiếp)


Nguồn: Đất. Tiểu thuyết của Ngọc Giao. NXB. Cây Thông,1950. Bản này đã được tác giả chỉnh lý năm 1991. Rút từ Tuyển tập Ngọc Giao. NXB Văn học chuẩn bị xuất bản.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 10.12.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 10.12.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 07.12.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 07.12.2019
Trăm năm cô đơn - Gabriel Garcia Marquez 06.12.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 05.12.2019
Trên sa mạc và trong rừng thẳm - Henryk Sienkiewicz 05.12.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 05.12.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 02.12.2019
xem thêm »