tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29457400
Tiểu thuyết
19.08.2019
Thomas Mann
Gia đình Buddenbrook

Chú miễn cưỡng đọc thêm một câu, nhưng không sao đọc nổi câu tiếp theo nữa. Tính điệu thê lương của bài thơ đã chiếm lấy tâm hồn chú, chú cảm thấy đau khổ vô cùng, không đọc thành tiếng được nữa, cứ để cho nước mắt trào ra. Bỗng chú nhớ tới những đêm trước kia, chú mong sao mình được sống lại một đêm như thế: đau cổ, khó chịu hoặc lên cơn sốt rồi lên giường nằm, bà Iđa đem nước cho uống rồi âu yếm đặt lên trán một cái khăn mùi xoa ướt… Chú nghiêng người, gục đầu xuống cánh tay nắm chặt cái ri đô khóc òa lên!


- Chà, khóc thì hay ho gì! Ông nghị nghiêm khắc nói rồi giận dữ đứng dậy – Tại sao lại khóc, một ngày như ngày hôm nay mà không cố gắng làm cho ba vui thì đó mới là chuyện đáng khóc! Con là đàn bà con gái hay sao? Cứ như thế rồi thì làm nên trò trống gì? Sau này có lúc con phải nói chuyện trước đông đảo mọi người, rồi con cũng khóc như thế này hay sao?


            “Không, không bao giờ con nói chuyện trước mặt đông đảo mọi người”. Hannô nghĩ bụng vẻ đau khổ, tuyệt vọng.


- Con thử ngẫm nghĩ lại chuyện hôm nay mà xem! – Ông nghị kết thúc lời răn bảo của ông. Khi bà Iđa Iungman còn đang quỳ xuống lau nước mắt cho đứa bé do bàn tay bà nuôi nấng lớn lên và an ủi chú, giọng có vẻ trách móc nhưng vẫn rất dịu dàng, thì ông nghị đã bỏ sang phòng ăn.


            Ông nghị đang vội vã ăn sáng. Bà cụ tham, bà Tôny, cô Cơlốthindơ và ông Cơrítxtian lần lượt đến chào từ biệt ông. Hôm nay họ cùng gia đình cụ Cơruêgơ, vợ chồng ông Vaixen và ba chị em họ Bútđenbrúc đến ăn bữa trưa ở nhà bà Ghécda, còn ông nghị thì dù muốn hay không, cũng phải có mặt ở bữa tiệc ông tổ chức ở quán rượu dưới hầm tòa thị chính để tỏ lòng ân cần tha thiết của một vị chủ nhân. Mặc dù vậy, ông cũng không muốn ở đó quá lâu, ông muốn buổi tối có thể ngồi ăn với những người trong gia đình.


 Ông cầm cốc nước trà nóng để trong khay trên cái bàn bầy đầy hoa lên uống, ăn vội quả trứng gà, lại đứng ở cửa cầu thang hút hết điếu thuốc lá. Trời rất nóng, nhưng Grôblêben cổ quàng khăn len, tay trái đút vào một chiếc ủng, tay phải cầm bàn chải, mũi nước thò lò, từ con đường nhỏ trong vườn hoa đi đến trước nhà thì gặp ông chủ ở chỗ con gấu giơ hai chân trước, bê cái khay đựng danh thiếp dưới cầu thang…


- Chúc mừng ông nghị! Người thì giàu sang quyền thế, người thì nghèo rớt mồng tơi!


- Phải, phải, anh nói đúng lắm anh Grôblêben ạ! – Ông nghị dúi vào tay cầm bàn chải của anh ta một hào, rồi đi qua phía trước nhà, vào phòng giấy, nơi chuyên để tiếp khách. Ở đây, một nhân viên kế toán, người cao to, thật thà, bước tới, thay mặt toàn thể viên chức chúc mừng ông bằng những lời lẽ hết sức văn hoa. Ông nghị nói một vài câu cảm ơn rồi bước tới chỗ ngồi của mình trước cửa sổ. Nhưng ông vẫn giở mấy tờ báo để trên bàn và mấy bức thư người ta gửi tới ra xem thì đã có người gõ cửa. Tốp khách đầu tiên đi vào.


Đó là những người thay mặt anh em ở kho hàng. Sáu người đàn ông lực lưỡng, giống hệt sáu con gấu, hùng hục bước vào. Miệng người nào cũng xệ xuống, trông giản dị và trung thành vô cùng, tay cầm cái mũ đưa đi đưa lại. Người đi đầu nhổ một bãi nước bọt vàng khè vì hút thuốc, tay kéo ống quần vội vội vàng vàng nói những lời chúc mừng “một trăm năm”, “mấy trăm năm”, “mấy ngàn năm” gì đó. Ông nghị hứa tuần này sẽ thưởng cho họ một món tiền lớn và tiễn họ ra cửa.


   Tiếp đó, mấy ông ở phòng thuế vụ thay mặt sở thuế địa phương đến. Họ vừa cáo từ về đến cổng thì gặp mấy người thủy thủ trên hai chiếc tàu Vulenvêdơ và Phơriđơrích Uêvơdích, thuộc công ty đường biển hiện đỗ dưới bến, do hai người cầm lái dẫn đầu. Kế đến là anh em phu khuân vác, áo đen, quần dài, mũ tròn. Lúc này nhiều người trong phố đến liên tiếp, như ông thợ may Xtút ở phố Đúc Chuông, khoác áo choàng đen ngoài áo lông cừu. Thỉnh thoảng có vài ông hàng xóm như ông Ivơxen, chủ quán bán hoa tươi. Cụ già đưa thư, râu bạc trắng, tai đeo vòng, nước mắt lưng tròng, trông rất kỳ quặc. Hàng ngày thấy cụ ngoài đường, gặp lúc vui vẻ ông nghị thường gọi là “cụ cục trưởng bưu điện”. Cụ vừa bước vào cửa đã nói bô bô:


- Tôi đến không phải vì cái ấy đâu, ông nghị ạ! Không phải vì cái ấy đâu! Mặc dù ông nghe người ta nói, hôm nay ai đến chúc mừng cũng không về tay không, nhưng tôi đến không vì cái ấy…


          Nói vậy, nhưng cụ không ngớt lời cảm ơn khi cầm tiền thưởng của ông nghị đưa cho. Hình như khách cứ tiếp nhau đến như thế mãi, không bao giờ ngớt. Khoảng mười giờ rưỡi, chị đầy tớ gái đến báo cho biết là bà nghị cũng đã bắt đầu tiếp tốp khách đầu tiên rồi.


   Ông Tômát Bútđenbrúc đi ra khỏi bàn giấy vội vã bước lên cầu thang. Đến trước cửa phòng khách, ông dừng lại một chút nhìn vào gương, sửa cà vạt, ngửi ngửi mùi nước hoa trên mùi xoa. Mặt ông nhợt nhạt, mồ hôi đầm đìa như tắm, nhưng tay chân thì lại giá lạnh. Chỉ mới tiếp khách một lúc ở phòng giấy mà người ông đã mệt nhừ. Ông thở dài một cái rồi bước vào căn phòng đầy ánh nắng chuẩn bị tiếp vợ chồng ông tham Hunêút, một nhà buôn gỗ cự phú vốn liếng khoảng năm triệu, cùng con gái và con rể là tiến sĩ Ghidếchcơ. Những vị khách quý này ở Travơmunđơ về. Họ cũng như nhiều gia đình thượng lưu khác ra biển nghỉ mát, lần này về chỉ là để chúc mừng gia đình Bútđenbrúc mà thôi.


   Mọi người vừa ngồi xuống cái ghế lưng tựa hình lượn sóng bóng ngời chưa đầy ba phút, ông tham Uêvơdích, con trai ngài thị trưởng đã quá cố, cùng với vợ (bà này là con gái gia đình Kitxtenmacơ) đã vào. Rồi khi ông tham Hunêút cáo từ đi ra thì ông em trai ông lại đến. Ông này kém ông anh bạc triệu, nhưng lại hơn ông anh cái chức nghị viên.


 Từ đấy trở đi, việc đưa đón mới bắt đầu bận rộn. Cái cửa sơn trắng dưới bức phù điêu chạm một vị thiên thần đang biểu diễn âm nhạc, hầu như không đóng lại được phút nào. Những người ngồi trong phòng hầu như lúc nào nhìn thấy ánh nắng từ cửa sổ thông hơi trên mái chiếu xuống cầu thang. Khách thì cứ liên tục lên lên xuống xuống. Nhưng một là phòng khách rất rộng, hai là khách tụm năm tụm ba trò chuyện, nên người đến nhiều hơn người về. Một lúc sau, bọn đầy tớ gái mở hẳn cửa phòng khách ra, chứ không đóng đóng mở mở như lúc nãy. Có một số người ra đứng ở hành lang gỗ. Tiếng đàn ông đàn bà lao xao, người ta bắt tay nhau, chào hỏi nhau, đùa cợt nhau hoặc cười hô hố. Tiếng cười bay lên giữa bốn cái cột cầu thang rồi lại từ trần nhà và mặt kính cửa sổ thông hơi vọng xuống. Ông nghị Bútđenbrúc lúc đứng ở cầu thang, lúc đứng trước cái cửa nhô ra phía ngoài, đáp lễ. Có khi ông nói nhỏ nhẹ vẻ nghiêm nghị, khách khí, có khi ông nói to, vẻ chân thành tha thiết. Ngài thị trưởng, tiến sĩ Lănghanxơ vừa lùn, vừa béo, trông bộ rất uy nghi. Cái cằm cạo nhẵn thín của ông rụt lại, chạm vào cái cà vạt trắng; bộ ria mép của ông lốm đốm bạc; ánh mắt ông trông vẻ hơi mệt mỏi như của nhà ngoại giao. Ông được tất cả mọi người có mặt hoan nghênh. Ông tham Edua Kítxenmacơ, chủ hãng rượu, cùng với bà vợ họ Muêxenđoóc và ông Xtêphan Kítxtenmacơ là bạn thân của ông nghị Bútđenbrúc và rất phục ông nghị. Bà quả phụ Muêlendoóc và vợ là Giunkhen, con gái gia đình Haghen Ktauêm vừa chúc mừng chủ nhà xong, đang chen vào đám đông, chào hỏi những người quen biết. Ông Hécman Haghenxtruêm tựa cái thân hình béo phục phịch vào lan can cầu thang, cái mũi tẹt giữa bộ râu vàng hoe thở phì phì khó nhọc, ông ta đang nói chuyện với tiến sĩ Cơrômê, nghị viên kiêm cục trưởng cục cảnh sát, khuôn mặt có bộ râu quai nón mầu nâu nhạt của ông tươi cười nhưng có phần gian xảo. Ông thanh tra tiến sĩ Môrít Haghenxtruêm cùng cô vợ xinh đẹp, con gái gia đình Pútphácken ở Hămbuốc cũng có mặt. Ông tiến sĩ này khi cười để lộ hàm răng thưa nhọn hoắt. Mọi người nhìn thấy cụ bác sĩ Gơrabô đưa hai tay nắm chặt tay phải ông nghị Bútđenbrúc được một phút rồi, thế mà lập tức ông kiến trúc sư Phôicơtơ đã ẩy cụ sang một bên. Mục sư Pringsaimơ giang hai tay ra tươi cười bước lên cầu thang. Hôm nay ông mặc quần áo thường. Thật ra, chỉ có nhìn chiều dài chiếc áo thầy tu ông mặc lúc hành lễ mới thấy hết vẻ trang nghiêm của ông. Ngoài ra, tất nhiên có ông Phơđơrích Vinhem Máccút. Các vị đại biểu do Nghị viện, Hội đồng thị dân, Tổng hội thương vụ cử đến đều mặc lễ phục màu đen. Mười một giờ rưỡi, trời oi bức quá thể. Mười lăm phút trước đó, bà chủ đã trở về phòng riêng rồi…


  Bỗng phía trong cửa tầng dưới có tiếng chân thình thịch nghe như rất nhiều người bước vào cùng một lúc, đồng thời lại có tiếng ồn ào lộn xộn. Tất cả mọi người ở trên hành lang, trước cửa phòng khách, trong phòng ăn và phòng hút thuốc đổ xô về phía lan can, chen nhau nhìn xuống. Ở tầng dưới, một đoàn khoảng từ mười lăm đến hai mươi người, tay cầm nhạc cụ, đã xếp thành hàng. Người chỉ huy là một ông tóc giả màu nâu, râu xám kiểu thủy thủ, hễ mở miệng nói thì lòi bộ răng giả bằng vàng… Chuyện gì thế nhỉ? À, thì ra là ông tham Pêtơ Duuêman dẫn đội nhạc nhà hát thành phố vào. Trong nháy mắt, ông đã hùng dũng bước lên cầu thang, tay phe phẩy tờ chương trình biểu diễn.


    Buổi hòa nhạc chúc mừng ngày kỷ niệm một trăm năm thành lập công ty Bútđenbrúc bắt đầu. Đầu tiên là xét về âm hưởng, nơi này không thích hợp cho một buổi hòa nhạc chút nào. Các âm thanh cứ lẫn lộn, chồng chéo lên nhau, nghe chẳng ra gì cả. Người thổi cái kèn giọng trầm là một ông to béo, trông tận tình hết sức, có điều tiếng kèn ấy át hết tiếng các nhạc cụ khác. Mở đầu là bài Mọi người biết ơn Chúa, tiếp theo là bài Hêlêna xinh đẹp của Ophânbách. Sau nữa là nhiều bài dân ca được hòa tấu một cách lộn xộn… Có thể nói tiết mục khá phong phú.


   Ông Duuêman nghĩ ra cách này thật là tuyệt. Mọi người khen ngợi ông ta. Trước khi buổi hòa nhạc kết thúc, không ai muốn ra về. Khách khứa ngồi trong phòng hay đứng ngoài hành lang vừa nghe nhạc, vừa trò chuyện…


   Ông Tômát Bútđenbrúc cùng ông Xtêphan Kítxtenmacơ, tiến sĩ Ghidếchcơ, kiến trúc sư Phôicơtơ đứng với nhau ở đầu cầu thang, phía đi sang cửa phòng hút thuốc, gần chỗ cầu thang lên gác ba, ông tựa lưng vào tường, thỉnh thoảng khen một vài câu khi người khác nói, còn thì trầm ngâm lơ đãng nhìn ra phía ngoài lan can. Trời càng lâu càng oi bức, nhưng cũng có hy vọng sắp mưa, nhìn những bóng đen lướt qua cửa sổ thông hơi cũng biết nhất định mây sẽ che kín bầu trời. Không sai chút nào, bóng đen mỗi lúc một nhiều, đám này nối tiếp đám khác, cầu thang lúc sáng lúc tối làm cho người ta nhức cả mắt. Những thứ đồ mạ vàng, cái giá đèn hình cành cây, các thứ đồ mạ đồng ở tầng dưới vừa tối sầm lại, thoáng một cái đã lóe sáng lên… Chỉ có một lần trời tối rất lâu, tức thì có vật gì cứng cứng rơi vào tấm kính trên cửa sổ thông hơi nghe năm sáu tiếng lốp đốp thưa thớt. Nhất định là mưa đá rồi! Một lúc sau, ánh nắng lại ùa vào khắp căn phòng.


   Người ta đôi lúc có cái tâm trạng như thế này: bình thường thì điều gì đó chỉ có thể làm ta cáu kỉnh hoặc bực bội một chút rồi hết ngay, nhưng lúc này cũng điều đó lại làm cho ta buồn không chịu được, một nỗi buồn đè nặng trong lòng. Bây giờ tâm trạng của ông Tômát đang đè nặng như thế. Cử chỉ của Giôhan cũng như không khí ngày lễ trong gia đình gợi cho ông một nỗi buồn tê tái. Điều ông lấy làm đau khổ nhất là, dù ông cố gắng mấy cũng không vươn lên được. Mấy lâu, ông muốn phấn chấn, muốn xua đuổi nỗi buồn ấy đi và thầm nhủ rằng đây là ngày vẻ vang nhất của gia đình ta phải vui lên chứ! Nhưng tiếng nhạc âm vang, tiếng nói chuyện ồn ào, những khuôn mặt tỏ ra thân thiết của các vị khách càng khiến ông hồi tưởng lại quá khứ, hồi tưởng lại cụ thân sinh. Ông thấy lòng tê tái. Cái cảm giác chiếm lĩnh tâm hồn ông là cái cảm giác đau khổ rất lạ lùng. Ông cảm thấy tất cả sự vật chung quanh ông vừa làm cho ông buồn cười vừa làm cho ông đau khổ. Tiếng nhạc bi bóp náo nức, tiếng bàn tán xoay quanh giá cả và chuyện rượu chè… và cái cảm giác vừa thương cảm vừa chán ghét kia hòa làm một, đưa đến cho ông một tâm trạng thảm hại vô cùng.


     Khoảng mười hai giờ mười lăm, khi đội nhạc nhà hát thành phố trình bày tiết mục cuối cùng thì xảy ra một chuyện nho nhỏ. Chuyện không trở ngại hoặc không phá hỏng không khí vui vẻ ngày lễ, nhưng chủ nhà phải tạm xa khách một lúc, bởi vì phải giải quyết ngay một chuyện buôn bán cần kíp. Chuyện như thế này: vừa vặn lúc tiếng nhạc tạm ngừng thì chú học việc bé nhất ở phòng giấy bước lên cầu thang. Thấy khách khứa đông thế kia, chú tỏ ra lúng túng. Người chú vốn phát triển không đều, lưng chú gù nên chú xấu hổ. Lúc đó, khuôn mặt đỏ hơn ngày thường của chú rụt hẳn vào vai. Để cho được tự nhiên, chú đưa mạnh cánh tay dài một cách kỳ lạ ra phía sau, còn tay cầm bức điện thì chú duỗi thẳng ra phía trước. Chú vừa bước lên vừa lấm lét nhìn ngược nhìn xuôi, tìm ông chủ. Khi chú nhận ra được ông Tômát rồi thì chú len lỏi qua đám đông, lẩm bẩm xin lỗi những người khách đứng nghẽn lối.


   Thực ra thì chú xấu hổ là thừa, vì không ai để ý đến chú cả. Người ta vẫn tiếp tục trò chuyện, chỉ hơi né người sang một bên tránh đường cho chú đi chứ không nhìn chú. Khi chú cúi người đặt bức điện vào tay ông chủ thì ông cầm lấy rồi đi khỏi chỗ các ông Kitxtenmacơ, ghidếchcơ,và Phôicơtơ đứng, theo chú bé bước sang một bên để đọc. Hầu như không ai để ý chuyện này. Mặc dù những bức điện nhận được hôm nay phần lớn là điện mừng, nhưng trường hợp nào cũng vậy, hễ trong giờ làm việc mà nhận được điện khẩn thì phải trình ông ngay lập tức.


   Ở cửa cầu thang lên gác ba, đường hành lang rẽ ngoặt, men theo phòng khách đến cái cửa cầu thang phía sau dành riêng cho bọn đầy tớ đi. Chỗ ấy còn có cái cửa ngách để chuyển thức ăn từ nhà bếp lên, cạnh tường kê một cái bàn khá lớn, bọn đầy tớ gái thường lau chùi bát đĩa bằng bạc ở đấy. Ông nghị đứng chỗ ấy, quay lưng về phía chú học việc lưng gù, bóc bức điện ra xem.


  Bỗng mắt ông tròn xoe, ai nhìn thấy cũng phải giật mình. Xem kìa! Ông đang run lên, vội vã nuốt ực một cái, làm cho cổ họng ông khô khốc cứ ho liên hồi.


   Ông định nói: “Thế mà hay”, nhưng những tiếng ồn ào ở phía sau át mất lời ông nói: “Thế mà hay”. Ông nhắc lại lần nữa, chỉ nghe rõ hai tiếng trước còn tiếng cuối thì nghe thì thào.


    Ông nghị không động đậy, không quay người lại, thậm chí không hề đưa tay ra làm một dấu hiệu gì cả, nên chú học việc lưng gù đành đổi chân, chần chừ đứng ở đấy một lúc rồi cuối chào, điệu bộ rất kỳ quặc và rút lui theo cầu thang sau.


   Ông nghị vẫn đứng cạnh, bàn tay cầm bức điện rũ xuống mềm nhũn. Ông vẫn há nửa miệng như lúc nãy thở dồn từng hơi mệt nhọc, cúi về phía trước rồi ngả ra phía sau, rồi như người trúng phong, lắc lắc đầu một cách điên loạn.


  Mưa đá…! Mưa đá!


  Giọng hổn hển. Nhưng một lát sau, ông đã thở đều đều, bình tĩnh dần, người ông đu đưa cũng nhịp nhàng hơn, đôi mắt liu diu của ông trông mệt mỏi lắm, có thể nói là thất thần. Ông gục đầu xuống, vẻ nặng nề rồi quay người đi.


 Ông mở cửa phòng lớn, đầu vẫn cúi, bước thong thả trên sàn nhà bóng như gương, rồi ngồi phịch xuống chiếc ghế xô pha màu gụ để trước cửa sổ trong cùng. Chỉ chỗ ấy là yên tĩnh, vừa mát mẻ. Có thể nghe rõ tiếng vòi phun nước trong vườn hoa kêu xè xè. Một con ruồi bay vù lên, đâm sầm vào cửa kính. Tiếng ồn ào ở căn phòng phía trước vọng sang nghe văng vẳng.


     Ông uể oải tựa đầu vào đệm ghế, nhắm mắt lại.


- Thế mà hay! Thế mà hay! – Ông nói thầm một mình. Một lúc sau, ông thở dài một cái, hình như ông đã bình tĩnh và thư thái trong lòng hơn. Ông lặp lại một lần nữa – “Càng hay!”.


Ông duỗi thẳng người ra, bình tĩnh nằm một lúc, rồi ông ngồi dậy, gấp bức điện, đút vào túi trên, đứng lên định đi ra tiếp khách.


 Nhưng ngay lúc đó, ông rên lên một tiếng khổ não nằm vật xuống ghế xô pha. Tiếng nhạc ấy lại bắt đầu! Những tiếng ồn ào quái đản, bắt chước tiếng ngựa phi có thanh la, trống và xập xoèng đánh nhịp. Những âm thanh của các loại nhạc cụ khác thì hoặc chậm chạp quá hoặc nhanh quá, không ăn nhịp gì với nhau cả, hợp lại thành một mớ hỗn độn ngu xuẩn, giật gân, không chịu nổi. Cắc cắc, tùng tùng, xèng xèng, lại chen cả tiếng kêu lánh lót chọc vào tai.


 CHƯƠNG VI


- Ồ, Giăng Sêbatchiên Bách! Thưa bà thân mến! Ông Phít, người chơi đại phong cầm ở nhà thờ Xanh Mari nói to. Lúc đó, ông đang đi đi lại lại trong phòng khách, vẻ xúc động, còn bà Ghécda thì ngồi trước chiếc đàn pianô, đưa tay chống đầu mỉm cười. Chú Hannô ngồi trên chiếc ghế tựa gần đấy, hai tay ôm lấy đầu gối, chăm chú nghe – Tất nhiên rồi, đúng như bà nói, sở dĩ hòa thanh học có thể thắng đối vị học là nhờ công lao của Giăng Sêbatchiên Bách sáng tạo ra hòa thanh lọc, điều đó không cần phải nói nhiều nữa… Nhưng ông đã sáng tạo như thế nào? Chả nhẽ tôi còn cần giải thích với bà nữa sao? Chẳng phải là thông qua việc phát triển không ngừng đối vị học hay sao? Điều ấy, bà hiểu không kém gì tôi. Nhưng nguyên nhân thúc đẩy sự phát triển này là gì! Là hòa thanh lọc ư? Không phải, nhất định không phải! Chính là đối vị học, thưa bà kính mến ạ! Là đối vị học! Xin hỏi việc thí nghiệm hòa thanh thuần túy sẽ dẫn chúng ta đến chỗ nào? Hễ tôi còn hơi sức nào thì nhất định tôi sẽ khuyên bà không nên làm thí nghiệm hòa thanh đơn thuần như vậy…


         Câu chuyện đó, ông nói rất say sưa, ông để cho tình cảm ông phóng túng, bởi vì trong phòng khách này ông được tự nhiên như ở nhà. Hàng tuần, cứ chiều thứ tư, ông thường xuất hiện ở đây với cái thân hình to lớn, vai lúc nào cũng nhô lên, khoác cái áo đuôi én màu cà phê dài quá đầu gối. Trong khi chờ những người nhạc công đến hòa tấu với mình, ông thường chiếu lệ mở chiếc đàn pianô Bétsơthai ra chỉnh đốn lại tập nhạc để trên giá chạm hoa, rồi nhẹ nhàng dạo thử một khúc, tư thế rất đẹp, đầu lúc nghiêng về vai bên này, lúc nghiêng về vai bên kia, tỏ ra bằng lòng với mình lắm.


   Tóc ông rất dày, giữa mớ tóc rậm màu đỏ lẫn những đám mây màu tro xoắn lại, làm cho đầu ông trông có vẻ to lắm. Mặc dù vậy, cái đầu ấy ở trên cái cổ dài ngoằng kia cũng thoải mái vô cùng. Yết hầu của ông rất to, lồi hẳn ra ngoài cổ áo lật hẹp khổ. Bộ râu mép cùng màu tóc với ông, không xoắn lại mà cứ lồm xồm, trông càng thấy rõ hơn cái mũi tẹt của ông. Đôi mắt màu nâu tròn tròn của ông sáng ngời, nhưng khi ông biểu diễn thì lại có vẻ mơ mơ màng màng, như đã nhìn thấu suốt một vật gì đó rồi ngưng lại. Làn da ở phía dưới mắt hơi cộm lên, y hệt hai cái túi nhỏ. Dung mạo ấy không lấy gì làm đẹp lắm nhưng cũng có vẻ thông minh lanh lợi. Mắt ông thường lim dim, môi ông thường mím chặt, nhưng cái cằm cạo của ông lại nhẵn thín của ông lại xệ xuống, chứng tỏ ông thiếu hẳn ý chí. Chính vì vậy mà miệng ông trông nhu nhược, trì độn của người tâm trí để ở đâu đâu. Cái vẻ mặt đó, chúng ta thường thấy ở những kẻ ngủ say…


  Đối lập với kẻ nhu nhược bề ngoài ấy là tính cách nghiêm nghị và đứng đắn của ông. Ông Phít là người chơi đại phong cầm nổi tiếng, sự hiểu biết của ông về đối vị học lại càng lừng danh. Cuốn sách bàn về âm nhạc trong nhà thờ ông xuất bản đã được mấy học viện âm nhạc giới thiệu làm tài liệu tham khảo. Còn những bài thơ phổ nhạc ông sáng tác cũng như những bài hợp xướng ông cải biên thì nơi nào cũng dùng đại phong cầm để hòa tấu, đều có thể nghe thấy.


   Tác phẩm của ông cũng như những buổi hòa tấu của ông ở nhà thờ Xanh Mari ngày chủ nhật đều tuyệt diệu, không chê vào đâu được, chan chứa tinh thần cao cả và đầy đủ tính lô gích chặt chẽ của loại nhạc trang nghiêm. Cái đẹp của tác phẩm này khác hẳn với cái đẹp của những tác phẩm trần tục. Tình cảm mà những bản nhạc đó muốn diễn tả hay nói đúng hơn, điều mà bản nhạc đó muốn ngợi ca là kỹ xảo đã phát triển thành khổ hạnh của tôn giáo, là những cái tuyệt đối thiêng liêng; bản thân nó đã trở thành kỹ xảo thành thục của đối tượng mà nó diễn tả. Ông Phát coi thường những bản nhạc chỉ nhằm cho hài hoà êm ái; mà những bản mêlôđi hay, ông cũng tỏ vẻ không thèm để ý tới. Nói ra cũng lạ, ông không phải là người khô khan, không có tình cảm. Mặt ông trở nên nghiêm nghị dễ sợ khi nhắc đến tên “Paléttrina” , nhưng trong khoảnh khắc khi ông trình diễn mấy tác phẩm cổ điển thì mặt ông trở nên hoà nhã, say đắm, mơ  màng, mắt ông nhìn chăm chăm vào nơi xa xôi, dường như ý nghĩa của mọi sự vật trên đời đều dồn cả vào bản nhạc ông đang chơi… Ánh mắt của nhà âm nhạc ấy là như vậy, trông thật mông lung mờ ảo, bởi vì nó dựng lại một thế giới xa xôi vời vợi, một thế giới chứa đựng lôgích sâu xa hơn, thuần túy hơn, chặt chẽ hơn cái lôgich của khái niệm ngôn ngữ và tư duy.


   Bàn tay ông vừa to mềm, như vẻ không có xương, mu bàn tay thì đầy tàn hương. Ông nói khe khẽ, nghe rất buồn, hình như có cái gì mắc míu trong cổ họng. Khi bà Ghécđa vén tấm màn cửa, từ phòng khách bước vào, ông cất tiếng chào, giọng trầm trầm:


- Người đầy tớ của bà đây thưa bà tôn kính!


 Ông khẽ nhích người khỏi lưng ghế tựa, cúi đầu xuống kính cẩn cầm bàn tay bà Ghécđa chìa ra, còn tay trái ông ấn một lúc năm phím trên mặt đàn. Thế rồi bà Ghécđa đi lấy chiếc Xtrađivari của bà ra so giây một cách nhanh nhẹn, thành thạo.


- Vẫn bài côngxéctô của Bách phải không? Chơi chưa hay lắm!


    Thế là ông Phít bắt đầu đánh đàn, nhưng lần nào hầu như cũng xẩy ra chuyện như thế này: vừa chơi mấy hòa âm đầu tiên, thì cửa hành lang từ từ mở ra, vẻ rất trân trọng, tiếp đó là lẻn vào, rón rén bước qua tấm thảm trải giữa nhà, đến ngồi ở cái ghế tựa. Hai tay chú ôm lấy cái đầu gối, ngồi nghe im lặng. Chú vừa nghe nhạc vừa nghe người lớn nói chuyện.


- Hannô con lại nghe lỏm rồi đấy à? Lúc nghỉ, bà Ghécđa hỏi con. Bà đưa đôi mắt thâm quầng về phía chú, đôi mắt còn ươn ướt vì bà vừa kéo xong bản đàn.


   Chú cúi dậy, lặng lẽ cuối đầu chào ông Phít và đưa chìa tay ra. Ông Phít lúc ấy rất muốn vuốt ve mái tóc vàng nhạt của Hannô thật dịu dàng trìu mến. Mái tóc mềm mại của chú xõa xuống trán và thái dương đáng yêu làm sao!


- Cứ nghe đi cháu ạ!


  Ông nói ôn tồn, nhưng giọng rất cứng cáp. Hannô nhìn cái yết hầu di đng trên cái cổ họng ông khi ông nói chuyện, vẻ sợ sệt, rồi vội rón rén trở về chỗ chú ngồi lúc nãy. Hình như chú chờ người ta tiếp tục chơi nhạc, chú sốt ruọt lắm rồi. Họ hòa tấu một bài của Haydơn, mấy bài của Môda và một bài xônát của Béttôven.


Nhưng sau đó, bà Ghécđa cặp đàn viôlông vào nách, thêm một bài mới thì xảy ra một chuyện không bình thường chút nào. Ông Phít người đánh đàn đại phong cầm ở nhà thờ Xanh Mari, ông Phít vốn tiện tay đang đánh bài gì đó, bỗng chuyển sang đánh một điệu lạ vô cùng, ánh mắt mơ mơ, màng màng của ông lóa lên, có vẻ như sung sướng và cũng có  vẻ như xấu hổ…


     Những âm thanh từ tay ông buông ra, lúc đầu nghe buồn buồn nhưng bỗng cao vút lên thành những âm thanh ca hát. Những âm thanh ca hát ấy mỗi lúc một rõ ràng, mạnh mẽ, cuối cùng thì với một giai điệu lặp đi lặp lại rất hay biến thành một bài hành khúc cổ kính trang nghiêm, hùng vĩ… Tiếng nhạc cao vút, mở rộng ra, thay đổi một lần nữa… Tiếng véo von của viôlông cũng hoà theo. Đó là khúc mở đầu bài “Người danh ca”.


    Bà Ghécđa là người ủng hộ nhiệt tình âm nhạc mới, còn ông Phít thì thuộc phái phản đối kịch liệt, không nhượng bộ. Lúc đầu là bà cho không sao có thể làm ông lay chuyển được.


   Khi bà để mấy khúc dành cho pianô trong bản Tơrixtan và Idơn ở trên giá, lần đầu yêu cầu ông đánh thì ông chỉ đánh có hai mươi lăm nột rồi đứng dậy, đi đi lại lại khoảng giữa chỗ để pianô và cửa sổ, dáng điệu đau khổ thiểu não vô cùng.


  - Thưa bà, tôi không đánh bài này đâu! Tôi là người đầy tớ trung thành của bà, nhưng tôi không đánh bài này được! Mong bà hãy tin lời tôi nói; đây không phải là âm nhạc… Tôi tự cho là tôi có hiểu biết ít nhiều âm nhạc. Đây chỉ là mớ hỗn lốn. Nó mê hoặc lòng người, làm cho thần kinh rối loạn! Bôi nhọ thượng đế! Là đám sương mù dày đặc, chứa chất sấm sét và thơm mùi nước hoa mà thôi! Đó là sự cáo chung của mọi đạo đức nghệ thuật! Tôi không thể đánh bài ấy được! – Nói xong, ông gieo mình xuống chiếc ghế tựa, đánh tiếp hai mươi lăm nốt nữa. Ông vừa nuốt nước bọt, vừa ho khan, yết hầu của ông đưa lên đưa xuống. Sau đó, ông dậy đậy nắp pianô lại, nói to:


 - Thôi đủ rồi, trời ơi, tôi không thể chịu đựng được nữa! Thưa bà kính mến, mong bà tha thứ cho tôi, tôi xin thú thật với bà rằng… mấy năm nay tôi nhận tiền của bà, bà trả thù lao cho tôi để tôi hầu hạ bà… Tôi là người gặp cảnh ngộ không may. Nhưng nếu bà bắt tôi hầu bà bằng những cái xấu xa thấp hèn này, thì tôi xin rút lui, không làm nữa… Bà hãy nhìn chú bé kia, chú bé ngồi trên cái ghế kia. Chú lẳng lặng vào đây là để nghe nhạc! Lẽ nào bà nỡ để tâm hồn chú bị đầu độc hay sao?


Ông Phít tỏ ra giận dữ như thế, nhưng bà Ghécđa vẫn thuyết phục ông để ông quen dần với thứ nhạc này và cố tranh thủ ông cho được.


- Ông Phít, - Bà nói – ông không nên nóng nảy, phải công bằng hơn tý nữa. Việc vận dụng đối hòa thanh một cách độc đoán của ông ta đã làm cho ông mê mẩn rồi… Ông cảm thấy so với thứ nhạc này của ông ta, thì Bettôven thuần khiết, trong trẻo mà tự nhiên hơn chứ gì… Nhưng ông thử nghĩ xem, Bettôven cũng làm cho một số người cùng thời với ông ta được giáo dục theo hình thức truyền thống phải kinh hoàng… Còn Bách thì trời ơi, chẳng phải người ta cũng trách nhạc ông ấy âm điệu thiếu hài hoà hay sao?... Vừa rồi ông nói tới đạo đức, nhưng đạo đức nghệ thuật ông nói đó rốt cuộc là cái gì nào? Nếu tôi không nhầm, phải chăng tất cả những thứ trái với chủ nghĩa khoái lạc, theo ý ông là đạo đức nghệ thuật? Giá như tôi nói đúng, thì trong bản nhạc này cũng có thứ đó và không thua gì nhạc của Bách cả. Hơn nữa, nó lại tráng lệ, rõ ràng, thâm trầm hơn. Ông cứ tin lời tôi, ông Phít ạ, với bản tính của ông, thứ nhạc này không xa lạ như ông tưởng tượng đâu!


- Quả thật là dối trá, nguỵ biện! Mong bà bỏ qua cho câu nói đó của tôi – Ông Phít ầm à ầm ừ.


   Nhưng bà Ghécđa nói rất đúng: xét về bản chất thì thứ nhạc đó đối với ông không xa lạ như lúc đầu ông nghĩ. Mặc dù trước sau ông vẫn không hòa giải với Tơrixtan, nhưng ông lại theo lời cầu khẩn của bà Ghécđa, cải biên cái chết của Idơn thành bản hợp tấu cho viôlông và pianô, hơn nữa là đã tỏ ra rất có tài. Thoạt tiên, ông khen ngợi một số đoạn trong bài Người danh ca, rồi bất giác càng ngày ông cảm thấy thứ nhạc đấy có cái thú vị của nó. Ông không nói cho  biết điều ấy, trái lại bản thân ông cũng thấy làm ngạc nhiên lắm, hễ nói đến bao giờ ông cũng chối bai bải. Nhưng rồi từ đó về sau, khi đã được một số bậc thầy có tuổi đối xử công bằng, thì bà Ghécđa không cần thôi thúc nữa mà bản thân ông đã dung một lối chơi phức tạp chơi chủ đề này say sưa, mặt để lộ một chút xấu hổ, một chút vui sướng trong cơn buồn phiền. Chơi xong, có lúc ông còn tranh luận về mối quan hệ giữa phong cách của thứ âm nhạc này và những bản nhạc trang nghiêm. Một hôm, ông Phít tuyên bố mặc dù cá nhân ông không thích thú cho lắm, nhưng ông vẫn cho rằng phải thêm vào sau cuốn bàn về âm nhạc trong nhà thờ của ông chương “Bàn về việc Risa Vácna vận dụng điệu cổ vào âm nhạc nhà thờ và âm nhạc dân gian”.


  Như thường lệ, Hannô vẫn ngồi im lặng, hai cánh tay nhỏ bé ôm đầu gối. Chú đưa lưỡi liếm cái răng hàm, làm cho cái miệng bé tí của chú cứ méo xệch lại. Chú trợn tròn mắt, nhìn mẹ và ông Phít chằm chằm. Chú lắng nghe hai người hòa tấu và nói chuyện. Thế là chú vừa bước được mấy bước đầu tiên vào con đường đời đã phát hiện ra rằng âm nhạc là vô cùng nghiêm túc, vô cùng quan trọng, ý nghĩa vô cùng sâu xa. Người lớn nói chuyện với nhau thỉnh thoảng chú nghe chỉ biết một vài điều. Những bài nhạc hai người hòa tấu thì cũng vượt quá trình độ hiểu biết ấu trĩ của chú, nhưng chú vẫn đến lần này lần khác, lẳng lặng ngồi nghe suốt mấy tiếng đồng hồ không chán chút nào. Như vậy có thể nói là lòng ngưỡng mộ, sự say mê và thái độ vô cùng tôn kính thôi thúc chú làm thế mà thôi.


  Mới bảy tuổi, chú đã bắt đầu lấy ngón tay đánh vào pianô thử tấu lên một chuỗi âm thanh đã để lại trong lòng chú một ấn tượng vô cùng sâu sắc. Mẹ chú tươi cười nhìn chú lặng lẽ, say sưa nối những âm hưởng đó với nhau, sửa chữa cho chú những sai lầm, nói cho chú biết tại sao khi chuyển âm giai này sang âm giai khác nhất định không thiếu được âm phù nào đó. Và thính giác của chú cũng chứng minh rằng những lời mẹ chú nói rất đúng.


  Bà Ghécđa sau khi để cho Hannô đánh một đoạn thì quyết định cho chú học pianô.


- Theo tôi, cháu học độc tấu viôlông không hợp – Bà nói với ông Phít – Như thế tôi lại thấy thú vị hơn, vì độc tấu cũng có mặt không hay của nó. Ở đây tạm thời không nói đến tính ỷ lại của người chơi độc tấu đối với người đệm, mặc dù trong trường hợp nào đó, độc tấu hay hoặc dở đều liên quan đến người đệm. Chẳng hạn như tôi mà không có ông… Nhưng ở đây có cái nguy hiểm, tức là ít nhiều người biểu diễn lúc nào cũng muốn cho kỹ xảo mình nổi bật. Những trường hợp như thế tôi biết rất nhiều. Tôi xin thành thật nói với ông rằng, tôi cho là đối với người độc tấu, kỹ xảo cao cường chỉ là bước đầu tiên trong đời sống âm nhạc mà thôi. Vì dồn hết sức lực vào cao âm, phong cách cũng như âm sắc, nên phức thanh trở thành những thứ rất mơ hồ, chung chung ở trong đầu óc; đối với người tài năng kém cỏi, cái đó rất dễ làm cho họ mất cảm giác hòa thanh và ký ức về hòa thanh. Chỗ hổng này về sau khó bổ sung lắm đấy. Tôi rất thích cây viôlông của tôi, hơn nữa, cũng đã có ít nhiều thành tích, nhưng trong lòng tôi, pianô vẫn có một địa vị cao hơn. Ý tôi muốn nói, tôi coi pianô là một phương tiện có thể khái quát kết cấu âm hưởng phong phú nhất, muôn màu muôn vẻ nhất, tôi coi đó là phương tiện tốt nhất không so sánh được để thể hiện âm nhạc. Đối với tôi, luyện tập cho thành thạo cũng là cảm thông với âm nhạc một cách mật thiết, rõ ràng, sâu sắc… Ông Phít, ông hãy nghe tôi nói, tôi tha thiết mong ông nhận lời dạy cho cháu, ông đừng từ chối! Tôi biết ngoài ông ra, thành phố còn hai ba người nữa cũng nhận học trò. Nghe nói là phụ nữ. Nhưng chẳng qua họ chỉ dạy đánh pianô mà thôi… Ông hiểu ý tôi chứ? Học được một loại nhạc cụ nào đó không quan trọng. Hiểu biết ít nhiều về âm nhạc mới là quan trọng, ông bảo có đúng không nào? Tôi hoàn toàn tin tưởng vào ông. Xưa nay, đối với âm nhạc, ông rất nghiêm túc. Hơn nữa, ông sẽ thấy rằng, ông dạy thì chắc chắn sẽ thành công. Bàn tay cháu là bàn tay truyền thống của gia đình Bútđenbrúc… Người trong gia đình Bútđenbrúc đều có thể đánh được chín hoặc mười bậc một lúc, nhưng xưa nay chưa ai thấy điều đó – Bà mỉm cười kết thúc lời bà vừa nói, còn ông Phít thì tỏ ý nhận dạy cho Hannô.


    Từ đó, chiều thứ hai nào ông cũng đến đây một lần. Khi ông dạy cho Hannô, bà Ghécđa ngồi ở phòng khách. Ông không dạy theo phương pháp bình thường, vì ông cho rằng, nếu ông chỉ dạy đàn pianô không thôi thì ông sẽ phụ lòng say mê trầm lắng của chú bé. Sau khi dạy xong những kiến thức cơ bản, ông bắt đầu dạy cho chú những nguyên lý cơ bản của hòa thanh học bằng một hình thức độc đáo, dễ hiểu. Mà Hannô cũng có thể hiểu được bởi vì khi chú học những lý thuyết này chẳng qua ông ta chỉ chứng minh thêm những cái chú đã biết rồi mà thôi.


      Chỉ cần có dịp là ông Phít quan tâm đến chí tiến thủ của chú bé đang khao khát này. Ông sợ cuộc sống vật chất sẽ là ghánh nặng đè lên trí tưởng tượng bay bổng của chú, cản trở tài năng dồi dào của chú. Ông tìm đủ mọi cách giảm nhẹ gánh nặng đó. Khi luyện âm giai, ông không nghiêm khắc đòi hỏi chú đưa đẩy các ngón tay cho thật thành thạo, hoặc giả ít ra ông cũng không cho rằng mục đích cuối cùng của việc luyện tập là sự thành thạo. Mục đích của ông theo đuổi và có thể nhanh chóng đạt được là làm cho Hannô hiểu biết một cách khái quát rõ ràng và sâu sắc các loại âm điệu. Như vậy thì chẳng bao lâu, Hannô có thể hiểu khả năng phối hợp của âm hưởng có thể dựa vào trực giác mà nắm vững các phím pianô. Sau này, tiến thêm một bước nữa, Hannô có thể tùy hứng biểu diễn và sáng tác… Cậu học sinh bé nhỏ này vốn nghe quen bản nhạc trang nghiêm, nên rất hâm mộ loại nhạc ấy. Ông Phít rất chú ý đến sự khao khát tinh thần ấy của Hannô. Ông không cho Hannô tập những bản nhạc tầm thường để cho tình cảm thâm trầm trang nghiêm khỏi phai nhạt. Ông cho chú đánh những bài ca ngợi. Trước khi nói rõ quy luật, ông không cho chú chuyển từ điệu này sang điệu khác.


Bà Ghécđa vừa đan hoặc xem sách, vừa nghe ông Phít dạy đàn.


Ông làm như thế là đã vượt xa lòng mong muốn của tôi rồi đó - Có một lần bà nói với ông Phít - Nhưng liệu ông có đi quá nhanh không nhỉ? Có vội lao về phía trước không nhỉ? Tôi thấy phương pháp của ông thật là sáng tạo… Có lúc, rõ ràng cháu đã bắt đầu làm thử cái gì đó. Nhưng giá cháu không theo được cách dạy của ông, giá cháu không có tài thì cháu không học được gì cả.


Cháu theo được đấy! – Ông Phít gật đầu nói - Có lúc tôi để ý quan sát đôi mắt của cháu trong đó thấy rất nhiều điều, duy chỉ có cái miệng lúc nào cũng mím chặt. Sau này trong đời cháu, có lẽ cháu sẽ mím chặt hơn nữa. Chắc chắn cháu sẽ có một phương pháp diễn đạt…


Bà Ghécđa nhìn ông Phít, nhìn người thầy giáo dạy nhạc, thân hình to lớn, có mái tóc dày màu nâu sẫm, nhìn cái túi nhỏ dưới mắt ông, nhìn bộ râu xồm xoàm và cái yết hầu to tướng của ông. Rồi bà chìa tay ra, nói:


Xin cảm ơn ông Phít! Cảm ơn lòng tốt của ông. Ông có thể giúp cháu được như thế nào, hiện giờ chúng ta khó mà đoán ra.


Còn như lòng cảm kích và hâm mộ của Hannô đối với ông thầy dạy nhạc này thì thật không thể nào hơn được nữa. Bố mẹ chú có mời người kèm thêm cho chú ở nhà rồi, nhưng đến trường chú cứ ngồi đực ra trước bản cửu chương, ấy thế mà hễ chú ngồi vào đàn pianô thì ông Phít nói gì chú cũng hiểu hết; không những hiểu mà còn nắm vững ngay là đằng khác. Chỉ những cái đã nghe qua từ lâu người ta mới có thể nắm vững ngay như thế được. Trong con mắt của Hannô, ông Phít mặc áo đuôi én, đúng là một vị sứ nhà trời, cứ chiều thứ hai hàng tuần lại đến nhà chú, ôm chú vào lòng và giải thoát cho chú những nỗi khổ đau tầm thường, dẫn chú vào thế giới âm hưởng êm dịu, ngọt ngào, trang nghiêm mà lại có thể an ủi chú ít nhiều…


   Có lúc chú Hannô đến nhà ông Phít học. Đó là một ngôi nhà cũ kỹ, rộng rãi, nóc hình tam giác có nhiều hành lang, nhiều ngóc ngách tối tăm. Chỉ có một mình ông với bà quản gia đứng ở đấy. Ngày chủ nhật đến nhà thờ Xanh Mari xem lễ, có lúc chú bé Bútđenbrúc được phép lên gác ngồi cạnh chiếc đàn đại phong cầm. Ngồi ở đấy, cảm giác của chú so với ngồi ở dưới lẫn với đám đông khác bao nhiêu! Ngồi cao hơn mọi người đã đành, thậm chí còn cao hơn cả mục sư Prinhem đang đứng trước bàn thờ Chúa. Hai thầy trò ngập chìm trong làn sóng âm thanh. Làn sóng âm thanh đó lại chính do hai thầy trò phát ra và hai thầy trò cùng khống chế. Vì có lúc ông Phít cho phép Hannô đánh một số đoạn. Thử nghĩ xem, lúc bấy giờ Hannô tự hào biết bao nhiêu, thích thú biết bao nhiêu! Nhưng khi nghe tiếng nhạc đệm cho hợp xướng kết thúc, khi ngón tay ông Phít thong thả rời khỏi phím đàn, trong không trung chỉ còn những âm thanh thâm trầm vọng lại, nhẹ nhàng và trang nghiêm cũng là khi mục sư Prinhem cố tình để cho không khí im lặng bao trùm lấy nhà thờ trong khoảnh khắc rồi mới lại để cho giọng nói sang sảng của ông ta truyền ra ngoài tầm âm hưởng. Không mười lần thì đến tám lần ông Phít tùy tiện giễu cợt dáng điệu rao giảng của ông ta, giễu cợt giọng nói tiếng Pháp hống hách của ông ta, giễu cợt những nguyên âm kéo dài lúc trầm trầm, lúc the thé của ông ta, giễu cợt tiếng thở dài và nét mặt của ông ta lúc buồn rầu lúc tươi tỉnh thay đổi rất nhanh chóng. Bấy giờ Hannô cũng được dịp vui cười thoải mái. Mặc dù hai thầy trò không đưa mắt nhìn nhau, không nói ra thành lời với nhau, nhưng ý kiến hai người nhất trí. Những lời rao giảng của mục sư chẳng qua chỉ là những lời vẩn vơ ngu xuẩn, còn trọng tâm thật sự của buổi lễ đối với hai người chính là âm nhạc mà mục sư cũng như người đến xem lễ chỉ nhận là thủ đoạn hỗ trợ để làm tăng không khí thành kính lên mà thôi.


Đúng thế thật. Các ông nghị, ông tham, các ngài thị dân cũng như gia đình họ ngồi trong nhà thờ chẳng biết gì về tài năng âm nhạc của ông cả. Chính chuyện đó khiến ông Phít buồn rầu suốt ngày đêm. Vì thế ông rất vui lòng để chú học trò nhỏ của ông ngồi cạnh ông. Như vậy ít ra cũng có một người để cho ông vừa đàn vừa khẽ nói cho biết là ông đang chơi một đoạn nhạc khó vô cùng. Tay ông đánh với một kỹ xảo tuyệt vời “bắt chước ảnh lộn ngược”. Ông trình bày một bản mêlôđi, đoạn mêlôđi ấy có thể đọc xuôi mà cũng có thể đọc ngược. Tiếp đó, dựa trên cơ sở đoạn mêlôđi ấy đàn bài xônat theo kiểu ảnh lộn ngược. Đàn xong, ông buồn rầu thọc hai tay vào bụng.


Không người nào hiểu nổi đâu! – Ông vừa nói vừa lắc đầu tuyệt vọng, khi mục sư Prinhem tiếp tục rao giảng, ông nói khẽ vào tai Hannô - Đó là đoạn bắt chước: “ảnh lộn ngược”, Giôhan ạ! Cháu chưa biết đó là… đó là bắt chước chủ đề từ dưới lên đó là… đó là đối với chủ đề bắt chước từ dưới lên trên, từ nốt cuối cùng đến nốt đầu tiên. Khó lắm! Sau này cháu sẽ biết, cái bắt chước trong âm nhạc điển nhã là gì… Còn tiến hành theo ảnh lộn ngược, thì thầy cũng không muốn bắt cháu học những cái khó khăn như thế… Không cần phải học những cái đó. Nhưng ai nói với cháu rằng những thứ đó chỉ là trò chơi kỹ xảo, không có giá trị âm nhạc gì thì cháu đừng tin. Cháu có thể tìm thấy cách tiến hành “ảnh lộn ngược” trong các tác phẩm của nhà soạn nhạc vĩ đại ở bất cứ thời đại nào. Chỉ những người không có nhiệt tình và những người tầm thường mà ngạo mạn mới không thèm để ý luyện tập mà thôi! Đối với những nhà âm nhạc chân chính thì như thế là một sự nhục nhã! Cháu nên ghi nhớ những lời đó của thầy, Giôhan ạ!


Ngày 15 tháng 4 năm 1869 là ngày kỉ niệm Hannô tròn tám tuổi. Trước mặt cả nhà, chú cùng mẹ biểu diễn khúc nhạc ngắn chú sáng tác. Bài mêlôđi đơn giản đó chính chú nghĩ ra, chú thấy hay nên cố gọt dũa. Tất nhiên sau khi chú đánh cho ông Phít nghe, thì ông Phít phê phán nghiêm khắc một số chỗ.


Đoạn kết có vẻ kịch thế nào ấy, Giôhan ạ! Không tương xứng với toàn bài. Đoạn mở đầu hay, nhưng tại sao ở đây cháu lại đang từ cao bỗng hạ xuống ba bốn cung thế nhỉ? Thầy rất muốn biết điều đó. Quả thật, cháu đang làm trò hề. Với lại, ở đây cháu còn sử dụng chấn âm, chẳng hiểu cháu lấy ở đâu ra? Cháu học được của ai đấy? À, biết rồi! Có lần thầy đánh cho mẹ cháu nghe một bài gì đó, cháu chăm chú nghe… Sửa lại đoạn kết đi. Sẽ thành một tiểu phẩm trong sáng đấy!


Nhưng đoạn kết ấy, theo Hannô quan trọng hơn bất cứ đoạn nào khác, hơn nữa, mẹ chú cũng cho là thú vị nên chú không sửa. Bà Ghécđa cầm viôlông kéo thanh cao. Hannô đánh đi đánh lại đoạn mêlôđi đó một cách đơn giản, còn mẹ chú thì chơi dồn dập các loại biến tấu của ba mươi hai âm phù, nghe thật hay! Hannô thấy lâng lâng trong lòng, ôm hôn mẹ. Ngày 15 tháng 4, hai mẹ con đã biểu diễn bài ấy cho cả nhà nghe.


Hôm đó, khoảng bốn giờ chiều, cụ tham, bà Tôny, ông Cơrítxtian, cô Cơlốthinđơ, vợ chồng ông tham Cơruêgơ, vợ chồng ông giám đốc Vaisen, ba cô gái họ Bútđenbrúc ở phố Brêten và bà Vaisơbơrốt đến ăn cơm ở nhà ông bà nghị để mừng ngày sinh của Hannô. Bấy giờ mọi người đang ngồi trong phòng khách chăm chú nghe. Họ nhìn Hannô mặc bộ quần áo thủy thủ, ngồi trước pianô hoặc nhìn phong thái đẹp đẽ, kỳ lạ của bà Ghécđa. Trước tiên bà Ghécđa kéo một khúc nhạc dạt dào tình cảm, tiếp đó kéo đoạn kết tuyệt vời với một kỹ xảo vô cùng điêu luyện, chẳng khác gì nước suối phun lên hoặc là hạt trân châu rơi trong lòng bàn tay. Cái cán bằng bạc của chiếc vĩ cầm lấp lành dưới ánh đèn lóe cả mắt.


Hannô thích quá, mặt trắng bệch ra. Bữa ăn hồi nãy hầu như chú không ăn được tí gì, vậy mà bây giờ say sưa hòa tấu tác phẩm của mình. Ồ, còn ba phút nữa sẽ kết thúc lần biểu diễn này, nhưng chú dồn tất cả tâm hồn vào tác phẩm, chẳng để ý gì đến mọi vật chung quanh. Xét về tính chất, đoạn mêlôđi ấy hay ở chỗ thanh điệu hài hòa chứ không phải hay ở chỗ tiết tầu rõ ràng nổi bật. Còn tài năng âm nhạc ngây thơ, ấu trĩ trời phú cho Hannô cũng như nhiệt tình to lớn dễ phát triển tài năng đó có thể nói chưa tương xứng với cách biểu hiện quá ư tinh tế đó của bà Ghécđa. Hannô nghiêng đầu về phía trước, vươn cổ ra sức nhấn mạnh những nốt chính. Chú ngồi ở mép ghế bành, chân giẫm vào hai bàn đạp định nhuốm cho mỗi nốt một màu sắc tình cảm. Thực tế, mỗi khi Hannô tạo ra một hiệu quả mới dù chỉ một mình chú cảm thấy như vậy thì hiệu quả đó phần lớn cũng chỉ có tình chất cảm thương. Những nhịp hài hòa đơn giản hết sức, chú dùng thủ pháp nhấn mạnh và kéo dài làm cho trở nên thần bí. Những hòa thanh mới, những chỗ chuyển biến thì chú dùng những âm hưởng đột ngột, ấm ức để cho người nghe phải kinh ngạc. Khi đàn, chú giương lông mày lên, ưỡn người ra, lắc lư. Bây giờ đánh đến đoạn kết Hannô thích thú nhất, chú nhón chân lên theo kiểu trẻ con đưa toàn bài đến đỉnh cao.


Không phải hầu hết những người ngồi nghe đều nhận ra tài năng của Hannô. Ví dụ bà Tôny, bà không hiểu biết gì về kĩ xảo đó cả, nhưng nụ cười hồn nhiên trên mắt chú, cách chú đưa qua đưa lại nửa người phía trên và nghiêng cái đầu bé nhỏ đáng yêu sang một bên khi chìm đắm trong hạnh phúc thì bà thấy hết… Chính cảnh tượng đó đã làm cho bà có thiện cảm và xúc động thật sự.


Thằng bé đàn hay tuyệt! Ôi, cháu tôi đàn hay tuyệt! – Bà vừa nói to vừa bước tới ôm Hannô vào lòng, nước mắt rưng rưng. – Chị Ghécđa, anh Tom, sau này cháu sẽ trở thành Môda, trở thành Mâyêbe, thành…


Trong chốc lát bà không nghĩ ra được tên người nào khác nổi danh như thế nữa, bèn hôn lấy hôn để lên người cháu để chấm dứt câu nói của mình. Hannô ngồi hai tay để lên đầu gối, không còn chút sức lực nào, mắt mơ mơ màng màng.


Đủ rồi, đủ rồi cô Tôny! Ông nghị nói khẽ - Tôi van cô! Cô còn muốn nhồi nhét vào đầu óc nó những gì nữa?


 


 


Chương VII


Thâm tâm ông Tômát Bútđenbrúc không thích cái khí chất đó của Giôhan và không muốn chú phát triển theo chiều hướng đó.


Trước kia, ông bất chấp những lời dèm pha, những cái lắc đầu của đám thị dân để cưới cô Ghécđa Ácnônđen về làm vợ. Lúc đó, ông cho mình là người kiên nghị không để ai lung lạc. Ông có thể cho phép sở thích phong nhã khác người của mình bộc lộ mà không phương hại gì đến thông minh tài cán của một người thị dân. Nhưng bây giờ, đứa con thừa tự ông mong mỏi bao lâu mới được, nhìn hình thể bề ngoài vẫn mang rất nhiều đặc điểm của dòng họ này, lại hoàn toàn chịu ảnh hưởng sâu sắc khí chất của mẹ nó. Ông vốn hy vọng sau này sẽ có ngày nó phát huy sự nghiệp suốt đời của ông được thuận lợi, mạnh mẽ hơn ông. Nhưng cứ như bây giờ thì không những nó không hòa mình vào hoàn cảnh sống và những hoạt động mà ông có trách nhiệm, thậm chí nó lại còn lạnh nhạt với cả ông nữa. Chả nhẽ những cái đó lại trở thành sự thực hay sao?


Mãi cho đến nay, ngón đàn viôlông của vợ, đôi mắt kì dị mà ông từng yêu tha thiết, mái tóc đỏ thẫm dày khít cũng như phong thái tình cảm lạ lùng của vợ ông vẫn không hề thay đổi, và đối với ông thì đó chính là những cái làm cho ông say đắm. Nhưng bây giờ ông vẫn không thể không nhìn nhận rằng sự say mê âm nhạc đã hoàn toàn chi phối con trai ông khi nó còn non dại, sự say mê ấy trái ngược với bản tính ông, đã thành đối địch với ông, ngăn cách ông và con trai ông. Hơn nữa, ông hằng mong mỏi con trai ông sẽ là một người của dòng họ Bútđenbrúc thật sự, một người tính tình kiên nghị, đầu óc thực tế, có chí tiến thủ mạnh mẽ đối với quyền lực vật chất. Tình cảnh trước mắt khiến ông đau đầu, sức mạnh đối địch đó là mối đe dọa lớn đối với ông, hầu như muốn biến ông thành người xa lạ trong chính gia đình ông.


Bà Ghécđa và ông Phít, bạn bà, thì đắm đuối say mê âm nhạc, ông không sao gần gũi được. Thái độ cao ngạo nghiêm khắc của bà vợ đối với những chuyện có liên quan đến nghệ thuật làm cho ông càng khó gần gũi với âm nhạc.


Xưa nay ông chưa hề nghĩ rằng âm nhạc là cái gì hoàn toàn xa lạ với người trong nhà này, chỉ đến bây giờ ông mới có cảm giác đó. Ông nội ông những lúc nhàn rỗi cũng thích thổi sáo, bản thân ông lúc nào nghe những bản mêlôđi hay, cũng thấy thích thú, dù bài đó êm đềm, thê thảm hay nhộn nhịp, vui tươi. Nhưng chỉ cần ông nói sự thích thú đó ra bằng lời nói là vợ ông liền nhún vai tỏ vẻ thương hại:


- Anh bạn! Anh thật là… Cái của ấy thì có giá trị âm nhạc gì đâu cơ chứ?


Ông rất bực với cái “giá trị âm nhạc” ấy, bởi vì đối với ông, từ ấy bao hàm một ý nghĩa tàn nhẫn và ngạo mạn. Có lúc đứng trước mặt ông, ông buộc phải chống chế. Nhiều lần ông đã giận dữ gào lên:


Em thân mến! Động một tí là em nói đến giá trị âm nhạc! Anh thấy chẳng qua chỉ là sự tự cao tự đại, nhạt nhẽo vô vị mà thôi!


Bà Ghécđa cãi lại chồng:


Anh Tômát, mãi mãi anh không bao giờ hiểu âm nhạc là một nghệ thuật. Anh thông minh nhưng không thể nhận thức được rằng, âm nhạc là một nghệ thuật chứ không phải là một trò tiêu khiển lúc trà dư tửu hậu. Những chuyện khác, anh phân biệt được thế nào là tầm thường, chỉ riêng âm nhạc thì anh thiếu hẳn óc phán đoán, mà óc phán đoán là thước đo trình độ hiểu biết nghệ thuật. Đối với âm nhạc, anh không có nhu cầu và những kiến thức như đối với những cái khác. Nội điều đó cũng đủ cho thấy anh chẳng hiểu gì về âm nhạc cả. Anh thích cái gì trong âm nhạc? Thích cái lạc quan tầm thường vô vị chứ gì? Nếu thứ đó được viết vào sách, chắc chắn anh sẽ đọc với thái độ bực bội, mỉa mai. Hy vọng chưa nhen nhóm đã được thực hiện ngay… ý nguyện vừa lóe lên đã được thỏa mãn nhanh chóng, không mất công tốn của…! Chính bài mêlôđi hoa mỹ là như thế đó. Nhưng  trên đời có cái gì như thế nhỉ? Chỉ là cái lý tưởng trống rỗng nông cạn mà thôi!


Ông Tômát hiểu vợ, hiểu được những lời vợ nói. Nhưng về cảm thụ, ông không thể tán thành ý nghĩ đó của vợ. Ông không thể hiểu nổi tại sao những bài mêlôđi hoa mỹ khiến cho ông phấn chấn, rung động lại trống rỗng, nông cạn, còn những thứ ông thấy khô khan hỗn loạn thì lại có giá trị âm nhạc cao nhất! Ông như đang đứng trước một ngôi đền mà bà vợ đã không chút nể nang, cự tuyệt không cho ông bước qua khỏi bậu cửa! Ông đau khổ nhìn vợ và con mất hút ở trong đó.


(còn tiếp)


Nguồn: Gia đình Buddenbrook. Tiểu thuyết của Thomas Mann. Nobel Văn học năm 1929. Hồng Dân Hoa dịch. NXB Lao động, 1975.


 www.trieuxuan.info


 


 







Jean Sebastien Bach (1685 – 1750), một nhạc sĩ nổi tiếng của Đức.




Giovanni Pierluigi da Palestrina (1525-1594). Nhà sáng tác các bản nhạc nhà thờ, người Ý.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »