tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29829457
Tiểu thuyết
03.05.2012
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

 


Rõ ràng là tôi không nghĩ tới "học tập" ở Berlin. Vẫn như ở Vienne, tôi chỉ đặt chân tới trường Đại học hai lần trong một học kỳ, lần đầu tiên để ghi tên, lần thứ hai để lấy một chứng chỉ chuyên cần (giả).


Điều tôi tìm ở Berlin không phải là các bài giảng, cũng chẳng phải các giáo sư, mà là một hình thức cao hơn và hoàn thiện hơn nữa của tự do. Ở Vienne tôi cảm thấy bao giờ cũng bị ràng buộc với môi trường, các bạn đồng sự văn chương mà tôi giao du hầu như đều xuất thân như tôi từ giới tư sản Do Thái; trong cái thành phố hạn hẹp nơi mà mọi người đều quen biết nhau, tôi hãy còn không thể bác bỏ được mình là một người con trai của gia đình "tử tế" và tôi bắt đầu mệt mỏi với cái xã hội "tử tế" đó, thậm chí tôi khao khát dù chỉ một lần về một xã hội rõ ràng "xấu", về một phong cách sống vượt khỏi câu thúc và kiểm soát. Tôi không hơi đâu nhặt trong danh mục các bài giảng tên của các giáo sư dạy Tiết học ở trường Đại học Berlin; tôi chỉ cần biết rằng văn học "mới" ở đây tỏ ra năng động hhơn, có sức thúc đẩy hơn nơi chúng tôi, rằng người ta gặp ở đây Dehmel và những thi sĩ khác của thế hệ trẻ, rằng người ta thường xuyên thành lập ở đây những tạp chí, những tiệm rượu, những nhà hát, rằng sau cùng "ở đây cái gì đó đang xảy ra".


Và trên thực tế, tôi đến Berlin vào một thời điểm lịch sử đáng chú ý vào bậc nhất. Từ năm 1870 khi mà cái thủ đô nhỏ thật tầm thường và chẳng giàu có chút nào của nước Phổ trở thành nơi ở của Hoàng đế nước Đức, cái thành phố nhỏ bé không có khí sắc trên hai bờ sông Spree đã phát đạt đáng kể. Nhưng Berlin còn chưa chiếm được quyền bá chủ về mặt nghệ thuật và văn hóa. Munich với những nhà hội họa và nhà thơ của nó vẫn được coi là trung tâm thực sự của nghệ thuật; nhà nhạc kịch của Dresde ngự trị trong âm nhạc, và những trụ sở nhỏ lôi cuốn về phía chúng những giá trị chắc chắn, nhưng trước hết, Vienne với những truyền thống lâu đời của nó, những lực lượng tập trung của nó, tài năng bẩm sinh của nó còn thắng Berlin rất nhiều. Tuy nhiên, trong những năm cuối, với đà phát triển nhanh chóng về kinh tế của nước Đức, sự vật đã bắt đầu thay đổi bộ mặt. Những công ty lớn, những gia đình giàu có định cư ở Berlin, và một sự giàu có mới liên kết với sự táo bạo và với đầu óc kinh doanh tạo cho ngành Kiến trúc, cho sân khấu nhiều khả năng hơn bất cứ một thành phố lớn nào khác ở nước Đức. Nhưng việc bảo tàng mở rộng dưới sự bảo hộ của Hoàng đế Guillaume, sân khấu tìm được ở Otto Brahm một giám đốc kiểu mẫu, và ngay cả việc không có truyền thống thực sự, không có văn hóa lâu đời lại kích thích giới trẻ thử những cuộc phiêu lưu. Bởi một truyền thống bao giờ cũng là một cái hãm. Vienne gắn bó với những sự vật cổ xưa, tôn thờ quá khứ của chính mình, có một thái độ thận trọng và chờ đợi xem sao đối với giới trẻ và những thử nghiệm mạo hiểm. Nhưng ở Berlin, vì muốn phát triển nhanh chóng và theo tinh anh riêng của mình, nó tìm kiếm cái mới. Vậy nên đương nhiên là giới trẻ trong toàn Đế quốc và cả ở Áo tràn tới Berlin và sự thành công cho thấy những người có tư chất nhất trong bọn họ đã đúng: Max Reinhardt người Vienne đã phải chờ đợi kiên trì hai mươi năm ở Vienne để đạt được vị trí mà anh ta giành được trong hai năm ở Berlin.


Chính là ở cái thời kỳ chuyển tiếp ấy, lúc mà cái thủ đô bình dị vươn lên tầm thành phố thế giới, mà tôi tới Berlin. Cảm tưởng đầu tiên của tôi đúng hơn là thất vọng, tôi hãy còn cặp mắt và trí óc tràn đầy vẻ đẹp của thành Vienne được thừa hưởng của tổ tiên quang vinh, sự ngả quyết định về phương Tây nơi kiến trúc mới phải phát triển, thay vì những khối kiến trúc kiêu kỳ của Tiergarten, vừa mới bắt đầu, những con đường Friedrich, Leipziger thật buồn tẻ với những công trình xây dựng xa hoa và kém thẩm mỹ vẫn còn tạo thành khu trung tâm của thành phố. Người ta khó khăn lắm mới đi tới được bằng tàu điện, các thị trấn như Wilmersdorf, Nicolassel, Steglitz, các hồ ở vùng ngoại ô với những vẻ đẹp khắc khổ chỉ có thể được thăm vào thời ấy với giá một cuộc thám hiểm thực sự. Ngoài đại lộ cũ Unter den Linden, không có khu trung tâm thực sự, không có đường dạo chơi như chỗ chúng tôi ở Graben, và thành phố nhìn chung thiếu hẳn vẻ thanh lịch lỗi tại sự dè sẻn cũ kỹ của nước Phổ. Phụ nữ đến nhà hát trong những trang phục kì cục mà họ cắt may lấy, khắp nơi người ta lấy làm tiếc sự thiếu vắng của những bàn tay vàng vừa khéo léo vừa hào phóng với không gì cả cũng may được, ở Vienne cũng như ở Paris, một thứ đồ phù phiếm quyến rũ. Trong mỗi chi tiết riêng người ta cảm thấy tính bủn xỉn kiểu Frédéric; cà phê thì loãng và tồi vì người ta tiếc từng hạt, thực phẩm không ngon, không tinh khiết và không bổ dưỡng. Sự sạch sẽ và một trật tự chặt chẽ ngự trị khắp nơi thay vì hào hứng âm nhạc của chúng tôi. Ví dụ, đối với tôi không có gì đặc trưng hơn sự tương phản giữa những bà cho tôi thuê phòng ở Vienne và ở Berlin. Bà ở Vienne là một phụ nữ nhanh nhẹn và ba hoa không giữ được tất cả mọi vật trong một tình trạng sạch sẽ hoàn hảo, bỏ quên do lơ đễnh cái này hay cái nọ, nhưng bao giờ cũng tỏ ra sẵn sàng giúp đỡ anh và sung sướng được làm điều đó. Bà ở Berlin thì nghiêm chỉnh và giữ tất cả trong tình trạng hoàn hảo, nhưng trong bản thanh toán tháng đầu tiên của bà ta, tôi thấy được ghi bằng nét chữ rõ và cứng đờ của bà tất cả những việc vặt mà bà đã giúp đỡ tôi: ba xu tiền khâu một cúc quần của tôi, hai mươi xu tiền tẩy một vết mực trên bàn tôi, và sau cùng, tôi thấy phía dưới một gạch ngang rắn rỏi rằng tất cả những sự vất vả mà bà ta đảm đương lên tới món tiền nhỏ là sáu mươi bảy xu. Lúc đầu tôi cười về những điều đó, nhưng điều thực sự đặc trưng là sau ít ngày bản thân tôi quy phục cái ý thức trật tự tỉ mỉ ngự trị ở Phổ, và lần đầu tiên cũng là lần cuối cùng trong đời tôi giữ cho thật cập nhật việc tính toán các khoản chi của tôi.


Bạn bè tôi ở Vienne đã cho tôi cả một loạt thư giới thiệu. Nhưng tôi không dùng thư nào. Ý nghĩa thực sự của việc tôi trốn chạy là thoát khỏi bầu không khí yên ổn tư sản để sống hoàn toàn giải thoát và tự mình quyết định cho mình. Tôi chỉ muốn gặp những người mà tôi được giới thiệu do các tác phẩm văn học của chính tôi - và càng nhiều càng hay, những người thú vị, chung quy không phải là vô ích mà người ta đọc Giới phóng đãng (La Bohême) và ở tuổi hai mươi ta ắt phải ước ao bản thân mình sống một vài cảnh đó.


Tôi đã không phải tìm lâu một trong những nhóm tập hợp ngẫu nhiên một cách tự do và không gò bó đó. Hồi ở Vienne tôi đã cộng tác với tạp chí có cái tên gần như mỉa mai Die Gesellschaft (xã hội) nó làm mẫu cho những "Người hiện đại" của Berlin, dưới sự điều khiển của Ludwig Jacobowski. Nhà thơ trẻ này đã thành lập ít lâu trước cái chết yểu của ông một hội mang cái tên có tác dụng quyến rũ thanh niên "Những người của ngày mai" và có những cuộc hội họp ở tầng một tiệm cà phê Nollendorfplatz. Trong cái câu lạc bộ lớn này được tổ chức theo gương "Vườn tử đinh hương" ở Paris, chen vai thích cánh những thành phần rất không thuần nhất, những nhà thơ và nhà kiến trúc, những kẻ thời thượng và những nhà báo, những thiếu nữ khoác áo giả làm học sinh mỹ thuật và nghệ thuật hoặc người tạc tượng, những sinh viên Nga và những cô gái Scandinave tóc vàng hoe như bông lúa mì, muốn hoàn thiện kiến thức về tiếng Đức. Bản thân nước Đức có những đại biểu của tất cả các tỉnh tại đây, dân Westphalen to xương, những Bavière lương thiện, dân Do Thái xứ Silésie, tất cả những người đó hòa trộn trong những cuộc tranh cãi hung hăng và không một chút câu thúc nào. Thỉnh thoảng người ta đọc thơ hay kịch, nhưng điều chính yếu là để tập hiểu biết lẫn nhau. Giữa tất cả những người trẻ tuổi đó, họ cố ý cư xử như những người con của xứ Bohême( ), ngự trị một ông già có bộ râu hoa râm đáng cảm động như một ông già Nôen, được tất cả mọi người kính trọng và yêu mến bởi vì ông là một nhà thơ và một người phóng lãng thực sự, đó là Pierre Hille. Ông già thất thập đó với cặp mắt xanh hiền hậu của loài chó trung thành, ngắm đàn trẻ con kỳ cục đó với một lòng nhân từ ngây thơ, bao giờ cũng choàng trong tấm măng tô xám nó che đậy một bộ quần áo hoàn toàn rách rưới và những đồ lót rất bẩn, ông vui lòng làm theo những lời khẩn nài của chúng tôi, rút ở một ngăn túi áo rơđanhgốt những bản thảo đã nhàu nát hết và đọc cho chúng tôi những bài thơ của ông. Đó là những bài ngắn, giá trị không đều nhau, thực ra là những ứng tác của một thiên tài trữ tình, nhưng với hình thức quá cẩu thả, quá buông lỏng cho ngẫu nhiên. Ông viết chúng bằng bút chì trong tầu điện hay ở quán cà phê, sau đó quên ngay đi và khó khăn lắm, khi đọc chúng, mới tìm lại được các từ trên những tờ giấy lộn nhàu nát và hoen ố. Không bao giờ ông có tiền, nhưng không lo lắng về tiền, ông ngủ khi thì ở nhà người này, khi ở nhà người khác và sự quên đời của ông, sự thiếu vắng hoàn toàn tham vọng của ông có cái gì đích thực và thực sự gây xúc động. Thực ra, người ta không hiểu con người của rừng cây đó đã giạt về thành phố Berlin lúc nào và như thế nào và ông tìm gì ở đây. Chính là vì ông không có chút tham vọng nào, ông không muốn nổi tiếng, không muốn được khoản đãi, và trong khi ấy, nhờ có thiên hướng mơ mộng thi ca, ông tránh khỏi lo âu và được tự do hơn tất cả những người mà tôi có dịp nhận xét về sau. Xung quanh ông những tay tranh cãi nhiều tham vọng gây đầy huyên náo và kêu gào đến khản cổ; ông nghe với lòng khoan dung, không nói trái một ai, thỉnh thoảng giơ cao cốc của ông nhắm vào một người trong bọn họ với một cái chào thân ái, nhưng hầu như không xen vào cuộc tranh luận. Người ta có cảm tưởng rằng ở giữa sự huyên náo đó, những từ và những câu thơ tìm nhau trong cái đầu bù xù và hơi mỏi mệt của ông, mà không tìm thấy nhau và không liên kết lại được với nhau.


Sự thành thật và chất trẻ thơ tỏa ra từ nhà thi sĩ chất phác ấy - ngày nay hầu như bị quên lãng, ngay ở nước Đức - đã khiến tôi có lẽ do cảm tính ít chú ý đến ông chủ tịch được bầu ra của "Những người của ngày mai"; tuy vậy đó là một nhân vật mà những ý tưởng và những lời nói phải có một ảnh hưởng quyết định đối với việc đào tạo biết bao nhiêu con người. Ở đây tôi gặp Rodolphe Steiner, ông phải là người sáng lập khoa nhân tướng học, và vì ông mà các môn đệ sau này xây dựng nhiều trường học và viện hàn lâm huy hoàng nhất, để ông có thể đưa học thuyết của mình đến thắng lợi, và là lần thứ nhì sau Théodor Herzl, ông là một trong số những con người được số phận giao cho sứ mệnh làm người dẫn đường cho nhiều triệu con người. Về mặt cá nhân, ông không gây cảm giác một thủ lĩnh như Herzl, mà đúng hơn là cảm giác của một người quyến rũ. Trong cặp mắt u tối của ông ngự trị một sức mạnh thôi miên, tôi nghe ông tốt hơn và ý thức phê phán của tôi tỉnh táo hơn lúc tôi không nhìn ông, vì khuôn mặt khắc khổ và hốc hác của ông mang dấu tích niềm say mê trí tuệ, rất thích hợp để thực hiện một uy lực mê hoặc, và không chỉ đối với phụ nữ. Trong thời kỳ đó Rodolphe Steiner còn chưa có được học thuyết cá nhân của mình; bản thân ông còn đang tìm tòi và nghiên cứu nếu gặp dịp ông trình bày với chúng tôi những bình luận của ông về lý thuyết các màu sắc của Goethe và hình ảnh Goethe trong bản trình bày của ông, trở nên có chất Phaoxtơ hơn, Paracelse hơn. Rất kích động khi nghe ông, bởi vì vốn kiến thức của ông thật đáng kinh ngạc và nhất là so sánh với vốn của chúng tôi chỉ tự giới hạn ở văn học, thì vốn ấy đa dạng một cách kỳ lạ; qua những cuộc diễn thuyết của ông và qua rất nhiều cuộc trao đổi riêng rất bổ ích, bao giờ tôi cũng trở về với sự hào hứng nói chung và đượm chút nặng nề. Tuy nhiên, ngày nay khi tôi tự hỏi xem lúc đó tôi có thể tiên đoán cho con người trẻ tuổi đó một ảnh hưởng đạo đức và triết học đối với quần chúng đến như vậy không, tôi lấy làm xấu hổ và thú nhận rằng không. Tôi đã chờ đợi ở đầu óc tìm tòi nghiên cứu của ông nhiều chuyện lớn trong các khoa học và tôi sẽ không ngạc nhiên chút nào nếu nghe nói về một phát hiện lớn nào đó về sinh học mà thiên tài trực cảm của ông đã đạt được; nhưng nhiều năm sau, khi tôi thấy ở Dornach, Geotheanum vĩ đại, cái "Trường học của sự Hiền minh" mà những môn đồ của ông đã thành lập như một Hàn lâm viện kiểu Platon về Nhân loại học, tôi đúng hơn là đã bị thất vọng vì ảnh hưởng của ông đã bị xử dụng vào lãnh vực những thực tế có thể nắm được một cách rộng rãi và ngay cả vào cái tầm thường ở một số phương diện nào đó. Tôi không có ý định phê phán về thuyết nhân loại học, bởi cho đến hôm nay tôi không nắm được một cách rõ ràng nó muốn gì và nó có ý nghĩa gì, thậm chí tôi ngả về phía tin rằng, hiệu quả quyến rũ của nó do ở một ý tưởng không nhiều bằng do con người đầy sức mê hoặc của Rodolphe Steiner. Dẫu sao thì việc được gặp một người có sức hút nam châm như thế, ở một thời mà ông ta còn giao du với những người trẻ tuổi hơn ông rất nhiều với một tình bè bạn thân thiết và không có ý đồ giáo điều, đối với tôi đã là một bổ ích vô giá. Qua sự hiểu biết của ông vừa rộng vừa sâu một cách phi thường, tôi biết rằng tài năng toàn diện thực sự mà, với tính tự cao của học sinh trung học chúng tôi, chúng tôi tưởng mình đã làm chủ, không thể thu hoạch được bởi việc đọc sách và những thảo luận hời hợt, mà đòi hỏi phải luyện một cách kiên trì bởi nhiều năm nay mê làm việc và gắng sức.


Nhưng rút cuộc, một người trẻ tuổi học được nhiều điều thiết yếu từ những người cùng gắng sức với anh ta hơn là từ những người trên, ở cái tuổi mà anh ta dễ thụ cảm, mà những tình bạn được kết giao một cách dễ dàng, mà những khác biệt về chính trị và xã hội còn chưa quá rõ rệt. Một lần nữa tôi cảm thấy - nhưng trên một bình diện cao hơn và quốc tế hơn ở trường trung học - nhiệt hứng tập thể có lợi đến mức nào. Trong khi các bạn ở Vienne của tôi hầu như tất cả đều xuất thân từ tư sản và đến chín phần mười là tư sản Do Thái, đến nỗi chúng tôi chỉ việc nhân gấp đôi hay nhân gấp nhiều lần khuynh hướng riêng của chúng tôi, những người trẻ tuổi của thế giới mới này xuất phát từ những môi trường đối lập nhau, họ đến từ trên cao, từ dưới thấp, người này là một quý tộc Phổ, người kia con chủ tàu buôn Hambourg, người thứ ba xuất thân từ một gia đình nông dân ở Westphalie; bỗng nhiên tôi được ghép vào một nhóm - nơi gặp gỡ cảnh khốn cùng thực sự của áo quần rách rưới và giày vẹt gót, tức là một môi trường mà ở Vienne tôi chưa bao giờ tiếp xúc. Tôi ngồi ăn với những người say rượu, những kẻ đồng tính luyến ái và những gã chích morphin, tôi xiết chặt tay - rất vinh dự - một kẻ xảo trá khá nổi tiếng đã ở nhiều năm trong tù (về sau anh ta đã xuất bản Hồi ký và như vậy vào câu lạc bộ viết văn của chúng tôi). Tất cả những gì tôi không tin nổi khi đọc trong các tiểu thuyết hiện thực chủ nghĩa trườn vào và chen chúc nhau trong những quán nhỏ và những tiệm cà phê nơi tôi du nhập, và một người càng nổi tiếng xấu bao nhiêu tôi càng tò mò muốn biết cá nhân anh ta. Sự trìu mến ấy, sự quan tâm ấy đối với những người bị mất thanh danh một cách nguy hiểm đã theo đuổi suốt đời tôi; ngay trong những năm đáng lẽ phải rất cẩn thận trong việc lựa chọn những mối quan hệ của mình, các bạn bè tôi luôn chê trách tôi giao du với những người thiếu đạo đức, khả nghi và có tì vết thực sự. Có lẽ đúng là cái thế giới của sự "chín chắn" từ đó tôi đến và việc mà tôi tự cảm thấy phải chịu đến một mức nào đó cái mặc cảm về "sự yên ổn" khiến tôi gắn bó với tất cả những ai tỏ ra hoang đãng và gần như coi khinh đời sống của họ, thời gian của họ, tiền bạc của họ, sức khỏe của họ, tiếng tốt của họ, tất cả những kẻ đắm say dó, những kẻ mê cuộc sống không mục đích, và chẳng nghi ngờ gì, người ta có thể nhận thấy trong các tiểu thuyết và truyện ngắn của tôi sự ưa chuộng tất cả những bản chất mãnh liệt và phóng túng. Thêm vào đó còn sự quyến rũ của tính ngoại lai, của điều lạ thường; hầu như mỗi người trong bọn họ mang đến cho trí tò mò khao khát của tôi một tặng phẩm của một thế giới chưa được biết đến. Ở con người của nhà họa đồ E.M. Lilien, con trai một bác thợ tiện tầm thường theo đạo Chính thống ở Drohobycz, lần đầu tiên tôi gặp một người Do Thái phương Đông đích thực, và qua đó, một thứ Do Thái giáo mà cho đến lúc ấy tôi không hề biết gì về sức mạnh và sự cuồng tín ngoan cường của nó. Một anh chàng người Nga trẻ dịch cho tôi những trang hay nhất của Anh em nhà Karamazov mà nước Đức còn chưa biết, một cô Thụy Điển cho tôi xem lần đầu tiên tranh của Munch; tôi vào trong những xưởng họa, thực ra rất là bình thường, để quan sát kỹ thuật của họ, một người hâmmộ những thứ đó dẫn tôi vào một nhóm những người theo thuyết thông linh cảm nhận đời sống theo nghìn dạng và trong tất cả sự khác nhau của nó, và chẳng bao giờ tôi thỏa mãn. Ở trường trung học, cường độ đã chỉ tìm thấy sự biểu hiện của nó trong những hình thức thuần túy, trong những vần điệu, những câu thơ và những từ, nay lao vào những con người, từ sáng cho đến nửa đêm tại Berlin tôi luôn luôn ở giữa những người quen mới phấn khởi, bị thất vọng, thậm chí bị lừa vì họ. Tôi tin chắc rằng trong mười năm tôi đã không phục tùng thị hiếu của tôi ưa giao tiếp tinh thần bằng trong học kỳ ngắn đã qua đi ở Berlin, học kỳ đầu tiên của sự tự do hoàn toàn của tôi.


 


            *


Có thể dường như là hợp lý rằng tính đa dạng khác thường của những kích thích phải dẫn tới một sự tăng cường tương ứng niềm ham muốn sáng tạo nghệ thuật nơi tôi. Trên thực tế, chính là đã xảy ra điều trái ngược. Những tham vọng rất cao của tôi nảy sinh ở trường trung học từ những sự ca tụng lẫn nhau đã tan đi một cách đáng lo ngại. Bốn tháng sau lần xuất bản ấy, tôi không còn biết tôi đã tìm ở đâu ra sự can đảm đem in tập thơ còn rất ít thành thực đến như thế; bao giờ tôi cũng cảm thấy những câu thơ đó giống như của một nghề khéo, có những đoạn xuất sắc, được sinh ra từ niềm thích thú đầy tham vọng muốn đùa giỡn với hình thức của tôi, nhưng ngày nay tôi cho rằng với tất cả tính đa cảm của chúng, chúng có vẻ giả dối. Và tương tự như vậy, từ khi tôi tiếp xúc với thực tế, tôi thấy những truyện ngắn đầu tiên của mình có hơi hướng giấy ướp hương, được viết ra trong sự không hay biết hoàn toàn những điều thực tế, chúng khai thác một kỹ thuật bắt chước gián tiếp. Một cuốn tiểu thuyết đã hoàn thành đến chương cuối cùng mà tôi mang theo đến Berlin để tạo may mắn cho nhà xuất bản của tôi đã được dùng không hề chậm trễ để đốt lò sưởi của tôi, vì niềm tin vào năng lực của lớp học trường trung học của tôi đã bị giáng một đòn khá nặng ngay từ cái nhìn đầu tiên mà tôi ném vào cuộc đời thực. Tôi có cảm tưởng của một cậu học trò đang được xếp vào một lớp dưới. Và sự thật là sau tập thơ đầu tiên của tôi, tôi đã để trôi đi sáu năm trước khi xuất bản tập thứ nhì, và chỉ sau ba hoặc bốn năm tôi mới cho ra tác phẩm văn xuôi đầu tiên. Theo lời khuyên của Dehmel người mà đến ngày nay tôi còn nhớ ơn, tôi dùng thời giờ của tôi để làm việc dịch thuật tiếng nước ngoài, điều mà tôi còn coi là phương tiện tốt nhất mà một nhà thơ trẻ có thể sử dụng để nắm được chiều sâu cái thần tình trong ngôn ngữ của chính mình và làm chủ được nó nhằm vào những sáng tạo tương lai. Tôi dịch những bài thơ của Baudelaire, vài bài của Verlaine, của Keats, của William Morris, một vở kịch nhỏ của Charles van Lerberghe, một tiểu thuyết của Camille Lemonnier "pour me faire la main"( ). Sự thực là mỗi đặc ngữ của nó, gây những trở ngại cho người dịch có ý định tái tạo một văn bản trong ngôn ngữ của mình, đòi hỏi tất cả các phương sách biểu đạt sẽ không được vận dụng nếu không được tìm kiếm, và cuộc chiến đấu nhằm bền bỉ rút ra ở một ngoại ngữ những gì là riêng nhất của nó và hội nhập bằng được vào tiếng mẹ đẻ mà vẫn bảo toàn cùng một tính chất của vẻ đẹp hình thức, đối với tôi bao giờ cũng là một niềm vui nghệ thuật có bản chất hết sức riêng biệt. Do cái việc làm yên lặng và xét đến cùng không được thưởng đó đòi hỏi lòng kiên nhẫn và sự bền bỉ, những đức tính mà tôi đã lơ là việc trau dồi ở trung học do khinh suất và tự phụ nên nó đã trở nên quý giá một cách đặc biệt đối với tôi. Miệt mài với hoạt động trung gian giới thiệu những kho tàng nghệ thuật lừng danh nhất, lần đầu tiên tôi cảm thấy vững chắc rằng cái gì đó thực sự có ý nghĩa, tôi mang lại một lẽ sống cho đời tôi.


*


 


Trong thâm tâm tôi, con đường của tôi đã được vạch ra một cách rõ ràng như vậy cho nhiều năm sau: xem nhiều, học nhiều, và chỉ sau đó mới khởi đầu một cách thực sự! Không xuất hiện trước mọi người với những xuất bản phẩm chưa đủ độ chín - trước hết biết trong thiên hạ có những gì cốt yếu! Berlin với những gia vị hăng hắc của nó chỉ làm tăng thêm độ khát của tôi. Và tôi cân nhắc để biết tôi sẽ đi du lịch mùa hè ở nước nào, sự lựa chọn của tôi rơi vào nước Bỉ. Xứ này đã đạt được vào cuối thế kỷ qua một đà tiến về nghệ thuật phi thường, nó cũng đã theo một ý nghĩa nào đấy vượt nước Pháp, về cường độ. Khnopff, Rops trong hội họa, Constantin Meunier và Minne trong điêu khắc, Vander Velde trong các nghệ thuật ứng dụng, Maeterlinck, Eckhoud, Lemonnier trong thi ca mang tầm cỡ to lớn của sức mạnh mới của châu Âu. Nhưng trước hết, chính Emile Verhaeren quyến rũ tôi, bởi vì ông đã mở ra cho thơ trữ tình những con đường hoàn toàn mới; ông còn hoàn toàn chưa được biết ở nước Đức - nền văn học chính thống lẫn lộn ông với Verlaine, cũng giống như nó không phân biệt Rolland và Rostand - và tôi dường như đã phát hiện ông cho riêng mình. Chỉ một mình yêu ai, bao giờ cũng yêu người ấy gấp hai lần.


Có lẽ cần thiết đưa vào đây một dấu ngoặc nhỏ. Thời đại chúng ta thấy quá nhanh và thấy quá nhiều điều để gìn giữ về những điều ấy một kỷ niệm trung thành, và tôi không biết cái tên Emile Verhaeren hiện còn có ý nghĩa chút nào không. Verhaeren là người đầu tiên trong số tất cả các nhà thơ Pháp đã toan cho châu Âu những gì Walt Whitman đã cho châu Mỹ: sự tuyên bố công khai niềm tin ở thời đại mình và niềm tin ở tương lai. Ông đem lòng yêu mến thế giới hiện đại và ông muốn chinh phục nó cho thi ca. Trong khi đối với những người khác, máy là xấu, những thành phố là đáng ghét, cái hiện đại là phản thơ ca, ông cảm thấy hứng thú với mỗi phát minh mới, với mỗi thành tựu về kỹ thuật, và ông hứng khởi vì lòng hứng khởi riêng của ông: ông hứng khởi một cách cố ý, để tự cảm thấy mạnh hơn từ niềm đam mê ấy. Những bài thơ nhỏ khởi đầu trở thành những bài hát ca ngợi cuồn cuộn chảy tràn bờ. "Chúng ta hãy khâm phục lẫn nhau", đó là khẩu hiệu của ông cho các dân tộc châu Âu. Tất cả chủ nghĩa lạc quan trong thời kỳ suy thoái khủng khiếp mà chúng tôi sống, từ lâu đã không còn hiểu được nữa, ở ông ta đã tìm thấy sự biểu lộ bằng thi ca đầu tiên, và một số bài hay nhất của ông sẽ còn mang lâu dài bằng chứng của châu Âu và của nhân loại mà hồi đó chúng tôi đã mơ ước.


Chính để làm quen với Verhaeren mà tôi tới Bruxelles. Nhưng Camille Lemonnier, nhà thơ hùng mạnh ngày nay bị lãng quên một cách rất bất công của tác phẩm Mâle và bản thân tôi đã dịch của ông một cuốn tiểu thuyết sang tiếng Đức, đã lấy làm tiếc nói với tôi rằng Verhaeren rất ít khi rời khỏi ngôi làng nhỏ của ông đến Bruxelles và vào lúc này ông vắng mặt. Để giảm nhẹ nỗi thất vọng của tôi ông cho tôi những bức thư giới thiệu lời lẽ rất thân mật để gặp những nghệ sĩ người Bỉ khác. Chính vì vậy mà tôi gặp bậc thầy già Constantin Meunier, người lao động anh hùng và nhà điêu khắc sung sức trong công việc, và sau ông là Vander Stappen mà ngày nay gần như đã bị quên tên trong lịch sử nghệ thuật. Nhưng là người đáng yêu biết mấy cái anh chàng Flamand má phính ấy và anh ta dành cho chàng trai mười chín tuổi cuộc dón tiếp thân mật làm sao, anh và vợ anh, một phụ nữ vui tính người Hà Lan! Anh đưa tôi xem các tác phẩm của anh, chúng tôi chuyện trò lâu vào cái buổi sáng trong trẻo ấy, về nghệ thuật và về văn học, và lòng tốt của hai con người ấy chẳng bao lâu đã cởi bỏ cho tôi mọi e dè. Tôi thật thà thú nhận với họ điều đáng tiếc cho tôi không được gặp ở Bruxelles người mà chính vì ông mà tôi đến đây: Verhaeren.


Phải chăng tôi quá lời? Phải chăng tôi buông ra một điều ngu ngốc? Dẫu sao đi nữa, tôi nhận thấy cả Vander Stappen và bà vợ anh ta bắt đầu mỉm cười và họ đưa mắt kín đáo cho nhau. Tôi cảm thấy có một sự thỏa thuận ngầm giữa hai người vì những lời nói của tôi. Tôi thấy ngại ngùng về điều đó và muốn cáo lui nhưng cả hai đều kêu lên và dứt khoát ép tôi ở lại dùng bữa sáng. Họ lại liếc mắt mỉm cười với nhau. Tôi linh cảm thấy rằng nếu ở đây có cái gì bí ẩn, thì phải là điều bí ẩn dễ chịu, và tôi tự nguyện từ bỏ cuộc thám hiểm mà tôi đã dự kiến ở chiến trường Waterloo.


Chẳng bao lâu đã giữa trưa, chúng tôi đã tề tựu ở phòng ăn, ở tầng trệt như trong tất cả các nhà người Bỉ, và chúng tôi nhìn đường phố qua cửa kính màu giữa lúc bỗng nhiên một cái bóng hiện ra bất động trước cửa sổ. Một ngón tay gõ vào miếng kính sặc sỡ, trong khi chiếc chuông nhỏ bị rung lên mạnh mẽ. "Kia rồi!" và Vander Stappen kêu lên và bà ta đứng dậy. Tôi không biết bà ta muốn nói gì, nhưng cửa đã mở và ông ta vào, chính ông ta, bước đi nặng và chắc: Verhaeren. Thoáng nhìn lần đầu tôi nhận ra ngay khuôn mặt mà các bức chân dung của ông đã làm tôi quen thuộc. Như thường xuyên, Verhaeren là khách của họ ngày hôm đó, và khi họ biết rằng tôi đã mất công đi tìm ông khắp vùng, họ đã trao đổi với nhau những cái liếc nhanh đồng tình: Không có nói gì hết và dành cho tôi điều bất ngờ về sự xuất hiện của ông ta. Và hiện giờ thì ông đã ở trước mặt tôi, mỉm cười về cái trò vui đùa nhỏ thành công mà họ nói lại với ông. Lần đầu tiên tôi cảm nhận cái xiết rắn rỏi của bàn tay gân guốc của ông, lần đầu tiên tôi bắt gặp cái nhìn hiền từ trong sáng của ông. Ông vào nhà - bao giờ cũng vậy - con người thực sự chứa chất sự kiện và hưng phấn. Ông ăn còn ngốn ngấu, không mất một miếng nào mà đã kể chuyện. Ông đã chơi nhà các bạn và thăm một phòng tranh, và còn đang nóng hổi về cái giờ mà ông đã trải qua ở những nơi đó. Từ mọi chốn ông trở về hứng khởi như thế bởi vì ông đã sống một cách ngẫu hứng, và cái cảm hứng ấy đối với ông trở nên một tập quán thiêng liêng; không ngớt, không ngừng, nó bật ra từ môi ông như một ngọn lửa, và cử chỉ đột ngột của ông minh họa một cách tuyệt vời những gì con người ông kể lại. Ngay từ những lời nói đầu tiên ông ta chiếm lĩnh bản thân anh, bởi vì ông cởi mở với tất cả, để gần với tất cả những điều mới mẻ, không từ chối gì hết và luôn luôn ở trong trạng thái sẵn lòng. Ông lao toàn thân vào cuộc gặp gỡ với anh, và giống như trong cái giờ đầu tiên đó, tôi đã cảm thấy hàng trăm lần sự mê thích đó và sự tấn công mãnh liệt đó mà ông trao cho đồng loại của mình. Ông còn chưa biết chút gì về tôi, mà ông đã trao lòng tin của ông cho tôi, đơn giản bởi vì ông biết rằng tôi tự cảm thấy gần gụi với tác phẩm của ông.


Sau bữa ăn, tiếp sau điều bất ngờ tốt đẹp thứ nhất đến một bất ngờ thứ hai. Vander Stappen, người đã từ lâu thích hoàn thành một nguyện vọng của Verhaeren, cũng là ước nguyện của ông là tạc một tượng bán thân của nhà thơ; ngày hôm ấy phải là buổi cuối cùng. Sự có mặt của tôi, Vander Stappen nói với tôi, là một đặc ân của số phận, vì đúng là ông cần một người nào đó nói chuyện với người mẫu quá náo động này, trong khi ông ngồi làm mẫu, để cho khuôn mặt ông sống động lên khi nói và khi nghe. Và thế là trong hai giờ đồng hồ tôi nghiên cứu bộ mặt không thể quên được đó, vầng trán cao bị cày lên bảy lần bởi lưỡi cày của những năm rủi ro, và, bên trên, thác những lọn tóc quăn màu gỉ sắt, cấu trúc khỏe khoắn của khuôn mặt trên đó căng một làn da xám, xạm đi vì gió, cằm nhô ra như một mỏm đá, và, trên cặp môi mỏng, ria mép dài và khỏe cong rủ kiểu Vercigétorix. Trạng thái dễ bị kích động biểu lộ ở các bàn tay, trong các bàn tay hẹp ấy, rụt rè, thanh mảnh nhưng rắn rỏi, ở đó những động mạch đập mạnh dưới làn da mỏng. Toàn thể sức nặng ý chí của ông tựa vào hai vai nông dân rộng làm cho cái đầu gân guốc và to xương có vẻ như quá nhỏ; chỉ khi ông đi những bước dài người ta mới chú ý tới sức mạnh của ông. Ngày nay khi tôi nhìn kỹ bức tượng bán thân đó - chưa bao giờ Vander Stappen có được thành công may mắn hơn tác phẩm của cái giờ hôm đó - cuối cùng tôi hiểu được bức tượng chân thực biết bao nhiêu, diễn tả trọn vẹn biết bao nhiêu chính bản thể của người mẫu. Bức tượng bán thân đó vẫn là một tư liệu về sự kỳ vĩ của một nhà thơ, tượng đài của một sức mạnh bất diệt.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 02.10.2019
Trả giá - Triệu Xuân 26.09.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 26.09.2019
Hai mươi năm sau - A. Dumas 26.09.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
xem thêm »