tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27653293
Tiểu thuyết
25.04.2012
Thomas Mann
Gia đình Buddenbrock

CHƯƠNG III


Bà theo cầu thang đi lên gác ba, không đi về phía cái ban công nhỏ bên phải mà lần theo dãy lan can bằng bạch kim đi qua một gian phòng rộng, lại bước qua cái cửa không đóng thông ra hành lang. Bên trái hành lang có một cái cửa đi vào phòng thay quần áo của ông nghị. Lại còn có một cái cửa ở cuối hành lang. Bà thận trọng xoay nhẹ cái núm cửa, đi vào gian phòng phía trong.


Gian phòng này rộng khác thường, treo rèm hoa gấp nếp. Bốn bức tường hơi trống trải. Ngoài bức tranh to lồng khung kính đen treo đầu giường bà Iungman (tranh vẽ với diễn viên thủ vai các nhân vật ca kịch của ông đứng vây quanh) ngoài ra còn có một hình người tóc vàng, áo đỏ cắt bằng giấy màu của nước Anh dính lên tường bằng những cái đanh ghim to. Bà Iđa Iungman đang ngồi trước cái bàn to để giữa nhà (mặt bàn có thể tháo ra được) vá tất cho Hannô. Người đàn bà Phổ trung thành này năm nay đã ngoài năm mươi, mặc dù tóc đã ngả sẫm từ lâu, nhưng vẫn bóng mượt màu đen và màu xám trộn lẫn chứ chưa bạc hẳn. Bà vẫn khỏe mạnh, nhanh nhẹn, lưng vẫn thẳng, đôi mắt màu nâu vẫn sáng sủa, tinh tường, không hề có vẻ mệt mỏi, chẳng khác gì hai mươi năm về trước.


- Chào bà Iđa, bà tốt quá! – Bà Tôny đã cố hạ thấp giọng nhưng không giấu nỗi vui mừng. Câu chuyện ông anh vừa kể làm cho bà vui hết sức. – Bà khoẻ chứ?


- Chao ôi, bà Tôny, bà nói gì thế hả? Bà cái gì? Khuya thế này còn đến chơi ư?


- Ờ, đến gặp anh Tômát một lát… Bàn chuyện buôn bán ấy mà. Không thể để trễ được… đáng tiếc quá không đâu vào đâu cả… Cháu ngủ rồi sao? Bà hất cằm về phía cái giường con kê sát tường, bên trái, đầu giường có bức màn xanh lục chăng sát cánh cửa lớn thông sang phòng vợ chồng ôngnghị Bútđenbrúc…


- Vâng – bà Iđa nói – cháu ngủ rồi!


Bà Tôny bước chân tới cạnh cái giường con nhẹ nhàng vén cửa màn lên, cúi xuống ngắm nhìn khuôn mặt đứa bé đang ngủ say.


Giôhan nằm ngửa trên giường, khuôn mặt bé nhỏ giữa mớ tóc dài màu nâu nhạt nghiêng sang một bên mũi dí sát vào gối, ngáy khe khẽ. Một cánh tay đặt lên ngực, tay kia gác lên chăn len để dọc theo người, ống tay áo vừa rộng, vừa dài che khuất mười ngón tay. Nhưng chúng ta vẫn có thể nhìn thấy mười ngón tay quắp lại của chú thỉnh thoảng lại khẽ động đậy một cái. Cái miệng bé tý, hơi há ra, thỉnh thoảng lại mấp máy như đang cố rặn ra một tiếng gì đó. Chốc chốc khuôn mặt bé nhỏ ấy lại lộ vẻ đau khổ lúc nào cũng bắt đầu từ dưới lan dần lên, cái cằm khẽ run run trước, rồi hai bên mép chụm lại, tiếp đến cánh mũi phập phồng, cuối cùng thớ thịt trên cái trán liền nhăn nhúm… Lông mi của chú rất dài, nhưng vẫn không che hết quầng thâm ở mắt.


- Cháu đang nằm mơ đấy – Bà Tôny thương hại nói. Rồi bà cúi xuống người chú bé, nhẹ nhàng hôn lên khuôn mặt ấm áp của chú. Sau khi sửa lại cái màn thật cẩn thận, bà đi về đứng cạnh bàn. Dưới ánh đèn vàng khè, bà Iđa đang chăng chiếc tất lên giá thêu, xem các lỗ thủng để vá.


- Bà vá tất đấy à, bà Iđa? Gặp bà bao giờ cũng thấy vá tất!


- Như thế đấy bà Tôny ạ… Từ ngày nó đi học, cái gì nó cũng xé rách hết.


- Cháu lành tính lắm cơ mà?


- Phải, phải… nhưng mà!


- Cháu có thích đi học không bà?


- Không, không thích đến trường, bà Tôny ạ! Nhưng lại rất thích ở nhà học với tôi. Và tôi cũng muốn như thế. Bà biết đấy, các thầy cô ở trường có nuôi nó từ khi trứng nước lớn lên đâu, nên khi dạy dỗ nó, họ không biết cách đối xử với nó… Thằng bé không thể chú ý cái gì lâu được, một lát là mệt mỏi rồi…


- Thương cháu tôi quá, cháu đã bị đánh lần nào chưa nhỉ?


- Cái đó thì chưa, lạy Chúa… Các thầy cô cũng không nhẫn tâm như vậy đâu! Hễ thằng bé ngước mắt lên nhìn là…


- Lần đầu cháu đến trường thì thế nào? Có khóc không?


- Có chứ lỵ! Nó khóc, nhưng khóc rất khẽ, không ra tiếng, như khóc thầm một mình. Về sau, nó kéo áo bố nó, đòi ở nhà bằng được!


- Anh tôi đưa cháu đến trường đấy à?... Bà Iđa này, đúng như thế. Giờ phút ấy nặng nề lắm đấy! Hồi tôi mới đi học ấy mà, tôi còn nhớ rõ ràng như mới xảy ra ngày hôm qua. Tôi gào thét ầm lên… Thú thực với bà tôi thét, tôi gào y như con chó con bị xích. Lúc đó buồn chết đi được. Vì sao ấy à? Bởi vì trước nay ở nhà sống sung sướng thế kia, có khác gì cháu Hannô bây giờ đâu. Tôi nhận xét thấy con nhà giàu, chúng nó đứa nào cũng khóc cả, còn bọn con nhà nghèo thì chẳng lấy chuyện đi học làm điều, chúng nó cứ giương mắt nhìn bọn tôi mà cười… Ủa, cháu làm sao thế, bà Iđa kìa?


Một tiếng thét ở giường con vọng ra làm đứt câu chuyện của bà. Bà vừa khoát tay ra được nửa vòng thì dừng lại, hốt hoảng chạy tới. Đó là một tiếng thét khiếp sợ, nhưng trong nháy mắt, lại đã vang lên tiếng thứ hai, thứ ba và thứ tư… tiếng sau đau khổ khiếp sợ hơn tiếng trước… “Ôi! Ôi! Ôi!”. Bây giờ là một tràng âm thanh kháng cự đầy tức giận, tuyệt vọng và vì quá khiếp sợ nên khản đặc, chỉ vang lên khi nằm mê, hoặc khi gặp việc gì sợ hãi lắm. Thoắt một cái, Giôhan đã chồm dậy, đứng thẳng người trên giường, miệng lẩm bẩm gì nghe không rõ, hai con mắt màu nâu trợn tròn một cách kỳ quặc, nhưng nó không nhìn thế giới hiện thực này mà nhìn vào một thế giới nào hoàn toàn khác hẳn.


- Không sao đâu – bà Iđa nói - nằm mê thôi 1. Chao ôi, có lúc còn hãi hơn thế này nữa kia! – Nói xong, bà thong thả bỏ kim chỉ xuống, bước thình thịch đến trước mặt Hannô, vừa khẽ an ủi một câu, vừa đỡ chú nằm xuống, đắp chăn lại.


- À, thì ra là nằm mê! – Bà Tôny lại nói – Rồi cháu có tỉnh không hở bà?


Mắt Hannô thao láo, cứ nhìn chằm chằm vào cái gì ở đâu, miệng cứ mấp máy nhưng chưa tỉnh.


- Làm sao? À… à… … đừng làm ồn lên nữa!... Cháu nói gì? – Bà Iđa nói. Bà Tôny cũng chạy lại lắng nghe chú bé đang lẩm bẩm.


- Tôi đi vào vườn hoa… Hannô ú ớ - cho tôi…. Củ hành… cái bình tưới nước!


- Chú ta đang ngâm thơ đấy – Bà Iđa Iungman lắc đầu nói – Thôi, thôi! Nằm ngủ đi!


- Một chú bé lùn tí hon… đứng dậy… hắt xì hơi… Hannô nói tiếp và rên rỉ một lúc. Bỗng nét mặt chú thay đổi, mắt lim dim, đầu lắc qua lắc lại trên gối rồi tiếp tục đọc, giọng đau khổ:


                                 Trăng sáng vằng vặc


                                 Con trẻ khóc vang


                                 Đồng hồ điểm mười hai tiếng,


                                 Xin Chúa hãy cứu vớt chúng con!


                                 …………..


Đọc xong mấy câu trên, chú thở dài, nước mắt sau hàng mi ứa ra, từ từ lăn xuống má… Bây giờ chú đã tỉnh hẳn. Chú ôm lấy bà Iđa, nước mắt lưng tròng, nhìn bốn chung quanh rồi ấm ứ gọi “Cô Tôny!”. Hầu như chú đã bình tĩnh lại rồi, chú trăn trở một lúc rồi lặng lẽ  ngủ.


- Quái! – Sau khi bà Iđa trở lại ngồi xuống cạnh bàn, bà Tôny lên tiếng nói – Cháu đọc bài thơ gì thế hở bà?


- Thơ trong sách giáo khoa của nó đấy mà! – Bà Iđa Iungman  trả lời – trong đó có chuyện “cái còi kỳ lạ của trẻ con”, quái gở lắm… Nó vừa học xong bài ấy hai hôm nay, nó kể khá nhiều chuyện về chú bé lùn tí hon ấy. Bà đã nghe nói về chú bé lùn tí hon ấy chưa nhỉ?... Dễ sợ lắm, chú bé tí hon lưng gù đi khắp nơi, đánh vỡ nồi niêu, ăn vụng kẹo, lấy trộm củi, làm cho cái xà quay tơ không quay được, trêu chọc mọi người… Rồi thế này nữa chứ, cuối cùng cũng xin người ta cầu nguyện cho mình! Vì thế mà in sâu vào đầu óc thằng bé ấy. Suốt ngày thằng này chỉ nghĩ đến câu chuyện ấy. Bà có biết nó nói gì không? Nó nói hai ba lần rằng: “Chú ta làm như thế không có gì là ác cả, không ác, bà Iđa nhỉ?... Chú ta buồn quá nên mới làm thế, nhưng làm xong lại càng buồn hơn… Nếu cầu nguyện cho chú ta thì chú ta không làm như thế nữa”. Tối nay, trước khi mẹ nó đi dự dạ hội âm nhạc, đến xem nó đi ngủ, nó còn hỏi mẹ nó là, nó có thể cầu nguyện cho chú bé tí hon lưng gù được không?


- Nó đã cầu nguyện cho chú bé tí hon thật đấy à?


- Không cầu nguyện thành tiếng, nhưng rất có thể là đã cầu nguyện thầm… Còn có một bài thơ khác, đó là “Cái chuông của người vú em”, nhưng xưa nay nó không hề nhắc tới, có điều hễ nhắc tới là nó khóc. Thằng bé hơi một tý là khóc, mà đã khóc thì khóc mãi rất lâu.


- Bài thơ ấy có chỗ nào thảm lắm không bà?


- Làm sao mà biết được! Hannô chỉ đọc thuộc đoạn đầu, tức là đoạn nó ú ớ trong cơn mê vừa rồi ấy mà, đoạn sau không sao đọc nổi nữa. Lại còn đoạn nói tới anh xà ích… ba giờ sáng đã phải rời khỏi ổ rơm, lần nào đọc cũng khóc…


Bà Tôny cười cảm động, nhưng liền sau đó nét mặt bà lại trở nên nghiêm nghị.


- Nhưng mà, bà Iđa này, như vậy là không hay đâu! Tôi thấy cháu đa sầu đa cảm như vậy không hay đâu! Anh xà ích ba giờ sáng đã phải dậy… Chao ôi! Có như vậy mới là xà ích chứ! Tôi thấy thằng bé này chuyện gì cũng cho là quan trọng và chuyện gì cũng để tâm… Như vậy hao tổn tinh thần lắm đây, bà Iđa ạ. Bà cũng nên nói cho bác sĩ Gơrabô biết… kể ra thì – bà khoanh tay trước ngực, nghiêng đầu sang một bên, chân gí xuống nền nhà, buồn rầu nói tiếp – Cụ Gơrabô già lắm rồi! Hẵng khoan nói đến chuyện gì khác, cụ là người tốt bụng, đứng đắn, lương thiện đấy, nhưng tài chữa bệnh của cụ thì tôi không phục lắm đâu, bà Iđa ạ! Lạy Chúa, con nói sai, xin Chúa tha thứ cho con! Ví dụ chuyện thần kinh cháu Hannô thất thường, nằm ngủ hay thấy những giấc mơ khủng khiếp, hãi quá mà nhảy chồm dậy… Những chuyện đó bác sĩ Gơrabô đều biết tất, nhưng liệu cụ làm gì được nào? Chẳng qua cụ chỉ có thể cho chúng ta biết đó là chứng bệnh gì, hay chỉ nói được mấy tiếng La Tinh Pavor nocturnus1 mà thôi… Đúng, lạy Chúa, như vậy cũng là điều dạy bảo có ích! Không, cụ không có tài năng gì hết! Cụ chỉ là một người lương thiện, là một người bạn của gia đình mà thôi! Người có tài không phải như vậy. Người tài năng lúc trẻ đã lộ ra rồi. Cụ Gơrabô đã trải qua cuộc Cách mạng 1848, hồi ấy cụ còn trẻ lắm. Nhưng bà nhớ lại xem, hồi đó cụ có xúc động gì không nào? Máu trong người cụ có sôi sục lên vì tự do, vì chính nghĩa, để lật đổ bọn độc tài đặc quyền đặc lợi không nào? Đúng cụ  là một nhà trí thức, nhưng tôi dám chắc rằng cụ không hề bận tâm vì cái luật liên bang vu vơ tột bực của cái đạo luật liên quan đến trường đại học và báo chí! Xưa nay cụ chưa hề có một cử chỉ hiên ngang khẳng khái nào, chưa hề một hành động vượt ra ngoài khuôn khổ. Bao giờ cụ cũng chỉ cười hì hì và kê cho người bệnh cái thực đơn: một tý thịt bồ câu và một ít bành mì Pháp, nếu bệnh tình trầm trọng, thì thêm một thìa xirô… Chào bà Iđa nhé, chúc bà ngủ ngon! Ối chà, không phải ai cũng như cụ ấy! Tôi tin là có những người thầy thuốc khác thế hoàn toàn!... Đáng tiếc là tôi không gặp chị Ghécda… Thôi, cảm ơn bà. Ngoài hành lang còn đèn, chào bà nhé!


  Khi bà Tôny ra ngoài, đi qua phòng ăn, bà vặn cái nắm đấm, mở cửa, thò đầu nhìn vào phòng khách để chào anh trai. Bà thấy lúc đó trong phòng đèn sáng chưng, ông Tômát đang chắp tay ra sau lưng, đi đi lại lại.


 


CHƯƠNG IV


 Khi trong phòng chỉ còn một mình, ông nghị lại ngồi xuống cạnh bàn, vào chỗ cũ, rút cái kính cặp mũi ra, định đọc nốt tờ báo đang đọc dở. Nhưng chỉ được hai phút, mắt ông lại rời tờ báo nhìn ra ngoài, qua khe hở bức rèm phía đối diện. Ông nhìn rất lâu vào phòng khách tối om, tư thế vẫn như trước.


Sắc mặt ông thay đổi đến nỗi người khác khó mà nhận ra! Những thớ thịt ở khóe miệng và hai gò má xưa nay vốn căng, trông rất phù hợp với ý chí kiên cường của ông, vậy mà bây giờ xìu lại, mềm nhũn. Bộ mặt từ lâu ông cố làm ra vẻ cảnh giác, thận trọng, hiền lành, hăng hái, bỗng rơi xuống như cái mặt nạ, thay vào đó là sự mệt mỏi khổ não; mắt buồn rầu đờ đẫn nhìn vào vật gì đó, nhưng lại chẳng trông thấy gì, quầng mắt đỏ ửng, cuối cùng thì bị nước mắt che mờ đi. Ông không còn can đảm tự lừa dối mình nữa. Trong bấy nhiêu ý nghĩ nặng nề, hỗn độn, chập chờn, ông chỉ còn dừng lại ở cái ý nghĩ vô cùng đau khổ sau đây: Tômát Bútđenbrúc tuy mới bốn mươi hai tuổi đầu, nhưng tinh thần sức lực khô kiệt cả rồi!


Ông thở dài, đưa tay thong thả sờ trán và mắt, rồi theo thói quen, châm một điếu thuốc, mặc dù ông cũng biết hút thuốc nữa chỉ hại sức khỏe mà thôi. Ông vẫn nhìn vào bóng tối trong làn khói cuồn cuộn… Những đường nhăn âu sầu trên nét mặt tương phản với mái tóc chải bóng mượt như của nhà binh! Bộ râu ép để dài bôi nước hoa, cằm và hai má thì cạo nhẵn thín. Bộ tóc ấy ông đã mất nhiều thì giờ chải đi chải lại cho bằng được chỗ lưa thưa phía sau đỉnh đầu. Còn ở thái dương thì ông vuốt ngược lên, ở giữa rẽ đường ngôi bé tí tẹo. Phía trên hai tai không uốn như trước kia nữa mà cắt ngắn làm cho không thể nhìn thấy đã hoa râm… Bản thân ông cũng cảm thấy sự tương phản ấy, hơn nữa, ông còn biết rằng, sự không ăn khớp giữa cử chỉ hoạt bát nhanh nhẹn và khuôn mặt tái nhợt của ông không thể lọt khỏi cặp mắt bất cứ người nào trong thành phố.


Như thế không có nghĩa là đi ra ngoài uy thế của một người quan trọng, không thể thiếu được của một người như ông, đã bị giảm sút rồi. Ngài thị trưởng tiến sĩ Lănghanxơ đã từng lớn tiếng nhắc lại câu nói của ngài Uêvơđích, thị trưởng khóa trước: “Ông nghị Bútđenbrúc là cánh tay phải và là cánh tay trái của ngài thị trưởng đấy!”. Câu nói đó, không những bạn bè ông nghị lấy làm thích thú mà ngay cả những người có lòng ghen ghét ông cũng không sao phủ nhận được. Nhưng mặt khác thì hình như ai cũng biết rõ là công việc làm ăn của công ty Giôhan Bútđenbrúc không bằng trước kia nữa, thậm chí ông Xút ở phố Đúc Chuông ngồi ăn xúp với vợ giữa bữa trưa cũng đưa chuyện ấy ra bàn tán làm cho ông Tômát Bútđenbrúc nẫu ruột nẫu gan!


    Nhưng chính ông phải chịu trách nhiệm nhiều nhất về chuyện này. Ông là người giàu có, đã thua lỗ mấy lần, nặng nhất là lần năm sáu mươi sáu, nhưng lần ấy cũng chưa làm cho công ty lay chuyển. Tất nhiên ông vẫn mở tiệc mời khách như trước kia, trên bàn tiệc vẫn không thiếu thức gì, ai cũng vừa lòng, nhưng ông vẫn nhận thấy thời vận của ông đã qua rồi và không bao giờ trở lại nữa. Thật ra, những ý nghĩ ấy là dựa vào những điều ông nghĩ thầm trong bụng hơn là dựa vào sự thực khách quan. Với lại, chính những ý nghĩ ấy đã khiến ông nghi ngờ hết chuyện này đến chuyện khác và làm cho ông thiểu não vô cùng. Xưa nay, chưa bao giờ ông giữ chặt tiền như thế này, và trong sinh hoạt hàng ngày, ông lại phải đo lọ nước mắm đếm củ dưa hành như dạo này. Ông đã tự chửi rủa hàng trăm lần về chuyện làm ngôi nhà mới để rồi khuynh gia bại sản. Ông cho rằng chính vì làm ngôi nhà ấy mà sinh ra đen đủi thế kia. Mùa hè, ông không đi chơi xa, mà chỉ dạo chơi ở những công viên bé nhỏ trong thành phố thay cho những chuyến đi nghỉ bên bờ biển hoặc trên núi. Bữa ăn của vợ chồng ông và cậu con theo lời ông dặn dò tỉ mỉ lần này lượt khác cũng trở nên hết sức đơn giản. Đối chiếu với cái phòng ăn rộng rãi lát ván, trần nhà cao vút hoa lệ, cũng như những bộ bàn ghế gỗ sồi sang trọng, thì những bữa ăn đơn giản đến buồn cười. Đã lâu lắm rồi, chỉ đến ngày chủ nhật mới có món ăn tráng miệng. Mặc dù quần áo ông vẫn đẹp như xưa, nhưng bác Antôn ở lâu trong nhà này nói với người dưới bếp rằng, dạo này hai ngày ông nghị mới thay sơmi một lần, vì sơmi hảo hạng không ngâm nước giặt mãi được… Ngoài ra, bác còn biết thêm một việc nữa là, rồi đây thế nào bác cũng bị thải về. Bà Ghécda phản đối chuyện đó. Một tòa nhà rộng như thế này mà chỉ thuê ba người đầy tớ thì không trông nom xuể. Nhưng ý kiến của bà Ghécda cũng không có tác dụng gì, vì mặc dù lâu nay bác Antôn vẫn thường đánh xe cho ông Tômát Bútđenbrúc đến nghị viện, cuối cùng thì người đầy tớ già ấy vẫn phải ra về với một số tiền công thỏa đáng.


  Những biện pháp này ăn khớp với việc buôn thua bán lỗ của ông nghị. Cái tinh thần hăng say của cậu Tômát Bútđenbrúc hồi trẻ một dạo đã làm cho công ty phát tài, bây giờ không tìm thấy đâu nữa. Còn ông Phơriđơrích Vinhem Máccút, vị cổ đông chỉ góp vào một ít vốn kia, thì xưa nay có tác dụng gì đâu! Về tài năng cũng như về tính cách, ông ta đều thiếu tinh thần chủ động.


 Tuổi tác ông Máccút ngày càng cao thì nhược điểm của ông ta ngày càng tăng thêm mà thôi, cuối cùng hầu như thành cố tật. Lần nào ông ta thái thuốc hút cũng mất khoảng mươi phút (đầu cuộn thuốc còn lại, ông ta bỏ vào ví tiền). Vì ông ta thường vừa thái thuốc, vừa mân mê bộ râu, ho sặc sụa, đảo mắt nhìn sang phải nhìn sang trái, rất thận trọng. Buổi tối, trong phòng giấy, đèn măngsông thắp sáng khắp cả mọi nơi, nhưng ông ta vẫn đốt một cây nến để trên bàn làm việc. Cứ cách nửa giờ, ông ta lại đi ra vòi nước gội đầu. Một hôm sáng sớm, không hiểu người nào vô ý để cái bao tải không dưới bàn làm việc, ông ta tưởng con mèo, cứ thế đuổi cho kỳ được. Ông ta quát ầm ĩ làm cho cả nhà ôm bụng cười chết ngất… Không được, ông ta không còn là người có thể xua đuổi được tâm trạng buồn rầu của người bạn chung lưng đấu cật với ông ta, gây dựng lại cơ đồ của hãng mình. Cũng như bây giờ đây, có lúc ông nghị ngồi nhìn chằm chằm gian phòng tối om, ánh mắt đờ đẫn mà trong đầu óc tính toán tới chuyện buôn bán những cái vặt vãnh, không đáng kể vào đâu, như công ty Giôhan Bútđenbrúc đã từng hạ mình xuống làm. Sự tính toán ấy quả là đáng thương hại! Bất giác ông cảm thấy xấu hổ, bực bội, tuyệt vọng.


 Nhưng chả nhẽ như vậy không được hay sao? Vận dù đen mấy đi nữa cũng phải có lúc hết. Ông nghĩ như vậy. Khi vận đen tới thì an phận thủ thường, chờ thời cơ, dự trữ lực lượng, chẳng phải là thông minh ư? Tại sao bây giờ bà Tôny lại bảo ông làm chuyện ấy, làm cho ông mất cái trạng thái an phận thủ thường thông minh kia, để mà chuốc lấy những điều lo lắng ngi ngờ? Chả nhẽ đã đến lúc rồi hay sao? Chả nhẽ đó là tín hiệu hay sao? Liệu ông có nên lấy lại tinh thần, đứng dậy gắng sức mà làm không? Vừa rồi, ông cự tuyệt đề nghị hợp lý của bà Tôny, giọng nói của ông hết sức kiên quyết. Nhưng chuyện ấy đến đó là kết thúc thật hay sao? Hình như không phải? Ông đang ngồi đây suy nghĩ một cách khổ sở kia mà? Con người ta khi nào cảm thấy bất lực, không chống lại nổi sự cám dỗ thì mới đâm ra bực bội với đề nghị của người khác như thế! Té ra bà Tôny cũng ranh mãnh đấy!


  Ông đã trả lời với bà em gái như thế nào nhỉ? Nhớ hình như ông cố tình nói những câu làm cho người ta ghê tởm như: “hành động bẩn thỉu… đục nước béo cò… bóc lột tàn nhẫn… đánh một người không còn đủ sức chống đỡ… dùng mưu chiếm những món nợ khổng lồ…”. Khá lắm! Có điều người ta không thể không hỏi lại, làm gì dùng những lời lẽ ghê ghớm như thế? Chắc chắn ông tham Haghenxtruêm không thể dùng những lời lẽ đó, cũng không sao tìm ra được những lời lẽ đó. Rốt cuộc ông Tômát Bútđenbrúc là một thương gia có khí phách, dám hành động hay chỉ là một người nhu nhược đắn đo, do dự làm gì cũng lo lắng chần chừ. Đúng rồi, quả thật đây là một vấn đề: lâu nay từ khi ông bắt đầu tính toán các vấn đề, thì đây là một vấn đề. Cuộc sống thật là gian khổ và cũng thật là tàn nhẫn, vô tình. Đời kẻ thương gia chính là hình ảnh thu nhỏ của cuộc sống phức tạp. Trong cuộc sống đầy gian khổ này, ông Tômát Bútđenbrúc có đứng vững được như tổ tiên hay không? Từ lâu rồi, ông thấy một số việc khiến ông hoài nghi điều đó. Hồi còn trẻ, trước cuộc sống vô tình, ông thường bắt buộc tình cảm của mình trơ đi, ông tập xử thế tàn nhẫn, tập chịu đựng sự tàn nhẫn mà không cho là tàn nhẫn, tập coi sự tàn nhẫn của người đời là tất nhiên, chả nhẽ không bao giờ ông tập được điều ấy hay sao?


 Ông nhớ lại những cảm tưởng mà biến cố thảm hại năm 1866 đã in sâu trong óc ông, cũng như những nỗi đau khổ không sao hình dung được đã áp đảo ông lúc bấy giờ. Ông thiệt mất một món tiền to… Ừ, tất nhiên không phải ông không chịu nổi sự thiệt hại ấy! Nhưng đó là lần đầu tiên ông đích thân cảm thấy, thực sự cảm thấy đời của những kẻ thương gia là tàn nhẫn. Trong cuộc sống đó, tất cả những gì gọi là lương thiện, dịu dàng, yêu thương đều bị cái thiên tính tự vệ lạnh lùng thô bạo che lấp đi. Trong cuộc sống đó, người nào gặp điều không may thì sẽ không gặp được bạn bè, kể cả bạn bè thân thích nhất, đồng tình thương hại, mà bị họ “hoài nghi” – một sự hoài nghi tàn nhẫn do sợ liên lụy đến mình. Chả nhẽ trước kia ông không rõ điều đó hay sao? Chả nhẽ ông còn phải kinh ngạc nữa ư? Vậy mà hồi ấy ông bực bội suốt đêm nằm không ngủ được. Sự tàn nhẫn đáng nhục đáng ghét đó trong cuộc sống dường như đã để lại trong lòng ông một vết thương không sao lành được, khiến ông vừa ghét vừa giận. Về sau, khi tâm trạng ông đã dịu đi, tinh thần ông đã ổn định, ông cảm thấy xấu hổ về sự nhu nhược của mình thời kỳ ấy. 


  Sao mà ông ngu xuẩn đến thế! Sự nhu nhược của ông sao mà buồn cười đến thế! Sao ông lại có thể có cái thứ tình cảm ấy được nhỉ? Còn phải tự hỏi thêm một câu: “Ông là một thương gia có đầu óc thực tế, hay là một người mơ mộng hèn nhát?”.


 Chà, câu hỏi đó ông đã tự đặt ra cho mình hàng nghìn lần rồi! Khi ông kiên quyết, vững lòng tin thì ông trả lời thế này, nhưng khi tâm hồn ông mệt mỏi thì ông trả lời thế nọ. Vì ông thông minh, thành thực nên cuối cùng ông không thể không thừa nhận một sự thực: ông là người ba phải!


Trong đời ông, trước sau ông vẫn xuất nhiện trước mắt mọi người với tư thế một nhà hoạt động. Thế nhưng, dù chúng ta thừa nhận ông là một người như vậy, thì chả nhẽ như vậy lại không đúng câu cách ngôn của Gớt mà ông thích trích dẫn, đó chỉ vì ông đang “cố tình làm ra như vậy” hay sao? Nếu nói rằng trước kia ông cũng đã có lúc thành công… đó chỉ là có thể do tác dụng phản xạ của nhiệt tình và hưng phấn trong người ông mà thôi, chả nhẽ lại không phải như vậy ư? Bây giờ đây ông ngã xuống rồi, tinh lực của ông hầu như khô kiệt rồi – xin Chúa phù hộ, hay hy vọng đó chỉ là hiện tượng tạm thời, - chả nhẽ không phải là sự xung đột trong lòng ông rất không tự nhiên, rất hao tổn tâm lực và là kết quả tất nhiên của việc không làm thế nào giữ cho tinh thần thăng bằng được hay sao?... Cha ông, ông nội ông hay cụ cố ông có mua lương thực non ở Puêpenradơ hay không, điều đó không quan trọng! Nhưng các vị đều là những người thực tế, các vị đều rắn rỏi, cứng cỏi, thẳng thắn tự nhiên hơn ông nhiều, mấu chốt vấn đề là ở đó.


Ông vô cùng bàng hoàng lo lắng, ông cảm thấy cần hoạt động, cần không gian, cần ánh sáng. Ông đẩy lùi cái ghế ra đằng sau, đi ra phòng khách, thắp những ngọn đèn dầu treo chính giữa nhà, trên cái bàn dài. Ông đứng dậy, tay run run thong thả mân mê sợi râu mép, vừa thẩn thờ đưa mắt nhìn gian phòng sang trọng. Phòng khách nối liền với phòng hút thuốc lá tạo thành mặt chính của tòa nhà. Bàn ghế bày biện trong phòng khách màu nhạt, tay vịn và lưng tựa hình sóng lượn, lại còn chiếc pianô hình tam giác, trên để hộp đàn viôlông của bà Ghécda. Bên cạnh là một tủ sách nhỏ và cái giá để bản nhạc rất đẹp, bức phù điêu trên cửa chạm các thiên thần đang chơi đàn chơi sáo. Những thứ ấy làm cho gian phòng gần giống một phòng âm nhạc. Phía trước cái cửa sổ nhìn ra ngoài, bầy cây cọ làm cảnh.


Ông Bútđenbrúc im lặng đứng ở đấy hai ba phút, rồi đi sang phòng xalông, vào phòng ăn rồi thắp hết những ngọn đèn ở đấy lên. Ông đến trước tủ buypphê uống một cốc nước, có lẽ để trầm tĩnh lại, cũng có thể chỉ để làm một việc gì đó mà thôi. Uống nước xong, ông chắp tay sau lưng, vội vã đi vào phía trong. Bàn ghế bày ở phòng hút thuốc màu sẫm, vách xung quanh đóng ván. Ông máy móc mở hộp thuốc lá, nhưng đóng lại ngay, sau đó lại mở cái hộp gỗ sồi bé nhỏ để trên cái bàn đánh bài, trong đựng bài lá, sổ ghi điểm và các thứ đồ chơi tương tự. Tiện tay, ông lấy một nắm xúc xắc bằng xương, cho lọt qua kẽ tay rơi xuống rào rào, rồi đóng nắp hộp lại và tiếp tục bước tới.


  Cạnh phòng hút thuốc lá là một phòng bé nhỏ lắp kính màu. Trong phòng chỉ bày mấy cái kỷ trà, có thể gấp lại được, trên để cái hộp đựng các thứ rượu mùi. Từ đấy đi ra có thể đi vào phòng khách lớn trải thảm hoa. Bốn cửa sổ lớn của phòng này treo rèm màu mận chín, phía ngoài cửa sổ là vườn hoa. Chiều rộng của phòng khách bằng chiều rộng của tòa nhà. Trong phòng khách bày mấy cái ghế sô pha thấp lè tè, mặt ghế cũng màu mận chín như các bức rèm trên cửa sổ. Lại có mấy chiếc ghế, lưng tựa cao, đặt ngay ngắn dọc bức tường. Sau hàng lan can của lò sưởi là những hòn than giả, trên có giấy trang kim lấp lánh nhìn xa giống như lò than đang cháy. Trên cái bệ đá cẩm thạch phía trước cái gương, đặt hai lọ hoa to tướng bằng sứ.


 Khắp dãy nhà này ở đâu cũng thắp đèn măngsông, hình như vừa tan tiệc, người khách cuối cùng vừa ra khỏi. Ông nghị đi từ đầu đằng này đến đầu đằng kia phòng khách, rồi đứng trước cửa sổ căn phòng nhỏ, nhìn ra vườn hoa.


Trăng lơ lững trên nền trời cao, nằm gọn giữa đám mây tựa lông cừu, trông rất bé. Trong ánh trăng, những tia nước từ các vòi dưới cành cây bồ đào vươn dài, phun ra, nghe thánh thót. Ông Tômát nhìn ra định hóng mát ngăn tầm mắt ông lại, nhìn khoảng sân nhỏ bé và hai cột trụ hình vuông, đỉnh nhọn lấp lánh ánh trăng, nhìn con đường rải sỏi thẳng ra bồn hoa thảm cỏ sạch sẽ vừa mới xới đất… Nhưng toàn bộ cảnh trí sắp đặt cân đối ấy không làm cho lòng ông lắng xuống chút nào, trái lại càng làm cho ông bực bội đau xót thêm. Ông đưa tay nắm chặt quả đấm cửa sổ, tựa trán vào đấy. Những ý nghĩ rối loạn lại trỗi dậy làm cho ông hết sức khổ sở.


  Ông sẽ làm như thế nào đây? Ông nhớ lại câu mình nói lúc nãy với bà em gái, một câu vừa buột miệng nói ra đã thấy vô vị rồi và làm cho ông day dứt vô cùng. Lúc nãy, khi nói đến bá tước Xtrêlítxơ, nói đến địa chủ, rõ ràng ông đã bộc lộ ý kiến của ông, rằng địa vị của người sản xuất cao hơn thương nhân và tầng lớp trung gian nhiều. Câu nói ấy phù hợp với tình hình thực tế hay không? Chà, trời ơi, kỳ thực có phù hợp với tình hình thực tế hay không, chẳng can hệ gì cả. Vấn đề ở chỗ, tại sao ông lại bộc lộ tư tưởng đó ra? Tại sao ông nghĩ đến vấn đề ấy? Hoặc giả hỏi thêm một câu nữa, tại sao ông lại nghĩ đến vấn đề ấy được? Chẳng nhẽ ông có thể phân bua với cụ thân sinh, cụ cố nội hoặc với bất cứ người nào trong thành phố tại sao ông có thể triền miên với ý nghĩ ấy và tại sao ông không nói ra ý nghĩ ấy? Người ta nếu đã tin tưởng vào nghề nghiệp của mình không chút hoài nghi, nếu trong lòng không mong muốn gì khác, thì chỉ biết có nghề nghiệp đó, và cũng chỉ tôn trọng có nghề nghiệp đó mà thôi… 


Bỗng ông cảm thấy đầu nóng bừng, máu cứ dồn lên mặt, mặt ông đỏ gay. Ông lại nghĩ tới một chuyện xảy ra cách đây khá lâu. Một lần ông cùng chú em Cơrítxtian đi trong vườn hoa tòa nhà cũ phố Manh, hai người cãi nhau kịch liệt, hết sức đau lòng; hồi bấy giờ chuyện như thế xảy ra luôn… Ông Cơrítxtian vốn hay ăn nói lỗ mãng làm  người ta phải xấu mặt. Lần ấy ông ta cũng nói một câu hết sức bừa bãi trước mặt mọi người, ông nổi giận, không sao kìm được nữa, bèn cãi nhau với ông ta hết sức gay gắt. Lúc bấy giờ, ông Cơrítxtian nói: “Cứ nghĩ kỹ mà xem, người nào làm nghề buôn bán cũng bịp bợm cả…”. Có gì đâu nhỉ? Về cơ bản câu nói ngu xuẩn vô vị ấy có khác gì câu ông vừa nói với bà em gái? Vậy mà lúc bấy giờ ông lại nổi cơn lôi đình, bắt bẻ hết điều này điều nọ… Nhưng còn cô Tôny gian xảo kia, nó nói thế nào: “Người nào giận dữ chẳng qua người đó là…”.


- Không được! – Bỗng ông nghị nói to. Lát sau, ông ngửng đầu lên, buông tay khỏi cửa sổ, lùi lại một bước, vẫn nói to – Không thể như thế mãi được! – Tiếp đó, ông ho khàn một tiếng, quay người đi, cúi đầu, tay chắp sau lưng, đi đi lại lại suốt mấy gian phòng cố xua đuổi cảm giác không vui do những câu ông nói một mình vừa rồi đem lại.


- Không thể thế được! – Ông nhắc lại – Nhất định phải chấm dứt. Mình đang để thời gian trôi qua, mình đang sa lầy xuống vũng bùn. Có thể mình ngu xuẩn hơn Cơrítxtian! – Tình cảnh của ông, không phải ông không hiểu nó, đó là điều rất đáng biết ơn! Sẽ sửa đổi như thế nào đây, quyền ấy ông vẫn nắm trong tay! Bằng bất cứ giá nào cũng phải sửa đổi!... Phải nghiên cứu xem… nghiên cứu xem… Chuyện mua bán người ta nói đó rốt cuộc là như thế nào nhỉ? Những thứ sẽ thu hoạch… Lúa mì, lúa mạch ở Puêpenradơ? Phải buôn chuyến này! – Ông xúc động nói khẽ, thậm chí còn vung tay lên – Mình phải buôn chuyến này mới được!


- Đây có phải như người ta thường nói là “cơ hội ngàn năm có một” không nhỉ? Có phải dịp này mà trở tay một cái là có thể làm cho tiền vốn bỏ ra – cứ cho là bốn vạn mác đi – tăng lên gấp đôi không nhỉ (gấp đôi e nhiều quá, nhưng cứ hẵng nói thế đã)? Đúng, đó là trời xui đất khiến để mình phấn chấn lên! Chỉ là bước đầu thôi, chỉ là bước đầu tiên. Còn như tất cả khó khăn sẽ gặp khi làm việc này thì chẳng qua là mình phải ăn năn rằng mình đã vượt ra ngoài đạo lý mà thôi. Việc này mà thành công thì mình sẽ phấn chấn hơn, sẽ lấy lại được dũng khí, sẽ có nhiều ý chí rắn rỏi, sẽ giữ vững được hạnh phúc và quyền thế…


Xin lỗi, Công ty Xtrung Haghenxtruêm không xơi được món này đâu! Một công ty khác ở vùng này, do quan hệ bè bạn, đã phỗng tay trên mất rồi! Đúng! Nhất định như thế, lần này tình nghĩa riêng tư đã trở thành nhân tố quyết định. Đây không phải là một chuyến buôn bình thường như mọi chuyến buôn khác không cần vắt óc suy nghĩ, chỉ theo lề lối làm ăn cũ cũng có thể thành công được. Nhờ có bà Tôny ở giữa làm môi giới nên việc này có mang tính chất riêng tư, vì vậy phải làm cho cẩn thận, giữ bí mật. Chao ôi Hécman Haghenxtruêm không phải là người làm việc này đâu!... Ông Tômát là một thương gia lợi dụng được tình cảm trong việc buôn bán lần này, thì về sau buông tay ra ông sẽ biết cách lợi dụng tình cảm cho mà xem. Huống chi lần này ông lại giúp được một nhà điền chủ đang gặp khó khăn, mà bà Tôny là bạn của vợ chồng Phôn Maibom, ông không thể nào từ chối không giúp được. Thế thì viết thư! Tối nay, ông sẽ viết, và sẽ không dùng loại giấy có in nhãn hiệu Công ty, mà là loại giấy riêng của ông, có in dòng chữ nghị viên Bútđenbrúc. Lời lẽ hết sức uyển chuyển, hỏi xem vài hôm nữa đến chơi, liệu có khác gì đi trên con đường trơn như rải mỡ, cần phải cẩn thận… Có điều như vậy càng hợp với tâm tính của ông!


  Ông bước mỗi lúc một nhanh, hơi thở cũng mỗi lúc một dồn dập. Ngồi một lúc, ông tiếp tục đứng lên đi quanh trong mấy căn phòng. Ông nhớ lại câu chuyện từ đầu, nghĩ tới ông Máccút, tới Hécman Haghenxtruêm, tới Cơrítxtian và Tôny và dường như ông nhìn thấy những bông lúa mì chín vàng ở Puêpenradơ đang đung đưa trước gió. Ông bực bội xua đuổi mọi điều lo nghĩ vẩn vơ, rồi giơ tay lên nói:


- Nhất định phải làm cú này!


Bà Tôny đẩy cánh cửa thông sang phòng ăn, nói to:


- Em về nhé!


 Nhưng ông chỉ đáp lại lơ đãng.


Ngoài cổng, sau khi chia tay với ông Cơrítxtian, bà Ghécda đi vào nhà một mình. Đôi mắt nâu kỳ dị (đôi mắt ấy rất gần nhau) của bà trông có vẻ thần bí. Mỗi lần nghe nhạc, mắt bà thường như vậy. Ông nghị dừng lại hỏi xem nhạc sĩ Tây Ban Nha biểu diễn viôlông như thế nào? Cuối cùng ông nói với bà rằng ông sẽ vào đi ngủ ngay bây giờ.


  Nhưng ông chưa đi ngủ ngay mà vẫn đi đi lại lại. Ông nghĩ tới những bao đựng các loại lúa mì, lúa mạch sẽ chất lên tận nóc các kho “Sư tử”, “Cá kình”, giá bao nhiêu, tất nhiên cũng phải trả cho có tình có lý… Nửa đêm, ông bước sẽ xuống phòng giấy ở tầng dưới, ngồi dưới ánh sáng cây nến của ông Máccút, viết liền một mạch cho ông Phôn Maibom ở Puêpenradơ một bức thư. Viết xong, miệt mài đọc lại, ông thấy đây là bức thư đầu tiên trong đời ông viết lưu loát hay ho như thế.


  Đó là chuyện đêm hăm bảy tháng năm. Hôm sau ông nói giọng khôi hài với bà em gái rằng, ông đã suy nghĩ nhiều về chuyện ấy, rằng ông không nỡ để Phôn Maibom gặp rủi ro, lọt vào tay bịp bợm. Và ngày ba mươi tháng năm, ông đi Rốtxtốc, thuê một cỗ xe ngựa về thôn quê.


   Mấy hôm sau nữa, ông phấn chấn hẳn lên, chân bước thoăn thoắt, nét mặt dịu dàng, hòa nhã. Ông trêu chọc cô Cơlốthindơ với ông Cơrítxtian, ông có một thái độ chân thành cởi mở. Ông cười cười nói nói với bà Tôny. Ngày chủ nhật, ông chơi một tiếng đồng hồ với Hannô ở trên sân thượng gác ba, vừa giúp con chuyển những bao lương thực bé tí vào các nhà kho bé tí có mái ngói đỏ ối, vừa bắt chước những người phu khuân vác dô ta, giọng kéo dài… Ngày mồng ba tháng sáu, trong cuộc họp hội đồng thị dân, ông đã diễn thuyết hết sức hùng hồn, hết sức thích thú về vấn đề thuế khóa, một vấn đề khô khan vô vị nhất thế giới. Thính giả đều nhất trí khen bài diễn thuyết của ông. Còn ông tham Haghenxtruêm phản đối ông, thì trở thành mục tiêu cho mọi người chế diễu.


CHƯƠNG V


 Ông nghị sơ ý hay cố tình làm thế? Dù sao đi nữa nếu không có bà Tôny nhắc thì suýt nữa ông bỏ qua chuyện lớn lao đi rồi. Xưa nay bà Tôny là người đọc quyển sổ ghi những việc lớn của gia đình trung thành nhất, say sưa nhất. Lần này cũng là chính bà nói cho mọi người biết việc này. Theo như ghi chép thì ngày mồng bảy tháng bảy năm 1768 là ngày Công ty thành lập. Như vậy là sắp đến ngày kỷ niệm một trăm năm rồi.


 Khi bà Tôny bằng giọng xúc động nói với ông Tômát như thế thì ông buồn buồn có cảm giác như bị xúc phạm. Sự năng nổ của ông dạo trước, ông không giữ được bao lâu đã xuống rất nhanh, lại xuống nhanh hơn bao giờ hết. Thường thường làm việc được nửa chừng thì ông rời khỏi bàn giấy, lòng bồn chồn lo lắng, ra vườn hoa đi dạo. Có lúc đang đi, bỗng ông đứng dừng lại như bị ai chặn đường hoặc gọi giật trở lại. Ông thở dài, đưa tay dụi mắt. Ông không nói gì hết, xưa nay ông không tâm sự với ai cả… Vì có ai tâm mà tâm sự cơ chứ? Ông Máccút vừa nghe ông nói chuyện mua bán ở Puêpenradơ, đã nổi giận – cũng là lần đầu tiên ông ta nổi giận trong đời mình – trông đến kỳ quặc! Ông ta còn tuyên bố là ông ta không dính dáng gì đến chuyện ấy cả, không chịu bất cứ trách nhiệm nào hết. Nhưng đối với bà Tôny, em gái, thì ông Tômát lại hở ra cho biết ít nhiều. Sau một buổi đoàn tụ ngày thứ năm, mọi người đã ra về, lúc chia tay, bà Tôny nhắc khẽ chuyện mua bán với Maibom, ông Tômát nắm lấy tay bà vội vã nói thầm: “Chao ôi! Quả thật anh muốn buông ra thôi, cô Tôny ạ!”.


   Chưa dứt lời ông đã quay người bỏ đi vào mặc cho bà Tôny đứng ngây một mình… Cái bắt tay đột ngột ấy để lộ sự bi quan tuyệt vọng không thể che giấu được và qua tiếng thầm thì vội vã kia có thể thấy nỗi lo lắng nung nấu trong lòng anh bấy lâu nay… Sau khi bà Tôny tìm dịp gợi lại chuyện ấy, thì ông cố tránh đi. Ông lấy làm hổ thẹn là lúc bấy giờ ông tỏ ra quá yếu đuối, đồng thời ông cũng rất đau khổ vì ông không đủ sức gánh trách nhiệm một mình.


Ông chỉ bực bội nói chậm rãi:


- Cô Tôny này, theo tôi, chúng ta nên để cho qua đi!


- Để cho qua đi, hả anh Tom? Không được đâu! Quả thật, không thể tưởng tượng nổi! Anh cho là anh có thể giấu chuyện ấy đi ư? Anh cho là người trong thành phố không ai nhớ ý nghĩa lớn lao của ngày hôm đó sao?


- Anh nói chúng ta không có thể làm như thế được mà chỉ nói mong sao cho ngày đó lặng lẽ trôi qua. Người nào thỏa mãn với hiện tại và tương lai thì kỷ niệm chuyện quá khứ kể cũng thú vị… Người nào cảm thấy tổ tiên và mình cùng có một ý chí, cùng đi một con đường, và mình đang làm việc theo lời dạy bảo của tổ tiên thì kỷ niệm tổ tiên mới vui vẻ. Lại nếu như ngày kỷ niệm ấy đến giữa lúc mình làm ăn khá giả… Nói tóm lại là, anh không còn chút hứng thú nào để kỷ niệm ngày ấy cả.


- Anh không nên nói thế, anh Tom ạ. Thật ra, chẳng phải anh nghĩ thế đâu. Bản thân anh cũng biết rất rõ rằng, nếu để ngày kỷ niệm Công ty Giôhan Bútđenbrúc thành lập một trăm năm lặng lẽ trôi qua, thì quả là xấu hổ vô cùng. Chẳng qua bây giờ anh đang bực bội, hơn nữa, em còn biết vì sao anh bực bội… Mặc dù thực ra anh bực bội chẳng đúng chút nào… Nhưng đến hôm ấy, anh sẽ vui sướng và cảm động như tất cả mọi người cho mà xem!


  Bà nói rất đúng. Ngày hôm ấy không thể lặng lẽ trôi qua được. Sau đó ít lâu, trên báo chí có đăng một bài quảng cáo kể khá tường tận lịch sử hiệu buôn tiếng tăm lừng lẫy này, đồng thời báo tin là ngày kỷ niệm sắp đến. Thật ra, dù không có bài quảng cáo ấy, giới thương gia vẫn giữ không khí đôn hậu cũng không thể quên ngày đó được. Còn như họ hàng thân thuộc, thì cậu Giúttút Cơruêgơ là người đầu tiên nhắc tới trong buổi đoàn tụ ngày thứ năm. Bà Tôny thì lại lo việc khác. Món tráng miệng vừa bê đi, bà đã trịnh trọng bày lên trên bàn cái cặp da to tướng trong có quyển sổ ghi chép những việc quan trọng trong gia đình mà mọi người hằng kính trọng, để mọi người có dịp tìm hiểu tiểu sử cụ Giôhan Bútđenbrúc thứ nhất, tức là cụ cố của Hannô, người sáng lập ra Công ty, coi đó là một trong những việc chuẩn bị chúc mừng ngày thành lập Công ty. Rồi với một giọng thành kính của kẻ ngoan đạo trong khi hành lễ, bà Tôny đọc cho mọi người nghe lúc nào cụ phát ban, lúc nào cụ bị bệnh đậu mùa, lúc nào cụ bị ngã từ gác ba xuống lò sấy, làm cho thần kinh hầu như bị rối loạn. Đọc xong bây nhiêu, bà vẫn chưa thấy chán, lại tiếp tục giở ngược lên, tìm chỗ ghi chép ông tổ Bútđenbrúc đầu tiên, người đã từng làm nghị viên thành phố ở Graban, vào thế kỷ mười sáu, sau đó bà còn tìm người thợ may ở Rốtxtốc theo như đã ghi chép thì “nhà rất giàu” – mấy chữ này có gạch dưới – và con cái hàng đàn, kể cả người sống và người chết.


- Đúng là một người tuyệt vời!


Bà Tôny ca ngợi rồi lại đọc tiếp những bức thư cũ kỹ, giấy đã nát và ngả màu vàng, cũng như những lời chúc mừng ngày lễ…


Như mọi người dự đoán, sáng ngày mồng bảy tháng bảy, ông Venxen là người khách đầu tiên đến chúc mừng.


- Chúc ông nghị sống lâu trăm tuổi! – Ông ta vừa vung cái dao cạo và sợi dây da dùng để mài cầm trong tay với một động tác rất thành thạo, vừa nói – Tôi dám cam đoan rằng, công ty thành lập một trăm năm thì hầu như tôi đã sửa tóc cạo mặt cho gia đình ta năm mươi năm rồi. Tôi đã chứng kiến bao nhiêu sự việc trong gia đình ta. Mà làm sao không phải như thế nhỉ? Sáng nào tôi cũng là người đầu tiên gặp mặt ông chủ… Cụ tham ngày trước thích chuyện trò vào buổi sáng sớm, cụ thường hỏi tôi: “Anh Venxen, anh cho giá lúa mì sẽ thế nào? Tôi đã nên bán chưa, hay chờ đã? Liệu còn lâu nữa không?...”.


- Tôi cũng thế, ông Venxen ạ! Thật tôi không thể tưởng tượng được rằng, bao nhiêu công việc của tôi lại không có ông tham gia ý kiến. Tôi đã nhiều lần nói với ông rằng, làm nghề của ông có nhiều chỗ hấp dẫn lắm đấy. Sáng sớm, ông đi một vòng, biết được nhiều chuyện hơn ai hết, bởi vì khi lưỡi dao cạo của ông đưa đi đưa lại trên mặt các vị chủ nhân các hãng lớn thì ông đã biết rõ tâm sự từng người. Thú vị thật! Ai cũng phải hâm mộ nghề của ông thôi!


- Thưa ông nghị, ông nói thực tâm đấy chứ ạ? Về tâm sự của ông, xin phép cho tôi mạnh dạn nói điều này, nét mặt ông sáng nay nhợt nhạt lắm đấy!


- Thật ư? Đúng đấy, tôi hơi váng đầu. Với lại, tôi cảm thấy chưa thể biết ngay, chắc là hôm nay chưa thể nhàn rỗi được.


- Thưa ông nghị, tôi cũng nghĩ thế đấy. Cả thành phố đều quan tâm đến chuyện này, quan tâm hết sức. Lát nữa, ông nghị nhìn ra cửa sổ mà xem. Một biển cờ! Hai chiếc tàu Vulenvêvơ và Phơriđơrich Uêvơdinh đậu ở dưới bến cảng đã treo hết cờ lên rồi…


- Ờ, nhanh tay một tý, ông Venxen! Tôi không có thì giờ rỗi đâu!


     Hôm nay ông nghị không mặc quần áo đi làm việc như ngày thường. Ngoài cái quần xám, ông khoác cái áo lễ màu đen hở ngực, để lòi cả ghi lê trắng sọc nổi ở trong. Thế nào buổi sáng cũng có khách đến mừng. Ông đến soi gương, lấy ống sấy, sấy lại tóc rồi khẽ thở dài đi ra khỏi căn phòng. Buổi tiếp đón bắt đầu… Nếu qua được ngày hôm nay thì hay biết mấy! Có lúc nào ông không bị quấy rầy, có lúc nào những thớ thịt trên mặt ông được giãn ra thư thái một chút không nhỉ? Không được rồi, suốt ngày ông phải tiếp khách, có nghĩa là ông phải đáp lại lời chúc mừng của hàng trăm người một cách trơn tru, cởi mở, phải tùy từng hạng người khác nhau mà tìm những lời lẽ khác nhau, cung kính, nghiêm trang, hòa nhã, trào phúng, khôi hài, chất phác thân mật, từ chiều đến nửa đêm lại phải mở tiệc chiêu đãi ở quán rượu trong nhà hầm tòa thị chính.


   Ông nghị bảo váng đầu là ông nói dối. Chẳng qua ông chỉ mệt mỏi mà thôi. Ngủ suốt đêm, sáng dậy thần kinh chỉ yên tĩnh được một lúc, rồi ông lại cảm thấy buồn rười rượi. Tại sao ông lại phải nói dối? Hình như lần nào người không được khỏe, ông cũng thấy kém vui. Tại sao thế nhỉ? Tại sao thế nhỉ? Nhưng bây giờ ông không có thì giờ nghĩ đến chuyện đó.


 Khi ông bước vào phòng ăn, bà Ghécda vui vẻ bước tới chỗ ông. Để đón khách, bà ăn mặc rất đẹp, cái váy len Xcốtlen lóng lánh và áo sơ mi trắng tinh, ngoài khoác cái áo may kiểu Duavơ1 bằng lụa mỏng, màu đỏ thẩm như mái tóc của bà. Bà mỉm cười để lộ hàm răng đều đặn, trắng hơn khuôn mặt xinh đẹp của bà. Đôi mắt màu nâu mơ màng khá gần nhau hôm nay cũng tươi tỉnh lắm.


- Em dậy từ nãy, mấy tiếng đồng hồ rồi cơ! Anh có thể thấy được em sốt sắng với ngày kỉ niệm này như thế nào?


- Đúng thế! Em cũng cho việc kỷ niệm một trăm năm này quan trọng lắm sao?


- Quan trọng lắm chứ!... Nhưng có lẽ đó chỉ là tình cảm đối với ngày lễ… Một ngày vô cùng đẹp đẽ! – Ví dụ như cái này – Bà chỉ vào bàn ăn sáng, trên bàn có vòng hoa tết bằng những bông hoa tươi hái ở ngoài vườn hoa – Bàn tay khéo léo của bà Iungman làm ra đấy. Nhưng anh nghĩ rằng bây giờ có thể uống trà ăn sáng thì nhầm rồi. Cả  nhà đang ngồi trong phòng khách chờ anh để trao tặng phẩm cho anh. Mà thế nào em cũng được một phần nho nhỏ?... Anh Tômát, anh nghe em nói đây này. Chắc chắn hôm nay khách khứa sẽ đầy nhà, tất nhiên chỉ mới là bắt đầu. Lúc bắt đầu thì em còn cố gắng được, chứ đến trưa thể nào em cũng phải trốn đi nơi khác. Biểu đo áp suất không khí xuống, nhưng nền trời vẫn xanh ngắt, lạ lắm và ánh vào những lá cờ kia trông đến là đẹp! Anh không thấy cờ bay khắp thành phố hay sao? Nhưng lát nữa thế nào anh cũng oi cho mà xem! Sang bên ấy đi! Lát nữa anh mới được ăn sáng. Lẽ ra hôm nay anh phải dậy sớm hơn, bây giờ đành phải bụng đói mà tiếp đón những giây phút xúc động đầu tiên.


          Bà cụ tham, ông Cơrítxtian, cô Cơlốthindơ, bà Iđa Iungman, bà Tôny và Hannô rán sức đỡ bức họa kỷ niệm, một tặng phẩm đã được chuẩn bị từ lâu… Bà cụ tham vô cùng xúc động ôm lấy ông con trai cả.


- Con thân yêu, hôm nay là ngày vui mừng… ngày vui mừng – bà cụ nói đi nói lại – chúng ta phải mãi mãi ca ngợi lòng nhân của đức Chúa… ca ngợi những ân huệ Chúa đã ban cho chúng ta – Bà cụ cảm động đến rơi nước mắt.


Ông nghị được mẹ ôm vào lòng, tự nhiên mềm nhũn. Dường như trong người ông có  cái gì đang tan rã và đang thoát ra ngoài. Môi ông run run, ông có ý nghĩ mềm yếu là muốn mãi mãi được ngả vào lòng mẹ, tựa ngực vào mẹ, chìm đắm trong mùi nước hoa thoang thoảng ở chiếc áo lụa mềm của bà cụ bay ra. Ông muốn nhắm mắt lại, không nhìn gì cả và cũng không nói gì cả. Ông hôn bà cụ rồi ưỡn thẳng người, chìa tay về phía chú em. Ông Cơrítxtian cầm lấy tay ông anh, vẻ thiểu não khốn quẫn. Gặp ngày lễ vui mừng nào, điệu bộ của ông ta cũng thế. Như thường lệ, cô Cơlốthindơ kéo dài giọng nói câu gì đó để chúc mừng, rất dịu dàng. Còn bà Iungman thì cuối rạp người xuống một cái, một tay sờ lên sợi dây đồng hồ trên bộ ngực lép kẹp.


- Lại đây anh Tom! – Bà Tôny nói, giọng hơi run run – Em và cháu Hannô không đỡ được nữa rồi. 


        Tay Hannô yếu nên thực tế hầu như chỉ một mình bà đỡ bức họa. Bà rán hết sức mà nét mặt thì lại vô cùng phấn khởi, trông vẻ say sưa mê muội y như người sắp tử vì đạo. Mắt bà ươn ướt, gò má đỏ ửng, lưỡi cứ liếm môi trên. Bà mệt mỏi lắm nhưng lại như đang đùa nghịch…


- Được rồi, tôi đến đây! – Ông nghị nói – Cái gì thế này, nào buông tay ra! Ta dựa vào đây! – Ông dựa bức họa vào bức tường cạnh chiếc pianô, rồi đứng ra phía trước, lúc đó người trong gia đình đã vây quanh ông.


Cái khung gỗ đào chạm hoa, có mặt kính lồng bức họa vẽ bốn ông chủ công ty Giôhan Bútđenbrúc, phía dưới ghi tên tuổi các vị bằng chữ vàng. Trong bức họa đó, có cụ Giôhan Bútđenbrúc, bạn cụ Giăng Giắc Hốpxtết, khuôn mặt đầy đặn, lúc nào cũng tươi cười; có cụ tham Giôhan Bútđenbrúc, dưới cằm là cái cổ cồn cứng nhắc, quanh miệng đầy nếp nhăn, mũi diều hâu, và đôi mắt thành kính của một con chiên ngoan đạo đang nhìn người xem bức họa chằm chằm, cuối cùng có ông Tômát Bútđenbrúc lúc còn trẻ… Cả bốn vị đều có những bông lúa vàng viền xung quanh. Phía dưới bức họa ghi 1768- 1868 bằng chữ vàng chói cả mắt, phía trên cùng lại còn ghi câu cách ngôn phỏng theo bút tích của vị tổ đã để lời di huấn ấy lại, nét chữ to, màu đen. Câu đó là: “Các con ơi! Ban ngày các con hãy chăm chỉ làm ăn nhưng chớ làm điều gì hổ thẹn với lương tâm để ban đêm được ngủ ngon lành!”.


 Ông nghị chắp tay đằng sau lưng, ngắm nhìn bức họa rất lâu.


- Đúng, đúng! – Cuối cùng ông nói đùa một câu. Ban đêm mà được ngủ ngon lành là điều sung sướng nhất. – Rồi ông quay lại nói với mọi người, giọng có vẻ hồ hởi nhưng nghiêm túc – Tôi thành thật cảm tạ cả nhà! Đây là món quà tặng rất đẹp và rất có ý nghĩa! Ta thử bàn xem nên treo ở đâu? Treo trong phòng làm việc của tôi có được không?


- Phải đấy, anh Tom ạ! Treo ngay trên bàn giấy trong phòng làm việc anh ấy! – Bà Tôny ôm lấy anh trai, sau đó lại kéo anh ta bước tới cửa sổ chỉ ra phía ngoài cho ông nhìn.


      Khắp ngõ Hàng Cá này, từ phố Brêten xuống đến bến tàu, trước nhà nào cũng treo một lá cờ hai màu đang phất phới bay dưới nền trời xanh biếc mùa hạ. Hai tàu Vulenvêdơ và Phơridơdích Uêvơdích đóng dưới bến lại càng treo nhiều cờ hơn để chúc mừng ông chủ.


- Khắp thành phố đâu đâu cũng thế cả! Bà Tôny nói, giọng hơi run run – Em đã đi dạo một vòng rồi anh Tom ạ! Haghenxtruêm cũng treo cờ! Hừ! Hừ! Không treo cũng không được! Không treo thì em sẽ ném tan cửa sổ nhà họ cho mà xem!


Ông nghị cười, bà Tôny lại kéo ông ra giữa nhà đứng cạnh bàn.


- Đây là điện mừng, anh Tom ạ… Tất nhiên chỉ mới là những bức điện riêng đầu tiên của bà con bà  bạn ở ngoài đánh về. Còn những bức có ký hiệu của các hãng buôn thì chuyển sang phòng giấy tất.


   Họ mở những bức điện từ Hămbuốc, Phrăngphuốc đánh về, của ông Ácnônđen cùng người nhà từ Amxtéc đam đánh về cửa Ghiếcghên từ Vitxma đánh về… Bỗng mặt bà Tôny đỏ ửng.


- Anh ta vẫn tử tế đấy chứ!


Nói xong bà đẩy bức điện bà vừa bóc ra về phía anh trai. Bức điện ấy ký tên Pécmanêdơ.


- Trưa rồi! – Ông nghị mở bật cái nắp chiếc đồng hồ quả quýt rồi nói - Tôi phải đi uống ít trà đây. Cả nhà cùng uống với tôi nhá! Kẻo lát nữa người ta đến đông rồi không ngồi yên được đâu…


    Bà Iđa Iungman đưa tay ra hiệu cho bà nghị, thế là bà Ghécda liền nói với chồng:


- Khoan đã, anh Tômát! Hannô phải đi học ngay bây giờ… Con muốn đọc cho anh nghe một bài thơ đấy. Con đừng sợ, cứ coi như không có ai xung quanh cả!


   Tháng bảy đúng vào dịp nghỉ hè, chú bé Hannô phải ôn lại toán để thi lên lớp. Trong một ngôi nhà nhỏ bé, oi bức, nồng nặc mùi hôi thối ở một ngôi nhà nào đó khu Xanh Ghêtơrút có một ông thầy học râu đỏ hoe, móng tay đầy cáu, đang chờ chú để bày cho chú ôn các bảng cửu chương chết tiệt kia! Nhưng điều chú phải làm trước là đọc cho bố nghe một bài thơ mà chú đã học mãi với bà Iđa ở trên sân thượng gác ba mới nhớ được…


Hannô mặc bộ đồ lính thủy Côpenha, cổ bẻ bằng vải lanh trắng rất rộng, thắt nơ kiểu thủy thủ, bắt chéo chân khẳng kheo, đứng tựa vào đàn pianô. Đầu và nửa người phía trên hơi nghiêng sang một bên, trông vừa bẽn lẽn vừa duyên dáng, mặc dù chú không để ý làm duyên chút nào. Mái tóc dài của chú vừa cắt ngắn hai ba tuần nay, ở trường, không những bạn học và cả thầy cô giáo cũng chế giễu chú vì để tóc dài. Mặc dù vậy, tóc trên đầu chú vẫn cuốn vòng xoắn tít, mềm mại mà vẫn che kín trán và thái dương. Chú sập mí mắt xuống, hàng lông mi dài màu nâu che quầng xanh ở mắt, đôi môi mím chặt hơi run run.


     Chú biết rất rõ sắp xảy ra chuyện gì. Chắc chắn chú sẽ òa lên khóc, do đó sẽ không đọc hết bài thơ được. Tim chú thắt lại, chẳng khác gì ngày chủ nhật đến nhà thờ nghe tiếng đàn phong cầm trang nghiêm cảm động của ông Phát. Chắc chắn chú sẽ khóc như trước đây, khi có người yêu cầu chú biểu diễn cái gì, đố chú điều gì hoặc kiểm tra bản lĩnh và trí thông minh của chú, như ông bố chú thích làm. Giá như mẹ chú đừng nói phấn khởi lên gì gì đó thì hay biết mấy! Mẹ chú nói để cổ vũ chú nhưng chú lại cảm thấy nói như vậy càng làm hỏng hết! Mọi người hồi hộp đứng cạnh chú, lo lắng chờ đợi, chưa biết lúc nào chú òa lên… Chú ngước hàng lông mi lên nhìn bà Iđa lúc bấy giờ đang vừa mân mê sợi dây đồng hồ trên ngực, vừa gật đầu với chú, nét mặt trung hậu, đau khổ. Chú bỗng nảy ra ý muốn không sao kìm được là chạy đến cạnh bà để đưa bà đi nới khác. Điều chú mong mỏi duy nhất là được nghe giọng nói trầm trầm khiến người khác yên lòng của bà: “Đừng sợ cháu ạ! Thôi không đọc nữa đâu…”.


- Nào bắt đầu đi chứ!


   Ông nghị nói qua rồi ngồi xuống cái ghế tựa cạnh bàn chờ đợi, đôi mắt không tươi chút nào, có vẻ cau có hơn thường ngày. Khi gặp những trường hợp như thế này, ông giương lông mày lên nhìn Hannô, mắt khảo sát, có thể nói là lạnh lùng nghiêm nghị.


   Hannô đứng thẳng người, đưa tay lên sờ nắp đàn pianô bằng gỗ bóng loáng và nhìn người xung quanh một vòng, sợ sệt, sau đó nhờ có cái nhìn dịu dàng của bà nội và cô Tôny, nên cậu mới can đảm hơn, bèn nói giọng trầm trầm gượng gạo:


- Ca ngợi ngày chủ nhật của mục đồng… tác giả Ulanđơ…


- Ồ, không phải điệu bộ như thế con ạ! – Ông nghị nói to – Đừng tựa vào bàn pianô chứ, không cần phải để tay lên bụng… người phải đứng thật thẳng! Giọng phải thật to! Đó là việc thứ nhất. Tới đây, đứng vào giữa riđô này! Ngửng đầu lên… hai tay bỏ xuống cho tự nhiên.


         Hannô đứng trước cửa phòng khách tay buông thõng. Chú ngoan ngoãn ngửng đầu lên, nhưng hàng lông mi vẫn sụp xuống, không sao trông thấy mắt chú. Chắc là nước mắt đã lưng tròng rồi cũng nên.


- Hôm ấy là ngày chủ nhật…


         Chú bắt đầu đọc rất khẽ. Ông bố nói chen vào nghe sang sảng:


- Trước khi đọc phải cúi chào thính giả đã! Đọc phải thật to. Đọc lại từ đầu nào! Ca ngợi ngày chủ nhật của mục đồng…


     Thật là tai hại, chính ông nghị cũng biết làm như vậy sẽ khiến con mất bình tĩnh. Nhưng trẻ con không nên để người ta vừa dọa đã mất hồn. Trẻ con phải cứng rắn, phải khí khái của đấng nam nhi…


- Ca ngợi ngày chủ nhật của mục đồng…


         Ông lặp lại một lần nữa. Mặc dù ý ông là động viên nhưng mặt ông thì cứ cau có…


 Lúc này Hannô đã mất hết tình thần. Đầu chú cúi xuống sát tận ngực. Bàn tay phải của chú xanh xanh, không có máu, nổi gân xanh, lòi ra ngoài ống tay áo thủy thủ chật hẹp màu xanh thẫm (trên thêu một chiếc neo) đang run run níu lấy cái riđô satanh hoa.


- Tôi đứng cô quạnh giữa cánh đồng mênh mông…


 


(còn tiếp)


Nguồn: Gia đình Buddenbrock. Tiểu thuyết của Thomas Mann. Nobel Văn học năm 1929. Hồng Dân Hoa dịch. NXB Lao động, 1975.


www.trieuxuan.info







1 Nguyên văn tiếng La Tinh: Pavor.




1 Có nghĩa là bệnh nằm mê.




1 Zouave: một kiểu áo của người Châu Phi. Lúc xâm chiếm Angiêri lính Pháp thường mặc kiểu này.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 17.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »