tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30211376
Tiểu thuyết
16.04.2012
Thomas Mann
Gia đình Buddenbrook

CHƯƠNG VIII 


 Chiến tranh và sự huyên náo của chiến tranh! Quân đội chiếm đóng và sự hỗn loạn! Các sĩ quan người Phổ nện gót giày đinh lên nền ghạch hoa trên gác hai tòa nhà mới của ông nghị Bútđenbrúc, hôn tay bà chủ, ông Cơrítxtian (lúc này đã ra khỏi bệnh viện Uêin trở về nhà) dẫn họ đến câu lạc bộ. Tòa nhà cũ ở phố Manh, lính tráng đóng rất đông. Chị Sevơrin, người quản gia bà cụ tham mới thuê, cùng với các cô hầu gái phải mang chăn đệm ra hóng mát ở ngoài vườn hoa.


 Đâu đâu cũng hỗn loạn, lộn xộn và hoang mang lo sợ! Tốp lính này vừa ra khỏi cổng thành, thì tốp khác đã vội đến ngay. Trong thành từ phố lớn đến ngõ hẻm đâu đâu lính cũng đóng chật ních. Họ ăn, ngủ, đánh trống, thổi kèn, hô khẩu hiệu inh cả tai rồi lại bỏ đi. Người ta đón tiếp các vương hầu. Mãi mãi không bao giờ hết lính, sau đó lại được yên tĩnh rồi lại sợ hãi chờ đợi.


  Đến cuối mùa thu đầu mùa đông, lính thắng trận trở về, đóng ở đấy một dạo nữa, rồi mới về nhà trong tiếng hoan hô của thị dân. Ai nấy thở phào. Hòa bình đã đến, một giai đoạn hòa bình ngắn ngủi  thai nghén sự kiện quan trọng năm 1865 .


  Giữa hai cuộc chiến tranh, chú Giôhan không bị ảnh hưởng gì, vẫn yên tĩnh chơi trò chơi của chú. Chú mặc bộ quần áo rộng có yếm giải, bộ tóc xoăn mềm nhũn phơ phất lúc chú chơi cạnh vòi phun nước trong vườn hoa, lúc ở trên ban công, có rào chắn ngăn cách với căn phòng phía trước trên gác ba.


  Trò chơi của chú là trò chơi của một đứa trẻ bốn tuổi rưỡi. Những trò chơi ấy có ý nghĩa sâu sắc như thế nào, hấp dẫn ở chỗ nào, một người đến tuổi thanh niên không làm sao hiểu nổi. Với lại chú đòi hỏi cũng không nhiều thứ lắm, dăm ba hòn đá, một mẩu gỗ, hoặc một đóa bồ công anh cắm lên mẩu gỗ làm mũ. Chỉ thế thôi; nhưng cái chính vẫn là những ước mơ trong sạch, mãnh liệt, nhiệt tình, ngây thơ của cái tuổi hạnh phúc chưa bị phá hoại và cũng chưa bị đe dọa; ở tuổi ấy, cuộc sống vẫn chưa đụng chạm chúng ta, lòng trách nhiệm và sự hối hận cũng chưa làm tổn thương chúng ta, chúng ta còn dám nhìn, dám nghe, dám cười, dám ngạc nhiên và cũng dám nằm mơ, nhưng mặt khác, đời vẫn chưa hề yêu cầu chúng ta cái gì cả. Lúc đó, chúng ta rất thích chơi thân với những người chưa giày vò chúng ta bằng sự nóng nảy của họ, chưa buộc chúng ta phải sớm tỏ ra những dấu hiệu là chúng ta có thể đảm đương một số chức vụ nào đó… Chà, thời gian trôi qua rất nhanh, chả bao lâu nữa, những thứ đó sẽ đè lên đầu chúng ta như một quả núi, chúng ta sẽ bị áp bức, bị giày vò, lúc thì bị kéo căng ra, lúc thì bị dồn ép lại, mãi cho đến khi chúng ta bị hủy diệt mới thôi!...


Giữa lúc Giôhan đang chơi cái trò chơi đó, thì xảy ra một chuyện rất lớn. Ngọn lửa chiến tranh bùng cháy. Thắng lợi về ai, trong chốc lát chưa thể biết được. Cuối cùng thì đã rõ. Lần này quê hương của Giôhan Bútđenbrúc rất thông minh, đứng về phía quân Phổ. Thành phố ấy đã ngóng chờ thành phố Phranphuốc giàu có; vì nó cả tin  vào đó, nên đã phải trả một giá rất đắt: nó không còn là thành phố tự do nữa!


Nhưng trong tháng sáu, trước đình chiến mấy ngày, một công ty lớn ở thành phố Phranphuốc phá sản đã liên lụy đến gia đình Giôhan Bútđenbrúc, trong chốc lát, thiệt hại một số tiền lớn là hai vạn talơ!


 


PHẦN TÁM


CHƯƠNG I


 Gần đây ông Huygô Vaisen được vinh dự nhận chức giám đốc công ty bảo hiểm hỏa hoạn của thành phố. Dãy khuy trên cái áo đuôi én của ông lúc nào cũng cài chặt. Môi dưới ông hơi xệ xuống, hai đầu nhọn hàng ria mép bé tí, đen sì, phía trên chọc vào hai khóe mép, trông rõ vẻ uy nghiêm khí khái của một đấng nam nhi!


Mặt khác, Êrica Gơruynlích năm nay tròn hai mươi tuổi cũng đã trở thành một cô thiếu nữ cao lớn, đầy đặn. Cô có nước da mịn màng, khỏe mạnh, rất đẹp. Thỉnh thoảng cô từ trên gác đi xuống hoặc từ dưới nhà đi lên thì tình cờ gặp ông Vaisen – những dịp tình cờ như thế không phải là ít. Lúc đó, ông giám đốc bỏ mũ ra, để lộ cái đầu, trên đỉnh tóc vẫn còn đen nhánh, nhưng hai bên mái thì đã ngả màu tro muối, rún rẩy tấm thân bó chặt trong cái áo đuôi én, rồi mạnh dạn đưa đôi mắt màu nâu liếc nhìn cô thiếu nữ, vẻ ngạc nhiên và hâm mộ, thay lời chào… Mỗi lần như thế, Êrica vội vàng bỏ chạy đến ngồi bên khung cửa sổ không cho ai nhìn thấy, khóc hàng tiếng đồng hồ, lòng buồn rầu và rối loạn.


 Êrica lớn lên dưới sự chăm sóc và giáo dục của bà Thêredơ Vaisơbrốt, nên cách suy nghĩ của cô cũng hẹp hòi. Cô khóc vì cái mũ rộng vành của ông Vaisen, vì điệu bộ của ông ta, và vì hai bàn tay ông ta nắm chặt cứ giăng ra! Nhưng bà Tôny, mẹ cô thì xem ra có vẻ muốn lánh xa ông ta hơn là cô.


    Mấy năm gần đây, bà thường lo cho tiền đồ của con gái, bởi vì so với các cô gái đến tuổi lấy chồng, Êrica có nhiều điều thiệt thòi. Không những bà Tôny ít đi lại xã giao với với người khác, mà còn coi họ như kẻ thù. Bà cảm thấy rằng, trong bọn họ có một số khinh thường bà, vì bà đã có hai đời chồng; điều ấy hình như đã trở thành định kiến ở trong đầu óc bà. Có lúc chẳng qua người ta lạnh nhạt với bà nhưng bà thì lại cho là họ khinh bỉ và thù ghét bà. Chẳng hạn như ông tham Hécman Haghenxtruêm gặp bà ở ngoài đường, lẽ ra ông ta nên chào bà một tiếng vì ông ta là người thông minh trung hậu, tuy ông ta giàu có, nhưng cái đó chỉ làm cho tính tình ông ta cởi mở, thân thiết hơn mà thôi. Nhưng gặp ông ta, bà Tôny lúc nào cũng vểnh đầu lên, nhìn cái “bộ mặt tựa bánh gan ngỗng” của ông ta (nói theo cách nói của bà, bà chế giễu thấu xương cái bộ mặt đó) đi lướt qua. Như vậy, dù ông Hécman có muốn chào hỏi đi nữa, cũng đành phải làm ngơ! Thái độ đó của bà mẹ làm hại cô con gái, khiến cô phải cách tuyệt với những người thường đi lại xã giao với ông bác. Xưa nay, cô chưa hề dự buổi khiêu vũ nào, và cũng chưa hề có dịp làm quen với bạn trai nào!


        Nhưng nguyện vọng tha thiết của bà Antôni là muốn cho con cái thực hiện những điều mình thường ước mơ mà không thực hiện được, lấy một người chồng giàu sang và được hưởng hạnh phúc để làm cho rạng rỡ môn mi và làm cho người khác quên duyên số hẩm hiu bi thảm của mình. Nguyện vọng đó đối với bà bức thiết lắm, nhất là sau mấy lần bà bị “thất bại thảm hại” như bà thường nói. Gần đây, thấy ông anh trai lúc nào cũng buồn bực không vui, bà muốn làm một việc gì đó đúng như ý nguyện để chứng minh rằng gia đình mình chưa đến lúc suy vong, dứt khoát chưa đến chỗ cùng đường mạt vận…Số tiền một vạn bảy nghìn talơ của hồi môn của bà khi bà đi lấy đời chồng thứ hai, được ông Pécmatuêdơ hoàn lại một cách rộng lượng và khẳng khái, bà để dành cho Êrica cả. Bà Antôni có cái nhìn thật sắc sảo, xứng đáng là một người lọc lõi trong vấn đề này. Khi phát hiện mối quan hệ mong manh giữa con gái và ông Giám đốc Công ty bảo hiểm, bà liền cầu nguyện thượng đế làm sao cho ông Vaisen trở thành khách quý của nhà mình.


Ông Vaisen không phụ lòng mong mỏi của bà. Ông vừa bước lên gác hai liền được bà ngoại, mẹ và cô con gái đón tiếp niềm nở. Ông nói chuyện với họ khoảng mười phút, hẹn sẽ trở lại thăm gia đình vào lúc uống cà phê buổi chiều, bấy giờ mọi người có thể chuyện trò thoải mái hơn.


 Việc đó đã được thực hiện. Họ ngồi tìm hiểu nhau. Ông Giám đốc vốn là người Xilixia, ông bố ở nhà quê vẫn còn khoẻ mạnh. Hình như không phải bận tâm suy nghĩ nhiều về gia đình ông nữa, chẳng phải ông Vaisen nói là ông tay trắng làm nên rồi hay sao? Thái độ ông có cái vẻ kiêu căng tự phụ mà hạng người này thường hay có - một vẻ kiêu căng tự phụ không phải bẩm sinh. Ông ta rất tin ở mình, có vẻ khoác lác một tý, lại không tin ở người lắm. Cử chỉ ông không phải là không có chỗ đáng chê. Ông ăn nói hết sức vụng về; ngoài ra bộ lễ phục của ông hơi tồi tàn, có chỗ đã sờn bóng, hai ống tay sơ mi trắng cài khuy chai màu đen cũng không tươm tất gì cả; ngón giữa bên tay trái của ông không hiểu bị thương thế nào mà móng tay bị dập, nay đen sì… Tóm lại, bề ngoài của ông không làm người ta hài lòng lắm, nhưng những cái đó không làm ảnh hưởng gì đến việc ông Vaisen đã trở thành một người sức lực dồi dào, cần cù vui vẻ, lương mỗi tháng một vạn hai nghìn mác, và được mọi người kính nể. Thậm chí, theo con mắt của Êrica, ông là một người đàn ông tuyệt đẹp là đằng khác!


Bà Tôny nhận thấy điều đó rất nhanh và đánh giá tình hình trước mắt một cách thỏa đáng. Bà thẳng thắn nói hết ý nghĩ của bà cho bà cụ tham và ông nghị nghe. Rõ ràng là việc này không những phù hợp với lợi ích đôi bên, mà cả đôi bên còn có thể bổ sung cho nhau nữa. Ngoài ra, ông Giám đốc Vaisen cũng như Êrica đều ít giao du nên hai người có thể nương tựa vào nhau, thật là một cặp vợ chồng trời đất gây dựng cho! Ông Giám đốc tuổi xấp xỉ tứ tuần, tóc trên đầu đã lốm đốm bạc, xét về địa vị hay về hoàn cảnh kinh tế, ông cũng nên lập gia đình rồi. Nếu như ông có ý định ấy thì việc ông lấy  Êrica Gơruynlích còn có thể đem lại cho ông cái bậc thang để ông leo tầng lớp trên của thành phố này nữa. Như vậy là có lợi cho sự nghiệp cũng như cho địa vị ông. Nói về hạnh phúc của Êrica thì ít ra bà Tôny cũng thấy được đảm bảo phần nào. Con gái bà chắc chắn sẽ không phải đi theo gót chân bà. Ông Vaisen hoàn toàn khác lão Pécmanêdơ và cũng không hề giống lão Bendíchsơ Gơruynlích, bởi vì ông là một viên chức cao cấp, có nguồn thu nhập cố định và có địa vị vững vàng. Tất nhiên, người như thế không lo không có tiền đồ.


   Tóm lại, cả đôi bên đều có thiện chí cả. Buổi chiều nào ông giám đốc Vaisen cũng đến chơi. Cuối cùng, tháng Giêng năm 1867, ông ngỏ lời cầu hôn với Êrica Gơruynlích bằng những câu đơn giản, thẳng thắn nhưng không được duyên dáng cho lắm.


 Từ đó, ông là người của gia đình này, bắt đầu tham dự “Ngày nhi đồng”, được người trong họ nhà gái tiếp đón rất niềm nở. Nhất định ông cũng nhận thấy ngay rằng mình không hợp với những người này lắm, nhưng ông giấu kín thứ cảm giác đó, cố làm ra vẻ lịch thiệp hào hoa. Mặt khác, bà cụ tham, ông cậu Giúttút, ông nghị Bútđenbrúc cũng hết sức bỏ qua người viên chức cần cù, vui vẻ, ít giao thiệp với bên ngoài này. Tất nhiên chỉ có ba cô gái già họ Bútđenbrúc ở phố Brêten là không như vậy.


  Quả thật cũng phải bỏ qua cho ông mới được. Có lúc cả nhà đang ngồi quanh bàn ăn, bỗng ông giám đốc tỏ ra tha thiết quá đáng với đôi má và cánh tay của Êrica, hoặc giả khi đang nói chuyện với người khác, ông hỏi to lên rằng, có phải món mứt quất làm bằng bột mì hay không – mấy tiếng “làm bằng bột mì” ông ta nói giọng lên bỗng xuống trầm rất nhịp nhàng, - không nữa thì ông ta cũng phát biểu rằng Rômêô và Juliét là tác phẩm của Sile, dứt khoát và khẳng định lắm, rồi lơ đãng xoa tay, còn nữa thân hình phía trên thì tựa vào tay ghế… Lúc đó quanh bàn ăn bỗng mọi người lặng đi trong chốc lát. Để phá tan bầu không khí trầm lặng đó, người ta đành phải nói xen vào một câu pha trò vớ vẩn hoặc bắt sang chuyện khác. Ông giám đốc và ông nghị thì ăn ý nhau lắm. Nói chuyện chính trị hay chuyện buôn bán ông nghị cũng biết lựa chiều mà nói, không để xảy ra điều gì đáng tiếc cả. Còn ông ta và bà Ghécda Bútđenbrúc thì khó quá. Tính tình bà khác người nên ông ta không làm sao có thể tìm được chuyện gì để nói với bà hai ba phút: ông ta biết bà Ghécda rất hay chơi đàn violon, điều đó cho ông ta một ấn tượng sâu sắc đến nỗi những buổi gặp mặt vào ngày thứ năm, ông ta thường hỏi giọng nửa đùa nửa thật: “Nhị tây là bà kéo thế nào rồi?”. Nghe đến lần thứ ba thì bà nghị không trả lời nữa.


  Còn ông Cơrítxtian thì lúc nào cũng chun mũi lại quan sát người bà con mới của mình, để rồi hôm sau nhại lại thật giống lời ăn tiếng nói của ông ta. Người con trai thứ hai của bà cụ tham Giôhan Bútđenbrúc đã chữa khỏi bệnh thấp khớp ở bệnh viện, nhưng tay chân vẫn còn ngượng nghịu. Ngoài ra vẫn chưa chữa khỏi bệnh “tê buốt” nửa người bên trái theo chu kì, nghe nói ông bị thế là bởi vì các sợi thần kinh nửa người phía bên ấy ngắn quá, và một số bệnh khác ông thường mắc phải, như khó thở, ăn hay bị nghẹn, tim đập không đều, triệu chứng bệnh tê liệt hay ít ra là nỗi lo sợ có triệu chứng ấy, thì vẫn chưa khỏi. Nhìn bề ngoài, ông không còn dáng dấp của người chưa đầy tứ tuần nữa. Trên đỉnh đầu không còn một sợi tóc nào, chỉ sau gáy và hai bên thái dương còn lưa thưa vài sợi đỏ hoe mà thôi. Đôi mắt ti hí tròn xoe, lúc nào cũng nhìn ngược nhìn xuôi, vẻ nghiêm túc nhưng bồn chồn không yên càng lõm sâu hơn trước. Cái mũi diều hâu trông càng cao hơn bất cứ lúc nào, nổi lên giữa hai gò má nhợt nhạt và trên hàng râu mép rậm rì cũng đỏ hoe… Cái quần len mềm bằng hàng Anh trùm phía ngoài đôi chân vòng kiềng, khẳng kheo.


Từ dạo về nhà tới nay, ông Cơrítxtian ở trên một căn phòng trên hành lang gác hai nhà mẹ, y như trước kia, nhưng thời gian ông ở câu lạc bộ nhiều hơn ở phố Manh, vì sống ở nhà, ông thấy không được thoải mái lắm. Bà Iđa Iungman đi khỏi nhà này rồi thì chị Ríchxen Sêverin liền thay trông nom việc trong nhà cho bà cụ tham. Chị là một cô gái thôn quê vạm vỡ, hăm bảy tuổi, mặt hồng hào, tròn vo, môi dày. Chị nhìn mọi thứ hoàn toàn bằng con mắt người thôn quê. Là chủ nhà, ông nghị nhìn ông Cơrítxtian bằng nửa con mắt, còn chị đầy tờ gái cũng không tôn trọng lắm cái con người suốt ngày nhàn rỗi, chỉ thích nói chuyện ở đâu đâu, cử chỉ lúc thì rất buồn cười, nhưng cũng có lúc rất thảm hại vì bệnh tật. Có một số việc, ông bảo chị làm, chị dứt khoát không làm, cứ mặc kệ. Chị nói:


-          Tôi không có thì giờ hầu ông đâu, ông Cơrítxtian ạ!


 Thế là ông ta chun mũi nhìn chị chằm chằm như muốn bảo: “Chị không biết xấu hổ hay sao?”, rồi duỗi thẳng đôi chân bước đi.


-          Cô tưởng tôi lúc nào cũng có nến dùng ư? – ông nói với bà Tôny – Tôi ít khi có nến thắp… Thường thường khi đi ngủ, tôi phải đánh diêm soi – Nếu không nữa thì ông cũng nói là bà cụ tham cho ông ít tiền tiêu vặt quá. – Thời buổi khó khăn!... Đúng thế thật, trước kia có thế này đâu! Cô cho còn ra thể thống gì nữa không? Bây giờ tôi thường phải đi vay người khác năm siling để mua thuốc đánh răng đấy!


Bà Tôny gào to:


-          Xấu  hổ quá, anh Cơrítxtian ạ! Đánh diêm soi, vay năm siling! Anh đừng nói nữa!


Bà vừa xúc động vừa phẫn nộ, cảm thấy tình cảm thiêng liêng nhất của mình bị chà đạp, nhưng những lời bà nói không thể thay đổi được hoàn cảnh của ông Cơrítxtian…


         Năm siling mua thuốc đánh răng ấy, ông Cơrítxtian mượn của ông tiến sĩ luật sư Anđrêát Ghêdếchcơ. Ông Cơrítxtian có thể chơi thân với một người bạn như thế là điều may mắn cho ông, có thể nâng cao danh giá ông lên, vì luật sư Ghêdếchcơ là một vị công tử, biết làm thế nào để duy trì địa vị hiển hách của mình. Mùa đông năm ngoái, sau khi ông Cácpát Môvơdích an giấc ngàn thu, tiến sĩ Lănghanxơ leo lên địa vị của ông ta, thì ông Ghêdếchcơ được bầu làm nghị viên, nhưng không vì thế mà ảnh hưởng đến nếp sống của ông. Ai cũng biết, từ sau khi ông kết hôn với tiểu thư Hanêút, ngoài tòa nhà rộng lớn ở trong thành phố, ông còn có một ngôi biệt thự nhỏ nằm thoải mái giữa khu rừng mát rượi ở ngoại ô Xanh Ghêtơrút, ở đấy chỉ có mỗi một cô gái trẻ đẹp, không ai rõ từ đâu đến, sống một mình. Ngoài cổng lớn có mấy chữ “Quisisana” mạ vàng lấp lánh. Nhờ cái tên ấy mà ngôi nhà nhỏ kia lừng danh khắp phố. Khi người ta nhắc đến cái tên ấy, người nghe thích đọc nhẹ chữ “Sa” và cố tình nhấn mạnh chữ “na”. Là bạn thân của ông nghị Ghêdếchcơ, ông Cơrítxtian cũng có quyền ra vào Quisisana. Ở đấy cũng như ở nhà cô Alina Puphôghen tại Hămbuốc hay ở Luân đôn, ở Vanparaixô hay ở nhiều nơi tương tự khác trên trái đất này, ông đều thi thố tài năng của mình và thu được kết quả tốt đẹp. Ông kể mấy mẩu chuyện “tỏ một ít tình cảm”, thế là bây giờ ông ra vào ngôi nhà màu xanh lục nhỏ bé ấy thường xuyên không kém ông nghị Ghêđếchcơ. Ông làm thế, tiến sĩ Ghêđếchcơ có biết hay không, có bằng lòng hay không, còn là nghi vấn. Nhưng có một điều chắc chắn là ông Ghêđếchcơ phải bỏ ra rất nhiều tiền cho cô kia tiêu xài mới có thể mua vui được ở Quisisana, còn ông Cơrítxtian thì không biết đồng xu nào mà cũng hưởng được thứ đó.


  Đính hôn với Êrica Gơruynlich được ít hôm, ông Giám đốc Hugô Vaisen bèn mời ông bác Cơrítxtian vào làm ở Công ty bảo hiểm. Ông bác đã đến đây làm việc được hai tuần lễ. Nhưng đáng tiếc là sau hai tuần lễ, cái bệnh “tê buốt” nửa người bên trái ông lại tái phát và một số bệnh vớ va vớ vẩn khác cũng  ngày càng nặng hơn. Ngoài ra, ông Giám đốc lại là một cấp trên tính tình nóng nảy quá sức, thường vì một nhỡ nhầm nào đó, đã không khách khí mắng cả ông bác là “đồ ngốc!”. Ông Cơrítxtian đành phải bỏ việc.


 Riêng về bà Tôny, gần đây, bà cảm thấy hạnh phúc vô cùng. Người ta có thể thấy được nỗi vui mừng của bà qua một số câu nói bà thường buột ra ngoài miệng. Ví dụ, gần đây bà thích nói: “ Con người ta sinh ra ở đời cũng có lúc vận số thay đổi”. Quả như vậy thật, mấy tuần lễ gần đây, mặt bà tươi tỉnh hẳn lên, chân tay luôn luôn cử động, đầu óc lúc nào cũng có kế hoạch này, ý định nọ; hết dọn dẹp sửa sang nhà cửa, bà lại lo thu xếp sắm sửa của hồi môn. Tất cả những công việc đó làm bà nhớ lại cảnh đính hôn lần đầu tiên của bà. Bất giác bà cảm thấy mình trẻ ra, và hy vọng cũng như tinh lực của bà tăng lên. Bất cứ là về dáng dấp hay cử chỉ, bà cũng đã khôi phục lại được vẻ đẹp của bà thời con gái. Đúng như thế, có lần toàn bộ không khí buổi “dạ hội Giêrudalem” đã bị cái phóng túng của bà làm cho tan biến, khiến bà Lêa Kéchác phải bỏ quyển kinh thánh tổ tiên lưu truyền lại xuống, rồi đưa cặp mắt tròn xoe của người điếc nhìn căn phòng rộng lớn.


Êrica không phải sống xa mẹ, sau khi được ông Giám đốc đồng ý, không có thể nói là theo ông yêu cầu, bà Antôni quyết định ở với con gái (ít ra thì tạm thời cũng như thế), như vậy bà có thể giúp đỡ con gái chưa có kinh nghiệm sắp xếp công việc gia đình… chính điều đó khiến lòng bà tràn ngập hân hoan. Trên trái đất này hình như không hề có Benđíchxơ Gơruynlích và cũng không hề có Alôít Pécmanêdơ và mọi thất bại, đau khổ, tuyệt vọng mà đời bà đã từng chịu đựng, hình như cũng tiêu tan thành mây khói. Bây giờ bà có thể chứa chan hy vọng làm lại từ đầu. Tuy bà cũng đã nhắc nhở Êrica, bảo Êrica cảm ơn thượng đế đã ban phát cho mình cuộc nhân duyên tốt lành như thế, nhưng chính  bà là người mẹ, vì trách nhiệm và lý trí, bà đã phải hy sinh mối tình đầu chân thực của mình. Tay bà run run vì sung sướng đã ghi tên ông Giám đốc cùng với tên Êrica vào quyển nhật ký của gia đình. Nhưng bà, chính bà Tôny Bútđenbrúc, mới thực sự là cô dâu! Người chọn rèm cửa và thảm nhà với bàn tay sành sỏi chính là bà; người ra vào hiệu đồ gỗ hay hiệu may quần áo thử đi thử lại hay nhằm được tòa nhà sang trọng rồi đứng tên thuê, cũng là bà! Lần này bà lại có thể từ giã tòa nhà cổ kính, đầy không khí tín ngưỡng nhưng trống trải của mẹ, và bà không còn là người đàn bà bị ruồng bỏ ăn nhờ ở đậu nữa. Bà có thể ngửng cao đầu lên làm lại cuộc đời và có đủ tư cách buộc người khác phải chú ý đến mình, làm cho rạng rỡ môn mi hơn… Đúng như vậy, trước mắt bà cũng chuẩn bị đầy đủ hai bộ cho bà và cho con gái bằng hàng tơ lụa mềm nhũn, dài quét đất, có những cái vòng tròn bằng nhung chạy từ cổ xuống tận gấu.


Tuần này qua tuần khác, xem chừng Êrica sắp kết thúc những ngày Êrica Gơruynlích sống một mình. Cô dâu chú rể chỉ đi thăm hỏi mấy nơi, vì ông giám đốc là người tính nghiêm nghị, thích làm việc mà không thích giao du. Mặc dù nhàn rỗi, ông cũng chỉ thích trong cảnh gia đình ấm cúng… Tiệc đính hôn được tổ chức trong căn phòng rộng lớn của tòa nhà mới ở ngõ Hàng Cá. Những người đến dự, ngoài ông Tômát, bà Ghécda, cô dâu, chú rể và ba cô gái già họ Bútđenbrúc là Phơriđơríchcơ, Henriét và Phíphi, chỉ có thêm mấy người bạn thân ông nghị mà thôi. Trong bữa tiệc, ông Giám đốc luôn tay vỗ vỗ vào cái cổ trần của Êrica làm mọi người khó chịu hết sức… Lễ thành hôn ngày càng gần.


Căn phòng lớn cột tròn lại trở thành nơi khiêu vũ như khi bà Tôny cài vòng hoa hồng nhạt trên đầu lần đầu tiên. Bà Xtút ở phố Đúc Chuông, người đàn bà hay lui tới các nhà giàu sang, lần này lại đến giúp cô dâu xếp những nếp gấp trên bộ quần áo cưới bằng xa tanh và cài hoa lên đầu cho cô dâu. Ông nghị Bútđenbrúc và ông nghị Ghidếchcơ, bạn ông Cơrítxtian, làm phù rể, hai cô bạn học trước kia cùng ở trường nội trú với Êrica làm phù dâu. Ông Giám đốc Huygô Vaisen ăn mặc thật nghiêm trang oai vệ. Lúc đi đến trước bàn thờ dựng tạm, ông dẫm lên tấm voan trùm đầu dài quét đất của Êrica. Mục sư Prinhem chống hai cánh tay dưới cằm chủ trì lễ thành hôn với dáng điệu vừa thiêng liêng vừa hiền hậu như thường lệ. Tóm lại, mọi việc đã được tiến hành vô cùng long trọng, rất đúng với nghi thức. Sau khi hai người trao nhẫn cho nhau, một giọng trầm và một giọng cao, mặc dù cả hai giọng có phần khản đặc, đều đồng thanh nói “vâng” trong bầu không khí yên lặng. Bà Tôny nhìn vào hiện tại, hồi tưởng lại quá khứ và suy nghĩ về tương lai, thế là hàng trăm ý nghĩ, tình cảm xen nhau, dồn dập đến. Bất giác bà nấc lên (vẫn là tiếng nấc không cần suy nghĩ cũng không cần che giấu như hồi còn nhỏ). Ba cô gái già họ Bútđenbrúc cười chua chát như hầu hết những lúc gặp trường hợp này. Đến dự lễ cưới hôm nay, Phípphi đeo một sợi dây chuyền vàng lên cái kính cặp mũi của mình… Bà Vaisơbrốt cũng đến dự. Mấy năm gần đây, người bà Thêresơ Vaisơbrốt càng quá quắt hơn trước nhiều. Trên cái cổ gầy nhẳng của bà vẫn đeo cái “lập lắc” mặt sứ hình bầu dục có ảnh bà mẹ. Để giấu kín nỗi xúc động trong lòng, bà Sêdêmi làm ra vẻ hết sức bình tĩnh nói:


-          Chúc cháu hạnh phúc!


Tiếp đó, trong căn phòng lớn bày bữa tiệc cưới vô cùng thịnh soạn. Những bức tượng các vị thần thêu màu trắng trên tấm thảm xanh treo xung quanh phòng vẫn lặng lẽ cúi nhìn như trước kia. Lúc bữa tiệc sắp kết thúc, cô dâu chú rể bước ra khỏi bàn tiệc, chuẩn bị lên đường đến mấy thành phố lớn hưởng tuần trăng mật… Lúc đó khoảng trung tuần tháng tư. Hai tuần lễ sau, được sự giúp đỡ của họa sĩ Giacốp chuyên trang trí nhà cửa, bà Tôny đã hoàn thành được một kỳ công: thuê toàn bộ gác hai một tòa nhà rộng lớn ở ngõ Xưởng Bánh Mì, trang trí đẹp lắm, bày đầy hoa tươi, chuẩn bị đón cô dâu chú rể đi du lịch về.


Lần kết hôn thứ ba của bà Tôny bắt đầu như vậy!


Đúng, phải nói như thế mới thật thỏa đáng. Trong một buổi đoàn tụ ngày thứ năm, vợ chồng Vaisen không đến, chính ông nghị nói như vậy, còn bà Tôny nghe nói như vậy cũng lấy làm thú vị hết sức. Thực ra, những việc gia đình mà ông Vaisen phải làm thì bà đảm đương hết, nhưng bà cũng được đền bù bằng những niềm vui sướng tự hào. Một hôm, tình cờ gặp người con gái ông Haghenxtruêm, hay là bà Giunkhen Muêlenđoóc ở ngoài phố, bà bèn nhìn bà ta bằng con mắt kẻ chiến thắng đầy khiêu khích. Bà Muêlenđoóc thấy thế ngẩn người ra rồi bất giác lên tiếng chào trước… Những lúc bạn bè đến xem nhà mới, bà dẫn đi khắp nơi, niềm tự hào và vui sướng lộ rõ trên nét mặt và dáng điệu trông thật là nghiêm nghị. Còn Êrica Vaisen thì đứng cạnh, chẳng khác gì một người khách đang tán thưởng.


Tà sau cái áo ngủ quét xuống mặt đất đằng sau lưng, đôi vai hơi nhún nhẩy, đầu ngả ra phía sau; cánh tay đeo chùm chìa khóa có dải sa tanh dài mà bà rất thích, bà Antôni chỉ cho khách xem đồ đạc trong nhà, rèm cửa, bát đĩa bằng sứ trong suốt và mấy bức tranh sơn dầu to tướng, ông Giám đốc mua về. Không phải tranh tĩnh vật, hoa quả, mà toàn là tranh đàn bà khỏa thân, vì ông Huygô Vaisen thích ngắm những thứ đó. Mỗi một cử chỉ của bà như đang nói với khách: “Đấy, rút cuộc, tôi lại vùng lên một lần nữa trong đời tôi”. Những thứ này sang trọng như ở nhà Gơruynlích, còn so với nhà Pécmanêdơ thì sang trọng hơn nhiều.


Bà cụ tham đến. Cụ mặc bộ đồ lụa sọc đen, mùi nước hoa thoang thoảng quanh người. Cụ liếc nhìn đồ đạc trong nhà, ánh mắt trong sáng hiền từ. Tuy cụ không tỏ lời khen ngợi nhưng cũng tỏ vẻ hài lòng. Ông nghị và bà nghị cùng cậu con trai nhỏ cũng đến. Hai người nói đùa mấy câu về vẻ đắc ý của bà Tôny và vất vả lắm mới can không để bà Tôny làm cho Hannô, cậu con trai yêu quý của họ, bội thực bằng bánh mì nho khô và rượu đỏ… Ba cô gái già họ Bútđenbrúc cũng đến, cả ba cô cùng đồng thanh nói rằng, cái gì cũng đẹp cả, nhưng những người quen sống giản dị như các cô không thích ở những ngôi nhà như thế này… Cô Cơlốthinđơ đáng thương cũng đến. Cô người gầy còm, nước da ngăm ngăm, và tính tình vẫn ngoan ngoãn như xưa. Cô đến cho người ta đùa cợt mình một lúc uống bốn tách cà phê liền, rồi kéo dài giọng nói hiền hòa của cô, khen hết cái này đến cái kia… Lúc câu lạc bộ vắng người, ông Cơrítxtian cũng đến đây mấy lần. Lúc nào đến ông cũng uống một ly rượu ngọt, rồi nói với mọi người rằng, ít lâu nữa ông sẽ làm đại lý cho một hãng rượu sâm banh, vì nghề này ông thành thạo lắm, với lại, đây là công việc vui thú, không mất sức tí nào, mình có thể làm chủ được, chỉ thỉnh thoảng ghi mấy dòng vào quyển sổ, trong chốc lát có thể kiếm được ba mươi talơ như chơi. Nói xong chuyện đó rồi, ông bèn mượn bà Tôny bốn mươi silinh để mua một bó hoa tặng cô diễn viên số một ở nhà hát thành phố. Tiếp theo, không hiểu do một sự liên tưởng nào, ông bỗng nghĩ đến “Maria” và bắt đầu nói về những tội ác ở Luânđôn. Ông kể chuyện con chó ghẻ bị người ta, chở từ Vanparaixô đến Xăng phơranxítcô. Lúc đó, ông kể say sưa, hấp dẫn, buồn cười vô cùng, dù người nghe chật ních cả phòng cũng bị câu chuyện của ông lôi cuốn.


Thích chí, ông nói đủ các thứ tiếng: tiếng Anh, tiếng Tây Ban Nha, tiếng địa phương miền bắc nước Đức, tiếng Hămbuốc. Ông kể chuyện đảng dao găm ở Chilê và bọn cướp ở Guytêchapen. Rồi ông liếc nhìn vào cuốn sổ tay chép đầy những bài hát khôi hài, bắt đầu hát, điệu bộ say sưa, tay đánh nhịp rất là thú vị. Bài hát như sau:


Hôm kia tôi lang thang


Một mình trên đường cái quan


Bỗng phía trước có một cô nàng


Thân hình thật là yểu điệu


Váy Pháp thật là đàng hoàng!


Đội cái mũ như cái chậu,


Tôi hát ghẹo cô nàng:


“Hỡi cô con gái kia ơi!


Người cô xinh đẹp làm tôi phải lòng,


Khoác tay nhau ta đến chốn vườn hồng!”


Bỗng cô nàng quay ngoắt lại,


Giương mắt nhìn tôi không cười,


Lại nói: “Cút ngay đi, đồ tồi!”.


Hát xong, ông ta kể sang chuyện đoàn xiếc Renxơ và bắt chước một tên hề nước Anh khi lên sân khấu. Nhìn ông ta, ai cũng tưởng là đang ngồi xem gánh xiếc biểu diễn. Hình như nghe rõ cả tiếng ồn ào ở ngoài rạp, có tiếng người đang cãi nhau với anh xe ngựa. Tiếp đó, ông lại kể một câu chuyện bằng các thứ tiếng địa phương, tiếng Anh và tiếng Đức lẫn lộn. Có chuyện về anh chàng nằm ngủ nuốt một con chuột, đi mời bác sĩ thú y đến bắt mạch xem bệnh, bác sĩ thú y khuyên hãy nuốt thêm một con mèo vào… Chuyện nữa là chuyện về “Bà già cứng cỏi”, chuyện kể rằng, có một bà già đi ra ga, dọc đường gặp đủ các thứ trở ngại, khó khăn, đến nơi thì xe lửa chạy mất rồi! Kể đến đây, ông Cơrítxtian liền gọi ầm lên: “nổi nhạc lên đi!” Cắt đứt câu chuyện của mình. Nhưng không có tiếng nhạc nào cả, ông chẳng khác gì người nằm mê tỉnh dậy, tỏ vẻ ngạc nhiên hết sức!


Trong khoảnh khắc, ông bỗng im bặt, nét mặt biến đổi, cử chỉ rời rạc. Đôi mắt ti hí sâu hoắm của ông bắt đầu đảo ngược đảo xuôi, vẻ bồn chồn lo lắng, còn tay thì xoa bóp nửa người bên trái, hình như trong người ông có sự biến chuyển gì kỳ quặc lắm, và ông đang lắng nghe nó biến chuyển ra sao… Ông lại uống một cốc rượu ngọt, tinh thần có vẻ phấn chấn lên một chút và kể tiếp thêm một câu chuyện nữa, nhưng vừa kể được một nửa, bỗng dừng lại, từ biệt mọi người ra về vẻ thiểu não hết sức.


Gần đây, bà Tôny rất hay cười, bà rất thú vị về những trò ông anh vừa biểu diễn. Bà vui vẻ tiễn ông anh ra đến cầu thang, nói:


- Tạm biệt nhà đại lý! Tạm biệt người có tài ngâm thơ, người săn gái giỏi! Ngốc ơi là ngốc! Rồi lại đến nhé!


Bà nhìn phía sau lưng ông anh, cười sặc sụa, một lúc, rồi trở vào nhà.


Nhưng ông Cơrítxtian không trả lời. Ông đang trầm ngâm suy nghĩ, không nghe bà nói gì. Ông đang nghĩ như thế này: “Đúng rồi! Phải đến đằng Quisisana một lúc!”. Thế là ông đội lệch cái mũ, chống ba toong, ưỡn thẳng người, bước từng bước khập khiễng xuống cầu thang.


 


Chương II


 


Mùa xuân năm 1668, khoảng mười giờ tối, bà Tôny đến tòa nhà mới ở ngõ Hàng Cá, lên gác hai. Ông nghị Bútđenbrúc đang ngồi một mình trong phòng khách; trong phòng, đồ đạc đều có những tấm vải màn màu xanh kẻ hình quả trám bao phủ, chính giữa trần nhà treo một ngọn đèn măngsông, phía dưới là một cái bàn tròn. Ông nghị đang ngồi cạnh bàn, cúi xuống đọc tờ Tin tức sở giao dịch Béclin. Ngón tay giữa và ngón tay trỏ của ông cặp điếu thuốc lá, mũi cặp cái kính gọng vàng. Gần đây, lúc làm việc ông đã phải đeo kính rồi. Nghe tiếng chân bà em gái từ trong phòng ăn bước tới, ông bỏ kính xuống, nhìn kỹ vào bóng tối, mãi cho đến khi bóng bà Tôny hiện ra trong ánh đèn giữa cái màn treo.


- À, chào cô! Đã ở Puêpenradơ về rồi đấy à? Bạn bè cô khỏe cả chứ?


- Chào anh Tom! Cảm ơn anh! Amgác khỏe… Anh ngồi đây một mình thôi ư?


- Vâng! Cô đến rất đúng lúc. Tối nay tôi ăn cơm một mình, đơn độc lắm, chẳng khác gì đức giáo hoàng. Có bà Iungman cũng như không, chốc chốc bà ta lại chạy lên gác với Hannô… Ghécda thì đến câu lạc bộ, chú Cơrítxtian thì đón cô ấy đi nghe Tamagiô biểu diễn viôlông…


- Lạ thật! Em lại nói câu mẹ thường nói ở đầu miệng rồi! Đúng đấy, anh Tom ạ, gần đây em thấy chị Ghécda ăn ý với anh Cơrítxtian lắm!


- Tôi cũng vậy, từ sau khi chú ấy về, cô ấy bắt đầu thích chú ấy lắm. Thậm chí những lúc chú ấy kể bệnh tình của mình, cô ấy cũng lắng tai nghe, không chán… Trời ơi! Tôi cho là chú Cơrítxtian có thể làm cho Ghécda khuây khỏa. Hai hôm trước, Ghécda còn nói với tôi: “Chú ấy không giống thị dân tí nào, anh Tômát ạ! Lại càng không giống anh mảy may!”.


- Thị dân… Thị dân hả anh Tom? Ha, ha… Theo em thì trên thế giới rộng bao la này, không một người thị dân nào tốt hơn anh được.


- Có lẽ thế! Nhưng ý cô ấy thì không phải như vậy! Cô hãy cởi áo ngoài ra! Xem sắc mặt cô đỏ đắn lắm. Chắc khí hậu ở thôn quê bổ ích cho cô lắm nhỉ!


- Đối với em, tốt lắm! – Bà vừa nói vừa để cái mũ che gió đính dải lụa tím nhạt và cái voan sang một bên, rồi ngả lưng vào ghế tựa, trông rất đàng hoàng… Bệnh dạ dày và chứng mất ngủ khỏi cả rồi, chỉ trong một thời gian ngắn mà khỏi hẳn. Nào sữa tươi, xúc xích, giăm bông… Em béo ra chẳng khác gì chú bê con và tốt tươi như hoa màu! Lại còn có cả mật ong mới lấy nữa, anh Tom ạ! Xưa nay em vẫn cho mật ong là bổ nhất, nó là sản vật thiên nhiên thuần chất! Thức ăn thế mới gọi là thức ăn. Amgác tốt thật, thế mà còn nhớ tới người bạn trước đây học cùng trường, mời em tới chơi. Phôn Maibon cũng niềm nở như thế… Hai vợ chồng nó cứ khẩn khoản mời em ở lại mấy tuần lễ nữa, nhưng anh biết đấy. Em mà đi vắng thì cháu Êrica không thể xoay xở nổi, nhất là bây giờ lại vừa sinh cháu ÊlIđabét.


- Ồ, tôi quên không hỏi, cháu bé thế nào?


- Cám ơn anh, cháu khỏe lắm, vừa chẵn bốn tháng mà trông bụ bẫm ghê, mặc dù các chị Phơriđơríchcơ, Henriét và Phíphi đều nói là cháu không thể sống được…


- Còn Vaisen thì thế nào? Nó có chăm sóc con không? Tôi thì chỉ  ngày thứ năm tôi mới đến chơi với cháu được!


- Ờ, nó vẫn như trước kia thôi! Anh biết đấy, nó là người cần cù, an phận thủ thường, về phương diện nào đó, có thể nói là người chồng mẫu mực, vì nó rất ghét quán rượu, hết giờ là thẳng một mạch từ phòng giấy về nhà, bao nhiêu thì giờ rỗi dành cho mẹ con em tất. Nhưng có một điều, anh Tom ạ, em nói riêng với anh: Lúc nào nó cũng muốn con Êrica đùa giỡn chuyện trò với nó. Nó bảo, sau một ngày làm việc mệt nhọc về nhà, nó chỉ muốn vợ nó vui vẻ, cười đùa với nó, như thế tinh thần mới sảng khoái. Nó bảo trên đời này đàn bà chỉ có được việc ấy thôi!


- Thằng ngốc! – Ông nghị lẩm bẩm.


- Sao?... Tai hại nhất là lúc nào con Êrica cũng ỉu xìu. Chắc là em truyền cho nó đấy, anh Tom ạ. Có lúc nó rất nghiêm, cứ làm thinh, không nói năng gì, như đang trầm ngâm suy nghĩ điều gì ấy, lúc đó thằng chồng mắng mỏ con vợ. Nó cáu lên, nó dùng những lời lẽ không nhã nhặn tý nào cả. Nó thường cố để cho người ta thấy rằng, nó không phải là con nhà giàu sang quý phái gì cả, cũng không được giáo dục tử tế, như người ta thường nói! Đúng như thế, em chẳng muốn giấu anh làm gì, mấy hôm trước em lên đường đi Puêpenradơ, chỉ vì món súp mặn một tí mà nó ném cả cái nắp liễn xuống nền nhà vỡ tan!


- Hay nhỉ?


- Không đâu! Hoàn toàn ngược lại. Nhưng cũng không nên vì thế mà bảo nó không tốt. Thực ra chúng ta ai không có khuyết điểm? Người cần kiệm, thật thà, tháo vát như nó thì không nên cho là xấu được. Không, anh Tom ạ! Trên đời này những người bề ngoài cục cằn nhưng tâm địa tốt không thể cho là xấu được. Anh Tom, em kể cho anh nghe cảnh ngộ của gia đình các bà mà em vừa đến chơi. Thảm hại lắm! Một hôm nhân lúc vắng vẻ, Amgác cũng đã khóc lóc với em…


- Cô nói Phôn Maibom hả?


- Đúng, em nói chuyện anh ấy đấy, anh Tom ạ! A, nãy giờ chúng ta ngồi nói chuyện phiếm, thực tình tối nay em tới đây là vì một chuyện đứng đắn và quan trọng cơ!


- Thế nào? Phôn Maibom làm sao?


- Phôn Maibom là người hiền lành dễ gần, anh Tômát ạ. Nhưng là một tay chơi bời, một con ma bạc đấy. Đánh bạc ở Rốtxtốc, ở Vacnêmuyndê. Tiền mắc nợ thì nhiều như cát ngoài bãi biển. Ai chỉ ở Puêpenradơ vài tuần lễ thì không thể ngờ được. Nhà cửa sang trọng lắm, cảnh trí xung quanh rất đẹp. Sữa bò, xúc xích, giăm bông không thiếu thứ gì. Ở một cái trang trại như vậy không ai có thể đoán được tình hình thực tế như thế nào… Tóm lại, anh Tom ạ, chúng nó đã đến lúc khánh kiệt rồi, Amgác vừa khóc vừa nói với em như vậy đấy.


- Thảm hại nhỉ! Thảm hại nhỉ!


- Chả phải nói nữa. Như chuyện đâu phải chỉ có thế. Về sau em mới biết vợ chồng nó mời em đến không phải không tính toán điều gì.


- Thế là thế nào?


- Em muốn nói với anh điều này, anh Tom ạ! Phôn Maibom cần tiền. Anh ấy cần có ngay một số tiền rất lớn. Biết cô vợ với em là chỗ bè bạn với nhau từ xưa, mà em lại là em gái anh, cho nên lần này, gấp quá, anh chồng đành bảo vợ nói với em, còn cô vợ thì yêu cầu em nói với anh… Anh hiểu không?


Ông nghị đưa năm đầu ngón tay phải lên vuốt tóc hai lượt, mặt buồn thiu.


- Anh nghĩ là anh hiểu rồi đấy! – Ông nói – Nếu như anh đoán không sai thì chuyện đứng đắn và quan trọng cô nói hình như là họ muốn đem lúa ở Puêpendơ ra cầm để vay tiền chứ gì. Nhưng theo anh thì lần này cô và hai người bạn của cô đã gõ nhầm cửa rồi. Một là xưa nay anh chưa buôn bán với Phôn Maibom, với lại cách đặt quan hệ như thế cũng đặc biệt quá. Hai là gia đình ta từ cụ cố đến ông nội, đến ba, nay kể cả anh nữa, tuy thỉnh thoảng cũng cho người thôn quê vay tiền, nhưng người vay phải có một điều kiện khác nữa… Nhưng theo cô nói hai phút trước đây về nhân cách và hoàn cảnh của Phôn Maibom thì khó lòng tin cậy lắm.


- Anh đoán nhầm rồi, anh Tom ạ. Em để anh nói hết, nhưng anh đã đoán nhầm rồi. Món tiền ấy không phải để Phôn Maibom tiêu. Anh ấy cần ba vạn năm nghìn mác để thanh toán nợ.


- Trời ơi!


- Trong vòng hai tuần lễ phải thanh toán ba vạn năm nghìn mác! Dao kề tận cổ rồi! Nói rõ hơn nữa là hiện nay anh ấy muốn tìm một người nào mua thì anh ấy bán.


- Lúa mì chưa gặt mà đã bán à? Chao ôi, anh chàng đáng thương hại thật! – Ông nghị vừa đưa tay đùa nghịch cái kính cặp mũi để trên bàn, vừa lắc đầu – Nhưng đứng về phía chúng ta mà nói thì đó là một chuyện mua bán hiếm có. Phần lớn điền chủ ở đây đều bị người Do Thái nắm chặt trong tay… Ai biết được Phôn Maibom đáng thương hại kia đã rơi vào tay cho vay nặng lãi chó chết nào rồi…


- Anh nói cái gì? Người Do Thái cho vay nặng lãi à? – Bà Tôny hết sức ngạc nhiên, nói to – Nhưng chúng em nói anh kia mà, anh Tom, nói anh kia mà!


Ông Tômát Bútđenbrúc quẳng cái kính xuống mặt bàn, khiến nó tuột một đoạn trên tờ báo rồi đứng lại. Bỗng ông quay nửa người trên về phía bà em gái:


- Nói anh, hả? – Chỉ thấy môi ông mấp máy chứ không nghe rõ tiếng. Sau đó, ông nói to lên – Đi ngủ đi thôi, cô ơi! Cô mệt lắm rồi đấy!


- Đúng đấy, anh Tom ạ, tối nào chúng ta bắt đầu đùa hứng thú một tí thì bà Iungman thường nói với chúng ta câu ấy đấy. Nhưng em xin bảo đảm với anh rằng, xưa nay chưa bao giờ em tỉnh táo và phấn khởi như bây giờ. Em không quản đêm tối và sương mù tới đây cốt là để chuyển lời yêu cầu của Amgác và gián tiếp là lời yêu cầu của Phôn Maibom cho anh…


- Ờ, nhưng anh xin trả lại lời yêu cầu cho cô em ngây thơ của anh và cho Maibom đang gặp lúc bí…


- Ngây thơ? Đang gặp lúc bí? Em không hiểu được lời anh nói, anh Tômát ạ! Rất đáng tiếc là em không mảy may hiểu ý anh muốn nói gì! Người ta mang đến cho anh một dịp may để làm một việc tốt, lại vớ được một món hời…


- Chao! Cô ơi, cô đừng nói những lời ngu xuẩn như vậy nữa! - Ông nghị nói to và bực bội ngả người ra đằng sau ghế - Cô bỏ qua câu nói của tôi. Cô lẩm cẩm không hiểu gì hết làm cho tôi phải nổi cáu mất thôi. Chả nhẽ cô không biết được rằng, như vậy là cô khuyên tôi làm một việc xấu xa bẩn thỉu, mất cả nhân phẩm đó hay sao? Chả nhẽ tôi lại làm cái việc đục nước béo cò, bóc lột người ta một cách tàn nhẫn ư? Lợi dụng ông điền chủ ấy lúc ông ta quẫn bách để phát tài ư? Bắt anh ta phải bán thu hoạch cả năm để lấy nửa tiền, để tôi làm giàu một cách không chính đáng ư?


- Chao ôi, anh nghĩ như vậy hay sao? – Bà Tôny nói, vẻ sợ sệt. Suy nghĩ một lúc bà lại phấn chấn lên, nói tiếp – Không cần thiết, hoàn toàn không cần thiết phải nhìn việc này về khía cạnh đó, anh Tom ạ! Tại sao anh lại nói bắt buộc anh ấy? Chính anh ấy yêu cầu cơ mà? Anh ấy cần tiền, anh ấy muốn giải quyết việc này trên tình bạn, giữ kín tiếng không hở ra cho người ngoài biết cơ mà! Chính vì thế anh ấy mới nghĩ đến chúng ta, mới mời em đến!


- Tóm lại một câu, anh ấy đã hiểu nhầm anh và tính chất của Công ty chúng ta. Chúng ta có truyền thống của chúng ta. Một trăm năm lại nay, chúng ta chưa hề buôn bán kiểu đó bao giờ. Tôi cũng không muốn là người đầu tiên làm chuyện bậy bạ như thế!


- Tất nhiên, anh Tom ạ! Công ty có truyền thống của Công ty mà ai cũng phải tôn trọng, hơn nữa, nếu ba còn sống ba cũng không làm như vậy, điều đó không cần phải nói nhiều nữa… Có điều, em đần độn đây, nhưng em cũng thấy rằng anh không phải là người đi theo con đường của ba, với lại từ ngày thay ba buôn bán thì tình hình có khá hơn lúc ba còn sống nhiều. Nhưng việc anh làm mấy năm nay phần lớn đều là những việc trước kia ba không dám làm. Đó là vì anh còn trẻ, anh có đầu óc làm những chuyện to tát. Nhưng em chỉ sợ là, thời gian gần đây anh gặp những chuyện không vừa ý, làm cho anh nhụt chí… Nếu như hiện nay anh giải quyết công việc không được thành công, không thuận lợi như trước kia, nguyên nhân là vì anh quá thận trọng rụt rè, quá an phận thủ thường, có những dịp kiếm được rất nhiều lãi, anh cũng bỏ qua.


- Chà chà! Tôi mong cô đừng nói nữa, cô ơi! Cô làm tôi cáu tiết lên rồi đấy! Ông nghị nói gắt gỏng và quay người đi – Chúng ta nói chuyện khác có được không?


- Đúng là anh nổi cáu rồi anh Tômát ạ! Em thấy rõ như thế. Ngay từ lúc đầu anh đã nổi cáu, nhưng sở dĩ em cứ nói là em muốn chứng minh với anh rằng, anh cảm thấy bị sỉ nhục là không đúng. Nếu em đặt ra cho em câu hỏi tại sao anh lại nổi cáu, thì em chỉ có thể trả lời là, vì không phải tự đáy lòng anh, anh không thích buôn bán như vậy. Em tuy là phụ nữ không biết gì, nhưng qua những điều em từng trải và qua người khác, em nghiệm thấy rằng: chỉ khi nào mình không thể cự tuyệt lời người khác yêu cầu một cách kiên quyết, chỉ khi trong bụng mình cũng muốn thử xem ra làm sao, thì lời yêu cầu đó mới khiến mình nổi cáu mà thôi!


- Cô nói hay lắm! – Ông nghị cắn đứt cái đầu lọc thuốc lá rồi lặng thinh.


- Hay lắm ư? Hừ, không phải thế đâu! Chẳng qua cuộc sống dạy cho em một thứ kinh nghiệm hết sức đơn giản đấy thôi. Có điều hẵng khoan bàn chuyện này đã, anh Tom ạ! Em không muốn tranh luận với anh đâu. Lẽ nào em lại có thể thuyết phục được anh? Không thể được, em không có khả năng ấy. Em chỉ là một con ngốc, thật là đáng tiếc! Nhưng thôi, nói thế nào cũng được, ta hãy bàn chuyện kia đi…, em thấy thú vị hơn. Một mặt thì em buồn cho vợ chồng Maibom, mặt khác em lại mừng cho anh. Em nghĩ, gần đây lúc nào cũng thấy anh Tom rầu rĩ, trước kia anh còn kêu ca, nhưng dạo này kêu ca anh cũng chẳng kêu ca nữa. Anh thua lỗ nơi này nơi nọ, làm ăn chẳng ra gì, trong khi đó thì nhờ trời, em bắt đầu phấn chấn lên, cuộc sống đã hạnh phúc phần nào. Nhưng rồi em lại nghĩ, thế này là mình thu xếp cho anh một việc đây, đem lại cho anh một dịp may, một cơ hội tốt. Anh có thể bù đắp bao thua thiệt trước kia. Với lại, còn có thể cho người ta thấy rằng Công ty Giôhan Bútđenbrúc ngày nay chưa đến nỗi sa sút lắm. Nếu em làm theo đề nghị kia thì em là người mối lái, em cũng thấy hết sức tự hào. Anh biết đấy, em hằng mơ ước được làm một việc gì đó để thanh danh nhà ta rạng rỡ hơn lên, đó cũng là nguyện vọng vô cùng bức thiết của em… Thôi, hẵng dừng lại ở đây đã… Bực nhất là sớm muộn gì rồi Maibom cũng phải bán non số hoa màu kia đi. Nếu anh ta thăm dò ở thành phố này, thế nào cũng tìm được  người mua ngay thôi, anh Tom ạ! Tìm được ngay… Chính là Hécman Haghenxtruêm, cái thằng cha đểu cáng ấy chứ ai!


- Ừ, đúng đấy, hắn từ chối ư? Chuyện ấy ngờ lắm!


Ông nghị nói, giọng chua chát, nhưng bà Tôny đã vội hỏi dồn:


- Anh biết ư? Anh biết ư? Anh biết ư? 


Ông Tômát Bútđenbrúc cười mỉm:


- Thật là vô duyên… Chúng ta đang bàn một chuyện không đáng tin  cậy gì cả, một chuyện hết sức vu vơ với một thái độ hết sức nghiêm túc… Ít ra cô là như thế! Nếu tôi không nhớ nhầm thì hình như tôi chưa hề hỏi cô rằng, rốt cuộc chúng ta nói chuyện gì? Phôn Maibom muốn bán khoảnh đất nào, tôi không hay biết gì tình hình ở Puêpenradơ cả…


- Ờ, anh cũng nên đi đến nơi mà xem xem – Bà say sưa nói – Từ đây đến Rốtxtốc không bao xa. Đến Rốtxtốc là coi như đến Puêpenradơ rồi! Anh ta định bán khoảnh đất nào ư? Puêpenradơ là cái trang trại lớn, mỗi năm thu hoạch hơn nghìn bao lúa mì, điều đó em biết chắc. Nhưng tình hình cụ thể như thế nào em không rõ. Lúa mạch, yến mạch, đại mạch, mỗi thứ bao nhiêu? Có phải mỗi thứ năm trăm bao hay không, nhiều hơn hay ít hơn? Em không rõ, nhưng em dám chắc là thứ nào cũng rất tốt. Có điều là em không thể cho anh biết con số cụ thể. Anh Tom, em là một con ngốc mà! Tất nhiên anh cũng nên đến nơi mà xem…


Hai người im lặng một lúc.


- Thôi nhé! Chả cần phải bàn mãi chuyện ấy nữa – Ông nghị nói dứt khoát, tay nhấc cái kính cặp mũi ra, đút vào túi gi lê, cài khuy áo ngoài, đứng dậy rồi đi đi lại lại trong phòng, cử chỉ nhanh nhẹn khỏe khoắn, nhưng rất thoải mái, cố ý tỏ ra mình đã xua đuổi được hết mọi điều suy nghĩ và mọi nỗi do dự rồi.


Một lát sau, ông lại đến đứng cạnh bàn, người hơi cúi về phía bà em gái, quặp ngón tay trỏ gõ gõ xuống bàn nói:


- Bây giờ anh kể cho cô nghe câu chuyện này, cô Tôny thân mến! Nó sẽ cho cô thấy thái độ của anh đối với việc này như thế nào. Anh biết cô rất tôn trọng các nhà quý tộc, đặc biệt là quý tộc Mếchlenbuốc, nên mong cô rất cứ chịu khó lắng nghe, mặc dù ở chỗ nào đó anh tỏ ra không tôn trọng một vị nào đó trong số những vị chúa đất ấy… Cô nên biết là, trong những vị ấy có một vài vị tuy bản thân rất cần các thương gia giúp đỡ - Cũng như Phôn Maibom đang cần đến họ ấy mà – thì lại không tôn trọng gì họ cả. Khi giao thiệp với họ, các vị quá đề cao (tất nhiên trong một chừng mực nhất định, phải thừa nhận là đúng) vai trò ưu việt của người sản xuất so với các thương gia là tầng lớp trung gian. Tóm lại là họ nhìn thương gia như nhìn bọn con buôn, bọn Do Thái hay ra vào ngõ hẻm mua quần áo cũ, dù biết là mình hớ to rồi nhưng vẫn cứ bán. Anh hết sức tự hào là khi giao thiệp với các vị ấy, anh chưa để lại cho các vị ấn tượng một người đạo đức đồi bại, đến bòn vét các vị. Trái lại, anh phát hiện ra trong các vị ấy một số con buôn tính toán chi li hơn anh nhiều! Một lần gặp một vị như vậy, anh đã phải nhẹ nhàng cho ông ta biết tay một tý, để cho địa vị xã hội của anh xích gần với ông ta hơn… Đó là một vị chúa đất ở Pốckenđoóc. Chắc cô đã có nghe nói tới ông ta rồi. Trước đây, ông ta đã có giao thiệp với anh một thời gian khá lâu: Bá tước Xtrêlítxơ ấy mà! Một con người đầu óc vô cùng phong kiến! Mắt đeo cái kính mặt vuông không hiểu sao cái mắt kính ấy không cứa đứt mắt ông ta! Chân đi ủng da sơn, thành ủng lật ra ngoài, tay cầm roi ngựa cán mạ vàng. Ông ta có thói quen há nửa miệng, lim dim mắt, nhìn anh vẻ bực tức, khinh khỉnh… Hôm gặp ông ta lần đầu, đáng được nhắc lại. Trước đó, hai người đã gửi cho nhau mấy bức thư. Anh đến, người đầy tớ vào thưa với ông ta, ông ta mời anh vào phòng làm việc. Bá tước Xtrêlítxơ đang ngồi trước bàn giấy. Anh chào, ông ta cứ ngồi yên trên ghế, cúi người chào lại, viết nốt mấy dòng chữ cuối cùng một bức thư, rồi mới quay sang phía anh, nói chuyện về họ hàng của ông ta, mắt ông ta cứ nhìn thẳng lên phía trên đầu anh. Anh tựa người vào bàn xa lông, tay vòng trước ngực, chân bắt chéo, ngắm nhìn ông ta thú vị lắm. Đứng nói chuyện năm phút rồi, anh ngồi ngay lên bàn, hai chân đung đưa. Anh và ông ta cứ thế bàn bạc tiếp. Độ mươi lăm phút sau nữa, ông ta mới huơ huơ tay, ra vẻ ban ơn nói: “Ông ngồi xuống nói chuyện, được không?” “Cái gì? – Anh bảo – không cần khách sáo, tôi ngồi từ lâu rồi!”.


- Thật anh đã nói như thế ư? Thật thế không, anh Tom? – Bà Tôny thích chí quá, không nén được, nói to… Bà quên hết chuyện lúc nãy, bây giờ trong óc chỉ còn mỗi chuyện này nữa thôi – Anh ngồi từ lâu rồi, hay quá!


- Đúng như thế. Anh kể nốt cô nghe. Từ giờ phút đó trở đi, thái độ ông bá tước hoàn toàn thay đổi. Lần sau đến là ông ta bắt tay và mời ngồi ngay. Sau đó, quan hệ giữa ông ta và anh rất tốt. Vì sao anh lại kể cho cô nghe câu chuyện này? Ấy là anh muốn hỏi cô, ví dụ khi Phôn Maibom bàn chuyện buôn bán với anh mà anh ta quên không mời anh ngồi, thì anh có nên có cái can đảm ấy không, anh có quyền làm như thế không, đem lòng tự tin của mình cho Phôn Maibom một bài học?


- Thôi cũng được, có lẽ anh đúng, anh Tom ạ! Như em vừa nói, em không muốn ép anh. Chắc là anh biết việc gì nên làm, việc gì không nên làm. Chấm dứt thôi nhé! Chỉ mong anh tin cho rằng anh nói chuyện kia với ý muốn tốt đẹp là được rồi… Thôi, chào anh, anh Tom! À, hãy thong thả, em còn phải hôn cháu Hannô và chào bà Iđa … một tiếng… rồi còn phải gặp anh một lát nữa…


Nói xong, bà đi ra khỏi phòng…


(còn tiếp)


Nguồn: Gia đình Buddenbrook. Tiểu thuyết của Thomas Mann. Nobel Văn học năm 1929. Hồng Dân Hoa dịch. NXB Lao động, 1975.







Đây là nói những cuộc chiến tranh giữa nước Phổ và Đan Mạch những năm 1864 – 1865 để giải quyết “vấn đề công quốc”. Những công quốc này nằm giữa các nước Đan Mạch – Phổ Áo. (Người dịch).




Người Châu Âu thế kỷ trước thường đeo kính một mắt.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 18.11.2019
Cơ may thứ hai - Constant Virgil Gheorghiu 18.11.2019
Hiểm họa sắc vàng - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Nhân mạng cuối cùng và đồng loại - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Sodoma & Gomora - Vlastimil Podracký 18.11.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 07.11.2019
Thầy lang - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 07.11.2019
Những lớp sóng - Virginia Woolf 25.10.2019
Bảy đêm huyền thoại - Vũ Bằng 19.10.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 19.10.2019
xem thêm »