tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29497694
Tiểu thuyết
05.04.2012
Thomas Mann
Gia đình Buddenbrook

CHƯƠNG V


Nguyện vọng và hành động của chúng ta là do một số nhu cầu nào đó của hệ thống thần kinh sinh ra. Những nhu cầu đó là gì, thật khó lòng dùng ngôn từ chính xác mà trình bày được. Ví dụ như “lòng hư vinh” của ông Tômát Bútđenbrúc chẳng hạn, ông hết sức chăm chú tô điểm bề ngoài của ông, hay mặc những bộ quần áo diêm dúa đắt tiền, nhưng thực ra đó lại là chuyện khác. Xét thật kỹ, chẳng qua ông là một nhà hoạt động chính trị, ông phải cố giữ cho mình, từ đầu đến chân, lúc nào cũng thật quy củ, thật thích hợp với tư cách của ông. Chính bản thân ông và cả người khác nữa cũng đòi hỏi nhiều ở tài năng và trí tuệ của ông. Việc tư cũng như việc công cứ chồng chất hàng đống lên đầu. Trong một cuộc hội nghị phân công chức vụ ở tòa thị chính, người ta giao cho ông một chức vụ rất nặng nề là quản lý thuế vụ. Sau đó, công việc nghành hỏa xa, thuế quan và nhiều công việc quan trọng của một số nước khác cứ dồn dập đến, cũng chiếm mất một phần tinh lực của ông. Từ ngày trúng cử, ông đứng ra triệu tập nhiều cuộc hôi nghị của Ủy ban giám sát và quản lý. Trong những cuộc hội nghị này, một mặt, ông phải làm ra vẻ tôn trọng kinh nghiệm của các bậc đàn anh tích lũy trong bao nhiêu năm để khỏi làm thương tổn lòng tự ái của các vị. Mặt khác, ông lại phải nắm thực quyền trong tay, cái đó đòi hỏi ông  phải dốc hết tài nhanh nhẹn, trí thông minh và các thủ đoạn khi giao thiệp với mọi người. Nếu ai chú ý sẽ thấy một chuyện rất đỗi ngạc nhiên là trong thời gian này, “lòng hư vinh” của ông nổi bật lên rất rõ. Nói như thế cũng tức là nói một số yêu cầu của ông như việc nghỉ ngơi cho lại sức, việc đi dưỡng tinh thần, việc một ngày thay hai ba bộ quần áo để cho tinh thần thêm phấn chấn vân vân, càng trở nên cấp bách hơn trước. Như vậy là mặc dù ông Tômát Bútđenbrúc mới băm bảy tuổi, nhưng tinh lực đã sút lắm rồi, sức khỏe đã xuống nhanh lắm rồi!


Mỗi khi bác sĩ Gơrabô yêu cầu ông nghỉ ngơi nhiều hơn nữa, ông thường trả lời:


-          Chà chà, ông bác sĩ thân mến này! Tôi chưa đến tuổi đó đâu mà!


  Ý ông muốn nói rằng, tương lai sẽ có một ngày, ông đạt được tình hình nào đó, tức là công thành danh toại rồi, thì có lẽ ông sẽ hưởng thụ một cách thực sự thoải mái. Nhưng cho đến lúc ấy, ông còn có rất nhiều việc phải làm. Mà thực ra thì hình như ông không tin rằng ông sẽ đạt được tình hình đó. Có một sức mạnh cứ thúc ông tiến tới, không để ông yên tĩnh phút nào. Thậm chí khi bề ngoài trông ông có vẻ đang nghỉ ngơi, ví dụ như khi ông cầm tờ báo sau bữa ăn, thong thả chăm chú mân mê bộ râu, những lúc ấy những đường gân xanh vẫn hằn rõ trên huyết thái dương nhợt nhạt của ông và óc ông vẫn lởn vởn hàng nghìn ý nghĩ. Vả lại, ông đã nghĩ thì nghĩ cẩn thận đến nơi đến chốn, bất cứ là về mưu kế nào trong thương mại, về bài diễn thuyết nào phải đọc, hay là về kế hoạch trù tính lâu nay, đổi ngay toàn bộ áo lót đi, như thế ít ra cũng tạm thời không phải bận tâm đến chuyện đó nữa!


  Nếu như những chuyện mua bán hoặc thay đổi đồ dùng có thể làm cho tinh thần ông tạm thời thoải mái yên tĩnh, thì ông không hà tiện một tí nào, bởi vì năm ấy ông buôn bán làm ăn phát tài lắm, chỉ những năm ông nội còn sống mới bì kịp! Công ty này không phải chỉ nổi tiếng ở thành phố này mà thôi đâu, ngay cả những nơi khác cũng lừng danh, mà uy tín của ông ở ngoài xã hội cũng ngày càng tăng. Ai nấy đều thừa nhận ông là người lão luyện, tài hoa. Tất nhiên có người ghen tị, cũng có người thán phục, kính trọng, nhưng ông thì cứ ra sức tìm kiếm một phương pháp làm việc nhàn nhã, có quy cũ, vì ông cảm thấy lúc nào ông cũng không sao thực hiện hết những ước mơ và những kế hoạch vô cùng vô tận của ông được. 


      Nếu chúng ta hiểu điều đó, thì đối với việc ông nghị Bútđenbrúc lo lắng đặt kế hoạch xây một tòa nhà mới, rộng rãi, vào mùa hè năm 1863, chúng ta sẽ không thể cho ông là kiêu căng phóng túng. Người hạnh phúc là người được hưởng một cuộc sống thanh nhàn, mà ông thì cái bản tính không thể ngồi yên tĩnh được một phút của ông lại thôi thúc ông phải bôn ba vì chuyện đó. Tất nhiên một số người cho công việc to lớn đó biểu hiện “lòng hư vinh” của ông. Thực ra cũng khó tìm được một lời giải thích nào khác. Xây một tòa nhà mới, thay đổi hoàn toàn bộ mặt cuộc sống, di chuyển, dọn dẹp, sắp xếp lại nhà mới, vứt bỏ những thứ cũ kỹ, thừa thải, cặn bã tích lũy bao nhiêu năm tháng… thậm chí khi ông tưởng tượng tới những chuyện đó, thì ông đã có cảm giác sạch sẽ, mới lạ, trong trắng, không một vết dơ, tai mắt đều như đổi mới hết, làm cho sức mạnh của ông tăng thêm. Mà những thứ ấy thì ông rất cần, bởi vì ông đang dốc toàn bộ tâm lực ra để thực hiện kế hoạch đó, thậm chí ông đã chọn được một khoảnh đất rồi!


 Khoảnh đất này khá rộng, ở phía dưới ngõ Hàng Cá. Ở đó có một ngôi nhà cũ nát muốn bán đi, chủ nhà là một bà già lọm khọm, không chồng con gì cả, người duy nhất của một gia đình tiếng tăm ngày trước còn sót lại, nhưng bị người ta bỏ quên. Trước kia, bà ta sống ở đây một mình, rất cô đơn, nhưng cách đây ít lâu, bà chết rồi. Ông nghĩ muốn xây tòa nhà mới của mình ở nơi này nên mỗi lần đi qua để xuống bến tàu, ông thường ngắm nghía kỹ khoảnh đất ấy. Ở đây, xóm giềng đều là người giàu sang. Toàn là biệt thự có tường hình tam giác xinh lắm. Nghèo nhất là ngôi nhà phía trước mặt: một căn nhà gác chật hẹp, tầng dưới là một quán bán hoa tươi.


 Chao ôi, lạy Chúa! Đối với bà Tôny, thì cái gì mà ông anh trai chả cần! Bà hết sức vui sướng đưa hai tay bắt chéo nhau trên ngực, vai hơi nhô lên, đầu ngửng, đi đi lại lại trong phòng.


-          Cần lắm chứ anh Tom! Trời ôi! Anh cần làm thế quá đi chứ lị! Không ai có lý do gì để phản đối anh cả. Vả lại lấy con gái nhà ông Ácnônđen, của hồi môn những mười vạn talơ mà! Anh đối với em tốt lắm, đem chuyện đó ra bàn với em trước, em rất lấy làm tự hào!... Đã quyết tâm làm thì làm cho thật sang. Ý em là như thế.


-          Ừ, tôi cũng nghĩ như vậy. Tôi cũng cho là phải tốn ít tiền vào việc này. Tôi định cho ông Phôicơtơ nhận thầu. Tôi rất sung sướng có thể cùng cô xem bản vẽ trước. Con mắt thẩm mỹ của ông Phôicơtơ cừ lắm đấy!


   Ông Tômát tìm được người ủng hộ thứ hai là bà Ghécđa, bà rất tán thành kế hoạch đó. Mặc dù dọn nhà thì xáo động nháo nhào lên, không vui vẻ gì, nhưng bà cảm thấy có một phòng âm nhạc lớn trang bị những phương tiện đặc biệt về âm hưởng là điều vô cùng hạnh phúc. Về cụ tham thì, bà cụ cho chuyện làm  nhà mới là kết quả tất nhiên của hàng loạt chuyện tốt lành gần đây trong nhà mình. Bà cụ chỉ biết hài lòng và cảm ơn Chúa! Từ ngày có đứa cháu đích tôn thừa trọng, rồi ông tham lại được bầu làm nghị viên, so với trước kia, bà cụ càng không che giấu niềm kiêu hãnh của người làm mẹ. Gần đây, động một tý là bà cụ nói: “Anh nghị, con của mẹ!”. Câu ấy ba chị em họ Bútđenbrúc ở phố Brêten nghe chối tai quá thể!


Ba cô gái luống tuổi ấy không tìm ra được một bóng đen nào trong cuộc sống lên như diều của ông Tômát. Ngày thứ năm, chế diễu Cơlốthinđơ đáng thương một lúc, cũng không mang lại cho các cô điều gì thú vị lắm. Còn ông Cơrítxtian thì nhờ người chủ cũ là ông Risácxơn giới thiệu, ông ta đã tìm được việc làm ở Luânđôn, gần đây lại đánh điện về, đòi kết hôn với cô Puphôgen. Thật là hết sức phóng đãng. Tất nhiên là bị cụ tham cự tuyệt bằng những lời lẽ nghiêm khắc. Tóm lại ông Cơrítxtian đã trụy lạc như ông Giacôp Cơruêgơ rồi, người như ông ta không ai thèm đếm xỉa đến nữa! Thế là, ba cô gái già ấy đành phải tìm những thiếu sót của bà cụ tham hay của bà Tôny bù vào. Ví dụ, ba cô quay sang bàn các kiểu tóc; bà cụ tham lơ đãng nói rằng: kiểu tóc của cụ là đơn giản nhất… Nhưng người nào được thượng đế ban cho lý trí đều biết – nhất là ba cô gái họ Bútđenbrúc lại càng biết rất rõ rằng mái tóc màu hoe không bao giờ phai màu dưới cái mũ mềm của bà cụ, không phải nói là tóc “của cụ” được. Nhưng thú nhất là trêu cô em họ bà Tôny – để cho bà nói đến những người đã để lại những dấu vết đáng căm giận trong đời bà, chẳng hạn như Trơxơcơ nước mắt lưng tròng, Gơruynlích, Pecmannêdơ, cả nhà Haghenxtruêm vân vân… Thế là bà Tôny nổi giận, nhún vai, nói một thôi một hồi những cái đó ra, một tràng âm thanh hết sức chối tai, như thổi một chiếc kèn đồng. Nhưng với lỗ tai của cái cô gái con ông bác Gốthơn thì nghe vui biết mấy!


 Ngoài ra, các cô cũng không muốn giấu điều này – với lại các cô cũng không có nghĩa vụ phải giấu – là chú Giôhan chậm biết đi, chậm biết nói quá thể… Kể ra, điều đó các cô nói đúng. Ai cũng thừa nhận rằng Hannô - đó là tên vợ chồng ông nghị Bútđenbrúc đặt cho con trai mình – có thể gọi khá chính xác tên bất cứ người nào trong nhà, duy chỉ ba cái tên Phriđơrichcơ, Henriét và Phípphi là nó nói không rõ. Còn về tập đi, bây giờ tuy nó đã mười lăm tháng rồi, nhưng không có người nâng đỡ, nó vẫn không bước được một bước. Chính ngay lúc đó, ba cô lắc đầu nói, giọng bi quan rằng thằng bé rồi sẽ què và câm suốt đời cho mà xem!


   Về sau, mặc dù các cô không thể không thừa nhận rằng những lời tiên đoán bi thảm đó của các cô đều không đúng cả, nhưng ai cũng không thể phủ nhận rằng Giôhan lớn hơi chậm. Khi còn nằm trong tã lót, chú đã vật lộn với con ma bệnh rồi, cả nhà luôn luôn mất hồn vì chú. Khi chú ra chào đời, chú yếu đến nỗi không khóc ra tiếng. Làm lễ rửa tội được ít lâu, chú nôn mửa ba ngày liền; người ta phải mất bao nhiêu công sức mới làm cho tim chú đập. Lần ấy chỉ ốm ba ngày thôi, suýt nữa thì đi đứt! Nhưng rồi chú qua được. Bây giờ bác sĩ Gơrabô hiền lành đang chăm sóc chú hết sức chu đáo, ông ta bỏ cả tâm huyết ra kê cho chú các thức ăn tẩm bổ, để cho chú có thể yên ổn vượt qua cơn hiểm nghèo là lúc mọc răng. Ấy thế mà khi mấy cái răng trắng nhòn nhọn đầu tiên vừa nhú ra khỏi lợi, thì bệnh co giật lại liên tiếp đến liền, hơn nữa càng ngày càng nặng, mấy lần làm cả nhà hết vía, sau đó đến mức độ vị thầy thuốc già kia chỉ có thể im lặng cầm lấy tay bố mẹ… còn chú bé thì nằm trên giường thở thoi thóp. Nhìn hai con mắt thâm quầng đờ đẫn của chú, biết rõ chú bé đau tận trong óc! Xem chừng không còn hy vọng gì nữa!


 Nhưng rồi Hannô lại khỏe dần, mắt đã bắt đầu tinh anh. Trận ốm thập tử nhất sinh ấy làm cho chú bé chậm đi chậm nói, nhưng tạm thời không nguy hiểm nữa.


  Tay chân Hannô khẳng khiu; tính theo tuổi, vóc người chú cũng cao. Mái tóc màu nâu nhạt, mềm nhũn của chú có một dạo mọc rất nhanh, uốn thành làn sóng, xõa xuống đôi vai bé nhỏ của tấm áo lồng gấp nếp. Những nét đặc biệt trên tướng mạo của những người trong gia đình Bútđenbrúc bây giờ cũng hiện rõ trên người chú. Trước tiên là chú có hai bàn tay độc đáo của những người trong gia đình Bútđenbrúc rộng bàn, hơi ngắn, ngón tay rất đẹp, mũi hoàn toàn giống mũi ông bố và mũi cụ nội, duy chỉ có cánh mũi xinh xắn hơn, ngay cả sau này cũng không thể thay đổi hình dáng được. Nhưng nửa phía dưới khuôn mặt chú, vừa nhọn vừa gãy thì lại không giống người gia đình Bútđenbrúc, mà cũng không giống người gia đình Cơruêgơ. Chú đã kế thừa bên ngoại. Miệng càng giống hệt miệng mẹ. Từ bé – thậm chí ngay từ bây giờ, chú đã thích mím chặt môi lại làm ra vẻ đau khổ, bàng hoàng, lo sợ, cái vẻ ấy càng về sau càng ăn khớp với đôi mắt màu nâu óng ánh, rất độc đáo, với cái quầng màu xanh xung quanh.


Ông bố, lúc nào cũng nhìn chú với ánh mắt dịu dàng, còn bà mẹ thì chăm chút quần áo chú từng ly từng tí. Bà Tôny cầu nguyện chó chú; bà cụ tham và ông bác Giúttút thì cho chú những thứ đồ chơi như là chú kỵ binh, con quay quay tít. Chú bắt đầu cuộc sống trong hoàn cảnh như vậy. Khi chú ngồi trong cỗ xe ngựa nhỏ bé xinh xắn đi ra phố thì người đi đường ai nấy đều nhìn theo, lòng chất chứa kỳ vọng. Nói về chị Đekhô, người vú em nhanh nhẹn, hoạt bát ấy, thì mặc dù cho đến bây giờ vẫn trông coi bé Hannô, nhưng gia đình đã định từ trước là, hễ dọn đến nhà mới thì sẽ để bà Iđa Iungman làm thay; lúc đó bà cụ tham sẽ tìm người khác giúp việc…


Ông nghị Bútđenbrúc thực hiện kế hoạch của mình. Mua đám đất ở ngõ Hàng Cá cũng không tốn kém bao nhiêu, còn như bán ngôi nhà cũ ở phố Brêten thì ông Gốtxơ chuyên làm nghề môi giới chào hàng, vừa nghe tin đã làm ra bộ thiểu não xin đảm nhận ngay. Chỉ mấy hôm sau thôi, ông Xtêphan Kítxtenmacơ đã mua cơ ngơi ấy rồi; nhà ông ta ngày càng tăng thêm nhân khẩu, mà hãng rượu vang hai anh em ông ta hùn vốn với nhau kinh doanh cũng kiếm được khá nhiều lãi. Ông Phôicơtơ nhận xây dựng tòa nhà mới. Chẳng bao lâu, bản đồ án ông ta vẽ rõ ràng tỉ mỉ được trải ra trước mặt mọi người trong gia đình vào ngày đoàn tụ thứ năm; ai nấy đều đã có thể ngắm nghía mặt chính của tòa nhà. Đó là một công trình kiến trúc đồ sộ có những cái cột trụ đắp tượng nữ thần chống những phần nhô ra, phía trên còn có một cái ban công; cô Cơtốthinđơ kéo dài giọng thong thả bình luận về cái ban công ấy nói rằng, buổi chiều mọi người có thể ngồi uống cà phê ở đấy đấy. Ông nghị cũng có kế hoạch đưa phòng giấy của công ty đến ngõ Hàng Cá nữa. Như thế thì những căn phòng tầng dưới tòa nhà ở phố Manh sẽ bỏ trống. Những việc ấy cũng được thu xếp ổn thỏa chóng thôi, vì công ty bảo hiểm hỏa hoạn của thành phố đã đồng ý thuê làm phòng giấy rồi.


Mùa thu đến, bức tường cũ màu xám đã thành đống gạch vụn, và sang mùa đông thì nó mất hết cái vẻ oai vệ của nó: tòa nhà mới của ông Tômát Bútđenbrúc sừng sững mọc lên trên căn nhà hầm rộng rãi. Trong thành phố, không có câu chuyện nào khác làm cho người ta vui hơn là câu chuyện tòa nhà ông Bútđenbrúc mới xây! Đúng là tòa nhà “loại một” trong vòng mấy chục dặm không thể tìm thấy cái nào đẹp hơn! Ở Hămbuốc có cái nào đẹp hơn không nhỉ?...


   … Nhưng tiền thì nhất định phải bỏ ra không hạn chế, cụ tham ngày trước làm gì dám vung tay như thế! Còn láng giềng hàng xóm xung quanh, những người thị dân ở trong những ngôi nhà có tường hình tam giác, đều nấp đằng sau cửa sổ, thích thú nhìn những người thợ bên này làm việc trên giàn giáo. Họ thấy tòa nhà xây ngày một cao, không khỏi mừng thầm trong bụng; ai nấy tính thầm xem lúc nào làm lễ thượng lương.


Cuối cùng, ngày làm lễ thượng lương đã đến: lúc làm lễ, không hề bỏ sót một chi tiết nhỏ nào của phong tục tập quán. Một bác thợ nề có tuổi đứng trên ban công nói mấy câu, sau đó, ném một chai rượu sămbanh qua vai. Giữa những lá cờ ngũ sắc, một vòng hoa rất to tết bằng hoa hồng và các thứ lá cây khác, đu đưa theo chiều gió. Xong thì tất cả anh em thợ được mời đến quán rượu gần đấy, ăn tiệc mừng công. Họ ngồi cạnh mấy dãy bàn dài, trên bàn bày là bia, bánh mì cặp thịt, thuốc lá xì gà. Ông nghị Bútđenbrúc, vợ và con trai (vú em Dekhô bế chú bé trên tay) đi một vòng giữa các dãy bàn trong căn nhà thấp lè tè ấy cảm ơn anh em, chúc mừng họ.


   Ra ngoài, Hannô lại được cho vào cái xe của chú, còn vợ chồng ông Tômát thì cùng đi sang phía bên kia đường, xem lại một lần nữa mặt chính quét màu đỏ của tòa nhà và những cái cột trụ đá trắng đắp tượng nữ thần. Họ đi quá thêm vài bước nữa đến một cái quán hoa tươi với một khung cửa ra vào chật hẹp; phía trong cái tủ quay nhỏ bé, lạnh lẽo, bày mấy chậu cây cảnh hình quả cầu trên tấm kính màu lục. Lúc này, Ivơden, chủ quán hoa đang cùng với vợ đứng trước cửa. Anh ta người vạm vỡ, khỏe mạnh, tóc vàng óng, mặc áo lông cừu. So với chồng thì chị vợ trông gầy yếu tiều tụy quá chừng. Chị ta có khuôn mặt người miền nam châu Âu, nước da ngăm ngăm, một tay dắt đứa con bốn năm tuổi, tay kia thong thả đẩy xe trong đó có đứa bé nhỏ hơn đang ngủ. Nhìn qua cũng biết chị ta lại sắp đẻ đứa nữa.


Ivơden cúi gập mình xuống chào, vẻ hết sức vụng về. Chị vợ vẫn không ngừng đẩy chiếc xe trong tay, chị đưa đôi mắt lá răm đen láy, lặng lẽ chăm chú nhìn bà nghị. Lúc này, bà nghị đang khoác tay chồng đi về phía chị.


Ông Tômát đứng dừng lại, đưa cái can chỉ lên vòng hoa phía trên:


-          Hoa anh tết đẹp lắm, anh Ivơden!


-          Thưa ông, đó không phải là việc của tôi mà là tài khéo léo của nhà tôi đấy ạ!


-          “À” – ông nghị ngạc nhiên kêu lên một tiếng rồi vội quay đầu lại nhìn khuôn mặt chị vợ Ivơden một lúc, ánh mắt ông lúc đó trong trẻo, rắn rỏi, nhưng thân thiết. Sau đó, ông không nói gì thêm nữa, chỉ vẫy tay chào, vẻ khách khí, rồi bỏ đi.


 


Chương VI                                                                                                                  


Chập choạng tối một ngày chủ nhật đầu tháng bẩy – lúc đó, ông nghị Bútđenbrúc đã dọn về nhà mới khoảng bốn tuần lễ - bỗng bà Tôny đến. Bà đi qua dãy hành lang trước nhà, lát đá tấm mát rượi, phía trên trang trí bức phù điêu của nhà điêu khắc Tôvantơden, bên phải có cánh cửa thông sang bàn giấy. Bà kéo cái chuông ở trước cửa chắn gió, người ở dưới bếp bóp quả bóng cao su một cái là cửa sẽ tự động mở ra, rồi bà đi vào căn phòng rộng lớn phía trước; ở đây, phía dưới cầu thang bày tiêu bản con gấu màu nâu của ông Tibuốctiút tặng. Anh đầy tớ Antôn cho bà biết ông nghị đang làm việc.


-          Thôi được! Bà nói – cám ơn, Antôn. Để tôi đi vào gặp ông.


Nhưng đi qua cửa phòng giấy, bà vẫn không bước vào, mà đi sang phải mấy bước, đến phía dưới một cầu thang rất lớn. Cầu thang này lên đến gác hai thì có hàng rào sắt chặn lại, đến gác ba sẽ biến thành một dãy hành lang có cột trụ đá cẩm thạch màu vàng óng và màu tuyết giao hòa với nhau. cửa sổ phía trên cao treo cái giá đèn hình cành cây to tướng, lấp lánh ánh vàng, lóa cả mắt… “sang trọng thật”. Bà nhìn căn phòng rộng rãi, sáng chói, hoa lệ, lấy làm hài lòng lắm, khẽ nói. Đối với bà nó tượng trưng cho quyền lực, cho vinh dự và cho thắng lợi của gia đình Bútđenbrúc. Lúc đó bà sực nhớ ra rằng bà đến đây để báo một tin buồn. Thế là bà thong thả đi đến cửa phòng làm việc.


Trong phòng chỉ có một mình ông Tômát đang ngồi quay lưng về phía cửa sổ viết thư. Ông ngửng đầu lên, hàng lông mày nhàn nhạt nhíu lại, rồi chìa tay ra cho bà em gái.


-          Chào cô Tôny! Cô mang tin vui gì đến thế?


-          Chao ôi! Không có tin gì vui đâu, anh Tom ạ!


… À, cái cầu thang của anh đẹp quá!... Sao anh ngồi viết mà đèn lại để tối om thế này?


-          Ồ… một bức thư gấp. Thế nào, không có tin gì vui à? Hay chúng ta đi ra vườn hoa dạo một vòng, ở ngoài ấy thoải mái hơn nhiều. Đi đi!


Khi hai anh em đi ra hành lang, thì tiếng đàn viôlông véo von từ gác hai vọng đến.


-          Anh nghe kìa! – bà Tôny nói và đứng dừng lại. Chị Ghécđa đàn đấy. Hay tuyệt! A, lạy Chúa, chị ấy đúng là một bà tiên! Cháu Hannô thế nào, anh?


-          Bà Iungman đang cho cháu ăn. Rắc rối quá! Mãi đến sáng nay cháu bước vẫn chưa vững…


-          Sớm muộn rồi thì cũng biết đi thôi, anh ạ, sớm muộn thì rồi cũng biết đi thôi! Anh chị có hài lòng về bà Iungman không?


-          Ồ, tại sao anh chị lại không hài lòng cơ chứ? Họ đi qua con đường lát đá tấm phía sau tòa nhà, qua nhà bếp ở bên tay phải, qua một cái cửa kính, đi xuống hai bậc đá, thì đến vườn hoa ở bên ngoài.


-          Có chuyện gì thế? – ông nghị hỏi.


-          Vườn hoa ấm áp và yên lặng. Các bồn hoa cắt xén gọn gàng. Không khí lúc chạng vạng phảng phất thơm. Một cái vòi xung quanh có những cây phượng vĩ hoa màu đỏ cao to, đang phun những cột nước sáng loáng trong không trung tối om. Tiếng nước bắn tung tóe nghe róc rách, đều đều. Mấy ngôi sao nhỏ mọc đầu tiên trên nền trời đã bắt đầu lấp lánh. Cuối vườn hoa, một cái bậc tam cấp giữa hai trụ đá nhọn, hình vuông, thông lên cái nền cao cao rải đá vụn, trên đó là một cái nhà lầu hóng mát bằng gỗ, phía dưới trần nhà thâm thấp, bày mấy chiếc ghế. Bên trái có bức tường ngăn bên này với vườn hoa nhà hàng xóm, bên phải là bức tường của nhà hàng xóm. Có cái giá gỗ cao bằng bức tường, chuẩn bị sau này làm giàu cho cây vạn niên thanh. Phía trên hai bên bậc tam cấp và ở gần lầu hóng mát, trồng mấy bụi cây sơn trà và quất chua, nhưng trong vườn chỉ có một cây to và một cây bồ đào, vỏ rất cứng, mọc phía trước bức tường bên trái.


-          Chuyện là thế này này, - khi hai anh em đi thong thả trên con đường rải sỏi rẽ ra phía trước vườn hoa, bà Tôny mới nói ấp a ấp úng – chú Tibuốctiút viết thư nói rằng…


-          Cơrala?! – Ông Tômát hỏi… - Đừng giấu giếm quanh co nữa, cô cứ nói đi xem nào?


-          Vâng, anh Tom này, cô ấy ốm nguy kịch lắm, theo lời thầy thuốc thì sợ mắc bệnh lao… lao não… Nghe khủng khiếp quá, em không dám nói ra! Anh xem, đây là thư chú ấy gửi cho em. Còn có cả thư gửi cho mẹ nữa. Chú ấy bảo cũng viết tương tự như thế. Chúng ta nên chuẩn bị tư tưởng trước cho mẹ rồi hãy đưa. Ngoài ra còn bức thư này nữa, cũng gửi cho mẹ, do chính tay cô ấy viết bằng bút chì, xem thì biết cô ấy cầm bút không vững nữa rồi! Chú Tibuốctiút nói, khi viết thư này, cô ấy bảo đây là mấy dòng chữ cuối cùng của cô ấy. Thảm nhất là cô ấy không muốn sống nữa. Xưa nay cô ấy vốn ao ước lên thiên đường…


Nói xong bấy nhiêu câu, bà Tôny lau nước mắt.


Ông nghị im lặng đi sóng đôi với em, tay chắp sau lưng đầu cuối xuống.


-          Anh không nói gì cả, anh Tom?... Như vậy là đúng còn nói gì nữa cơ chứ! Tại sao lại đúng vào lúc này, đúng vào lúc anh Cơrítxtian ở Hămbuốc… cũng đang ốm nặng?


Bà Tôny nói rất thực tình. Dạo gần đây, ông Cơrítxtian ở Luânđôn, nửa người bên trái buốt ghê lắm, đúng là đau thật rồi, khiến ông ta quên hết những bệnh vớ vẩn khác, ông ta không biết làm thế nào, đành viết cho bà mẹ một bức thư, nói nhất định ông ta sẽ về nhà để bà cụ chăm sóc cho. Ông ta xin thôi việc ở Luânđôn, lên đường, nhưng vừa đến Hămbuốc thì ốm nặng. Theo bác sĩ chuẩn đoán, ông ta bị bệnh thấp khớp. Từ khách sạn, người ta đưa vào bệnh viện, theo tình hình hiện tại thì không thể về được. Bây giờ ông ta đành nằm trong bệnh viện, đọc cho các cô hộ lý viết hộ bức thư thê thảm này đến bức thư thê thảm khác…


-          Ừ, - ông nghị khẽ trả lời – Thật họa vô đơn chí!


 Bà Tôny để tay lên vai ông anh một lúc.


-          Nhưng nhất định anh không được nản chí, anh Tom ạ! Cũng chưa đến nỗi tuyệt vọng! Anh phải can đảm lên…


-          Ừ, trời có mắt. Anh phải tỏ ra can đảm…


-          Sao thế hả, anh Tom?... Anh nói cho em biết, hôm thứ năm vừa rồi, tại sao suốt cả buổi chiều, anh cứ làm thinh không nói gì hết. Em có biết tại sao được không?


-          Chà… Chuyện buôn bán, cô ạ! Anh bán một số khá lớn lúa mạch, bị lỗ… Hừ, tóm lại là anh không thể không xuất một số khá lớn lúa mạch, dù biết là thiệt to!


-          Ồ, những chuyện như thế thì không tránh khỏi được đâu anh Tom ạ! Hôm nay lỗ thì ngày mai lại lãi nhiều. Nếu để những chuyện như thế làm cho mất tinh thần thì…


-          Cô nhầm rồi, cô Tôny – ông lắc lắc đầu – không phải vì anh bị vố đó mà tinh thần sụt xuống đâu, hoàn toàn trái lại. Khi trong tâm tư anh cảm thấy không thoải mái thì thế nào cũng có chuyện không hay.


-          Nhưng, anh cảm thấy thế nào trong tâm tư? Bà ngơ ngác hỏi – Ai cũng cho rằng, đáng lý ra anh phải là người vui sướng nhất, anh Tom ạ! Cơlara còn sống… nhờ ơn Chúa phù hộ, cô ấy sẽ khỏi! Vậy thì còn có chuyện gì nữa? Bây giờ chúng ta đang đi dạo trong vườn hoa nhà anh, hoa thơm ngào ngạt. Bên kia là tòa nhà của anh, hào hoa tráng lệ như trong giấc mơ. Nhà lão Hécman Haghenxtruêm so với tòa nhà này thì có khác gì một căn nhà gianh ở nơi thôn giã! Tất cả đều do tay anh gây dựng nên…


-          Đúng như thế, cô Tôny ạ, quả là đẹp thực. Anh còn muốn nói là rất môdéc. Môdéc đến nỗi làm cho người ta không yên tâm. Sở dĩ anh thấy chán không còn thấy hứng thú gì nữa, nguyên nhân có lẽ là ở đấy. Lẽ ra anh vui sướng lắm, nhưng cũng như bất cứ trong một trường hợp nào khác, nỗi vui sướng cũng là phần tốt đẹp nhất, mà phần tốt đẹp đến rất chậm. Tòa nhà này phải mãi mãi, rất lâu mới làm xong, lúc đó thì người ta mất hết hứng thú rồi…!


- Mất hết hứng thú rồi hả, anh Tom! Nhưng anh còn trẻ cơ mà?


- Muốn biết người ta trẻ hay già, phải xem cảm giác của người ta như thế nào đã. Những cái tốt đẹp người ta hằng mong mỏi bao giờ cũng đến chậm, trải qua bao nhiêu gian khổ, hơn nữa còn mang theo đủ các loại chuyện vụn vặt phiền hà khiến người ta khóc dở mếu dở, là những cái rác rưởi trong cuộc sống hiện thực mà khi ước mơ người ta không ngờ tới. Những chuyện đó làm cho người ta cáu… làm cho người ta giận…


- Ừ, ừ đấy… Nhưng anh bảo muốn biết người ta trẻ hay già, phải xem cảm giác của người ta như thế nào đã, hả anh Tom?


- Đúng như thế, cô Tôny ạ! Có lẽ cái đó sẽ qua đi nhanh thôi, có điều, trong chốc lát, tâm tư sẽ trầm lặng xuống. Tất nhiên như vậy. Nhưng trong khoảnh ấy, anh cảm thấy mình già trước tuổi nhiều lắm. Trong việc buôn bán, anh có rất nhiều chuyện phiền muộn. Hôm qua, ở trong hội đồng giám sát đường hỏa xa Bôden, lão tham Haghenxtruêm nói anh thậm tệ, suýt nữa thì không còn mặt mũi nào nhìn ai. Trước nay anh chưa hề gặp chuyện như thế bao giờ. Anh cảm thấy rằng, có cái gì đó bắt đầu tuột ra khỏi tay anh. Hình như anh không thể nắm chặt được như trước kia nữa, cái gì đó mà mình không thể nói ra. Rốt cục cái mà chúng ta gọi là thành công là cái gì nào? Là một sức mạnh thần bí, không thể hình dung được, là sự thoải mái, thong dong, là sự ý thức rằng chỉ có bản thân mình tồn tại mới có thể làm cho sự vật quanh mình xoay chuyển, là lòng tin tưởng rằng trong đời mọi cái đều phù hợp với lợi ích của mình, rằng hạnh phúc và thành công là ở về phía chúng ta. Chúng ta nhất định phải nắm lấy, nắm thật chặt, không buông ra mảy may. Nếu có cái gì đó hơi bắt đầu lỏng lẽo, chậm chạp, uể oải, thì lập tức mọi cái xung quanh chúng ta sẽ nổi dậy ngay, cũng muốn chống đối, phản bội chúng ta, tránh không cho chúng ta khống chế nữa… Rồi, chuyện này tiếp đến chuyện kia, lần thất bại này tiếp đến lần thất bại khác, thế là hỏng hết. Mấy ngày gần đây, anh thường nghĩ đến một câu ngạn ngữ Thổ Nhĩ Kỳ, không nhớ đã đọc được ở đâu: “Nhà làm xong thì Tử thần cũng vừa đến”. Ờ, mà cũng chưa hẳn là Tử thần, không biết chừng là sự suy vong sa sút… đã bắt đầu…! Cô Tôny, cô cũng biết đấy, - ông khoác tay bà em gái, nói tiếp, giọng nhẹ nhàng hơn – Hôm chúng ta làm lễ rửa tôi cho cháu Hannô ấy mà, cô còn nhớ chứ? Lúc đó, cô nói với anh: “Em thấy bây giờ một thế lực mới bắt đầu!”. Câu đó đến nay anh vẫn nhớ rất rõ. Hình như lúc đó anh cũng cho là cô nói rất đúng, chả bao lâu thì bầu cử nghị viên, anh gặp vận may, rồi lại xây tòa nhà này nổi lên ở giữa chỗ bình địa! Nhưng chức “nghị viên” và tòa nhà này chẳng qua chỉ là hiện tượng bề ngoài. Anh còn biết những chuyện cô chưa hề nghĩ đến, những chuyện rút ra từ cuộc sống, từ lịch sử. Anh biết, trong thực tế thường thường chỉ những lúc bắt đầu xuống dốc thì các thứ như hạnh phúc và sự thịnh vượng, tức là một số dấu hiệu ở mặt ngoài, có thể nhìn thấy, sờ thấy, mới xuất hiện; những dấu hiệu ở mặt ngoài đó, cần có thời gian nhất định mới lộ dần ra. Cũng như chúng ta thấy trên bầu trời có một ngôi sao sáng chói, nhưng chúng ta biết đâu chính nó đã mờ, thậm chí đã tắt ngấm từ lâu rồi!


      Ông Tômát trầm ngâm. Hai người im lặng đi một lúc nữa, trong bầu không khí tĩnh mịch chỉ nghe tiếng nước ở vòi phun lên và tiếng gió thổi vi vu trên ngọn cây hồ đào. Bà Tôny thở dài não nùng, nghe như rên rỉ.


- Anh nói nghe thảm quá, anh Tom ạ! Xưa nay chưa bao giờ em nghe anh nói những lời thê thảm như vậy! Nhưng anh nói hết những điều anh để trong bụng cũng hay. Xua đuổi được những ý nghĩ đó ra khỏi đầu óc, chắc anh sẽ nhẹ nhõm hơn.


- Phải đấy cô Tôny ạ, cái đó anh phải làm bằng được. Bây giờ cô đưa hai bức thư của cô Cơlara và của chú ấy cho anh, để anh giải quyết sáng ngày mai. Anh sẽ nói chuyện với mẹ, như vậy tiện cho cô hơn. Thương mẹ quá! Nhưng nếu quả là bệnh lao thật thì chúng ta cũng đành bó tay!


 


 CHƯƠNG VII


- Mẹ không thèm hỏi con lấy một tiếng? Mẹ chả coi con ra gì cả!


- Mẹ không thể làm thế nào khác được.


- Một người đầu óc điên loạn, không còn lý trí nữa, mới làm như mẹ.


- Trên đời này không phải lý trí là hơn hết!


- Ồ, mẹ không nên nói những lời rỗng tuếch như thế, không đâu vào đâu cả!... Phải cho công bằng, đơn giản như vậy thôi, không cần gì khác nữa, vậy mà mẹ đã không công bằng, làm cho người khác hết sức bực bội!


- Để tôi nói anh nghe, anh Tômát! Những lời anh nói vừa rồi là không còn biết kính nể gì tôi nữa.


- Con xin trả lời mẹ rõ, mẹ thân yêu của con, xưa nay con chưa có điều gì thất kính với mẹ. Nhưng khi con thay thầy con lên làm chủ gia đình này mà bàn đến chuyện Công ty và chuyện gia đình, thì tư cách của con phải đổi khác.


- Tôi xin anh, thôi đừng nói thêm nữa, anh Tômát!


- Sao lại thôi! Con còn nói mãi, nói cho đến khi nào mẹ hiểu rằng hành động của mẹ là ngu xuẩn và nhu nhược mới thôi!


- Tôi xử lý tài sản của tôi, tôi thích thế nào thì tôi làm thế ấy!


- Cách xử lý tùy tiện của mẹ phải được chính nghĩa và lý trí hạn chế.


- Trước đến nay tôi chưa hề nghĩ rằng anh lại làm cho tôi khổ tâm như thế này!


- Con cũng không hề nghĩ rằng mẹ lại cho con một vố đau như thế…!


- Anh Tom!... Anh nghe em nói, anh Tom! – Bà Tôny không nén được nữa, bấy giờ mới nói xen vào, giọng hốt hoảng. Bà đang ngồi trước cửa sổ phòng phong cảnh, hai tay bắt chéo nhau, anh trai bà, vừa xúc động vừa bực bội, đi đi lại lại trong phòng, còn bà cụ tham thì ngồi trên ghế xô pha, giận giữ và đau khổ, một tay chống trên đệm, tay kia gõ gõ xuống bàn cho lời nói của bà có trọng lượng. Cả ba người đều để tang Cơlara (Cơlara không còn sống trên đời này nữa), người nào mặt cũng nhợt nhạt, xúc động, và không thể nén mình được…


Chuyện gì thế nhỉ? Một chuyện khủng khiếp làm cho người ta phải rùng mình, người trong cuộc đều cho không thể tin được mà, ai nghe cũng sợ, khiến cho hai mẹ con cãi nhau, kịch liệt!


Đó là chuyện xảy ra vào một buổi chiều, tháng tám trời oi bức, khoảng mười ngày sau hôm ông nghị thận trọng giao hai bức thư của vợ chồng ông Tibuốctiút cho mẹ. Một nhiệm vụ khác, khó khăn hơn, lại rơi lên đầu ông – ông phải báo tin cô em gái qua đời cho mẹ biết. Sau đó, ông đến Riga đưa đám, xong trở về, đi với chú em rể. Ông Tibuốctiút ở nhà người đã quá cố mấy hôm, sau đến bệnh viện ở Hămbuốc thăm ông Cơrítxtian… Bây giờ vị mục sư ấy đã về nhà ở Riga được hai ngày rồi, bà cụ tham mới ấp úng tiết lộ cho con trai biết chuyện…


-          Mười hai vạn bảy nghìn năm trăm mác tiền mặt! – Ông nghị rối lên, hai tay nắm chặt, lắc đi lắc lại trước mặt mình – nếu chỉ là của hồi môn thì cũng chả nói làm gì! Mặc dù cô ấy không có con, nhưng cứ cho chú ấy tám vạn mác đi! Nhưng đây lại là di sản. Để cho chú ấy thừa hưởng di sản của Cơlara! Mẹ không thèm hỏi con một tiếng! Mẹ không coi con ra gì cả!


-          Anh Tômát, anh hãy nhìn lên mặt Chúa Giêsu, anh nói phải cho công bằng, chả nhẽ tôi còn cách nào khác nữa? Tôi còn biết làm thế nào được?!... Nó đã từ giã cõi trần về với Chúa, trước khi chết nó nằm trên giường bệnh, viết cho tôi một bức thư… viết bằng bút chì… chữ nguệch ngoạc, nó viết thế này: “Mẹ ơi! Con không còn được gặp mẹ trên cõi trần này nữa, con cảm thấy đây là những dòng chữ cuối cùng trong đời con… Nhân những phút đầu óc còn tỉnh táo, con viết bức thư này gửi mẹ, nói hộ cho chồng con vài ba câu… Chúa không cho chúng con một đứa con nào; nhưng con xin mẹ hãy chuyển cho chồng con của cải của con được chia (tức là của cải mà con được chia nếu như con có thể sống lâu hơn mẹ) sau khi mẹ đi theo con. Như vậy thì nhà con sẽ được hưởng những ngày an nhàn sung sướng! Mẹ ơi, đó là những lời cầu xin cuối cùng của con… những lời cầu xin của một người gần đất xa trời… chắc mẹ không nỡ từ chối…”. Không, anh Tômát, mẹ không từ chối em con, để em con khi nhắm mắt không còn vương vấn điều gì nữa…


Bà cụ tham khóc òa lên.


-          Nhưng mà mẹ không hề nói với con một lời nào cả! Mẹ làm việc gì cũng giấu giếm, không cho con hay! Mẹ không coi con ra cái gì cả! – Ông nghị nhắc lại một lần nữa.


-          Đúng thế, mẹ không nói với anh, vì mẹ thấy dù thế nào thì mẹ cũng phải thỏa mãn lời cầu xin cuối cùng của em con… mà mẹ biết nếu như anh rõ chuyện này, thế nào anh cũng tìm cách ngăn trở!


-          Vâng, Thượng đế biết, con sẽ làm như vậy.


-          Nhưng anh không có cái quyền đó, vì ba đứa con của tôi sẽ đứng về phía tôi.


-          Ồ, nhưng con cho ý kiến của con có giá trị hơn là ý kiến của hai cô tiểu thư và thằng ngốc, đầu óc không lành mạnh kia!


-          Đối với em anh, anh chẳng tỏ ra vẻ gì là thương yêu cả, cũng như anh thô bạo, vô lễ đối với tôi!


-          Mẹ ơi! Cơlara là một cô gái ngoan đạo, không hiểu gì cả, Tôny là một đứa trẻ con. Với lại, cho đến lúc nãy cô ấy cũng không hay biết gì hết, nếu không cô ấy đã nói toáng ra rồi, có phải không Tôny? Còn Cơrítxtian, đúng, chú ấy đã được Cơrítxtian bằng lòng rồi, nhưng ai ngờ Tibuốctiút lại đi làm một việc như thế?... Chả nhẽ mẹ chưa biết thằng mục sư giảo quyệt ấy là người như thế nào? Là một thằng bịp, một thằng bịp mưu đồ cướp đoạt di sản người khác…!


-          Phàm là con rể thì anh nào cũng tồi như nhau cả! Bà Tôny bình luận, giọng trầm trầm.


-          Là một thằng bịp có mưu đồ cướp đoạt di sản người khác! Hắn đã làm những việc gì nào? Hắn đến Hămbuốc, ngồi vào mép giường Cơrítxtian, nói những lời đường mật, thế là Cơrítxtian nói: “Phải đấy, phải đấy, chú Tibuốctiút ạ. Cầu mong thượng đế phù hộ cho chú. Chú có biết nửa bên trái người tôi nhức nhối như thế nào không?”. Hừ, ngu xuẩn và xảo quyệt cấu kết với nhau để làm hại tôi!


-          Nói đến đây, ông nghị giận dữ tựa vào hàng lan can sắt phía trước lò sưởi, hai cánh tay chồng nhau để lên trán.


Chuyện ấy vốn cũng không có gì đáng để ông phải nổi giận như thế. Đúng, chưa ai bao giờ trông thấy ông nổi giận như hôm nay. Chắc chắn không phải vì mười hai vạn bảy nghìn năm trăm mác. Thực ra thì mấy tháng vừa qua, trong công việc buôn bán cũng như trong công việc của thành phố, ông đều thất bại liên tiếp. Thần kinh nhạy bén của ông căng thẳng lắm rồi, nay lại gặp phải chuyện này, ông cho đây cũng là một trong hàng loạt thất bại kia… Chẳng việc gì thuận lợi cả! Tất cả đều đi ngược lại ý muốn của ông! Chả nhẽ đã đến mức độ này rồi hay sao? Ngay trong nhà có chuyện to lớn dường kia, người ta cũng không coi ông ra gì…? Thậm chí lão mục sư người Riga cũng có thể giở trò xảo trá sau lưng ông?... Lẽ ra ông có thể ngăn chặn âm mưu đó, nhưng ông lại không có cơ hội thi thố quyền lực của ông, việc đã xong xuôi trước khi ông nhúng tay vào! Nhưng ông cảm thấy, trước đây không hề xảy ra chuyện như thế bao giờ, trước kia người ta không dám làm như thế! Đó là một vố mới giáng vào lòng tin của ông đối với hạnh phúc, quyền lực và tiền đồ của ông… Trong tấn bi kịch vừa rồi, ông chỉ bộc lộ ra trước mặt mẹ và em gái sự mềm yếu và tuyệt vọng ở trong lòng ông mà thôi.


Bà Tôny đứng dậy ôm lấy anh.


-          Anh Tom, - Anh không nên quá xúc động như thế. Anh hãy bình tĩnh lại! Chả nhẽ sự việc lại xấu xa như vậy hay sao? Anh tức giận quá rồi sinh ốm ra đấy! Chú Tibuốctiút cũng chả sống được bao lâu nữa đâu! Sau khi chú ấy chết, không phải số di sản đó lại quay về nhà ta hay sao? Với lại, nếu anh muốn thì vẫn có thể xoay chuyển được cơ mà! Có phải vẫn xoay chuyển được không hả mẹ?


Bà cụ tham vẫn thút thít khóc thay cho câu trả lời.


-          Không xoay chuyển được… Chà, không thể xoay chuyển được đâu! – Ông nghị nói, rồi hăng hái lên xua tay một cái, tỏ ý không đồng tình. – Đã thế nào thì cứ để thế ấy thôi. Thử nghĩ xem, tôi sẽ ra tòa kiện mẹ tôi hay sao? Tôi sẽ đem chuyện trong gia đình ra bêu diếu hay sao? Thôi mặc nó muốn ra thế nào thì ra!...


Ông kết thúc như vậy rồi uể oải đi ra phía cửa kính. Đến trước cửa, ông đứng lại một lúc.


-          Chỉ cần mọi người đừng cho rằng cảnh nhà ta êm ấm là được rồi, - ông hạ thấp giọng xuống – Cô Tôny mất tám vạn mác… chú Cơrítxtian, ngoài năm vạn mác là một phần tài sản đã tiêu sạch, lại còn tiêu thêm ba vạn nữa… Với lại, chú ấy còn cần nhiều tiền lắm, vì hiện giờ chú ấy không kiếm được đồng nào cả, lại phải nằm bệnh viện… Bây giờ không những tiền hồi môn của Cơlara không còn tăm hơi đâu nữa, mà toàn bộ di sản cô ấy được thừa hưởng thì không hiểu bao giờ mới lấy về được… Thêm vào đó là hàng họ ế ẩm, đúng vào lúc tôi bỏ ra mười vạn mác để làm tòa nhà kia. Mà công việc buôn bán thì không khấm khá tí nào. Hỏng hết, một gia đình mà để xảy ra tấn bi kịch như vừa rồi thì còn trông mong khấm khá thế quái nào được? Hãy tin lời tôi! Ít nhất thì cũng nghe tôi nói câu này: “Nếu ba còn sống, nếu ba còn ở với chúng ta thì nhất định ba sẽ chắp tay vái lạy cầu xin Thượng đế ban phúc lành cho tất cả chúng ta!”.


(còn tiếp)


Nguồn: Gia đình Buddenbrook. Tiểu thuyết của Thomas Mann. Nobel Văn học năm 1929. Hồng Dân Hoa dịch. NXB Lao động, 1975.

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 11.09.2019
Jude - Kẻ vô danh - Thomas Hardy 10.09.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 10.09.2019
Tiêu sơn tráng sĩ - Khái Hưng 05.09.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 28.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 23.08.2019
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
xem thêm »