tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28870825
05.04.2012
Ngọc Giao
Người xưa cảnh cũ bây giờ...

Nói đến đồ cổ và cây cảnh là nói đến cái vạn niên vạn đại của trời đất, của thiên nhiên. Trời đất đã không cùng thì lời nói cũng không cùng. Những nhà cổ học uyên bác trên thế giới, qua nhiều thế kỉ, đã tốn nhiều giấy mực. Riêng ở cái xứ sở mình, trừ số rất ít nhà hiếu cổ, đã quan tâm đến đồ cổ vào khoảng nửa sau thế kỉ XX, còn quần chúng thì chẳng mấy ai coi nó là những thứ kỳ trân bảo vật đáng thương tiếc, đáng sưu tầm, nếu không nói là đáng thờ kính.


Từ kỉ nguyên đồ đá, đồ đồng, ở Trung Quốc, chín cái đỉnh vĩ đại đồng vàng đời Đông Chu đã đánh dấu lịch sử phương Đông về kĩ thuật sử dụng kim loại. Trong khi ấy, trên thế giới, Cổ Hy Lạp, Ai Cập... cũng đã cho nhân loại thấy những tác phẩm thần kỳ, siêu thánh. Đến bây giờ, hầu hết những công trình ấy đang nằm dưới đáy đại dương, trong lòng trái đất, kể cả bao nhiêu lầu vàng gác ngọc, thành trì sắt đá của những kỉ nguyên đế bá ngàn xưa. Không còn gì hết! Có chăng còn rơi rớt lại một số đồ nhỏ bé thuộc loại gia dụng của cổ nhân Trung Quốc, Việt Nam (thường kể tự Lý, Trần) mà ta đôi khi được may mắn gặp, thêm hoài nghi là thứ bậc cổ đại, trung đại, cận đại, hay “hiện đại Đài Loan”, mặc dù có hoặc không dấu ấn. Quả vậy, nói đến đồ cổ là nói đến cái không cùng. Vấn đề thuộc loại “bất khả tri”, ta dành riêng và tôn trọng công việc của các nhà khảo cổ.


Hãy nhìn cái trước mắt, nói câu chuyện hôm nay. Chuyện về thiên nhiên, cây cảnh. Thiên nhiên cũng là cái không cùng. Hiểu được đôi chút về nó cũng là khó lắm rồi.


Người Việt vốn yêu tạo vật, chủ về cỏ, cây, hoa đá. Thời xưa, tình người gắn bó với tạo vật thắm thiết hơn nhiều so với thời này. Bởi cái vui buồn của con người sẵn sàng được chia sẻ với cỏ cây, bất cứ ở đâu cũng có cỏ, cây, hoa, đá, núi, rừng, sông, biển. Không gian không chật hẹp, thắt bó như thời đại mới này. Cái thú điền viên tồn tại trong bất cứ người mưu sinh nào đã quá thăng trầm, mệt mỏi. Nhà nào cũng cố thu vén kỳ được một mảnh vườn con, trồng rau đỗ xen lẫn trồng hoa. Nhà nho về già, bất đắc chí, càng cần bầu bạn cùng hoa lá. Rượu lưng bầu, thơ dăm bạn. Trồng hoa, cố nhân ưa nhất là hoa cúc.


Yêu hoa gì đẹp bằng yêu cúc


Cúc đã tàn rồi thật hết hoa.


Trong trời đất, không còn cúc, chẳng còn hoa gì nữa. Yêu cúc mà sùng bái đến như vậy, kể thật quá si, quá đáng. Bởi nó hợp với người quân tử - “Diệp bất li thân, hoa vô lạc địa (lá chẳng lìa cành, hoa không rớt đất). Cao Bá Nhạ gặp lúc thời thế đảo điên, lẩn trốn về nơi hoang dã, nằm yên trong cảnh bần hàn “Cúc dăm ba khóm, mai vài bốn cây”, vậy thôi, mà cũng chẳng được yên, đầu vẫn rụng, không thể đọ cùng hoa cúc.


Bình sinh, tôi ngày còn là anh học trò nghèo, trọ nhà một cụ đồ nho, ngày ngày đỡ cụ tưới hoa, chậu cảnh ở tỉnh Đông (Hải Dương). Cụ giảng giải cho nghe cái thú chơi cây cảnh, chủ yếu là lan, gần như đủ loài lan quý. Sau đó, rời vườn hoa nhà cụ, tôi về Hà Nội, lao vào cuộc sống, dần dần quên đi cái mộng điền viên.


Cho đến năm tuổi đã xế chiều, tôi lại thấy thèm cái thú cây cỏ cũ. Tôi tìm đến mấy nhà chơi cây cảnh ở Hà Nội. Duyên may được gặp cụ Vĩnh (thường gọi là cụ Vĩnh Hàng Trống). Lần đầu tới viên môn bậc lão thành, tôi bất giác giật mình, bỡ ngỡ, tưởng như mình là anh chàng Từ Thức lạc Đào Nguyên. Mấy gốc mai già hoa lá kín nửa sân, lối đi lát đá phiến trắng, kẽ đá hở cho cỏ mọc. Hàng hàng chậu cảnh, mặt giàn, bể lớn, bể bé, đủ màu men xanh rêu, xanh bí, tím than, trong đó thạch lan, thạch cúc, thạch trúc, cùng các loại cây thế hình thù kỳ lạ. Cây dưới nhà trồng trong những bể, những chậu to. Cây trên sân gác, nhiều đến không đếm xuể, cũng chậu, bể, đủ hình đủ dáng, mỗi cây một vẻ, một bố cục riêng.


Tranh của danh họa, tĩnh vật hay phong cảnh đẹp biết mấy thì cũng chỉ là phiến diện - một mặt phẳng thôi - Vĩnh lão gia ở đây, qua cách chơi cây, tài sáng tạo còn được người xem ưa thích hơn xem tranh vẽ. Tác phẩm của cụ Vĩnh - không nói phù điêu - đều nổi thành hình khối, phô trương màu sắc, đường nét ra bốn mặt. Người chơi cây cảnh bình thường thì cây thế nào cứ thế cắm vào lòng chậu, lấp gốc tưới hàng ngày, cây không chết là mãn nguyện rồi. Vĩnh tiên sinh trồng cây là sáng tạo. Cụ cắt xén cây, lột xác cây, biến dạng cây, trồng nghiêng, trồng ngả, ngọn xấu cắt đi, kéo cành lên thay ngọn, thân gốc bé lấy vỏ cây khác đắp vào cho gốc to hơn, kĩ thuật đắp gốc cây khéo đến không ai biết là gốc giả. Qua một cơn đau nhức, cây được nằm trong chậu, chờ được sống. Ngồi nhìn cụ cắt xén thân cây bé nhỏ mà cảm thấy xót cho cây, bởi tôi nghĩ nó cũng biết đau như con bệnh dưới dao giải phẫu. Tình cờ, tôi được trông thấy trong một góc sân kín một đống xác cây đã chết khô. Tôi lẩm bẩm: “Đống xương vô định đã cao bằng đầu”. Cái tò mò của tôi phạm đến tự ái nhà chơi cây bậc thầy. Cụ cười gượng, bảo tôi: “Tự cổ, mỹ nhân khó sống lâu. Bao Tự, Tây Thi, Hạ Cơ, Ly Cơ... đều yểu mệnh. Tôi giết cây kể đã nhiều. Tôi không tiếc. Thà hưởng cái đẹp của ngọc mỹ nhân dăm ba ngày còn sướng hơn chịu nhìn cái xấu nửa đời người”.


Tài cắt xén cây, chọn cây, am hiểu tính nết cây, nhớ thời vụ hoa tàn nở, chúng tôi, môn đồ cụ, đều bái phục. Duy có điều không giấu được là cụ Vĩnh đôi khi xuất hiện nguyên hình là bạo chúa đối với cây. Tôi không thể quên lần xem cụ trồng một cây cực đẹp. Tôi đánh giá cây đó đứng vào bậc nhất vườn nhà cụ. Đột nhiên, cụ mài sắc lưỡi dao con, rồi cắt đứt ngọn cây, chẻ nát nó ra, bôi tí thuốc nâu vào. Tôi kinh ngạc nhìn cụ. Cụ bảo: “Đó là cây trời đánh. Nó mà sống thì mới lạ”. Thật lòng, tôi thương cái cây xấu số. Vậy mà nó cũng cố bám lấy cuộc đời được hơn một tháng. Chúng tôi nói nhỏ với nhau: “Cụ ác tay quá. Mình lo ngại cho tuổi thọ của cụ ít lành”.


Người chơi cây đã đọc Hồng lâu mộng, tất không thể không đọc kĩ vườn Đại Quan của Phủ Vinh, Phủ Ninh. Phải là Tào Tuyết Cần, một phong lưu công tử thi thư, con trai một nhà quan đã suy tàn, mới biết được cái đẹp của kiến trúc một vùng thượng uyển, cả cái mỹ quan, cái hùng vĩ của thiên nhiên được ngòi bút ông nhẹ phẩy trên mặt giấy như hoa như gấm, thực hơn cả thực.


Sau Tào Tuyết Cần, còn một phụ nữ Mãn Châu, cô gái nghèo con một ông thợ giặt, biết tận hưởng cái đẹp thiên nhiên. Đó là Từ Hi Thái hậu cuối triều Mãn Thanh. Vườn nghỉ mát của Từ Hi chỉ cách Bắc Kinh năm dặm, phòng khi có biến thì kịp chạy về thủ đô, khi đó Anh, Pháp, Mỹ lăm le nuốt sống Trung Hoa... Vườn Đại Quan của Tào Tuyết Cần là kỳ quan vô nhị, qua một bức tranh vẽ trên thiên tiểu thuyết nổi danh văn học Trung Quốc. Còn Di Hòa Viên của bạo chúa Từ Hi Thái hậu là có thật. Cuối triều Mãn Thanh, quân Anh, Pháp, Mỹ đã xô nhau phá cướp báu vật, hủy diệt cây cảnh Di Hòa Viên. Nữ chúa lại bắt dân làm lại, y như cũ, do tự ái và hiếu thắng. Di Hòa Viên, người ta bảo hiện nay vẫn còn đẹp lắm.


Mấy chục năm qua rồi, chơi cây vườn, tôi thích nhiều hơn các loại là mai, trúc, nhất là trúc, các loại trúc. Trúc trồng rất khó. Nói riêng về giống trúc mềm, cao, thân có chỉ xanh, người sành điệu mệnh danh nó là Tiêu Tương trúc, hoặc Nga Mi trúc. Chuyện kể: Vũ Vương ra trận bị tử vong (trận đánh lớn Tần Vương diệt Tây Chu, rồi diệt Đông Chu, rời chín đỉnh núi về Tần). Vũ Vương nhà Chu chết bên bờ sông Tương dưới chân núi Nga Mi. Hai bà vợ là Nga Hoàng, Nữ Anh đến đấy khóc chồng mấy ngày liền. Nước mắt hai bà nhỏ đến đâu, trúc mọc lên đến đấy. Thân trúc vàng, có ngấn xanh, bảo rằng đó là nước mắt. Người ta nói chơi rằng giống trúc này vốn hồng nhan. Mỗi lần đánh trúc lên, chuyển vội từ hố đất này sang hố khác cách nhau vài gang tấc, chỉ hôm sau là cây héo chết liền.


Ngày xưa chơi vườn phải đủ tứ quý: thông - mai - cúc - trúc. Cao hơn nữa, còn đủ danh hoa, dị thảo, quái thạch, kỳ thư. Các bạn chơi cây, cố sao đạt được tiêu chuẩn siêu đẳng này của làng chơi ở thời buổi khó khăn này.


Vườn cụ Vĩnh còn lưu sâu trong tôi, không thể nào quên: Một rừng đỗ quyên, hoa nở ngút ngàn. Trong rừng quyên, bên dòng suối, hai pho tượng nhỏ: ông trạng vinh quy ngồi ngựa, bà trạng đẹp tuyệt vời nằm võng. Bất cứ chậu cảnh nào của cụ cũng mang một chủ đề. Kia, một rừng thông trồng lối bạt phong, tưởng đâu rừng cây đang nổi gió. Đây, gã trò nghèo, theo sau một bé con quảy gánh sách trên vai lũn cũn chạy theo thầy trong rừng trúc, trèo non, vượt suối, nhập Tràng An. Hãy nhìn kĩ một tảng đá ong đặt trên đĩa nước. Trong đá gài bốn năm mầm chuối non, một chú bé dắt trâu qua đoạn cầu tre ngắn. Chỉ có vậy thôi mà người xem phải ngẩn ngơ suy nghĩ, nhớ về thôn xóm cũ. Nếu lại là một kiều bào, chỉ cần hòn đá cô thôn ấy đặt trên bàn, nỗi sầu xứ khôn nguôi, khó cầm nước mắt. Chậu cây cụ Vĩnh, đều có thơ, có họa, có nhạc, gợi người xem ít nhiều phải băn khoăn, vui lẫn nỗi buồn.


Chơi cây hoa, nhất định không bỏ đỗ quyên. Loại danh hoa này xuất xứ tại làng Trình Xuyên, hữu ngạn dòng Trà Lý xuôi gần Nam Định. Ba loại: hồng quyên, tử quyên, bạch quyên, nở độ thu đông, không ưa nhiều nước, sợ nắng như lan, giữ gìn rất khó.


Tôi mới chỉ nói qua về lối chơi ngoại cảnh, cây vườn. Còn cách trang trí nội thất thì cụ Vĩnh quả là một bậc thầy. Cũng như về chơi đá, cụ là một lão sơn nhân, sành sỏi về đá cứ như một đạo sĩ sống cùng với đá. Cụ hiểu đá hơn hiểu mọi vật trên đời. Nhân câu chuyện vui cạnh khay trà, cụ buông cây đàn xuống chiếu, lặng nhìn chúng tôi một lúc, rồi cất tiếng cười: “Tôi hiểu đá, tôi yêu đá... có thể ba kiếp trước, tôi là Bảo Ngọc trong truyện Hồng lâu mộng, từ hòn đá Nữ Oa mà chui ra nhập kiếp trần. Mai đây, tôi lại về với đá”. Cụ nói thêm: Xưa, kẻ hiền sĩ gặp xa giá Thiên tử ngoài đường, không biết cúi đầu vái lạy. Nhưng đi qua rừng núi, ngẩng trông thấy đá đẹp, hiền sĩ vội quỳ vái lại, gọi là “bái thạch vi huynh”. Không chơi đá, không thể được. Bao nhiêu cổ vật trên cõi đời này, thọ lắm cũng chỉ dăm ba ngàn năm. Còn đá, nó là thần khí của vũ trụ, tổng thể cả ngũ hành, đã trải hàng triệu triệu năm phơi mưa nắng, suối, thác đục rũa thành thủng nát, mài gọt nhẵn như tơ lụa. Đá này gọi là đá lũa. Đá lũa mới là đá quý. Hình dáng phải là cổ quái. Đá gai, nếu đẹp, chỉ là đá quý. Không thể là quái thạch so cùng đá lũa.


Riêng về hoa đào, không chơi đào bích, màu đỏ chói như xôi gấc. Người thanh lịch chơi đào phai - cũng gọi là đào Vân Nam - có nhiều cánh, khác với đào ta cũng phai nhưng chỉ có năm cánh, mau tàn, Vĩnh lão gia gọi đào phai là “cung phấn nữ”, cùng chung tên với một giống trà. Cung phấn nữ, bởi nó phơn phớt má đào như các cung phi.


s


Tôi vẫn ham muốn say nồng trong men tạo vật, mặc dù tuổi đã quá già, ham thích mọi sự coi như đã hết. Càng già càng hiu hắt, càng tiếc thương từng áng mây chiều, từng đóa hoa sớm héo, từng làn gió nhẹ xuân thu.


Không còn gì nữa, ngoài dăm ba khóm trúc gầy, mươi khóm hoa hèn cỏ dại, mọc lẫn vào thanh thảo. Đôi khi cố công ngồi tỉa xén một hai búi cây hoang dại bờ rào do một ông già nông thôn mang đến nửa bán nửa cho.


Sực nhớ bài thơ cũ, viết phúc đáp ông bạn hiền Đồ Đức ở thành Nam hồi sau năm 1954, khi ông gửi thư hỏi tôi độ này sống ra sao.


Một mảnh sân con


Một gian phòng nhỏ


Dăm cành xuân cỗi


Chơi với nước non.


Có một may mắn lớn trong cuộc đời tôi. Kể từ bấy đến nay, ở đâu tôi cũng được sống cùng cỏ, cây, hoa, đá. Trước, ở phố Đặng Dung và nay ở đất Trung Tự.


Âu đó cũng vui tuổi già; sau nhng ngày dài, chập tối, ngõ vắng lên đèn, một mình, bước thấp bước cao, lê đầu gậy, dạo một quãng cho đỡ đau xương cốt.


Gần đây, tình cờ, đọc trang báo cũ, thấy câu thơ cổ do ông nào đó dịch, tôi lấy làm tâm đắc:


Cảm thương khóm trúc bên khe đá


Vẫn đứng trong mưa đợi chủ về...


Tôi hình dung một ông già áo vải, dép cỏ, từng lê gót cả tám phương, công không thành, danh chẳng đạt, lại quay về khe đá, bạn cùng khóm trúc. Tôi cũng lại sực nhớ ông bạn thơ đất Vị Hoàng (cũng đã chết rồi) năm xưa gửi cho tôi:


Ngõ trúc trăng vàng nhớ cố nhân...


Thưa bạn đọc, ông bạn ở Hội cây cảnh Quyết Bội, Tây Hồ, có nhã ý đến thăm tôi, cậy tôi viết một bài trong dịp xuân này. Tự xét mình già yếu quá không còn sức viết, song quá yêu ông bạn trẻ, bữa nay cố ngồi nguệch ngoạc ít dòng theo kí ức. Viết theo thể tùy bút, nghĩ gì viết nấy, không bố cục, không văn hoa gì hết. Xin bạn đọc thể tất cho một cây bút về già.


Sinh vật cảnh Hà Nội, 1992.


Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đông Tây cổ học tinh hoa (3) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (2) - Vũ Bằng 05.08.2019
Đông Tây cổ học tinh hoa (1) - Vũ Bằng 05.08.2019
Nói có sách (tiếp & hết) - Vũ Bằng 05.08.2019
Điếu văn tại Lễ truy điệu Nhất Linh - Vũ Hoàng Chương 01.08.2019
Người con của mẹ Năm Bê (5) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (4) - Huỳnh Quang 30.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (3) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (2) - Huỳnh Quang 25.07.2019
Người con của mẹ Năm Bê (1) - Huỳnh Quang 25.07.2019
xem thêm »