tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27611529
29.03.2012
Ngọc Giao
Một chuyện của lòng

                                                                                            Kính tặng vong hồn từ mẫu


Bây giờ, cái dinh thự ấy vắng chủ nhân lại càng thêm rộng rãi, càng thêm u tịch.


Tôi một mình đi dạo quanh khu vườn thoảng mùi hương của những thứ hoa kỳ lạ, dưới bóng mát của những cây đại hoa trắng nở đầy cành.


Những khu vườn đẹp ấy đã quen thuộc với tôi từ một tháng nay, không cho tôi thêm một cảm giác gì mới nữa. Đã bao nhiêu chiều, nắng hè vừa nhạt, tôi cùng ông ngoại tôi đi lững thững trên những con đường sỏi rải đầy xác hoa. Tôi tò mò hỏi ông tôi tên từng thứ hoa, thứ cỏ, và lúc mỏi chân, chúng tôi ngồi nghỉ bên hòn núi giả, ông tôi chậm rãi kể cho tôi nghe những trang lịch sử về Tây Sơn đánh đuổi Gia Long..., về việc vua Thành Thái, Duy Tân bị đi đầy...


Giọng ông tôi yếu dần vì xúc động, run run như chứa chất bao nhiêu niềm thống cảm, bi hoài. Những lúc này, ông tôi cau mày, người ngước mắt nhìn về phía đông nam, ở đấy, một làn mây xám lờ đờ trôi trên đỉnh Ngự Bình Sơn.


Vị lão thần nửa đời phò triều Nguyễn, một kẻ bầy tôi trung thực đã được nhìn cuộc suy vi của nước nhà, trước mặt tôi lúc này là hiện hình một dĩ vãng đau thương.


Bây giờ, người đã về trí sĩ, một mình ở một tòa dinh thự kiến trúc theo lối cổ, chỉ có một bõ già sớm tối chực hầu.


Bà ngoại tôi tạ thế từ hồi mẹ tôi ngoài hai mươi tuổi theo chồng ra Bắc.


Ở Bắc Hà, tôi vừa lên bảy tuổi thì mẹ tôi từ giã cõi trần. Tôi nhớ hình như mẹ tôi chết trong khi lâm sản, chết một cách rất nhanh chóng, thảm thương. Tôi nói là “hình như” vì tôi không muốn hỏi cha tôi về những câu chuyện cũ. Thuở còn thơ ấu, cha tôi quanh năm mắc sang Lào, sang Miên theo đuổi về doanh nghiệp, phải gửi tôi ở các quán trọ, hàng cơm. Thuở lớn lên, tôi ham việc học hành, không mấy khi ngồi đối diện cha tôi. Và tuy cha tôi đã tổ chức một gia đình, song than ôi, trong gia đình ấy, tôi thấy tôi là người sống gửi, vì dì ghẻ tôi đối với tôi quá thờ ơ, lãnh đạm, mà cha tôi cũng chẳng quan tâm, săn sóc gì tôi.


Tuy mẹ tôi chết rồi mà ở trong Kinh ông ngoại tôi vẫn thường gửi thư ra Bắc, và cha tôi cũng năng gửi thư vào vấn an người. Nhưng về sau, cha tôi thưa gửi, vì vậy sự liên lạc của cha tôi cùng người cũng nhạt dần.


Tới khi khôn lớn, thỉnh thoảng tôi có viết thư hỏi thăm ông tôi, nhưng tôi chỉ lén viết không cho cha tôi biết. Tôi dời đất Huế từ ngày thơ nhỏ đến ngày nay đã ngót hai mươi năm. Hai mươi năm để hình ảnh nơi quê hương yêu quý, nơi chôn rau cắt rốn của mình chết trong ký ức, bây giờ tôi mới có dịp, lần thứ nhất, trở lại kinh đô Huế, trở lại tìm người đã sinh ra người mẹ hiền bạc mệnh của tôi.


Huế! Ta đã khóc những tiếng khóc đầu tiên ở cái đất vương giả này đây!


Huế! Ta đã được người mẹ trẻ của ta trong những buổi mai gió sông Hương thổi tạt vào khu vườn hoa rộng rãi này dắt ta đi chập chững từng bước một, những bước đầu tiên của đôi chân đang bụ sữa... Ta đã được mẹ ta, ẵm ta ngồi dưới gốc cây đại đầy hoa trắng, vui vẻ ca những bài ca êm ái nhất ở khu vườn ngào ngạt hương thơm mà ta đang đứng bây giờ.


Chiều nay, ông ngoại tôi đi dự tiệc trong dinh cụ Tham Trí. Đứng ngoài vườn chán, tôi lững thững lên nhà. Tôi vào gian phòng mà ông tôi đã sai bõ già dọn dẹp, lau chùi bàn ghế sẵn sau khi nhận được điện tín của tôi, và nay người dành cho tôi chiếm một mình.


Gian phòng rất xinh, tường quét vôi xanh nhạt. Những đồ lối cổ bầy đơn giản và gọn ghẽ. Tôi thích nhất cái giường, cái giường cổ đường triện thiếp vàng chạy xung quanh, trên trải chiếu trúc, nằm mát rượi. Và tôi ưa cả cái gương Tàu hình bầu dục từ bao nhiêu năm mà vẫn không mờ.


Tôi nhớ người bõ già, hôm tôi mới đến, đặt chiếc va li của tôi xuống, rồi điệu bộ lễ phép, lão nói với tôi: Đây là căn phòng bí mật, cửa quanh năm khóa kĩ. Tôi hầu cụ lớn đã mười năm. Nay mới được cụ giao cho chiếc chìa khóa gỉ này.


Câu nói của bõ già làm rộn trí tôi, gợi cho tôi biết bao nghi ngờ, thắc mắc.


Nhiều đêm, trằn trọc không ngủ được, tôi bâng khuâng tự hỏi rằng: cái giường này xưa đã có ai nằm? Cái gương này xưa đã có ai soi?


Cả cái phòng này nữa, sao lại bỏ hoang đến nỗi dù đã lau chùi, quét rửa kĩ rồi mà vẫn còn mùi rêu mốc tanh hôi, ẩm ướt? Hay là, ở đây, đã có người nào tự tử, hoặc đã xảy ra một vụ ám sát ghê gớm... hoặc là có ma quỷ thường tác quái?


Nhưng những dấu hỏi hoài nghi ấy không đủ làm tôi sợ, vì chưa có một chứng cớ nào cho tôi tin là có ma quỷ ở trần gian. Tôi chỉ vẩn vơ nghĩ về cái giường cổ và cái gương Tàu, vì không hiểu sao, hình như tôi có sẵn một linh cảm kỳ quặc đối với hai thứ đó.


Một tối, nhân lúc ông tôi ngồi uống nước ngoài vườn, tôi ở trên giường vùng ngồi dậy. Tôi nhảy xuống đất, rón rén đến cái tủ kê ở góc tường, chăm chú nhìn từng ngăn kéo. Tôi rút mấy ngăn trên, chẳng có vật gì, còn một ngăn cuối, tôi mở nốt, nhưng ngăn này có khóa. Tôi lại giường nằm. Song cái ngăn kéo khóa kĩ kia khiến tôi nghi ngờ dữ quá, rồi bộ óc quen bày đặt chuyện của tôi tạo ngay thành một vụ giết người mà ông tôi là... thủ phạm, và trong ngăn tủ kín đáo kia hẳn giấu giếm một lá thư, một con dao máu lâu ngày đã đen sì lại. Vụ án mạng đó có lẽ vì chính trị, vì tình, hay là vì việc chiếm đoạt gia tài...


Sao lại không thể như thế được, khi mà người ta có một quyền hành lớn trong tay, có một địa vị oai nghi, lẫm liệt ở trong triều.


Rồi tự nhiên tôi tưởng tượng thấy hiện lên một oan hồn đang đập cửa đòi vào... tôi mơ hồ nghe thấy tiếng khóc than ri rỉ trong cái ngăn kéo bí mật kia... Người tôi rờn rợn. Tôi lại nhảy đến trước tủ, và lần này thì quyết định, tôi nhặt một đoạn sắt ở góc tường, dùng hết sức nậy khóa ra. Khi đã thành công, tôi run tay từ từ lôi ngăn kéo. Trong đó, có vài lá thư giấy đã vàng và chữ rất nhòa không đọc được. Dưới những lá thư, có một cái hộp mây đựng tấm gương con, chiếc lược ngà, chiếc rẽ đường ngôi bằng lông dím, mấy hộp phấn sáp, lọ dầu thơm bôi tóc và kim chỉ.


Bên trong cùng, có một cái hộp sơn đen. Mở ra, tôi thấy những cánh hoa khô phủ lên một tấm ảnh người gái Huế. Ngay phút đầu, tâm thần tôi đã rung động vì nhan sắc người trong ảnh. Thiếu nữ đẹp vô ngần. Vẻ đẹp cao quý ấy, ta chỉ có thể thấy ở những nàng công chúa, ở những công nương khuê các giá ngàn vàng.


Càng ngắm bức ảnh, lòng tôi càng như vương vấn một thứ tình say sưa kỳ lạ, một thứ hoài cảm mênh mang...


Tôi không biết người đẹp ấy là ai đối với ông tôi... Có thể là một người con? Một người cháu? Hay một người hầu thiếp? Ồ, nếu nàng là người hầu thiếp, nếu cái mặt hoa ấy, cái mình ngà ngọc ấy, cả cái nhan sắc thần tiên ấy là vật sở hữu của một ông già tóc bạc lưng còng, lần từng bước gậy, sống thoi thóp cạnh cửa mồ, thì than ôi, thật là đau đớn cho nàng, đau đớn cả... cho tôi! Hình như tôi ghen với ông tôi, tôi muốn thấy người đẹp ấy ngay tức khắc. Tôi đoán ông tôi tạm giấu người ấy đi một chỗ trong khi có tôi ở trong dinh, vì người e có điều bất tiện, rồi chờ tôi ra Bắc, nàng mới được về để giữ việc đấm bóp cho người.


Nhưng sau, tôi lại vơ vẩn nghĩ rằng nàng đã chết rồi, vì những cánh hoa khô ai rải lên tấm ảnh có lẽ ngụ một ý nghĩa là: lấy hoa liệm xác người khi sống vốn yêu hoa.


Tôi đang tần ngần nhìn tấm ảnh thì chợt có tiếng ho của ông tôi ngoài hành lang. Sợ người bắt gặp tôi đang phạm một tội tò mò, cái tội tôi tự biết là rất xấu mà lần đầu tiên tôi phạm, nên tôi vội vàng bỏ tấm ảnh vào ô kéo, xếp giấy má lên trên như cũ.


Sau đấy, tôi bâng khuâng hoài về tấm ảnh người con gái đẹp, cái tình bâng khuâng ấy gần như thứ tình yêu. Một lần, tôi lấy tấm ảnh đó ra xem lại, lần này không nhớ là lần thứ mấy, rồi tẩn mẩn bóc một miếng giấy mỏng dán phía sau, tôi đọc thấy hai chữ Bạch Vân, nét rất mờ.


Đó là tên người trong ảnh, chắc hẳn rồi. Cái tên ấy bắt đầu in sâu vào trí não tôi, và khiến tôi thầm nhắc nhủ đến luôn.


Một buổi chiều nắng tắt đã lâu, tôi theo ông tôi ra vườn sửa cây cảnh. Như mọi lần, chúng tôi lại ngồi trên tấm ghế đá bên hòn non bộ. Tôi ngoảnh về phía đông nam, ngắm một dải mây trắng trôi lững thững trên đỉnh núi Ngự Bình, và tôi nói với ông tôi như một đứa trẻ hiền lành, ngoan ngoãn:


- Ông ơi, mây trắng bay trên núi Ngự Bình đẹp quá!


- Ừ, sao cháu?


- Bẩm ông, ở Hà Nội, cháu có một người bạn gái nhờ cháu đặt cho một cái biệt hiệu, giá lấy cảnh kia mà nghĩ ra một cái tên thì có lẽ cũng hay hay... Tỷ dụ như Bạch Vân chẳng hạn... có được không ông?


- Sao không được... À, xưa kia...


Nhưng ông tôi ngừng ngay lại, đôi mắt lờ đờ tựa hồ vừa thoáng qua một cái bóng dĩ vãng thảm sầu. Người đặt bàn tay run rẩy lên vai tôi, nhìn chằm chặp vào mắt tôi, ngắm nghía tôi một cách lạ lùng, tỉ mỉ như ông thầy coi tướng số. Rồi khi không, tôi nhận thấy mấy giọt lệ bám long lanh trong cặp kính, người bảo tôi:


- Cháu ôi, khi xưa..., cũng vào một buổi chiều, nhân buồn lòng về triều chính, ông ngồi ở cái ghế này uống rượu giải sầu, chợt thấy một đám mây trắng bay trên núi, và chính giữa lúc ấy thì ở trong phòng bà ngoại cháu vừa sinh hạ ra mẹ cháu, nên ông mượn cảnh nọ mà đặt tên cho mẹ cháu là Bạch Vân. Bây giờ, mẹ cháu chết rồi, mà đám mây trắng kia lại kéo qua đỉnh núi Ngự Bình để cháu vô tình nhắc đến khiến ông đau đớn biết bao nhiêu!


Cả tâm hồn tôi tê tái, trái tim tôi như tan vỡ!


Thế ra bức ảnh người thiếu nữ đẹp như nàng công chúa ấy lại chính là mẹ tôi?


Tôi, thằng con khốn nạn này, đã thầm yêu mẹ, đã bày ra trong tưởng tượng biết bao ngờ vực, đã ghen ngấm ngầm với người ông ngoại từ ngót một tháng nay?


Thực là một huyễn mộng bất ngờ tan ra như bọt nước. Một tiếng sét, một làn chớp xé mây mù để cho tôi thoáng nhìn thấy mảnh trời trong xanh.


Hỡi người mẹ hiền bạc mệnh của tôi, người đã bỏ lầu hoa chốn Đô thành để đi chôn cả nhan sắc trong gian truân đau khổ với chồng, với con, người đã chôn cả tấm hình hài ngàn vàng trong kiếp giang hồ, chết âm thầm ở nơi đất lạ, quê người!


Tôi ngả đầu vào vai ông tôi mà khóc tựa như đứa trẻ thơ. Rồi ông tôi khẽ nói bên tai tôi, giọng hiền từ như một ông Tiên, ông Bụt ở trên trời xuống dỗ dành một kẻ đau thương, mà tôi thường được nghe trong những truyện cổ tích.


- Cháu ạ, khi xưa có lẽ vì mối lương duyên trời định mà ông gả con gái cho cha cháu. Khi ấy cha cháu ở ngoài Bắc đổi vào đây làm “xếp” ga. Ông thương cha cháu về đức tốt, nết hiền, con gái ông cũng ưng cha cháu vì nói năng hoạt bát, tài hoa. Thấy hai trẻ yêu nhau, ông cho phép cha cháu ra vào dinh tự nhiên. Rồi ít lâu, ông cho cha cháu vào hẳn trong dinh gửi rể, thiệt tình ông quý như con đẻ dứt lòng.


Được vài năm, nhà nước đổi cha cháu ra làm ngoài Bắc, mẹ cháu phải dời ông để theo chồng. Tin mẹ cháu bỏ mệnh nơi đất Bắc chẳng mấy chốc đến tai ông. Bà ngoại cháu thụ bệnh và chết cũng vì tin thê thảm đó.


Căn phòng kia từ khi mẹ cháu chết đi, ông truyền khóa kín và đến mãi bây giờ ông mới cho mở để dành chỗ cháu nằm; khi trước chính đấy là chỗ cha mẹ cháu động phòng hợp cẩn. Cái giường cháu đang nằm, cái gương cháu đang soi đều là những đồ vật có in bóng của cha mẹ cháu tự ngày xưa.


Ông tôi trầm ngâm một lúc rồi tiếp lời:


- À, trong một ngăn kéo tủ góc phòng, ông còn cất tấm ảnh mẹ cháu chụp một ngày trước hôm làm lễ cưới. Tấm ảnh ấy ông chắc đã mờ rồi, vì đã mười mấy năm nay ông không muốn mở cửa gian phòng đó để nhìn những kỉ niệm thương tâm. Đây, chìa khóa ngăn kéo tủ ấy đây, ông cho phép cháu vào mà hôn mẹ.


Tôi chạy vụt vào phòng như một thằng điên. Tôi trịnh trọng lấy tấm ảnh ra ôm chầm vào ngực mà ôm ấp; đưa lên mặt mà hôn hít, mà ngắm nghía. Tôi nhìn ảnh, rồi nhìn bóng tôi ở trong gương xem có nét gì giống mẹ không. Tôi ôm lấy tấm gương hôn chùn chụt, tưởng tượng rằng trong đó vẫn còn ghi lại cái bóng mẹ tôi những lúc xưa đứng xõa tóc chải đầu. Tôi nhảy lên giường, vuốt ve từng chiếc gọng màn, hôn đôi gối, hôn cái nệm - tưởng tượng rằng chăn màn ấy, gối nệm ấy còn ấp ủ mùi hương của da thịt người mẹ đẹp của tôi.


Mê man và vui sướng như được thấy mẹ hiền sống lại, tôi nâng niu tấm ảnh trên tay, ngắm mãi không mỏi mắt. Bây giờ tôi mới được trông mặt mẹ, vì tự thủa lấy chồng, mẹ tôi không hề chụp một tấm ảnh nào.


Đêm ấy, tôi ấp ảnh mẹ tôi vào ngực, ngủ ngon lành trên nệm như đứa trẻ nhỏ ngủ ngon lành trong một cái nôi.


Tôi mơ màng thấy tôi bé lại, có một bàn tay trắng muốt vỗ về tôi... Bên tai tôi, văng vẳng tiếng ai ca khúc Nam Bình ru cho tôi ngủ, giọng ca lẫn với giọng đàn mê li...


Nhưng ác làm sao gà bên tường hoa bỗng đâu lên tiếng gáy, tôi bừng mở mắt, nhìn qua cửa sổ: một chiếc bồng đang kẽo kẹt lướt ngoài sông Hương. Tiếng ca với cả tiếng đàn của người kĩ nữ vô danh vọng đưa đến tai tôi càng mê li, càng não nuột..., than ôi, ta tiếc sao đó chẳng là một giấc mơ vĩnh viễn để ta được ngủ hoài dưới bàn tay mẹ ta ve vuốt, để ta được tưởng rằng tiếng hát kia là tiếng mẹ hiền ta ru...


Phấn hương, NXB. Tân Dân, Hà Nội, 1939.


Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Người Trung Quốc xấu xí (9, kỳ cuối) - Bá Dương 12.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (8) - Bá Dương 11.06.2019
Xong cả - Võ Phiến 07.06.2019
Một thời thanh xuân - Châu La Việt 04.06.2019
Nhớ Hoàng Tiến - Vũ Thư Hiên 27.05.2019
Ghi chép trong chuyến đi Mỹ - Nguyễn Quang Thiều 26.05.2019
Thương nhớ mười hai: Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Vũ Bằng 03.02.2019
Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam - Vũ Bằng 27.01.2019
Tam Ích Lê Nguyên Tiệp - Một lời nguyện thiết tha: Xin cho tôi chết lẹ - Vũ Bằng 27.01.2019
Sương Xuân và hoa đào - Vũ Thư Hiên 27.01.2019
xem thêm »