tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27660794
26.03.2012
Ngọc Giao
Mõ làng

 Tiếng cười và nước mắt thời Hà Nội cũ


  Thời cũ, nhiều năm đã qua đi, hầu hết miền đồng bằng Bắc Bộ các xóm thôn, bất kể lớn nhỏ, giàu nghèo, đều giữ tập tục nuôi một người đói làm nô bộc, với cái tên là “thằng mõ”.


Làng tôi, một làng khá đông dân quanh năm đủ việc làm, đủ áo mặc cơm ăn, mấy xóm đông đoài cũng vui mắt nhờ dăm bảy mái ngói, nhiều cây to rợp xanh bóng lá. Xưa kia, mấy đời tiên tổ gọi là làng Đào Viên, sau đổi là Nguyệt Đức. Làng tôi kề sát phủ Thuận Thành, thuộc vùng Kinh Bắc (Bắc Ninh - Bắc Giang). Dân chúng theo nghề nông rất ít, phần đông ra Hà Nội hoặc tản mát ra các tỉnh kinh doanh thương mại, làm giầu. Bà con chỉ về làng, nơi sinh quán, vào những ngày đầu tháng Giêng, lễ đình lễ chùa, hội hè đình đám độ dăm hôm rồi lại kéo nhau ra tỉnh. Còn lại một số người an phận cầy bừa dầm mưa giãi nắng, suốt mấy đời mơ ước một mái nhà đỏ ngói, một vườn cây xanh.


Theo tục lệ chung, làng chúng tôi cũng nuôi một anh mõ. Đó là một thứ công bộc, công việc hàng ngày là luôn sẵn sàng phục vụ mấy ông chức sắc to như chánh lý, tiên chỉ làng, trong những ngày họ có ăn khao vọng, hiếu hỉ. Việc chính của anh mõ là mổ bò, mổ lợn, bưng mâm, dựng rạp, rửa bát đũa... Sau đó, mọi việc xong xuôi, anh mõ “một mình một chiếu thảnh thơi ngồi”. Một mình một mâm, tha hồ ăn uống no say, miễn đừng mượn hơi men nói láo.


Anh mõ làng tôi quả là một nhân vật khác thường. Thân hình anh cao lớn cân đối, mặt vuông, mắt sáng, mày thanh, mũi cao, miệng rộng, tiếng nói sang sảng, đi đứng ung dung không hề vội vã, khúm núm, mặt ngửa lên khi phải bẩm báo từ các cụ tiên chỉ đến quan viên làng còn ít tuổi. Cái mà anh đặc biệt khác các đồng nghiệp mõ là các nhà có cỗ bàn cưới xin, ma chay, giỗ tết, nếu không thèm nói một câu nhờ anh đến giúp thì nhất định anh không đến xin việc, xin ăn. Nhà anh là một gian “giải vũ”, nghĩa là một căn nhà lá dựng sau đình làng, nơi mổ lợn mổ bò làm cỗ dâng lễ thánh. Thường ngày, ngoài buổi có việc làm thuê làm mướn, anh rải lá chiếu cũ nát lên mặt đất quét rất sạch, nằm ung dung rung đùi đọc sách. Anh yên lặng đọc, cũng có lúc nhìn quanh nếu không có trẻ con chơi gần đấy, anh cất cao giọng đọc một đoạn văn hay, hoặc ngâm mấy câu thơ đắc ý. Trong làng, ở xóm tây, có một ông khóa dạy trẻ chữ nho, một hôm qua “giải vũ” nhà anh mõ, chợt nghe thấy giọng anh mõ ngâm thơ, mà lại là thơ chữ Hán, giọng nghe sang sảng, kèm theo những tiếng vỗ đùi tự thưởng thức văn hay. Thầy khóa vốn ít chữ nghe câu được câu chăng, đứng nấp ngoài kế vách, ghé mắt nhìn vào nhận thấy anh mõ đang rung đùi với cuốn Kinh dịch cũ nát trên tay. Thầy khóa giật mình kinh ngạc. Từ đấy, thầy khóa nhìn anh mõ với con mắt khác: sợ sệt và kính trọng. Thầy khóa lặng lẽ theo dõi hành động anh mõ. Thầy thấy anh mõ lau bia đá trước cửa đình làng, chăm chỉ đọc, ghi chép, nhận xét, thưởng thức từng dòng chữ trên bia đá mà tác giả là mấy cụ khoa bảng từng nổi danh trong sử học thời phong kiến miền Kinh Bắc. Chẳng biết vì lẽ gì, thầy khóa giấu kín chuyện anh mõ làng mình thông văn tự, đọc chữ bia mờ mịt cứ vanh vách như người ta đọc báo. Thầy khóa tự nhận thấy mình kém anh mõ quá nhiều, vì nhiều chữ nghĩa văn bia, thầy khóa chịu lắc đầu không hiểu nổi.


Bình thường anh mõ không hề cười nói với ai, ngoài câu “dạ dạ” khi có người hỏi đến. Dáng dấp anh, diện mạo anh, ngôn ngữ anh, phong độ anh mõ làng Nguyệt Đức khiến người trong làng cho đến dân chúng làng bên đều có ý nể nang, quý mến. Những ngày anh mới đến dân làng còn ngập ngừng gọi anh là mõ. Về sau, thấy anh khác lạ, toát ra một vẻ gì như cao sang, học thức, bà con trong làng bảo nhau đừng gọi anh là mõ, nghe nó thô bạo quá, phũ phàng quá đối với một người nô bộc hình như giấu giếm một cái gì khác lạ trong cái tư thế đê hèn, bí mật. Cứ thế, dần dà có mấy cụ bà bắt đầu gọi là ông. “Ông mới ơi, sáng mai nhà tôi có tí việc, mời ông đến giúp chúng tôi tí chút nhé!”, “Dạ dạ, xin vâng” ông mõ mà các cụ bà đổiông mới, nghe nó đỡ chướng tai. “Chứ người như thế ấy, mấy ông chánh lý làng mình dễ đã sánh được với ông ấy à!”. Thế là từ đó, mọi người gọi là “ông mới”.


Duy còn một người vẫn vênh váo, quát tháo là “mõ kia, bưng cho tao bát điếu, châm cho ông que đóm!” Người ấy là một tay du thủ du thực, quen miệng chửi người, quen tay đánh người, đã từng sang Pháp dự cuộc chiến tranh Pháp - Đức năm 1914 - 1918, sống sót trở về làng, không làm gì cả ngoài việc đi chầu rìa chiếu bạc các làng chung quanh, gạ nếm cơm thiên hạ. Gã lính chiến via cà cộ này bắt nạt toàn thể dân làng, không ai dám giơ mặt cho nó đấm. Kể cả mấy tay sừng sỏ chánh lý cũng ngoảnh mặt làm ngơ, nhịn gã. Tên gã là Cầu.


Một lần Cầu quát ông mõ bưng điếu, ông mõ làm ra điếc, không nhìn Cầu, cũng không hề có cử chỉ nào phản ứng. Cầu giơ nắm tay dọa đánh, ông mõ chỉ mỉm cười “dạ dạ”.


Cho đến một hôm, dân làng vừa xong tế lễ, Cầu đang quát tháo thì ông mõ điềm tĩnh đứng giữa sân đình, trước bàn thờ thánh, cúi đầu vái lạy bát hương trên án, cúi lạy hai bên sân đình đông đủ chức sắc dân làng. Một giọng nói miền Trung dõng dạc cất cao:


- Chiềng lạy thành hoàng làng. Chiềng lạy các cụ tiên thứ chỉ, tôi xin có lời thưa là cái tên Cầu ngồi kia, qua mấy tháng nay, tôi xin làm nô bộc trong làng, ai cũng thương mến tôi, không nỡ gọi tôi là tên mõ, là thằng mõ. Duy chỉ có cái tên Cầu kia là nó khinh tôi nghèo khổ, nó làm nhục tôi nhiều lần, tôi vẫn cố nhịn. Hôm nay, đông đủ toàn dân, tôi xin các cụ, các ông, các bà cho phép tôi gọi tên Cầu ra ngoài sân đình, nói chuyện riêng với nó.


Tên Cầu không ngờ có kẻ dám ngang nhiên lăng mạ gã, tức thì nhảy chồm lên, chạy vút ra sân đình, lao cả người vào ông mõ. Ông này chỉ chờ có thế, nhẹ nhàng né mình tránh cái xác thô bạo của địch thủ, khẽ rún bàn chân, phi thân lên đá thốc như búa bổ vào ngực, vào mặt, tức thì Cầu ngã ngửa, lăn đi một vòng trên bãi cỏ bờ sông. Ông mõ tiếp theo một cú đá nữa, cả cơ thể nặng chịch của Cầu như quả bóng, bay vèo xuống mặt con sông đào rộng trước mặt đình. Cầu rơi tõm xuống nước, chìm nghỉm, ngoi lên, lại chìm nghỉm, vì Cầu không biết bơi. Cầu nhô đầu lên, hai tay chới với, kêu to: “Ông mõ ơi, ông cứu tôi, tôi chết mất...”.


Ông mõ mỉm cười, nhảy xuống sông, tóm tóc Cầu, nhẹ nhàng dìu vào bờ, một tay tóm cổ Cầu, nhấc bổng cả người lên, ném vào bờ. Cầu nằm thẳng cẳng, thở và nôn ọe. Từ bữa ấy, Cầu tìm hết cách tránh mặt ông mõ.


Hồi ấy, tôi 12 tuổi, phải rời Hà Nội, về quê học trên trường huyện, vì gia cảnh éo le. Không hiểu tại sao, tôi rất quyến luyến ông mõ, cứ thích quấn quýt bên ông. Cả ngày đêm, ông đơn độc, cơm niêu nước lọ, không hề cười nói với ai. Ông cũng thích tôi ngồi cạnh, nghe ông đọc sách chữ nho, đôi lúc, mỉm cười thích chí, giảng tôi nghe một câu chữ nho mà ông khen là hay tuyệt, dặn tôi nên nhớ kỹ vì nó dạy người ta học cái đức độ làm người. Có một hôm mưa to quá, ông co tôi ngồi nép vào ông tránh nước mưa trong gian nhà lá thủng. Ông âu yếm cầm tay tôi, ngắm nghía tôi rất kỹ, hỏi tên họ tôi, hỏi ngày khai sinh tôi. Tôi thực thà nói hết. Ông hỏi về mẹ tôi, tên tuổi mẹ tôi. Ông bỗng nắm chặt tay tôi, ôm chặt lấy tôi, sửng sốt, sững sờ một lúc, mồm lẩm bẩm: “Lạ nhỉ. Sao lại thế này? Cháu ta, cháu ta đây hở?”. Ông ngoảnh mặt đi, lấy tay áo lau nước mắt. Giọng ông bỗng nghẹn ngào:


- Hiện giờ mẹ cháu ở đâu? Bố cháu ở đâu?


Tôi không hiểu tại sao ông khóc. Thấy ông khóc, tôi cũng khóc, khẽ trả lời ông:


- Mẹ cháu ở Huế. Mấy tháng nữa mới ra Bắc. Ông ngoại cháu làm quan, bị lính Tây vây bắt, ngoại trốn đi đâu mất. Vì thế, mẹ cháu chưa ra Bắc được. Bố cháu đang làm việc ở nước Lào. Cháu ở đây, nhờ ông bác cháu nuôi ăn học.


Nghe tôi nói, ông lại ôm chặt lấy tôi, nước mắt tràn xuống má, định nói gì mà không nói được.


 


Sau đó, cách hai hôm, ông mõ biến khỏi làng. Không lưu lại một dấu vết gì, ngoài cuốn Kinh dịch chữ Hán do ông khóa tìm thấy dưới ổ rơm trong nhà giải vũ. Cũng sau đó hơn một năm, mẹ tôi ở Huế ra. Ông ngoại tôi cùng với vua Thành Thái bị Tây bắt đi đày. Mẹ tôi đau khổ lắm, khóc cả đêm ngày.


Mẹ con nói với nhau về mọi chuyện. Tôi hăm hở kể hết chuyện ông mõ cho mẹ tôi nghe. Nghe đến đâu, mẹ tôi sửng sốt, mặt tái xanh đến đấy. Tôi moi từ trong cái lỗ cột nhà bằng tre bương thủng, lấy ra sợi xích bằng bạc mà ông mõ trước ngày bỏ làng Nguyệt Đức ra đi đưa nó cho tôi, dặn tôi không được cho ai trông thấy. Giấu thật kỹ, chỉ khi nào mẹ ở Huế ra mới được đặt nó vào tay mẹ. Cầm sợi xích bạc, mẹ tôi đọc thấy ba chữ Hán Lý Thiên Trường. Bỗng nhiên, mẹ tôi ngất lịm đi, lúc lâu mới tỉnh, mẹ ôm mặt khóc, rỉ tai tôi:


- Mẹ ra Bắc chậm quá, không được gặp mặt bác con. Bác là ông anh ruột mẹ, làm quan nhưng không chịu được triều đình vua chẳng ra vua, quan chẳng ra quan, sợ giặc Tây hơn sợ cọp. Vua Thành Thái bị đi đày, chúng bắt cả ông ngoại, nhưng ông trốn thoát, giờ không biết sống chết ra sao.


Mẹ tôi nức nở, ghé tai tôi thì thầm:


- Ông bác đây là Lý Thiên Trường, thi đỗ cả cử nhân văn, cử nhân võ. Ông đã đâm chết một thằng quan năm Pháp và một tên lính hầu, đang theo lệnh nó đuổi bắt một cô gái trên cầu sông Hương. Một lúc, ông giết hai nhân mạng, hai kẻ thù trong những ngày đầu mất nước. Dư luận Huế xôn xao. Giặc truy lùng hung thủ. Ông bác phải đội lốt nghèo hèn trốn tránh. Mẹ nghe đồn ông bác mới chết trong một cuộc đọ kiếm với cả một bày giặc cướp ở Nhật trong khi ông một mình lặn lội đi tìm hoàng thân Cường Để...


 


Đêm nay, tôi phải khai bút những dòng ký sự này, không khỏi ngăn giọt lệ đầu xuân. Trong đầu tôi phảng phất câu thơ của thi sĩ tướng quân họ Đặng:


Thời lai đồ điếu thành công dị,


Vận khứ anh hùng ẩm hận đa[1].


 Viết năm 1997


NG.
In lần đầu, kể từ khi tác giả mất
.


Nguồn: Đốt lò hương cũ. Tuyển ký của Ngọc Giao. Nguyễn Tuấn Khanh tuyển chọn. NXB Văn học, 2012.


www.trieuxuan.info


______


 


(1)Trích bài Thuật hoài của Đặng Dung. Tạm dịch nghĩa : Gặp thời, ngay cả gã đồ tể và gã ngư phủ cũng dễ dàng thành công. Khi vận đã qua rồi, đến bậc anh hùng cũng chỉ đành nuốt hận mà thôi.







 



bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Hòa bình khó nhọc - Nguyên Ngọc 17.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (9, kỳ cuối) - Bá Dương 12.06.2019
Người Trung Quốc xấu xí (8) - Bá Dương 11.06.2019
Xong cả - Võ Phiến 07.06.2019
Một thời thanh xuân - Châu La Việt 04.06.2019
Nhớ Hoàng Tiến - Vũ Thư Hiên 27.05.2019
Ghi chép trong chuyến đi Mỹ - Nguyễn Quang Thiều 26.05.2019
Thương nhớ mười hai: Tháng Giêng mơ về trăng non rét ngọt - Vũ Bằng 03.02.2019
Bình “Đào lê mỹ tửu” của Thạch Lam - Vũ Bằng 27.01.2019
Tam Ích Lê Nguyên Tiệp - Một lời nguyện thiết tha: Xin cho tôi chết lẹ - Vũ Bằng 27.01.2019
xem thêm »