tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 28896301
Tiểu thuyết
23.03.2012
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

Từ lâu đã quyết định trong hội nghị gia đình là tôi theo học ở bậc Đại học. Nhưng quyết định cho tôi học ở khoa nào? Cha mẹ tôi cho tôi lựa chọn. Anh cả tôi đã vào xí nghiệp công nghiệp của cha tôi, vì vậy chẳng có gì bức bách đối với người con thứ. Tóm lại vấn đề chỉ là bảo đảm cho gia đình một học vị tiến sĩ. Tiến sĩ gì? Điều đó không quan trọng. Điều đáng ngạc nhiên là tôi cũng rất dửng dưng với việc lựa chọn. Đã từ lâu tôi hiến dâng tất cả tâm hồn mình cho văn chương. Không có một khoa học nào được các chuyên gia giảng dạy mà bản thân nó khiến tôi quan tâm, thêm nữa tôi đã có và tôi vẫn giữ một sự nghi ngờ thầm kín đối với tất cả việc học tập ở đại học. Đối với tôi, tiên đề của Emerson là bất di bất dịch, rằng những cuốn sách tốt thay thế cho trường đại học tốt nhất, và ngày nay tôi còn tin chắc rằng người ta có thể trở thành một nhà triết học, nhà sử học, nhà ngữ văn học hay nhà luật học ưu tú mà không bước chân đến trường đại học, ngay cả đến trường trung học. Rất nhiều khi tôi tin chắc rằng trong đời sống thực tế những người bán sách cũ thường được thông tin về sách tốt hơn các giáo sư cừ khôi nhất, rằng những người buôn tranh lại am hiểu về hội họa hơn cả những nhà nghiên cứu lịch sử nghệ thuật uyên bác, rằng một phần những tiên đoán táo bạo và những phát kiến chủ yếu trong lĩnh vực là do những nhà nghiên cứu đơn độc. Dù đối với những trí óc trung bình giáo dục đại học có thể có giá trị thực tiễn, thuận lợi và bổ ích đến đâu, tôi cho rằng những cá tính mạnh và sáng tạo có thể không cần đến nền giáo dục ấy; thậm chí tôi bảo là nó có thể tác động lên họ như một sự cản trở. Nhất là trong một trường đại học như của chúng tôi, tại Vienne, với sáu bảy nghìn sinh viên, số lượng quá đông đã cản trở mọi tiếp xúc cá nhân thực sự có lợi giữa thầy giáo và sinh viên, và mặt khác họ đã tụt hậu so với thời đại do sự gắn bó quá trung thành với những truyền thống của nó, tôi không thấy một người nào có thể làm tôi hứng khởi với khoa học của ông ta. Và như vậy cái điều quyết định việc lựa chọn của tôi không phải là vấn đề biết những môn học nào yêu cầu hoạt động trí tuệ của tôi nhiều hơn cả, mà ngược lại môn nào bắt tôi bận bịu ít nhất và để tôi có nhiều thời gian và tự do nhất chuyên tâm cho niềm say mê thực sự của tôi. Cuối cùng tôi quyết định chọn môn Triết học, đúng hơn là cho môn Triết học "chính xác" như người ta thường gọi ở chỗ chúng tôi, theo hệ thống cũ của các môn học. Tôi thực sự không nhượng bộ một thiên hướng bên trong nào bởi vì năng khiếu của tôi về tư duy trừu tượng rất là hạn chế. Tư duy phát triển trong tôi khởi sự từ những đồ vật, những biến cố và những hình thức đập vào giác quan, tất cả những gì thuần lý và siêu hình đối với tôi dường như không với tới được. Dù sao chất liệu cần nghiên cứu ở đây cũng vẫn rất hạn chế và người ta có thể tránh dễ dàng nhất sự nghe các giáo trình và dự các xêmine ở môn triết học "chính xác". Tất cả những gì người ta đòi hỏi ở anh là trình bày một luận văn vào cuối học kỳ thứ tám và qua một kỳ thi duy nhất. Vì vậy mà thoạt đầu tôi quyết định phân bố thời gian của tôi như sau: trong ba năm đầu tôi sẽ chẳng lo học tập chút nào cả! Nhưng, suốt năm cuối tôi sẽ lĩnh hội môn học đã chọn nhờ làm việc miệt mài và sẽ soạn thảo một luận văn nào đó càng nhanh càng tốt. Như vậy là trường đại học đã cho phép tôi tất cả những gì tôi đòi hỏi: vài ba năm hoàn toàn tự do cho phép tôi sống và đẩy mạnh những nỗ lực nghệ thuật của tôi: Universitas vitae.


*


Nếu nhìn bao quát cả đời tôi, tôi phát hiện thấy ít có dịp nào sung sướng bằng những tháng đầu tiên của thời kỳ học đại học không có trường đại học! Tôi còn trẻ và còn chưa có ý thức rằng mình chịu trách nhiệm về tác phẩm của mình và chỉ được sáng tạo nó thật hoàn hảo. Tôi khá độc lập và ngày có hai mươi tư giờ, tất cả đều thuộc về tôi. Tôi có thể đọc và làm những gì tôi thích, không có điều gì phải thanh minh với ai, đám mây của những kỳ thi còn chưa xuất hiện ở chân trời, vì sau cùng, ba năm trời ở tuổi mười chín hình như rất dài khiến người ta có thể làm cho chúng giàu có, đầy đặn và dồi dào những bất ngờ và thu hoạch mọi mặt!


Tôi khởi sự bằng việc tập hợp các bài thơ của tôi vào một tuyển mà tôi tin là rất ngặt nghèo. Tôi không xấu hổ thủ nhận rằng ở tuổi mười chín, lúc tôi vừa rời ghế trường trung học, mùi mực in đối với tôi còn thơm dịu hơn mọi mùi hương, thơm dịu hơn nước hoa hồng Chiraz; mỗi khi một bài trong số thơ ca của tôi được một tờ báo nhận in, ý thức về giá trị thực sự của tôi, ý thức này về bản chất có phần hơi yếu, lại lấy được sức mạnh mới. Nên chăng ngay từ bây giờ lấy đà cho một bước nhảy quyết định và thăm dò việc xuất bản cả một cuốn sách? Những khuyến khích của bạn bè tôi, những người còn tin ở tôi hơn là tôi tin ở bản thân mình, đã thuyết phục tôi. Tôi khá táo bạo gửi bản thảo của tôi tới nhà xuất bản khi đó là tiêu biểu nhất cho thơ trữ tình ở Đức, tới Schuster và Lưffler, những người đã xuất bản cho Liliencron, cho Delmel, cho Bierbaum, cho Mombert, cho tất cả thế hệ đã cùng với Rilke và Hofmannsthal tạo nên chủ nghĩa trữ tình mới của Đức. Và - điều kỳ diệu và điềm báo! - ngay sau đó những giây phút hạnh phúc không thể nào quên liên tiếp đến, chúng không lặp lại trong cuộc đời một nhà văn, ngay cả sau những thành công lớn nhất: một bức thư có in dấu tên nhà xuất bản được gửi đến mà ta bồn chồn nôn nóng nắm chặt trong tay nhưng lại không đủ can đảm mở thư ra. Đến cái giây phút quý giá đọc thư, hơi thở như ngừng lại, thấy rằng nhà xuất bản đã quyết định in sách và bảo đảm cả quyền ưu tiên cho những tập tiếp theo, đến lúc nhận được gói bản in thử đầu tiên mà ta luống cuống tháo ra, để nhận xét về chữ, về cách trình bày, về hình dạng phôi thai của cuốn sách và vài tuần lễ sau, bản thân cuốn sách, những bản đầu tiên mà người ta ngắm nghía không biết chán, sờ mó, so sánh một lần, lần nữa và thêm lần nữa. Sau đến cuộc hành hương như trò trẻ con đến các cửa hàng bán sách để xem đã có sách trưng bày chưa, xem chúng có nổi bật ngay giữa tủ kính hay bày lẫn một cách khiêm tốn ở ngoài rìa. Sau đó là sự chờ đợi thư từ, những bài phê bình đầu tiên, những sự đáp ứng đầu tiên đến từ chốn lạ lùng không quen biết, không thể lường trước - tất cả những căng thẳng, xao xuyến, kích động khiến tôi thầm ghen tỵ với những người trẻ tuổi tung vào đời tác phẩm đầu tiên của họ. Nhưng niềm hân hoan đó chỉ là lòng hăng say làm cho tôi mê mẩn với những phút đầu tiên đó, chứ hoàn toàn không có chút tự mãn nào. Chẳng bao lâu sau tôi tôi nghĩ gì về những bài thơ buổi đầu tuổi thanh niên của tôi, điều đó được chứng minh bởi việc làm đơn giản là không những tôi không cho in lại những bài trong Dây bằng bạc (tựa đề của đứa con đầu lòng ngày nay đã bị lãng quên) mà tôi còn không tuyển một bài nào vào trong Tác phẩm thi ca toàn tập của tôi. Đó là những câu thơ mà những tiên cảm không rõ rệt, liên kết với những hoài niệm không chú ý, xuất phát không phải từ kinh nghiệm cá nhân tôi, mà từ một thứ mê say ngôn từ. Tuy nhiên, chúng tỏ ra có một chất nhạc nào đó và có khá đủ ý nghĩa về hình thức để được chú ý trong các giới sành thơ, và tôi không thể phàn nàn rằng đã thiếu những sự khích lệ. Liliencron và Dehmel, những chủ soái của thơ trữ tình hiện đại đã dành cho chàng trai mười chín tuổi sự tán thưởng thân tình và có tính chất đồng nghiệp. Rilke mà tôi coi như thần tượng, gửi cho tôi để trao đổi với "quyển sách được tặng dễ thương đến thế" một bản in đặc biệt với lời đề tặng "đầy lòng tri ân" của những bài thơ mới nhất của ông, bản này tôi đã cứu được khỏi đống đổ nát của nước Áo và mang sang nước Anh, coi như một trong những kỷ niệm quý nhất thời thanh niên của tôi (bây giờ thì nó ở đâu rồi?). Tặng phẩm đầu tiên ấy của Rilke - sau đó còn tiếp nhiều tặng phầm khác nữa - thực ra cuối cùng mang lại cho tôi một cảm tưởng về cái bóng ma đã từ bốn mươi năm xưa cũ được trang trí bằng thứ chữ viết quen thuộc vẫy chào tôi từ cõi âm. Nhưng điều ngạc nhiên bất ngờ nhất là Max Reger, cùng với Richard Strauss nhà soạn nhạc lớn nhất lúc bấy giờ, đã xin tôi cho phép phổ nhạc sáu bài thơ trong đó; mà từ đó biết bao lần tôi đã nghe khúc này hay khúc khác trong những buổi hòa nhạc - những vần thơ của chính bản thân tôi, đã từ lâu bị tôi quên lãng và chối bỏ, "được mang qua các thời đại bởi nghệ thuật anh em của một bậc thầy!".


*


Sự tán thưởng quá sức mong đợi, cộng thêm những lời phê bình thiện chí trên các báo, khiến tôi đánh bạo tiến hành một việc mà lẽ ra không bao giờ tôi dám làm, hoặc ít ra là không làm khi còn trẻ như vậy, với cái tính ngờ vực bản thân không sao sửa được của tôi: Hồi còn học trường trung học, tôi đã xuất bản, bên cạnh những bài thơ, những truyện ngắn và tiểu luận trong những tạp chí văn học của phái "Tân tiến", nhưng chưa táo bạo đề nghị với một tờ báo lớn rất phổ biến. Ở Vienne, tóm lại chỉ có một tờ báo hàng ngày đầu bảng, tờ Newe Freie Presse, nhờ tư thế đặc biệt của nó, những sự quan tâm về văn hóa và uy tín chính trị của nó, gần như chiếm được trong nhà nước quân chủ Áo - Hung vị trí đã chiếm được của tờ Times trong thế giới Anglo-Saxon hoặc tờ Temps ở nước Pháp. Giám đốc tờ báo, Maurice Benedikt, một người có những tư chất phi thường của người tổ chức và có sức hoạt động không mệt mỏi, dành nghị lực gần như ma quái của ông để vượt lên tất cả các tờ bào Đức trong lĩnh vực văn học và nghệ thuật. Khi ông ta muốn bảo đảm sự cộng tác của một tác giả nổi tiếng, ông không tiếc bất cứ khoản chi nào, ông gửi cho tác giả liên tiếp mười hoặc hai mươi bức điện, ông đồng ý ứng trước số tiền nhuận bút mà tác giả yêu cầu; những số ra đặc biệt ngày lễ Giáng sinh hay Năm mới tạo thành, với các phụ trương văn chương, những tập hoàn chỉnh trong đó những tên tuổi lớn nhất của thời đại đặt bên nhau: Anatole, France, Gerhart Hauptmann, Ibsen, Zola, Strindberg, và Shaw lúc đó được tụ hội trong tờ báo này, tờ báo đã làm nhiều không thể nói xiết cho việc định hướng văn chương của toàn thành phố, của cả nước. Tiến bộ và phóng khoáng trong thế giới quan và nhân sinh quan, vững chắc và khôn ngoan trong thái độ của nó, tờ báo này biểu hiện một cách mẫu mực tiêu chuẩn văn hóa cao của nước Áo cũ.


Cái ngôi đền đó của "Tiến bộ" còn chứa đựng một chính điện đặc biệt, tờ Feuilleton, bắt chước những nhật báo lớn ở Paris, tờ Thời báo và tờ Báo của các cuộc tranh luận, xuất bản tại "tầng trệt" cách biệt hẳn với tính phù du của những tin ngắn hàng ngày và với chính trị, những bài vững vàng nhất và hoàn chỉnh nhất về thi ca, sân khấu, âm nhạc và mỹ thuật. Tại đó chỉ có thể cất tiếng những người có thầm quền mà tiếng tăm đã thật vững chắc. Chỉ sự vững vàng trong phê phán, kinh nghiệm lâu năm và chỉ sự hoàn thiện của hình thức mới mở ra cho một tác giả con đường vào chốn thiêng liêng ấy. Ludwig Spaidel, một bậc thầy về tiểu họa, Edouard Hanslick có được tại đây, về sân khấu và âm nhạc, uy quyền giáo chủ ngang với Sainte Beuve ở Paris trong các tờ Thứ Hai của ông ta; một cái gật đầu hoặc lắc đầu của họ quyết định thành công tại Vienne của một tác phẩm, một vở diễn sân khấu, một cuốn sách và cũng nhiều khi quyết định tương lai của một người. Mỗi một bài của họ là một đề tài trao đổi trong những giới có học vấn, chúng được tranh luận, phê bình, khâm phục hoặc khinh thị và khi ngẫu nhiên, một cái tên mới xuất hiện trong số những "người" có bài đăng trong Feuilleton, được thừa nhận và được kính nể, điều đó tạo nên một sự cố. Về thế hệ trẻ, chỉ riêng Hofmannsthal đã thành công trong việc được chấp nhận khi có dịp vài bài trong số những bài tuyệt vời của anh; ngoài anh ra, các tác giả trẻ đành phải tự hạn chế ở chỗ chui lậu vào, lẩn giữa trang văn học ở cuối. Ai được đăng ở trang đầu, đối với dân thành Vienne, có tên được khắc vào đá cẩm thạch.


Ngày nay tôi không sao hiểu nổi vì sao tôi lại có được can đảm gửi một tiểu phẩm thơ cho tờ Newe Freie Presse, vị tiên tri của cha ông tôi và nơi nương náu của những người đã thánh hóa bằng bảy lần xức dầu thánh. Nhưng xét cho cùng tôi không thể bị cái gì tệ hơn một lời chối từ. Biên tập viên của mục tiểu phẩm chỉ tiếp khách một ngày trong tuần từ hai đến ba giờ, bởi vòng quay đều đặn của những nhà văn nổi tiếng đã có ở đó một hợp đồng vững chắc chỉ cho phép một cách rất hãn hữu một cộng tác viên tạm thời tìm được ở đó chỗ cho các tác phẩm của mình. Không phải là tim tôi không hồi hộp khi tôi leo chiếc cầu thang cuốn nhỏ dẫn tới văn phòng và nhờ báo tin tôi đã đến. Sau vài phút đợi, người giúp việc tới báo cho tôi biết rằng Ngài biên tập của mục tiểu phẩm cho mời tôi vào, và tôi vào một căn phòng chật chội.


*


Biên tập viên mục tiểu phẩm của tờ Newe Freie Presse tên là Théodore Herzl, và là người đầu tiên được số mệnh quyết định giữ một vai trò hàng đầu trong lịch sử thế giới mà tôi gặp trong cuộc đời tôi. Dĩ nhiên lúc đó tôi không ngờ đến cuộc cách mạng diệu kỳ mà cá nhân ông ta được số phận chỉ định thực hiện vận mệnh của dân tộc Do Thái và lịch sử thời chúng tôi. Hoàn cảnh của ông còn mập mờ và chưa cho phép ông nhìn thấy trước tương lai của mình. Ông đã khởi đầu bằng những tiểu phẩm thơ, đã biểu hiện rất sớm những thiên hướng nổi bật của nhà báo và đã trở thành người được ưa chuộng của công chúng Vienne, trước hết ở cương vị phóng viên từ Paris, sau đó là phụ trách mục tiểu phẩm của tờ Newe Freie Press. Những bài viết sắc sảo và thường là sâu sắc, vẻ duyên dáng của văn phong, sức hấp dẫn và sự cao nhã mà, ngày nay cả trong thể loại nhẹ nhàng và trong phê bình, vẫn không mất đi một chút nào chất quý phái bẩm sinh của ông; các bài viết ấy thực sự là những gì mà người ta có thể quan niệm là tinh tế nhất trong văn xuôi báo chí, và là thú vui của một thành phố đã trau dồi ý thức về sự tinh tế. Một vở của ông đã đạt được thành công ở Nhà hát Thành phố, và từ đó trở đi, ông là một người được giới thanh niên quý mến và tôn sùng, được các ông bố chúng tôi ưa thích, cho đến cái ngày xảy ra điều bất ngờ. Số phận bao giờ cũng biết tìm đường đi của nó để nhắm trúng người mà nó cần đề hoàn thành những ý đồ bí ẩn của nó, ngay cả nếu như người đó muốn ẩn trốn.


Théodore Herzl đã có một biến cố ở Paris làm ông ta đảo lộn, ông đã sống một trong những giờ làm thay đổi hoàn toàn một cuộc đời: ông tham dự với tư cách là phóng viên cuộc giáng chức công khai của Alfred Dreyfus, ông đã chứng kiến việc lột ngù vai ở con người xanh xao ấy, và con người ấy kêu lên: "Tôi vô tội". Và ở cái giây phút đó, ông đã khẳng định trong cái ý thức sâu thẳm nhất của mình rằng Dreyfus vô tội và ông ta chỉ  phải chịu sự nghi ngờ ghê tởm về sự phản bội vì ông ta là Do Thái. Thế mà Théodore Herzl, hồi còn là sinh viên đã chịu đau khổ trong niềm kiêu hãnh cao thượng của con người dưới cái định mệnh Do Thái - Hơn nữa ông đã cảm thấy trước điều đó trong tất cả tính bi thảm của nó ở một giai đoạn mà nó chưa thực sự tỏ ra đáng sợ, và điều đó nhờ ở bản năng tiên đoán và linh tính của ông. Với ý thức sinh ra là thủ lĩnh, được vẻ huy hoàng oai vệ của hình thể bề ngoài cũng như tầm rộng của nhãn quan và của sự hiểu biết thế giới cho phép lúc đó ông hình dung một dự án huyền hoặc kết thúc một lần cho xong vấn đề Do Thái, và điều đó nhờ kết hợp Thiên Chúa giáo và Do Thái giáo bằng lễ rửa tội tự nguyện tiến hành hàng loạt. Trong tư tưởng bao giờ cũng bi tráng của ông, ông nhìn thấy mình dẫn hàng nghìn, hàng nghìn người Áo gốc Do Thái thành đoàn người kéo dài tới nhà thờ Saint-Etienne nhằm cứu chuộc tại đây và cho đời đời, bằng một cử chỉ tượng trưng kiểu mẫu, dân tộc bị săn đuổi và không có Tổ quốc, trên mình mang nặng lời nguyền rủa của sự thù ghét và chia rẽ. Chẳng bao lâu ông nhận ra là không thể nào thực hiện được kế hoạch của mình; nhiều năm làm việc mê mải đã khiến ông xao lãn vấn đề chủ yếu của đời ông, mà ông cảm thấy phải hiến mình cho giải pháp của vấn đề ấy; nhưng trong cái giây phút giáng chức của Dreyfus, tư tưởng về sự bài trừ vĩnh viễn dân tộc ông xuyên qua ngực ông như một nhát dao găm. Nếu như sự chia lìa không sao tránh khỏi, ông tự nhủ, vậy này! Hãy làm sao cho nó là triệt để! Nếu như sự sỉ nhục bao giờ cũng và luôn luôn là số phận của chúng ta, ta hãy trả lời bằng lòng kiêu hãnh. Nếu như chúng ta đau khổ vì không có tổ quốc, chúng ta hãy xây dựng cho bản thân chúng ta một tổ quốc! Thế là từ đó ông cho in tập Quốc gia Do Thái của mình, trong đó ông tuyên bố rằng tất cả mọi sự đồng hóa, mọi hy vọng vào sự khoan dung hoàn toàn, là không thể có với dân tộc Do Thái. Vậy dân tộc đó phải xây dựng tổ quốc mới của mình, tổ quốc riêng của mình trong cái nôi xa xưa của giống nòi, ở Palestine.


Tôi còn đang ở trường trung học khi cái tập sách súc tích đó xuất hiện, nó có sức mạnh đi sâu vào như một cái chêm bằng thép, nhưng tôi còn nhớ rõ sự ngơ ngác chung và nỗi tức giận của giới tư sản Do Thái ở Vienne. Chẳng biết cái con ruồi nào, họ nói một cách bực bội, đã châm chọc cái ông nhà văn đến là thông minh, thông thái và trí tuệ này? Ông ta viết ra những điều ngu ngốc gì thế? Tại sao chúng ta lại đi Palestine? Ngôn ngữ của chúng ta, chính là tiếng Đức và đâu có phải tiếng Hébreu, tổ quốc chúng tà là nước Áo xinh đẹp. Số phận của chúng ta chẳng phải là đáng thèm muốn dưới triều Hoàng đế anh minh François Joseph đó hay sao? Chúng ta không có những nguồn của cải và một hoàn cảnh chắc chắn ư? Chúng ta không được hưởng quyền công dân như những người khác, chúng ta không phải là những người tư sản trung thành đã lập nghiệp một cách vững chắc ở thành phố Vienne yêu dấu này hay sao? Và có phải chúng ta không sống trong một thời kỳ tiến bộ nó sẽ thủ tiêu trong vài lễ chuộc tội (năm năm một lần ở La Mã) tất cả những thành kiến về đức tin hay sao? Tại sao hắn ta, phát biểu với danh nghĩa người Do Thái và muốn phục vụ Do Thái giáo, hắn lại cung cấp vũ khí cho kẻ thù tồi tệ nhất của chúng ta và tìm cách chia rẽ chúng ta, trong lúc mỗi ngày một gắn bó chúng ta chặt chẽ hơn và thân thiết hơn với xã hội Đức? Những pháp chủ sôi nổi trên các bục giảng của họ, ông giám đốc tờ Newe Freie Presse cấm nêu tên chủ nghĩa Xion (Do Thái tự trị) trong tờ báo tiến bộ của mình. Vị thersite (chủ soái) của văn học Vienne, bậc thầy của sự giễu cợt cay độc, Karl Kraus, viết một tập mỏng Một vương miện cho Xion, và khi Théodore Herzl xuất hiện ở nhà hát, người ta xì xào bằng giọng chế giễu trong tất cả các hàng ghế: "Bệ hạ đã vào!".


Thoạt tiên Herzl có thể cảm thấy bị hiểu lầm; Vienne mà đã từ nhiều năm nay ông là người được ưa chuộng và ở đó ông tin rằng được yên ổn nhất, đã ruồng bỏ ông và giễu cợt ông. Nhưng sự đáp ứng đến với ông từ nơi khác, nó nổ ra như một tiếng sấm, thật đột ngột, chất chứa một khối đam mê và một sự ngây ngất đến mức ông thấy gần như khiếp sợ đã đánh thức dậy trong thế giới, với vài chục trang, một phong trào mạnh như thế khiến ông cảm thấy bị chìm ngập. Chắc hẳn sự đáp ứng đó không đến với từ dân Do Thái phương Tây, từ dân tư sản được sống đầy đủ tiện nghi và có những vị trí tuyệt vời, nhưng đến từ những khối quần chúng rộng lứn của phương Đông, từ những người vô sản ở những khu biệt cư tại Galixie, Ba Lan và nước Nga. Không ngờ mà Herzl, với tập sách mỏng của mình, đã làm cháy bùng lên cái hạt nhân đó của Do Thái giáo, nó âm ỉ từ dưới đám tro đất khách quê người, giấc mộng Chúa Cứu thế ngàn năm, lời hứa được các thánh kinh xác nhận về một cuộc trở lại trong vùng đất chọn - lời hứa đó và đồng thời xác tín tôn giáo chỉ riêng nó còn mang lại một ý nghĩa cho cuộc đời của hàng triệu con người bị chà đạp và nô dịch. Luôn luôn, khi một trong hai nghìn năm ròng rã phân ly, tâm hồn dân tộc lại rung lên trong sâu thẳm, nhưng chưa bao giờ với một sức mạnh đến thế, một sự vang động đến thế. Với vài chục trang, một người duy nhất đã tạo nên một sự thống nhất của cả một đám người phân tán và chia rẽ.


Khoảnh khắc đầu tiên đó, khi mà tư tưởng của ông còn mang hình thức mơ hồ của một giấc mơ, phải là thời khắc hạnh phúc nhất trong cuộc đời ngắn ngủi của Herzl. Ngay khi ông bắt đầu định cho hành động của mình những mục đích rõ rệt trong khung cảnh thực, liên kết những sức mạnh hiện có, ông đã phải thừa nhận rằng dân tộc đã trở nên rời rạc phân tán trong các quốc gia các số phận hết sức khác nhau: chỗ này những người Do Thái sùng tín, chỗ kia những nhà tư tưởng tự do, chỗ này những người Do Thái xã hội chủ nghĩa, chỗ kia những người Do Thái tư bản chủ nghĩa, đang lớn tiếng công kích nhau, người này chống người khác trong đủ mọi ngôn ngữ, và tất cả được chuẩn bị rất ít cho sự phục tùng một quyền lực trung ương. Vào năm 1901, khi tôi gặp ông lần đầu, ông đang giữa cuộc chiến và có lẽ ông cũng đang đấu tranh với bản thân mình; ông còn chưa đủ tin vào thắng lợi để từ bỏ vị trí nuôi sống ông, bản thân ông và gia đình. Ông còn phải chia sẻ giữa công việc ti tiện của nhà báo và sứ mệnh nó là cuộc đời thực của ông. Và vẫn còn là Théodore Herzl, biên tập viên mục tiểu phẩm, đón tiếp tôi.


*


*                       *


Herzl đứng lên chào tôi, và tôi cảm thấy ngay rằng lời chế giễu người ta nhắm vào ông "Vua Xion" đánh gần trúng; ông thật sự có dáng vương giả với vầng trán lớn lồ lộ, các đường nét thuần khiết, bộ râu dài cha cố màu đen gần như biếc xanh, cặp mắt u sầu màu nâu sẫm. Cử chỉ khoáng đạt, hơi có tính chất sân khấu, nhưng ở ông, chúng không có vẻ kiểu cách, bởi chúng phụ thuộc vào vẻ quý phái tự nhiên, và ông chẳng cần có đặc điểm đó mới thành uy nghi đối với tôi. Ngay cả trước cái bàn giấy cũ của ông nơi chất đầy giấy tờ, trong cái phòng biên tập nhỏ xíu có duy nhất một cửa sổ đó, ông vẫn gây nên ấn tượng là một tù trưởng Ả Rập, một chiếc áo choàng burnous trắng và rộng lùng thùng trên người ông sẽ cũng tự nhiên như chiếc áo đuôi tôm đen cắt may cẩn thận theo mẫu của Paris. Sau một im lặng ngắn được sắp đặt cố ý - ông thích những tác động nho nhỏ đó, như về sau tôi thường nhận thấy, và những điều này chắc ông đã quan sát ở Nhà hát Thành phố - ông bắt tay tôi với một sự hạ cố không phải thiếu khoan dung. Ông chỉ cho tôi một chiếc ghế cạnh ông và nói với tôi: "Tôi tin rằng đã đọc hoặc đã nghe tên anh đâu đó. Những bài thư, có đúng không?".


Tôi đồng ý. Ông ta ngả mình về phía sau: "Vậy anh mang gì đến cho tôi?".


Tôi giải thích với ông ta rằng tôi rất muốn nộp cho ông một sáng tác nhỏ bằng văn xuôi và tôi đưa tập bản thảo cho ông. Ông ta nhìn tựa đề, lật lới trang cuối để ước lượng phạm vi của bài viết, rồi ông ngồi lọt thỏm vào ghế bành. Và tôi hết sức ngạc nhiên (tôi không ngờ tới điều này) tôi quan sát thấy ông ta khởi sự đọc bản thảo của tôi. Ông đọc chậm rãi không ngước mắt, lần lượt xếp trang vừa đọc xong xuống dưới các trang khác. Khi đọc xong trang cuối cùng, ông thong thả gấp bản thảo lại, luồn vào trong một chiếc phong bì với đủ mọi kiểu cách và vẫn không hề nhìn tôi, viết nguệch ngoạc một lời chú bằng bút chì xanh. Chỉ đến lúc đó, sau khi để tôi khá lâu trong tình trạng lo lắng bởi những thao tác bí hiểm của ông, ông mới ngước lên tôi cái nhìn nặng nề và rầu rĩ, nói với tôi một vẻ long trọng chậm chạp và có cân nhắc: "Tôi lấy làm vui mừng có thể báo tin cho anh rằng bài viết hay của anh đã được chấp nhận cho mục tiểu phẩm của tờ Newe Freie Presse".


Cứ như thế Napoléon trên trận địa gắn lên ngực viên trung sĩ trẻ tấm huân chương Bắc đẩu bội tinh.


Điều này tự bản thân nó có thể là một tình tiết nhỏ không quan trọng. Nhưng phải là người Vienne và người Vienne của cái thế hệ đó để hiểu rõ cái ân huệ ấy biểu thị đối với tôi một sự thăng tiến bất ngờ như thế nào. Tôi được đề bạt nhanh chóng như vậy vào một vị trí đáng ao ước ở tuổi mười chín, và Théodore Herzl ngay từ cuộc gặp gỡ đầu tiên ấy bao giờ cũng tỏ ra với tôi một thiện chí thật đặc biệt; ông dùng cơ hội đầu tiên có được để viết trong một bài của mình rằng không nên tin vào một sự suy thoái của nghệ thuật Vienne. Ngược lại bây giờ đã có, bên cạnh Hofmannsthal cả một đội ngũ những tài năng trẻ, trong đó nhiều người đầy triển vọng và ông nêu tên tôi lên hàng đầu. Bao giờ tôi cũng cảm thấy như một sự ưu đãi hoàn toàn đặc biệt, việc một người nổi tiếng đến như Théodore Herzl đã là người đầu tiên công khai tuyên bố ủng hộ tôi ở một chỗ có địa vị cao như thế và ở đó ông gánh toàn bộ trách nhiệm về mình, và đối với tôi, một điều gay cấn là tỏ ra vô ơn không thể tham gia vào phong trào Xiônit của ông với tư cách là cộng tác viên tích cực thậm chí là người chỉ huy bên cạnh ông như ông mong đợi.


Nhưng tôi đã không gắn bó chặt chẽ với ông được, điều làm tôi băn khoăn trước hết đó là một sự thiếu tôn trọng nào đó, ngày nay khó có thể hình dung, mà những người tán đồng một cách thành thực với chủ nghĩa của Herzl biểu lộ với con người ông. Những người phương Đông trách ông là không hiểu thế giới người Do Thái, không hiểu gì về phong tục của họ. Những nhà kinh tế coi ông như một người viết truyện đăng tải từng kỳ trên báo, mỗi người có những lời trách móc riêng và không phải bao giờ họ cũng diễn đạt những lời đó theo cách lịch sự nhất. Tôi biết rằng lúc đó những người tuyệt đối tận tụy và nhất là những người trẻ tuổi lẽ ra đã có thể có ích biết bao nhiêu cho Herzl, ông ta cần họ biết bao nhiêu, và thái độ bắt bẻ và càu nhàu của sự đối lập triền miền đó, việc thiếu sự phục tùng trung thực và thân tình biểu hiện trong tổ chức đó, đã làm cho tôi xa cách phong trào, mà tôi tò mò tìm hiểu duy chỉ vì thiện cảm của tôi đối với Herzl. Một hôm khi chúng tôi nói về đề tài đó, tôi thú nhận thẳng thắn với ông nỗi bực mình của tôi thấy quá ít kỷ luật trong những hàng ngũ bè bạn của ông. Ông mỉm cười một cách hơi chua chát và nói với tôi: "Đừng quên rằng từ nhiều thế kỷ chúng ta đã quen chơi với các vấn đề, tranh cãi về các ý tưởng. Người Do Thái chúng ta từ hai nghìn năm lịch sử chưa có kinh nghiệm gì về những hành động thực tiễn. Cần phải học tập cái lòng tận tụy hoàn hảo đó, và bản thân tôi, tôi còn chưa học được, bởi lúc nào tôi cũng viết các bài phê bình khi có dịp, tôi vẫn là biên tập viên mục tiểu phẩm của tờ New Freie Presse, trong lúc lẽ ra, bổn phận của tôi là không được có một tư tưởng nào ngoài một tư tưởng duy nhất, không được viết một dòng nào trên giấy vì một sự nghiệp nào khác với sự nghiệp của tôi. Nhưng tôi đang ở trên đường tự sửa chữa, và tôi muốn tự bản thân học lấy sự tận tâm hoàn toàn, có lẽ những người khác cũng sẽ học cùng tôi".


Tôi nhớ rằng những lời nói đó gây cho tôi một ấn tượng sâu sắc, bởi vì chúng tôi không hiểu rằng Herzl đã trì hoãn lâu đến thế quyết định của ông từ bỏ vị trí của mình ở tờ Newe Freie Presse; chúng tôi nghĩ đó là vì gia đình ông. Mãi sau mọi người mới biết rằng hoàn toàn không phải như vậy và chính ông đã hy sinh ngay cả tài sản cá nhân cho sự nghiệp. Và ông đã đau khổ bao nhiêu về sự xung đột nội tâm này, không phải riêng cuộc trò chuyện vừa nêu tiết lộ điều đó với tôi, mà nhiều trang nhật ký riêng tư của ông cũng chứng tỏ điều ấy.


Tôi còn gặp ông khá nhiều lần, nhưng trong tất cả những cuộc hội ngộ của chúng tôi, tôi nhớ lại chỉ một cuộc tỏ ra quan trọng với tôi: lần gặp đó khiến tôi không sao quên được, có thể vì nó là lần cuối cùng. Tôi đã lưu lại ở ngoại quốc, chỉ liên hệ với Vienne qua thư từ, thế rồi một hôm tôi gặp ông ở Stadtpark. Hiển nhiên là ông từ nơi biên tập trở về, ông bước chậm chạp, hơi lom khom và nặng nề, không còn là bước chân thoăn thoắt nữa. Tôi lễ phép chào ông và muốn vượt qua, nhưng ông đứng thẳng lên một cách đột ngột và chìa bàn tay ra đến với tôi:


"Vì sao anh lại lẩn tránh? Anh không cần phải làm như vậy".


Ông khen tôi là đã thường xuyên chạy ra nước ngoài:


"Đó là con đường duy nhất của chúng ta. - Ông nói - Tất cả những gì tôi biết đều học được ở nước ngoài. Chỉ có ở đó người ta mới quen dần việc xem xét sự vật cao hơn một chút. Tôi quả quyết rằng tại đây không bao giờ tôi có cái can đảm của quan niệm đầu tiên ấy, người ta sẽ bóp nghẹt nó, trong khi nó còn đang nứt mầm và mọc lên. Nhưng nhờ Trời, khi tôi mang nó về đây, tất cả đã chín, và họ không thể làm gì khác hơn là thọc gậy bánh xe".


Lúc đó ông nói về Vienne với nhiều cay đắng; chính tại đây ông đã gặp sự chống đối mạnh nhất, và nếu những sự thúc đẩy mới không đến với ông từ bên ngoài, chủ yếu là từ phương Đông và cả từ châu Mỹ, ông đã phải thấm mệt.


"Tóm lại, ông nói, khuyết điểm của tôi là đã khởi đầu quá chậm. Victor Adler đã cầm đầu Đảng Xã hội năm ba mươi tuổi, trong những năm đẹp nhất, những năm thật sự chiến đấu của ông ta và tôi không muốn nói đến những tên tuổi lớn trong lịch sử. Nếu anh biết tôi đã đau khổ xiết bao khi nghĩ đến những năm đã mất đi và không sớm bắt tay vào nhiệm vụ của mình. Nếu sức khỏe tôi cũng vững mạnh như ý chí kiên quyết của tôi, tất cả sẽ tốt đẹp hơn, nhưng người ta không chuộc lại được những năm mình đã để trôi qua".


Tôi còn tiễn ông một quãng đường dài, đến tận cửa nhà ông. Ông dừng lại chìa tay cho tôi và nói:


"Tại sao anh không đến nhà tôi? Chưa bao giờ anh đến nhà thăm tôi. Hãy gọi điện cho tôi, tôi sẽ biết tự sắp xếp giờ rảnh".


Tôi hứa điều đó với ông, và rất quyết tâm không giữ lời hứa, bởi vì tôi càng yêu một con người bao nhiêu thì càng quý trọng thời gian của họ bấy nhiêu.


Tuy nhiên tôi đã phải đến nhà ông ít tháng sau cuộc gặp đó. Bệnh tật khi ấy đã bắt đầu làm ông suy yếu, đã đột ngột quật ngã ông và tôi chỉ có thể tiễn ông tới nghĩa trang. Đó là một ngày khác thường, một ngày tháng bảy sẽ trở nên không thể nào quên với tất cả những ai đã sống ngày đó. Bởi bỗng nhiên tràn ngập ở tất cả các nhà ga, kéo đến bằng tất cả các chuyến tàu ban ngày và ban đêm, những con người từ tất cả các nước và từ tất cả các Nhà nước, những người Do Thái phương Tây, phương Đông, người Nga, người Thổ; từ tất cả những tỉnh lẻ và những thành phố nhỏ, họ đột nhiên kéo đến như một trận cuồng phong, và nỗi kinh hoàng mà tin tức đem đến với họ tự biểu lộ trên khuôn mặt họ; chưa bao giờ người ta cảm thấy rõ hơn những gì mà những tiếng ca cẩm và những sự tranh cãi đã làm cho không nhận thấy - rằng chính thủ lĩnh của một phong trào lớn đang được đem chôn ở đây. Đoàn người kéo dài bất tận. Bỗng chốc ở Vienne người ta nhận ra rằng không phải chỉ là một nhà văn và một thi sĩ thứ yếu đã chết, mà một trong những nhà sáng lập tư tưởng mà trong một nước, trong một dân tộc, chỉ nổi dậy một cách vinh quang từ khoảng cách nhau rất dài. Ở nghĩa trang xảy ra một sự náo động: quá nhiều người kéo nhau đến cạnh một quan tài, khóc, kêu, gào trong sự bùng nổ của nỗi thất vọng man dại, đó là một cảnh dữ dội, một cơn cuồng nộ; mọi trật tự bị phá vỡ bởi một kiểu tang chế sơ khai và xuất thân mà tôi chưa bao giờ nhìn thấy và không bao giờ thấy lại vào dịp một đám tang. Và tôi có thể đo được lần đầu tiên, qua nỗi đau đớn phi thường nổ ra trong trái tim của cả một dân tộc gồm hàng triệu con người, tổng số những đam mê và hy vọng mà một con người đơn độc đã truyền bá trên thế giới bởi sức mạnh tư tưởng của mình.


*


Ý nghĩa thực sự của việc long trọng tiếp nhận tôi vào mục tiểu phẩm tờ Newe Freie Presse biểu hiện ra đối với tôi trong đời tư. Nhờ việc đó tôi đạt được một sự yên ổn không ngờ trong lòng gia đình tôi. Cha mẹ tôi ít quan tâm tới văn chương và không có ý định phán xét về việc đó; đối với họ cũng như đối với tất cả giới tư sản Vienne, cái gì được ca ngợi trong tờ Newe Freie Presse đều đáng kính, cái gì mà báo này không biết đến hoặc chê bai chẳng đáng bận tâm. Những gì được viết trong mục "Tiểu phẩm" đối với họ tỏ ra được bảo đảm bởi một quyền lực cao nhất, bởi vì người phán xét ở đó buộc người ta phải kính trọng duy nhất do địa vị riêng của mình. Và bây giờ, thử hình dung một gia đình như thế, hàng ngày ném cái nhìn đầy chờ đợi và tôn sùng lên trang đầu tờ báo hàng ngày của họ, và vào một buổi sáng nào đó, phát hiện thấy cái chuyện không thể tin được là chàng trai trẻ mười chín tuổi, ít quy củ trong những thói quen của cậu ta đang ngồi tại bàn, ở trường học không hề tỏ ra xuất sắc mà họ vẫn cứ lấy việc cậu viết những dòng nguệch ngoạc là trò vui đùa "vô tội" (dẫu sao cũng còn tốt hơn việc đánh bài hoặc ve vãn các cô gái nhẹ dạ) lại có thể cất tiếng nói ở nơi này, cái nơi mang biết bao trách nhiệm, giữa những người danh tiếng và từng trải, và phát biểu ở đó những quan điểm của mình (mà ở nhà cho tới lúc ấy chẳng coi trọng lắm). Giá tôi có viết những bài thơ hay nhất của Keats, của Hưderlin hoặc của Shelley, điều đó cũng không gây nên một cuộc xoay chuyển như thế trong tất cả mọi người quanh tôi; khi tôi đi nhà hát người ta chỉ cho nhau anh chàng non trẻ bí ẩn đã thâm nhập một cách huyền diệu vào mảnh đất rào kín của những vị kỳ cựu và những bậc đáng kính. Và vì tôi xuất hiện thường xuyên và hầu như đều đặn trong mục tiểu phẩm, tôi có ngay nguy cơ trở thành một nhân vật địa phương rất trọng yếu, nhưng tôi đã may mắn thoát khá sớm khỏi mối nguy hiểm đó, bằng cách thông báo với các vị phụ mẫu ngỡ ngàng vào một buổi sáng rằng tôi sẽ đến ở Berlin để học kỳ sau. Và gia đình tôi quá tôn trọng tôi (hay là đúng hơn tôn trọng tờ Newe Freie Presse, đã cho tôi nấp bóng may mắn của nó) để không đồng ý với điều mong ước của tôi.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
23.
24.
25.
26.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Lâu đài - Franz Kafka 21.08.2019
Sông Côn mùa lũ - Nguyễn Mộng Giác 21.08.2019
Trăm năm cô đơn - G. G. Marquez 20.08.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 20.08.2019
Gia đình Buddenbrook - Thomas Mann 19.08.2019
Đêm thánh nhân - Nguyễn Đình Chính 19.08.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.08.2019
Đẻ sách - Đỗ Quyên 19.08.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 16.08.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 13.08.2019
xem thêm »