tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 29849605
23.03.2012
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi (20)

 NGUYỄN ĐÌNH THI NGƯỜI ĐA TÀI CỦA THẾ KỶ


Nguyễn Trọng Tạo


Tôi có may mắn được tiếp xúc với cả ba "nghệ sỹ đa tài" của ta, đó là Văn Cao, Trịnh Công Sơn và Nguyễn Đình Thi, những con người mà tài năng "cầm, kỳ, thi, hoạ" đều rất rực rỡ, nhưng Văn Cao và Trịnh Công Sơn thì rất dễ thân gần, còn Nguyễn Đình Thi thì luôn có một khoảng cách. Mặc dù từ sau kháng chiến chống Mỹ cứu nước, tôi chơi với con trai ông là nhà văn Nguyễn Đình Chính rồi giới thiệu con gái ông với anh bạn lính của tôi là nhà văn Đào Thắng, qua lại nhà ông cũng nhiều và cũng nhiều lần trò chuyện cùng ông, nhưng đối với ông, tôi vẫn có cảm giác là "kính nhi viễn chi". Bởi tôi luôn nghĩ rằng, Nguyễn Đình Thi là một "người khổng lồ" của văn nghệ, ông không chỉ là một nhà văn, nhà thơ, nhạc sỹ,... đầy tài năng mà còn là một nhà lãnh đạo, một "ông quan" chót vót trên chức vụ cao nhất của Hội Nhà văn ngót ba chục năm liền. Tuy vậy, những lần trò chuyện cùng ông, tôi rất cảm phục thái độ lịch lãm, trí uyên bác và một tình cảm đặc biệt ưu ái. Ông thường nhắc chúng tôi nên học một ngoại ngữ, bởi theo ông, có ngoại ngữ thì sẽ đọc thế giới bằng một tư duy khác, rất thú vị. Tôi còn nhớ lần đọc cho ông nghe bài thơ mới có câu: "Nhìn mặt trời chợt nhớ tuổi ba mươi - bóng đổ xuống chân mình - cái bóng thời tuổi trẻ" được ông khen và khích lệ, nhưng ông nói rằng, nếu Tạo biết tiếng Pháp thì chắc Tạo sẽ thấy rằng từ lâu, Rimbô cũng đã có một bài thơ về cái bóng trưa như thế. Tôi rất muốn biết bài thơ đó của Rimbô, nhưng hơn hai mươi năm trôi qua, vẫn chỉ là một ước muốn.


Cũng từ những lần tiếp xúc như vậy mà tôi biết Nguyễn Đình Thi đã viết sách triết học từ năm mười tám tuổi (viết về triết học duy lý của Kăng và Đềcác). Và cũng vào dịp đó, sau khi nghe bài Tiến quân ca của Văn Cao vừa viết xong mùa đông 1944, Nguyễn Đình Thi đã "thi đua" với Văn Cao sáng tác một bài hát hào hùng như thế. Thế là bài Diệt phát xít ra đời. Cả hai bài hát ấy đều được hát vang trong cuộc Cách mạng tháng Tám 1945 lịch sử và đều được đề cử để chọn Quốc ca của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà năm 1946. Tuy bài Diệt phát xít không được chọn làm Quốc ca, nhưng từ bấy đến nay nó trở thành nhạc hiệu của Đài Tiếng nói Việt Nam. Mỗi khi nghe bài hát ấy, con người Việt Nam như sục sôi lên một tinh thần yêu nước không gì ngăn cản được.


Mau mau mau! Vai kề vai!


Không phân già, trẻ, trai, hay gái


Vác súng gươm, ta đi lên


Ta tiến lên ta diệt quân thù


Việt Nam! Việt Nam! Việt Nam!


Ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm!


Việt Nam! Việt Nam muôn năm...


Sau ngày toàn quốc kháng chiến, Nguyễn Đình Thi lại cho ra đời một bản trường ca bằng âm thanh bất hủ, đấy là bài Người Hà Nội. Theo ông kể thì chính ông đã chứng kiến cuộc chiến đấu vô cùng oanh liệt của Trung đoàn Thủ đô và nhân dân Hà Nội bảo vệ "trái tim" của nước Việt Nam mới. Cái cảm xúc mãnh liệt ấy đã theo ông trên đường lên chiến khu Việt Bắc, và thật may mắn một chiều dừng chân vớ được chiếc đàn dương cầm của một người tản cư bỏ lại dọc đường, thế là những giai điệu đầu tiên đã vang lên:


Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây


Đây lắng hồn sông núi ngàn năm


Đây Đông Đô, Đây Thăng long! Đây Hà Nội!


Hà Nội mến yêu


Hà Nội cháy, khói lửa ngập trời


Hà Nội vùng đứng lên


Sông Hồng reo


Hà Nội vùng đứng lên...


Tôi đã kinh ngạc về tài năng âm nhạc với một tâm hồn dạt dào và hoành tráng của ông khi nghe bài hát này. Người Hà Nội đã mở ra một tầm vóc mới cho âm nhạc Việt Nam kháng chiến. Và có lẽ cũng vì sự thành công đặc biệt của nó mà kích động Văn Cao âm thầm "thi đua" với Nguyễn Đình Thi để năm sau (1948) cho ra đời trường ca Sông Lô đồ sộ cùng với Du kích sông Thao vạm vỡ của Đỗ Nhuận. Ba dòng sông âm thanh ấy (sông Hồng, sông Lô và sông Thao) là ba đỉnh tam giác không gì thay thế được của âm nhạc Việt Nam thời kháng chiến chống thực dân Pháp hào hùng và oanh liệt, nó là những tượng đài âm thanh vững chắc trong lịch sử dân tộc. Tôi đã nghe nhiều ca sỹ hát trường ca, nhưng ở Hà Nội có hai người hát mà bao giờ cũng làm tôi xúc động khó tả, đó là nhà thơ Trịnh Thanh Sơn hát Sông Lô và nhà văn Hoà Vang hát Người Hà Nội. Mới đây trong bữa tiệc sinh nhật Nguyễn Đình Chính, nhà văn Hoà Vang đã hát vang Người Hà Nội cho Nguyễn Đình Thi nghe qua điện thoại khi ông đang ốm, nằm ở nhà riêng. Liều thuốc tinh thần ấy quả làm cho ông đỡ bệnh.


Có lần tôi hỏi về những bài hát khác của ông, nhưng ông chỉ mỉm cười và thú nhận rằng ông có viết một số bài hát khác nhưng thấy nó chẳng là gì so với hai bài đã quá nổi tiếng kia, nên ông không công bố. Nhưng ông có hai bài thơ được phổ nhạc và trở thành hai bài hát nổi tiếng, đấy là bài Nhớ và bài Lá đỏ. Có thể nói Nhớ là một trong những bài thơ tình hay nhất của thơ thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Đấy là bài thơ ông viết tặng Mađơlen Riphô, người nữ phóng viên Pháp mà Nadim Hitmet đã giới thiệu cho ông tại Liên hoan Thanh niên sinh viên thế giới Berlin, sau khi vợ ông qua đời để lại ba đứa con côi (1951). Bài thơ trở thành một bản tình ca qua âm nhạc của Hoàng Vân:


Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh


Soi sáng đường chiến sỹ giữa đèo mây


Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh


Sưởi ấm lòng chiến sỹ giữa ngàn cây


Anh yêu em như anh yêu đất nước


Vất vả đau thương tươi thắm vô ngần


Anh nhớ em mỗi bước đường anh bước


Mỗi tối anh nằm, mỗi bữa anh ăn.


 


Ngôi sao trong đêm không bao giờ tắt


Chúng ta yêu nhau chiến đấu suốt đời


Ngọn lửa trong rừng bập bùng đỏ rực


Chúng ta yêu nhau kiêu hãnh làm người


Còn Lá đỏ là bài thơ ông viết trong một chuyến đi vào chiến trường Khu Bốn. Hình ảnh "em gái tiền phương" vai áo bạc choàng súng trường giữa Trường Sơn bụi nhoà trời lửa, cánh rừng ào ào lá đỏ đã tạc vào ông một hình tượng độc đáo và mang tính khái quát cao. Khi được Hoàng Hiệp phổ nhạc và nghệ sỹ Quốc Hương hát qua Đài Tiếng nói Việt Nam, thì hình ảnh ấy thực sự xúc động lòng người. Và quả nhiên nó đã được hát vang giữa Sài Gòn ngày giải phóng:


Chào em, em gái tiền phương


Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn!


Bây giờ những giai điệu của ông vẫn vang lên cùng với thơ văn ông trong cuộc sống vì dân vì nước, vì một nền văn nghệ cách mạng mà ông trọn đời dâng hiến. Từ giã cõi đời vào tuổi tám mươi, Nguyễn Đình Thi đã đi qua một thế kỷ đầy phong ba bão táp cùng dân tộc và cũng đầy vinh quang. Thế mà trong câu chuyện với tôi gần đây ở 51 Trần Hưng Đạo ông vẫn còn thật nhiều băn khoăn dang dở những ý định viết một cuốn tiểu thuyết lớn về Điện Biên Phủ thời kháng chiến chống thực dân Pháp. Và ông bỗng trầm buồn nói rằng, công việc quản lý suốt đời đã cướp mất nhiều dự định sáng tác tâm huyết của ông. Âu cũng là luật trời đã định vậy.


Vĩnh biệt ông, tôi bỗng thấy ông hiện lên trước mắt mình thật lớn, như một ngọn núi mỉm cười, như một dòng sông dạt dào sóng đỏ, chảy về phía chân trời, càng xa càng trong xanh.


 


Nguồn: Nguyễn Đình Thi - Cuộc đời và sự nghiệp, NXB. Hội Nhà văn, 2004


 


NGUYỄN ĐÌNH THI VÀ LỜI VĨNH BIỆT MÙA THU


Đặng Anh Đào


Đối với tôi, ấn tượng về Nguyễn Đình Thi gần như không phải là về một nhà văn, càng không phải là Vỡ bờ. Nguyễn Đình Thi với tôi, trước hết là những mảnh vỡ lấp lánh của ký ức về tuổi thơ, về Cánh mạng tháng Tám, về Nắng thu vàng, về những cơn mưa rào đột ngột chỉ có vào những năm 1945 - 1946 ở Hà Nội.


Tôi hát bài Diệt phát xít khi đường phố Hà Nội tràn ngập những lá cờ đỏ sao vàng, cờ to, cờ nhỏ cầm tay trong các đoàn biểu tình, mít tinh. Tôi gào lên: "Việt Nam, ôi đất Việt yêu dấu ngàn năm!" bởi vì khúc hát ấy được phóng to hết cỡ qua lồng ngực của đoàn người sôi sục, cùng với những cái loa phát thanh mới xuất hiện sau cách mạng. Bao giờ cũng thế, sau bài Diệt phát xít lập tức bài tiếp theo là Chiến sỹ Việt Nam. Rất lâu sau này tôi mới để ý đến tên và tác giả của bài hát, bài hát trước là của Nguyễn Đình Thi, bài sau là của Văn Cao. Còn bấy giờ, tôi hát như một cuộn băng, một CD bài nọ liền bài kia. Và rất ngạc nhiên khi biết hai bài hát ấy là của hai tác giả khác nhau! Để rồi tới bây giờ, phải lục mãi trí nhớ mới moi ra tên những bài hát ấy. Âu đó cũng là hạnh phúc của Nguyễn Đình Thi, của Văn Cao: Khúc ca của họ là cả một thời đại. Người ta từng phát hiện ra rằng, không gì đánh thức ký ức dậy mãnh liệt hơn là một câu hát, một mùi hương. Những bài hát trên khiến tôi thể hiện điều đó sâu sắc hơn ai hết.


Trong ngôi nhà số 32 Lý Thường Kiệt mà tôi từng nhắc đến nhiều lần trên buya-rô của ba tôi - ba tôi là một người lộn xộn hiếm thấy - vương vãi đầy những cuốn sách của Nguyễn Tuân bằng giấy lụa dó mới tặng năm 1945, tiểu thuyết Pháp giấy thơm phức, những bản nhạc in hai tên: Nhạc Lưu Hữu Phước - lời Huỳnh Văn Tiểng. Đó là những bài tương đối cổ điển mới in lại trong những ngày cách mạng. Có lẽ vậy, nên giấy in rất sang, tên bản nhạc in chữ dát kim nhũ lấp lánh. Có những bản còn tươi dòng không khí cách mạng, mới ra lò, những bản nhạc như Diệt phát xít thì in trên một nền giấy khiêm tốn hơn. Đấy là vào mùa thu của những năm 1945 - 1946.


Vậy mà theo một mẩu hồi ký của Nguyễn Đình Thi viết, nhân dịp kỷ niệm mười năm ba tôi mất thì vào năm 1943, lúc mới mười chín tuổi, Nguyễn Đình Thi "một buổi chiều (đã) tìm đến căn nhà ở phố nhỏ yên tĩnh, bên ven phía bắc hồ Trúc Bạch". Với tôi, thật đáng tiếc. Bây giờ tôi còn nhớ như in ngôi nhà 54A, ngõ Trúc Lạc của ba tôi lúc ấy, nhớ cả những ô cửa kính ánh sáng chiếu vào lấp lánh như kính vạn hoa, vậy mà bấy giờ tôi không hề biết rằng Nguyễn Đình Thi (lúc ấy đã xuất bản cuốn triết học Descartes) đã tới nhà mình một chiều nào đó. Nhưng ký ức của nhà văn ngẫu nhiên đã ghi lại một nét rất nhỏ về ngôi nhà, nhưng thật trùng hợp với ký ức của tôi, của một đứa trẻ chín tuổi. Ông đã ghi lại sau này, vào năm 1992: "Ngày nay, gần 50 năm đã qua, nghĩ lại về cuộc đời ấy, tôi chỉ còn nhớ được phảng phất như có một vệt nắng vàng nhạt qua cửa sổ, cùng nghe những lời từ tốn điểm nhiều nụ cười của anh Mai hôm ấy, khi anh trao đổi nhận xét với tôi về một số sách báo đương thời"... Sau cách mạng, cũng như nhiều văn nghệ sỹ khác, gương mặt trẻ trung và tươi cười của họ xuất hiện ở ngôi nhà số 32 phố Lý Thường Kiệt của ba tôi. Hỡi ôi, một đứa trẻ như tôi bấy giờ thiếu gì chuyện vui, để quan tâm tới họ.


Thế mà vào những ngày sau Cách mạng tháng Tám 1945, mới hai mươi mốt tuổi, Nguyễn Đình Thi đã là một nhân vật đầy sức cuốn hút của cách mạng. Chị Hạnh, chị thứ hai của tôi, gần đây còn ghi lại một hình ảnh có một không hai của Nguyễn Đình Thi vào ngày kỷ niệm một năm Cách mạng tháng Tám thành công, ngày 19-8-1946. Hôm ấy nắng rực rỡ, trời đang trong xanh, đột nhiên mưa rào ập xuống. Nguyễn Đình Thi trên chiếc xe Jeep chạy xuyên qua đám người biểu tình tuần hành, mặc cho mưa rơi. Còn tôi, tôi ghép lại thành hình ảnh của tôi. Lúc ấy, có một công thức - đó là bao giờ mít tinh xong, thì cũng có tuyên bố "mít tinh biến thành biểu tình tuần hành". Vậy là cuộc vui còn kéo dài! Mặc cho mưa ập xuống, bọn nhi đồng chúng tôi chỉ có cái mũ ca lô vải, cũng chạy trong hàng ngũ hô khẩu hiệu và gào lên những bài hành khúc. Hồi ấy khí hậu tốt hơn bây giờ, không có cái kiểu mưa rào mà nóng hầm hập. Chúng tôi chẳng ai bị ốm vì dầm mưa sau một ngày nắng... Hẳn Nguyễn Đình Thi là một trong những người cầm chịch đứng trên ô tô giơ nắm đấm hô "Cách mạng thành công!" và bắt nhịp cho các bài hát. Lúc bấy giờ Tiến quân ca chưa thành bài quốc ca bắt mọi người đứng nghiêm.


Tôi đã được nhìn thấy Nguyễn Đình Thi cận cảnh và phóng to, vào một ngày nào đó sau Cách mạng tháng Tám. Một đứa trẻ như tôi đâu có quan tâm rằng anh là một nhân vật nổi bật của cuộc cách mạng trẻ trung, và tất nhiên không thể dự đoán được rằng anh sẽ là một tên tuổi văn chương. Ấy vậy mà tôi vẫn nhớ lần gặp ấy. Bấy giờ tôi thích vẽ, có thể coi máu họa sỹ (bất thành) đã khiến tôi từ bé rất thích cái đẹp và hay để ý đến người đẹp. Không hiểu sao hôm ấy tôi lọt vào ngồi ở giảng đường đại học Y (nay ở phố Lê Thái Tổ) nghe diễn thuyết! Diễn giả là một thanh niên cao lớn hơn tầm thước của người đàn ông Việt Nam thông thường, râu quai nón, hàm én, mày ngài, răng bóng lấp lánh một nụ cười và nhất là đôi mắt... Đôi mắt đen xanh và sáng màu của những đêm đẹp trời có sao báo hiệu ngày mai sẽ nắng. Diễn giả nói những lời bốc lửa bằng một giọng trầm và ấm lạ thường. Trong lúc hăng say, mái tóc đen xòa xuống trán, anh lại hất lên bằng cử chỉ rất điệu (như chị Hạnh đã nhận xét). Song với tôi, không hề có gì. Mái tóc ấy giúp tôi hiểu thêm những câu thơ của Aragon trong bài Cuộc đời này sẽ trôi qua, bài thơ mà tôi sẽ (đã) dịch, hơn năm mươi năm sau:


"Khi còn trẻ người ta nói với tôi rằng rồi đây sẽ tới ngày các thiên thần chiến thắng.


A tôi đã tin, tôi đã tin biết mấy rồi nay tôi bỗng hóa già nua.


Thời tuổi trẻ của con người giống như mái tóc xõa rơi bao giờ cũng che lấp mắt..."


Cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ. Nguyễn Đình Thi lại đến với tôi qua những bài thơ. Giản dị, nhưng có một cái gì là lạ. Tôi nhớ có ba lần ba tôi đã cho tôi xem một bài thơ viết tay (trong một cuốn sổ). Và như thường lệ đối với bài hát, đối với thơ, tôi cũng không nhớ tên bài, nhưng nhớ nhất vẫn là những câu đầu. Giờ đây, tôi chép lại bằng ký ức. Tôi nhớ lối bố trí những dòng chữ đen trên giấy trắng khá độc đáo đối với thời ấy:


Em


           Bóng nhỏ


                           Đường lầy


Và cả những câu sau (vẫn chép lại bằng ký ức, có thể có chỗ sai?):


Chúng ta như hai vì sao


Hai đầu chân trời lấp lánh


Trong không gian mênh mông xa nhau


 


Chiều chiều sáng lên ánh sáng


Không tắt bao giờ


Có những nhà phê bình có thể tìm thấy ở đây hơi hướng của màu sắc "lãng mạn cách mạng". Còn tôi, nó lại gắn với những ấn tượng riêng tư. Bởi hai bài thơ ở cuốn sổ mà tôi đã được đọc, có một tựa đề. Tên bài thơ tôi đã quên mất nhưng câu ghi nho nhỏ dưới tên bài thơ thì lại nhớ: "Tặng N". Các chị tôi chơi với người con gái tên N. ấy, vì năm 1945 chị ấy cùng ở một đội thiếu niên tiền phong. Chị N. hay bế đứa cháu nhỏ gọi bằng dì đến nhà tôi chơi, tên cháu là Nguyễn Bùi Trọng Lễ (tức Nguyễn Đình Lễ). Chị N. bấy giờ độ mười lăm, mười sáu, tóc để búp ăng lê, mặt dài và thanh. Nghe đâu chị ấy chết vì một cơn sốt rét rừng, những ngày đầu kháng chiến chống Pháp và bài thơ kia để khóc người thiếu nữ chết giữa tuổi hoa.


Nguyễn Đình Thi, với tôi, là nhạc, là thơ, là văn xuôi. Mỗi lần nhớ về Hà Nội trong những ngày tản cư chống Pháp, và sau này trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, dắt chiếc xe đạp lọc cọc đi dạy học ở nơi sơ tán, bỏ lại ngôi nhà và có khi là cả ba đứa con trông nom nhau, trong lòng tôi lại vang lên buồn bã:


Người ra đi đầu không ngoảnh lại


Sau lưng thềm nắng lá rơi đầy...


Sau này, tôi còn rất nhiều lần được nghe Nguyễn Đình Thi nói chuyện hoặc gặp lại ông ở ngôi nhà cuối cùng của ba tôi, phố Nguyễn Huy Tự. Song với tôi, Nguyễn Đình Thi, ấn tượng còn lại mãi mãi vẫn là ánh sáng của tuổi thơ, của cách mạng. Những gì tiếp sau đó dường như không bồi thêm một cái gì mới.


Tháng chạp năm 2002, ông đến dự lễ kỷ niệm 100 năm ngày sinh nhà văn Đặng Thai Mai. Ông lại nhắc tới kỷ niệm gặp gỡ ba tôi khi mới 19 tuổi, nhắc tới nụ cười của ba tôi. Giọng nói vẫn trầm và ấm, giản dị mà cảm động. Duy ánh nắng mùa thu rực rỡ trong ánh mắt đen này đã bạc đi. Còn đâu người thanh niên hai mươi mốt tuổi mùa thu ấy? Ai chống lại được sức mạnh của thời gian?


Nguyễn Đình Thi mất vì một căn bệnh giống của ba tôi. Vài hôm nay, trong cái nắng hầm hập của mùa hè Hà Nội, tự nhiên lại có những buổi trời gió, mưa rào loáng thoáng. Và rồi đây, mùa thu sẽ tới những Nguyễn Đình Thi đã vĩnh biệt mùa thu. Sẽ chỉ còn mùa thu vĩnh viễn của đất trời, của những bài thơ, những khúc hát chói nắng và sầm sập như trời đổ mưa của mùa thu Hà Nội, của Nguyễn Đình Thi.


21-4-2003


 


CÕI TĨNH MỊCH


TRONG THƠ NGUYỄN ĐÌNH THI


Đỗ Minh Tuấn


Thơ lãng mạn 1930 - 1945 chủ yếu là một nguồn mạch mới của cảm hứng trữ tình trào vọt ra từ một cái TÔI vừa phát lộ - quà tặng hấp dẫn của nền văn minh vật chất phương Tây. Ý thức về cái TÔI là nấc thang đầu tiên và cũng là nấc thang cuối cùng của con người duy lý ngông ngạo tách mình khỏi tự nhiên để bắt chước Thượng đế tạo ra một thế giới riêng kiêu hãnh và biệt lập. Ở những nấc thang đầu tiên, cái TÔI quyết liệt, hùng hồn và đầy ý chí tự tin tuyên bố sửa lại cái thế giới mà Thượng đế phác thảo ra. Ở nấc thang tột cùng, cái TÔI run rẩy trước hố thẳm ngăn cách nó với khát vọng, ảo tưởng và bầy đàn của nó, nó thấm thía cái dự cảm yếu đuối của Pascal thấy mình là cây sậy yếu ớt lẻ loi trước thế giới. Ở tận cùng của ý thức về bản ngã, nó run sợ, vừa muốn lui về sự buông thả tự nhiên theo kiểu thú vật, điên dại, vừa muốn nhảy vọt qua vực thẳm, làm một cú phiêu lưu vào cõi vô cùng bí mật như đứa con sà vào lòng mẹ thiên nhiên, dứt bỏ những ràng buộc duy lý.


Sau gần một thế kỷ tiếp xúc với văn minh phương Tây, con người Việt Nam mới được "ban tặng" ý thức về cái TÔI phát hiện ra một bản ngã bí ẩn và vô cùng nhạy cảm, nếm trải những cảm giác mới trào vọt từ cái TÔI vào các giác quan. Thơ mới là bãi tắm truồng của cái TÔI trong thời buổi ngột ngạt oi bức của chủ nghĩa thực dân. Trên bãi biển phóng khoáng này, cái TÔI đú đởn nô đùa, gào thét trước từng ngọn sóng với cái hân hoan cuồng dại của những con người được trút bỏ xiêm y, mũ mãng ngột ngạt của ràng buộc cộng đồng, của thánh thần, của cái TA. Từ Xuân Diệu tới Chế Lan Viên và Hàn Mạc Tử là cả một lịch sử cái TÔI co rút lại. Thơ họ khác nhau bởi sự bộc lộ cái TÔI ở các trình độ lịch sử khác nhau. Nhưng thơ họ có chung một màu sắc, đó là chất thơ của tư duy là chất thơ mang ý chí chủ thể, lúc nào cũng lăm lăm tới cái đích của mình, hoặc ồn ào áp đặt tình yêu và chính kiến, hoặc kêu gọi người đọc đồng cảm, đồng tình và rủ lòng thương. Đặc điểm của cái TÔI trữ tình trong thơ mới này, cái chất thơ của tư duy này là nó giống như một thứ axit cực mạnh ăn mòn, hoà tan tất cả chất liệu đời sống biến thành một dung dịch lỏng đơn sắc, hoặc như một thứ phẩm cực mạnh lây lan thẩm thấu nhuộm màu của nó vào tất cả các chi tiết, các chất liệu cuộc sống, thiên nhiên. Nó tạo nên tính chất chứng minh, lu loa và dài dòng phân giải. Những câu thơ mượt mà như ruộng mạ mướt xanh gió thổi dạt về một phía trông rất đơn điệu, một chiều, một màu. Chất thơ của toàn bộ nền thơ mới 1930 - 1945 chỉ hấp dẫn được các độc giả vị thành niên chưa chín muồi về cảm thụ thẩm mỹ, không thuyết phục được những độc giả lịch lãm, tinh tế, khao khát một chất thơ bí ẩn xuyên thấu cái TÔI.


Thơ ca cách mạng đã làm một đảo lộn về thi pháp, đưa chất thơ của cuộc đời, chất thép của tư tưởng thay chất thơ mùi mẫn của tư duy. Ruộng mạ thơ mướt xanh gió dạt về một phía được thay bằng rừng cây thơ, cành lá tua tủa hướng về nhiều phía trước cả những ngọn gió cảm xúc mạnh mẽ nhất. Chất liệu đời sống với sự bướng bỉnh hiều chiều của nó đã tràn vào thơ mang theo cái khí phách của cái TA và cái lù lù lặng câm của chính cuộc đời, của những chổi cùn, những rế rách, ổ rơm, cối gạo, anh lính trọc đầu, bà bủ, tiểu đội lái xe, những người hành khất và những cô gái điếm thay thế cho những biểu tượng mòn sáo và những lời biện giải véo von.


Thơ hiện đại bỏ qua sự phân tích, một nhánh của nó gần như trở lại với thơ cổ phương Đông với tất cả vẻ khách quan, hàm súc và vô tư. Chi tiết chọn lọc lẩy ra từ cuộc sống được thi sỹ tổ chức lại trong những mối liên hệ huyền bí, tinh vi đã dựng dậy trong người đọc những hiệu quả mới, dường như dâng lên từ một chiều sâu tâm thức chưa bao giờ chạm tới. Đó là hiệu quả của những chi tiết đời sống mang tính hiện tượng luận, tự nó hiển hiện ra như chính nó, không biện luận và cắt nghĩa, không bị lý trí lôi vào lập luận, không phải là một tín hiệu của một ý niệm tối cao theo kiểu Thượng đế Cơ đốc giáo hay ý niệm tuyệt đối của Hêghen.


Từ thơ mới đến thơ ca cách mạng là một sự biến đổi về chất trong cảm xúc, điểm nhìn và phương thức tư duy. Cái TÔI cuồng nhiệt đã được thay thế bằng cái TA thiêng liêng ồn ã, chất thơ của tư duy đã thay thế bằng chất thơ của đời thường, sự bộc bạch, biện giải dài dòng một chiều đã được thay thế bằng cái lặng câm đa diện của chi tiết đời sống, cảm xúc mượt mà đơn điệu được thay thế bằng cái bướng bỉnh nhiều chiều của hiện thực khách quan. Thơ ca cách mạng đã đạt tới một sắc thái thẩm mỹ độc đáo, phong phú, nhưng ở nhiều bài cụ thể vẫn còn vương vất sự giản đơn áp đặt của một kiểu cái TA ấu trĩ mang dáng dấp cái TÔI cộng đồng, cái TÔI tập thể nên đã mang theo cả cái ồn ào, phân giải độn với cái hàm súc có sắc thái hiện tượng luận của hiện thực khách quan. Nếu như trước đây trong thơ mới, cái TÔI là một thứ màu mạnh thẩm thấu hoen ố khắp mọi nguồn cảm hứng, mọi quan sát so sánh và liên tưởng, thì trong thơ cách mạng, cái TA chưa trưởng thành cũng có áp lực thẩm thấu như vậy - nó hệ thống hoá, duy lý hoá, công thức hoá và sơ lược hoá nhiều tác phẩm thơ ca tuy ở những tác phẩm thành công nó cũng có tác dụng của một công cụ cách mạng, mang bản chất thẩm mỹ của cái Hùng góp phần bồi dưỡng nhân cách khoẻ khoắn của một dân tộc khao khát độc lập, tự cường. Ở những tác phẩm sơ lược áp đặt, nó chưa đạt tới hiệu quả thẩm mỹ, mới chỉ dừng ở sự bộc lộ ý chí giản đơn. Sự tràn ngập của ý chí, đó là mặt giống nhau giữa thơ cách mạng và thơ mới. Nó mang theo cái phơi phới, lạc quan, hoành tráng, kiêu hùng và bất khuất, cái ý chí ồn ào của một thứ bản ngã cộng đồng, tôn giáo cộng đồng, làm hạn chế sức thuyết phục thẩm mỹ, sức thấm sâu, trầm lắng và chân thực của nhiều tác phẩm thơ ca.


Thơ Nguyễn Đình Thi xuất hiện như một quãng lặng trong sự chuyển tiếp giữa hai nền thơ, hai chương bản giao hưởng mà giai điệu chính là cái TÔI và cái TA. Cùng với thời gian, quãng lặng ấy ngân dài, hoà trong một bè trầm tao nhã của thơ ca cách mạng, ở trong bè trầm đó, người đọc tiếp xúc với một phía khác của người cách mạng - một thái độ khiêm nhường trước con người và trời đất, một cửa sổ mở ra cõi tịch của thiền sư. Thái độ trữ tình ấy là một tinh thần nhân văn, cố gắng vươn tới cái im lặng sâu thẳm của vũ trụ, nó đối trọng với cái ồn ào lên gân và tinh thần duy lý, duy ý chí. Ở bè trầm đó, vệt thơ mà Nguyễn Đình Thi tham gia đó có những đặc điểm riêng mà cơ sở tư tưởng thẩm mỹ của nó chúng tôi sẽ phân tích dưới đây. Các tác phẩm thơ của Tố Hữu, Chế Lan Viên, Phạm Tiến Duật và nhiều nhà thơ khác xuất hiện và trưởng thành trong hai cuộc chiến tranh chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ làm nên âm hưởng chính của thơ ca cách mạng, hoà điệu với tâm hồn và ý chí quần chúng ở những tầng ý thức và cảm xúc cơ bản của con người, với những giá trị thơ ca giao thoa, cộng sinh với giá trị lịch sử mang sắc thái thẩm mỹ mới lạ hoà trộn giữa tôn giáo và thân phận, cái vĩnh cửu và cái đời thường. Thơ Nguyễn Đình Thi, Chính Hữu cũng mang những giá trị cơ bản của thơ ca cách mạng, nhưng nằm trong một nhánh nhỏ của bút pháp thơ trầm lắng và cô đúc, là sự kết đọng theo một tỷ lệ khác những phẩm chất phổ biến trong thơ ca Việt Nam hiện đại, là tình cảm yêu quê hương, đất nước, yêu đồng bào đồng chí, ước mơ và tin tưởng ở tương lai hạnh phúc cộng đồng. Đó là cái TÔI cách mạng, cái TÔI trữ tình đầy nhiệt huyết được kìm nén lại, chắt lọc lại trong một thái độ trữ tình từng trải, nhưngvẫn không nguôi day dứt, suy tư.


Thơ Nguyễn Đình Thi hiển nhiên là trữ tình cách mạng vì ta có thể tìm thấy trong đó hơi thở của cuộc sống dân tộc trong hai cuộc chiến tranh. Thơ ông không đều tay, bên cạnh những bài lạ, hay ông cũng có không ít bài thơ dễ dãi, hoặc giống như thơ của nhiều người khác. Nhưng những bài thơ, đoạn thơ hay nhất của ông mang một sắc thái thẩm mỹ độc đáo không lẫn vào đâu được, thấp thoáng những nguyên tắc thẩm mỹ của thơ Á Đông với một độ thản nhiên vô ngã trong sự trình bày những mảnh thế giới đã nhuốm màu hiu quạnh của hư vô và vẫn rực sáng lên thứ ánh sáng lạ lùng của vĩnh cửu và hy vọng.


Những bài thơ, đoạn thơ này gợi ta nhớ đến Loen Paul Fargne, kẻ thù của mọi thứ khoa trương, mọi thứ hùng biện và cường điệu, người coi thơ "là một cõi tịch mịch lớn lao mà người ta nghe thấy nó tràn vào người ta làm cho nhịp sống của người ta nhanh lên". Nguyễn Đình Thi cũng gợi nhớ quan niệm của Pierre Reverdy, người coi chất liệu thi ca chỉ ở trên bờ vực thẳm, "cái khiến người ta quan tâm nhiều hơn là tiếng vọng thâm trầm bí ẩn, không biết từ đâu đến đang nổi lên ở đáy vực". Nhìn về phương Đông, ta thấy trong thơ Nguyễn Đình Thi đã có những khi gợi nhớ. Đại viên cảnh trí của thiền sư, nơi thế giới hiện ra như một cõi thanh tịnh, viên mãn, hư không trước sự bừng ngộ của thi nhân, vắng bóng cái TÔI, cái bản ngã mê lầm, vọng tưởng và khát dục. Tưởng như suýt nữa thì ông đạt đến cửa ngõ dẫn tới thơ Thiền.


Tư tưởng triết học phương Đông quan niệm vạn vật trong thế giới đều có hiện tính của mình, nó khác với hình ảnh trong lý trí của ta. Con người dùng lý tính bao bọc lên làm sự vật không mấy khi hiện ra như chính nó. Để nhìn nhận sự vật như hiện tình của chúng, ta cần giải trừ ý thức, tập quên dần bản ngã để thả tâm thức mình hoà nhập vào tiết điệu vũ trụ, đập nhịp chung với tiết điệu của sự vật trong dòng vô thức. Khi đó, nhìn một bông hoa dại ngoài đồng ta sẽ thấy nó lộng lẫy hơn cả Salomon vào thời Ngài còn sống, vì bông hoa đã hiện ra như nó vốn tồn tại, trong cái trinh trắng ban sơ của nó, không bị xuyên tạc bởi sự chiếm lĩnh của cái TÔI đầy tham vọng, đầy ảo giác như trước đây. Kinh nghiệm Thiền đã ít nhiều cảm nhiễm vào chúng ta qua các vần thơ của các nhà sư đời Lý và một phần thơ Đường, thơ Haiku Nhật Bản. Giờ đây, ta có thể cảm nhận được trong một số bài thơ, đoạn thơ hay nhất của Nguyễn Đình Thi, một cõi thanh tịnh trầm lặng mà trực giác bát nhã của nhà Phật đã dâng hiến cho ta. Nếu chọn được một góc nhìn thích hợp, ta có thể nếm trải hư vô trong những câu thơ thản nhiên, tịch mịch của ông.


Trong thi pháp Nguyễn Đình Thi ta thấy thấp thoáng một sự tịch mịch hoá cố gắng giảm thiểu cái TÔI, loại bỏ sự phân giải chủ quan để chất thơ của cuộc đời, của hiện tính được tự nhiên phô bày, khơi gợi. Nhiều khi ông mô tả thản nhiên, có vẻ hững hờ, không nhấn mạnh, không bình luận, để cho cái TÔI gần như bị hư vô hoá và con người sự vật đã có khoảnh khắc hiện ra trong vẻ lộng lẫy của cõi tịch lặng thiên thu. Trước một em bé bị thương nằm "bên vệ đường tro than, tóc dài bết máu", trước một "chú nhỏ giao thông phi ngựa", "bướm trắng đuổi chân người", một cô gái "dưới sông gánh nước đi lên" giữa buổi chiều trên sông "cánh chim rợp cả bến thuyền" hay trước một cô gái "vai áo bạc quàng súng trường" nhà thơ gặp trên núi cao lộng gió, nơi "rừng lạ ào ào lá đỏ", v.v... trước tất cả những số phận vừa hào hùng thơ mộng vừa bi thương đó, nhà thơ chỉ mô tả chấm phá, thản nhiên, không bình luận tán dương, không lu loa chia sẻ, không bộc lộ thái độ của mình dù là khâm phục, cảm thông hay run rẩy. Nhưng cái vẻ vô tâm thản nhiên đó (ta có thể khó đồng cảm và thậm chí không đánh giá cao về phương diện nhân văn) lại chính là cái thản nhiên mở đường cho sự hiện diện của tính KHÔNG để vũ trụ hoá các số phận, các cảnh trí và làm cho con người, sự vật hiện lên trong cái ánh sáng bàng bạc, huy hoàng của cõi thanh tịnh tràn đầy. Chính trong sự giảm thiểu cái TÔI đến mức tối đa này, mà sự vật hiện ra trong tiết điệu của chính nó, tiết điệu của vô thức, đó là một tiết điệu lạ lùng không hề giống với tiết điệu của lao động, nghi lễ hay khát vọng mà các nhà thơ thường phổ vào hình tượng như tiết điệu ru con, tiết điệu chèo thuyền, tiết điệu giã gạo, tiết điệu ngựa phi...


Từ mấy chục năm nay chúng ta đã bàn nhiều đến cái mới trong tiết điệu thơ Nguyễn Đình Thi. Chúng ta thường hay dùng khái niệm "tự do" để chỉ câu thơ ngắn dài bất định của ông. Nhưng bản chất của tiết điệu này là gì, chúng ta thường có ý cho rằng đó là sự thắng thế của chủ thể, của cái TÔI trong việc sáng tạo của tiết điệu mới thoát khỏi lực hướng tâm của những tiết điệu mòn sáo, luân phiên, đăng đối kết đọng trong cảm thức. Thực ra, trong những bài thơ hay, tiết điệu đó là tiết điệu tự do do sự vật được giải phóng khỏi áp lực của cái TÔI, nó có lúc gần như tự hiện diện trong tiết điệu hồn nhiên và đầy quỷ thuật của vô thức. Kết luận vội vã này cũng là hệ quả của một cố gắng tìm kiếm góc nhìn khác, cần được kiểm chứng kỹ càng hơn trong một nỗ lực soi sáng các hiện tượng nghệ thuật từ mỹ học và triết học phương Đông.


Có thể là cường điệu khi nhấn mạnh cái vô ngôn, cái tính KHÔNG trong thi pháp Nguyễn Đình Thi, nhưng không thể phủ nhận được những dấu hiệu của mỹ học phương Đông trong thi pháp đó, nó làm nên sắc thái độc đáo, cái vẻ man mác buồn đầy thú vị khiến ta có lúc tiếc, giá mà ông không phải một quan chức thì có thể ông sẽ có một sự nghiệp thơ lớn lao hơn, thuyết phục hơn.


In trong sách Ngày văn học lên ngôi, NXB. Văn học, 1996


 


 


LỜI TẶNG NGUYỄN ĐÌNH THI


UÊĐÊGƠ XINVEXTE


… Ông cười như ta vẫn thường thấy ở những người Việt Nam: không phải cười vì niềm vui mà cười cả trong nỗi buồn, đau với sự chấp thuận thông thái rằng không thể hiểu được, cái kỳ khôi, thậm chí cái phí lý là chuyện đương nhiên và cũng rất con người. “Tôi sống một mình, tôi có một căn phòng nhỏ ở trại sáng tác. Trong phòng có một cái giường, một cái ghế, một cái bàn và một chiếc đèn dầu, bởi vì đêm thường xuyên mất điện. Bấy nhiêu thôi. Bộ comlê của tôi nằm trong chiếc vali – vừa là tủ quần áo, nếu đi ra nước ngoài thì tôi mới cần đến nó. Ở chỗ chúng tôi chỉ cần một cái áo sơ mi, hoặc một chiếc áo len, nếu trời lạnh. Tôi chỉ giữ một vài quyển sách bên mình, thư viện của tôi ở chỗ các con tôi, nếu cần gì thì tôi đến lấy. Những quyển Kinh Thánh, sách Phật, Kinh Koran, Lão – Trang, Baudelaire, Đôxtôiepxki thì luôn ở bên tôi. Một quyển lịch sử thế giới nữa. Ở trại sáng tác cũng có nhà ăn. Với tôi bấy nhiêu thôi là đủ. Cần gì nữa chứ? Con người ta thật sự cần gì nhỉ?”. Ông lại cười. Tất nhiên ông còn có một động sản là chiếc xe đạp. Ở Việt Nam không thể thiếu xe đạp, nó là của quý. Chúng tôi nói chuyện, và im lặng. Ông không thể uống rượu vang vì căn bệnh viêm gan có từ hồi chiến tranh, cho đến nay vẫn phải uống thuốc. Rượu nặng ông chỉ nhấp một ngụm vì phép xã giao, để chạm cốc. Ông hút thuốc nhiều, mắt nhìn lên tư lự, nụ cười dần lắng lại trên khuôn mặt không thể xác định được tuổi tác, với những nếp nhăn sâu quanh miệng. Cuộc đời ông không đặc biệt, ông nói. Ở Việt Nam có những số phận nghiệt ngã. Ông nội nhà văn là người nấu bếp, do tham gia vào một cuộc biểu tình đòi tăng lương mà đã phải chạy trốn sang Lào. Ông còn nhớ ông nội thường xuyên chửi tục, luôn luôn phải nổi cáu vô cớ ngay cả với đứa cháu nhỏ. Bố mẹ ông đã trở về Hà Nội kiếm sống và tìm kiếm các mối quan hệ, ông không biết tin gì về họ. Sau đó, ông bà nội cũng phải khăn gói lên đường tiếp tục cuộc đi không đến đích trên núi, trong thung lũng, trong rừng. Rồi ông lớn lên, chiến tranh xảy ra, ông trở thành người lính, nhà văn – nhà thơ, người tuyên truyền… Ông cười: Không ai biết rằng đã bao nhiêu lần ông suýt chết! Ông lấy vợ, vợ ông sau khi sinh các con không lâu đã qua đời vì bệnh đau gan. Những đứa con nhỏ của ông đã được ông bà, họ hàng nuôi dưỡng khi ông ra mặt trận. Và ông đã viết điều cần viết, điều mà ông cảm thấy quan trọng, không thể không viết ra. Ông viết những cuốn tiểu thuyết (Xung kích, Vỡ bờ, Mặt trận trên cao), thơ và kịch. Vở kịch Giấc mơ đã phải chờ sáu năm mới được in, bản dịch ra tiếng Hunggari cũng vừa mới được đọc trên đài. Vở kịch viết về Nguyễn Trãi, nhà thơ, vị tướng ở thế kỷ XIV chỉ được diễn năm lần. Trong vở kịch Tiếng sóng, ông muốn gửi gắm nhiều điều. Ông cười: Ông là người may mắn được đi nhiều trên cương vị Chủ tịch và Tổng thư ký Hội Nhà văn Việt Nam. Ông chưa bao giờ đến Pari, vậy mà ông nói tiếng Pháp như tiếng mẹ đẻ. Chúng tôi hút thuốc, im lặng và nói chuyện. Chúng tôi nói về sự khác biệt giữa Nho giáo và Phật giáo, hai thứ tôn giáo này (hai tư tưởng) đã bắt rễ như thế nào ở Việt Nam. Chúng tôi nói về một dân tộc đã phải chiến đấu hàng ngàn năm, giờ phải đối mặt với những khó khăn thử thách như thế nào trong hòa bình. Rồi chúng tôi nói về cây lúa, cây tre, về văn học. Chúng tôi cũng nói về chính trị, về Campuchia, Trung Quốc; về sự giản dị của Chủ tịch Hồ Chí Minh và tin chắc rằng Người phản đối việc xây lăng. Chúng tôi còn nói rằng thế giới nhỏ bé hơn là chúng ta nghĩ, rằng các dân tộc gần gũi nhau hơn là chúng ta tưởng. Chúng tôi tắt thuốc lá, ôm hôn nhau.


Ông luôn mang theo quà: những thẻ hương, những cái giỏ đan bằng mây. Với khoản tiền được cấp hàng ngày, ông mua cho con gái nuôi quần áo (bố cháu là bạn ông đã chết trong tù). Ông trả lời phỏng vấn của đài phát thanh, đài truyền hình; ông hát một bài dân ca để tạm biệt. Ông mỉm cười: Nếu người ta không hiểu bài dân ca thì chắc chắn người ta cũng cảm nhận được thông điệp của nó.


Trương Đăng Dung dịch


Tạp chí Nagy Világ Hunggari, số 12-1984


 


VỀ VỞ GIẤC MƠ VÀ TÁC GIẢ


MARIAN TKATCHEP


Màn hạ. Đó là hết hồi một: Người lính, vai chính của vở kịch, đã chiến thắng thần chết và sống sót là nhờ có trí nhớ - ở đời này có một người không hề quên anh, chỉ mong gặp được anh… Nhưng thần chết đã làm anh mất trí nhớ bằng cách đổ vào cốc anh uống một thứ rượu ngọt lãng quên. Khi màn trở lại, người lính bước ra sân khấu, như một người sống trong số những người sống, nhưng lúc đầu người ta sẽ tưởng như đứng trước một người khác, ngay tên anh ta cũng khác: Người Tàn Tật hay là Hiền. Anh ấy quên mất dĩ vãng của mình, nơi sinh của mình và những người thân của mình anh cũng quên nốt. Anh ấy sẽ quên cả Lý, người con gái trẻ mà nhờ nhớ tới người đó anh mới sống lại được. Nhưng người ta không chỉ sống được do có những chuyện riêng tư, những chuyện khác với chuyện người khác. Sức mạnh con người còn có ở những ràng buộc giữa mình và nhiều người khác, ở những mối quan hệ bất diệt gắn mình với nhân dân, với cuộc chiến đấu, với những cố gắng và hoài vọng của đồng bào, đồng chủng, trong cái số phận mà mình chia sẻ với tất cả. Và Hiền, con người đã quên cái “nền đầy sự kiện” kiếp trước của mình, tuy nhiên biết mình là một người lính và biết rằng cái bệnh kinh khủng của mình là hậu quả của những vết thương đã có khi đánh giặc ngoại xâm. Anh cảm thấy mình là một bộ phận của nhân dân đã chiến thắng. Và mọi người đã giúp anh xây dựng được một cái nhà và hết sức đùm bọc anh.


Có thể có những người cho rằng sự phát triển của vai chính và các cá tính như vậy là quá đơn giản, quá thẳng tắp. Nhưng vở Giấc mơ là một vở theo thể biểu tượng, nói bóng gió, và đây là một thể loại có quy luật riêng của nó, khác với những quy luật của các vở kịch tâm lý phổ biến trong những năm cuối của thế kỷ XX này. Người ta đã thật sự thấy sự đối mặt của những lực lượng và những khái niệm nguyên thủy dưới dạng nguyên chất: Sự sống và cái chết, điều hay và cái dở, sự thật và dối trá, tình yêu và thù hận,… Đề tài về Hiền, về người lính, ở đây vang lên rõ nét và trong suốt lạ kỳ, như một thứ âm vang tinh thần làm cho người ta thấy ngay những cái gì là sai lạc, là dối trá, là ích kỷ. Như vậy là những nhân vật khác tới gặp Hiền và chúng ta thấy ngay cái thực thể tiêu cực, biểu trưng của họ: Anh hay cằn nhằn tự phụ, anh lái buôn hiện thân của lòng ham hố của cải nâng lên tới mức “tai họa phổ cập” (không phải vô tình mà trong lương tâm rối loạn của người lính, anh lái buôn hầu như hòa nhập với thần chết), anh chàng biến báo, một con người ngoi được lên, cực kỳ ích kỷ, đối với anh ta thì ngay đến tình yêu cũng chỉ là một khả năng để ngoi lên. Như để đối kháng với tình yêu bị nhại lại một cách tầm thường, người ta thấy đột nhiên xuất hiện bên bờ sông, ngay gần nhà của người lính, những nhân vật của một truyện cổ tích: công chúa Tiên Dung và người đánh cá nghèo là Chử Đồng Tử. Tâm hồn hai người đầy những tình cảm cao đẹp nên công chúa và người đánh cá đã được lôi đi xa khỏi những kẻ nịnh thần xảo trá và tham lam để hướng về thế giới văn minh và vô tận của một thiên nhiên đã được trí óc và bàn tay của con người thần hóa…


Thiên nhiên! Thiên nhiên có lẽ gần gũi với tâm hồn người Việt Nam hơn là thế giới được đô thị hóa của nền “siêu văn minh”. Hãy nhìn xem người lính biết nghe thiên nhiên như thế nào, biết nhận ra ở đó những dấu hiệu của một thời tiết xấu, biết kể ra những thói quen của các loài chim khác thường. Biểu trưng của sự đồng cảm này giữa người lính với thiên nhiên là những cây tre, cây trúc mọc ngay gần nhà người lính, những cây tre, cây trúc mà anh ta không muốn bán cho anh lái buôn sấn sổ để nhận lấy dù cả một món tiền khổng lồ. Những cây tre, cây trúc thân vàng óng đang thầm lặng mơ ước rằng, người lính sau cùng sẽ tìm ra người yêu của mình. Vâng, thưa bạn đọc, đó là cô ta, người con gái trẻ được người lính cứu thoát khỏi ngọn lửa, đã lớn lên và say mê Hiền. Bạn sẽ nói rằng: “Điều đó chỉ xảy ra trong những câu chuyện thần tiên thôi”. Vậy thì tôi xin nhắc lại cho bạn nhớ rằng ở đây chúng ta có một vở kịch thần tiên: trong vở đó, mọi việc đều có thể có, nhất là đúng vào lúc kết thúc hồi một, người lính đã nghe thấy ngôi sao của anh ta tiên đoán rằng, tình yêu sẽ toàn thắng, tình yêu chữa chạy và cứu giúp cho mọi người… Lý, được gọi là Người Vô Danh trong hồi thứ hai, tới nhà người lính trong lúc này anh đi vắng, và theo lối những nàng tiên trong truyện của trẻ con, đã dọn dẹp nhà cửa cho anh ta và để lại những món quà. Nhưng cuối cùng thì người lính cũng khám phá ra điều bí mật. Tình yêu, tình yêu thực sự, đó là sự chung thủy không bao giờ chấm dứt. Hãy nhớ lại những lời vĩnh biệt người yêu của người lính trong hồi một: Người ta đã thấy ngay có cái gì không ổn. Và tình cảm của cô ta không cưỡng lại được sự thử thách của thời gian, cô ta không biết chờ đợi người đã yêu cô. Bây giờ nhận thấy bức ảnh của mình trong một tờ báo, cô ta tới nhà người lính và nói lên những lời nói muộn mằn về sự hối tiếc.


Tình yêu và trí nhớ còn đưa lại cho người lính hai nhân vật nữa là ông già và bà già đang đi tìm người con trai của mình. Hai người có một hy vọng: phải chăng đây là con trai của mình? Nhưng ông già lại nhận ra đó không phải là con trai của họ, còn bà già, do mắt mù, lại không tin như vậy liền sờ sờ vào mặt người lính và hiểu ra sự nhầm lẫn của mình. Hai người già đã đi khỏi nhưng một điều kỳ lạ mới lại xảy ra. Những ngón tay của bà mẹ mù lòa vừa lướt trên da mặt của người lính thì cái đen tối bao quanh trí nhớ anh ta cũng bắt đầu tiêu tan: quá khứ trở nên rõ nét hơn trong tâm trí của anh ta. Đúng lúc đó, thần chết tới. Thần chết nói rằng, cuộc sống có lẽ đã trở thành một gánh nặng đối với người lính và có lẽ người lính sắp phải buông súng… Tin tưởng vào điều trái lại, thần chết cố gắng chứng minh cho người lính rằng sự phục hồi trí nhớ là một điều xấu hơn là một điều tốt đối với anh ta. Thần chết nói bóng gió rằng con người ta sung sướng hơn khi không hiểu chút gì cả và không phụ thuộc vào đâu, vào bất cứ kỷ niệm nào. Tuy nhiên, người lính đánh giá rằng ý nghĩa của cuộc sống là phải biết, phải cảm nhận được tất cả những điều gì đến với thế giới con người, chia sẻ những lo âu của con người, những niềm vui của họ. Và thần chết lại phải đi khỏi một lần thứ hai, mà cũng không đạt kết quả gì…


Hồi hai khởi đầu cho ta thấy người lính đang làm những chiếc đèn bằng giấy cho ngày hội trẻ em. Các trẻ em thấy ngay một tiếng nói chung với người lính và đã thân thiện ngay với anh ta. Các em tới thăm anh ta để tâm sự với anh những lo âu nhỏ nhoi của các em, hỏi anh ta về những phong tục của loài chim và cái thế giới mênh mông bí mật. Và không phải tình cờ mà vở kịch chấm dứt bằng một cảnh về ngày hội trẻ em. Người lính thắp sáng các đèn giấy và mong tặng những đèn đó cho các em, là những người được người lính mời tới. Tất cả nở rộ xung quanh với những màu sắc rực rỡ, người ta nghe thấy một bài hát vui vẻ và êm vang…


Đã tới lúc phải trình bày với các bạn tác giả của vở kịch. Đối với bạn đọc trong nhiều nước, Nguyễn Đình Thi không phải là một người xa lạ. Ở đây, trong Bông sen  này, nên nhắc lại hoạt động của ông trong Hội những nhà viết văn Á – Phi, mà ông là phó tổng thư ký, mà không quên rằng ông đã được giải quốc tế Bông Sen, Nguyễn Đình Thi sinh năm 1924. Nhưng cũng như rất nhiều đồng bào của ông, nhìn ông, người ta không thể nói được tuổi ông: miệng cười rộng mở với hàm răng trắng, cặp mắt sáng ngời ở đó người ta không thể thấy ngay được hình bóng của một nỗi buồn che giấu khá sâu, và tóc của ông là tóc của một thanh niên hầu như không bị trắng. Và khó mà tin được rằng ông đã trải qua thời bí mật và nhà tù của thực dân, và rằng, là một người đại biểu cho tầng lớp trí thức yêu nước, ông đã tham gia Đại hội nổi tiếng những người đại diện quốc dân tại Tân Trào ngay trước Cách mạng tháng Tám 1945, quyết định tổng khởi nghĩa vũ trang. Lúc đó, ông được bầu vào Ủy ban giải phóng dân tộc. Thế rồi, qua những biến đổi cách mạng bão táp, ông là  Tổng thư ký của Hội văn hóa cứu quốc, là đại biểu trong Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam độc lập, tham gia thảo luận trong Ủy ban soạn thảo hiến pháp và Đoàn Chủ tịch của Quốc hội… Tất cả những việc này đã bị gián đoạn vì cuộc chiến tranh do thực dân Pháp gây ra: bọn thực dân muốn đưa nước Việt Nam trở lại ách nô lệ. Theo lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh, cả nước đã đứng lên chống bọn xâm lược. Những người bảo vệ Hà Nội, thủ đô, đã chiến đấu để giữ từng đường phố, từng căn nhà, nhưng vì lực lượng không cân bằng cho nên vào đầu năm 1947 các chiến sỹ dũng cảm đã phải rời thành phố. Nguyễn Đình Thi đã trú trong rừng sâu với những cánh quân, sau trở thành nòng cốt của trung đoàn Thủ đô. Đầu năm 1953, ông đã cùng trung đoàn của mình qua những dãy núi khó vượt để mang lại sự viện trợ cho những người yêu nước Lào. Với tư cách là nhà báo, thành viên của các đội tuyên truyền, ông đã tham gia những cuộc chiến đấu trên nhiều mặt trận của miền Bắc Việt Nam. Từ năm 1952, ông là chính ủy của một tiểu đoàn. Tháng 5 năm 1954, quân Pháp đầu hàng tại Điện Biên Phủ. Và hai tháng sau đó, tại Giơnevơ đã ký kết Hiệp định hòa bình tại Đông Dương. Chính vào mùa thu của cái năm thắng lợi này, Nguyễn Đình Thi đã trở lại Hà Nội, cùng với những đơn vị của quân đội nhân dân. Ở đây, cần nhắc lại rằng Hội Văn hóa Việt Nam đã được thành lập ngay từ năm 1948 trong vùng của du kích và Nguyễn Đình Thi đã trở thành ủy viên của Ban lãnh đạo Hội.


Như vậy là hòa bình trở lại miền Bắc Việt Nam vào năm 1954. Người ta dốc sức vào việc xây dựng một cuộc sống mới, đặt nền móng cho một xã hội xã hội chủ nghĩa. Quan hệ giữa con người với nhau thay đổi và người ta chứng kiến sự ra đời của những đức tính chưa bao giờ thấy. Tất nhiên là văn học và nghệ thuật có một vai trò quan trọng trong việc đổi mới đất nước này. Nguyễn Đình Thi tất nhiên lại được thấy đứng trong hàng đầu của cuộc chiến đấu kiến tạo con người kiểu mới. Ông trở thành một trong những người có trách nhiệm của Hội Văn nghệ sỹ, lần lượt ra hai tờ tạp chí và một tờ tuần báo văn học. Nhưng điều đáng chú ý nhất là từ năm 1958 cho tới bây giờ, Nguyễn Đình Thi là Tổng thư ký của Hội nhà văn Việt Nam lần đầu tiên được thành lập.


Cùng với những lo toan của thời bình, lại thêm những lo toan của thời chiến: tháng 2 năm 1965, Mỹ vốn từ lâu đã phát động một cuộc chiến tranh chống nhân dân miền Nam Việt Nam để giúp đỡ cho bọn bù nhìn của chúng tại Sài Gòn, nay bắt đầu ném bom miền Bắc. Không khí trụ sở Hội nhà văn tại Hà Nội là không khí của một tờ báo mặt trận. Trong năm cuối cùng của cuộc chiến tranh này, Nguyễn Đình Thi đã đi theo “đường mòn Hồ Chí Minh” dẫn tới miền Nam, rồi lại từ vùng châu thổ sông Cửu Long ra miền Bắc. Ông đi gặp những người bộ đội giải phóng, như vậy là một lần nữa, nhưng theo hướng ngược lại, xuyên qua hầu khắp miền Nam Việt Nam. Phần lớn thì giờ, ông đi bộ. Và như chính ông đã nói, ông đã có thể nhìn thấy sự hình thành một cuộc sống mới, như thấy một con bướm lột bỏ cái vỏ cũ của nó. Đó là năm thắng lợi thứ hai của ông, năm 1975 lịch sử… Tiểu thuyết đầu tiên của ông, cuốn Xung kích (1951), Nguyễn Đình Thi đã viết trong những tuần lễ ngắn ngủi mà ông được nghỉ trên mặt trận. Đó là sự đòi hỏi của thời đại. Cuốn sách này đã mang lại cho ông giải thưởng của Hội Văn hóa. Ngược lại, với một sự tỷ mỷ dài ngày, ông đã viết cuốn tiểu thuyết có hàm ý là cuốn Vỡ bờ (tập đầu năm 1962, tập 2 năm 1970), là một bức tranh thần kỳ về những thời cách mạng và về bão táp cách mạng. Khi chiến tranh lại bùng lên một lần nữa. Nguyễn Đình Thi viết “theo nhịp điệu của những sự kiện”, như người ta thường nói, những tiểu thuyết Vào lửa (1966) và Mặt trận trên cao (1967). Phải kể riêng tập truyện ngắn Bên bờ sông Lô (1957) thuật lại những cuộc chiến đấu chống thực dân Pháp. Bằng một hình thức trong sáng và điêu luyện, với tính trữ tình và tính xác thực về tâm lý, cuốn sách này có thể nói đã bắc một nhịp cầu để Nguyễn Đình Thi bước tới các tác phẩm thơ. Bốn tập thơ của ông: Người chiến sỹ (1956), Bài thơ Hắc Hải (1959), Dòng sông trong xanh (1974), Tia nắng (1983) là một hiện tượng đánh dấu cho thi ca Việt Nam hiện đại.


Những bài thơ của Nguyễn Đình Thi không thể lẫn với thơ của bất cứ tác giả nào, nó có nét đặc biệt là tính giản dị và tính âm nhạc tiếp thu từ dân ca, song vẫn rất là hiện đại, nhất là những câu thơ trong những năm gần đây.


Cũng phải nói tới một mặt khác về thiên tư của Nguyễn Đình Thi là soạn nhạc, làm những giai điệu. Người ta phải chịu ơn ông về những bài ca đã vang lên trong cả nước trước cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám 1945 và trong việc bảo vệ Hà Nội. Tài năng thi ca và âm nhạc của Nguyễn Đình Thi đã quyết định một phần quan trọng cái đặc sắc của công việc soạn kịch của ông. Và kịch, như chính ông đã thú nhận, điều ông say mê nhất đã từ 30 năm nay. Năm vở kịch của ông đã được xuất bản tại Hà Nội: Con nai đen (1961) là một kịch ngắn, Hoa và Ngần (1975), một vở kịch nói về các bác sỹ quân y, Tiếng sóng (1985), một vở kịch thần kỳ về sự chồng chéo của những số phận con người vào các thời kỳ cổ xưa và hiện đại, Hòn cuội (1987), một hài kịch thần tiên; sau cùng Giấc mơ (1983), là vở kịch mà các bạn đọc vừa mới thấy. Để kỷ niệm 600 năm ngày sinh của nhà thơ lớn Việt Nam, Nguyễn Trãi, mà nhiều nước có làm kỷ niệm vào năm 1980, Nhà hát Kịch Hà Nội đã cho diễn vở kịch của Nguyễn Đình Thi Nguyễn Trãi ở Đông Quan. Một vở khác, Rừng trúc, thuật lại những sự kiện bi thảm về nội chiến vào thế kỷ XIII tại Việt Nam, và tôi đã có dịp được đọc bản thảo… Bầu trời các vở kịch của Nguyễn Đình Thi rất phong phú về màu sắc và rất nhiều chất thơ. Các nhân vật của ông không đóng kịch, không! Họ sống cuộc sống của họ, thật đến từng chi tiết nhỏ. Họ lôi kéo chúng ta vào kích cỡ thời gian của họ, làm chúng ta đau đớn, yêu thương, cười đùa, khóc lóc và thù ghét với họ. Dù là kịch lịch sử hay những biểu tượng thần tiên. Nguyễn Đình Thi đã biết kết hợp cái nhìn thực tế với khái niệm thần thoại, quan hệ về thời gian như một loại hình cơ động và vĩnh viễn với ý thức lạ lùng về những mối ràng buộc con người với nhau, trong một nhân loại không thể chia cắt được.


Cái cảm tưởng về sự thống nhất toàn cầu này trong thời nay là mấu chốt đứng trước cái chết nguyên tử đang là là trên trái đất, như Nguyễn Đình Thi gần đây đã khẳng định trong bản tham luận của ông tại Diễn đàn Quốc tế Mátxcơva: Vì một thế giới không có vũ khí nguyên tử, vì sự sống còn của nhân loại. Ông đã nói về trách nhiệm của các văn nghệ sỹ mà bổn phận là phải chiến đấu cho sự toàn thắng của những lý tưởng hòa bình và công lý, để đi tới một lương tâm và nền đạo đức mới. Và điều đó phải được in sâu, hết sức đầy đủ vào tác phẩm của nhà văn.


Không ai nghi ngờ rằng Nguyễn Đình Thi hoàn toàn có cơ sở để nói lên những lời đó, vì bản thân cuộc đời ông, những cuốn sách, những vở kịch của ông là một ví dụ của sự trung thành với những lý tưởng cao siêu đó, và là sự cố gắng hàng ngày, trước sau như một vì một tương lai rạng rỡ, vì hạnh phúc của mọi người.


Tạp chí Bông sen


Số 60 năm 1988


H.K.dịch


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học, 12-2011.


www.trieuxuan.info

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
Na Hang: Sắc nước hương trời - Trần Mai Hưởng 30.09.2019
Nhìn mưa, nhớ Nguyễn Ngọc Ly - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Trúc Cương - Liêu xiêu một đời - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Ngôi sao xa xôi thưở ấy - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Sun Group, Địa Ngục Tự - Bài 2: Dấu chấm hỏi về 'vòng tròn khép kín' ở Tam Đảo II - Nhiều tác giả 26.09.2019
Điều tra độc quyền: Sun Group, Địa Ngục Tự và ma trận chiếm lĩnh rừng quốc gia Tam Đảo - Nhiều tác giả 23.09.2019
Nguyên Ngọc con người lãng mạn - Nguyễn Đăng Mạnh 05.09.2019
xem thêm »