tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27663804
Tiểu thuyết
22.03.2012
Thomas Mann
Gia đình Buddenbrock

Gia đình Buddenbrock([1]) xuất bản năm 1901 là tiểu thuyết nổi tiếng nhất của Thomas Mann, còn có phụ đề Sự suy tàn của một dòng họ. 28 năm sau, năm 1929, tiểu thuyết này mang lại cho Thomas Mann giải thưởng Nobel Văn học. Tác phẩm kể về sự suy tàn của hãng xuất nhập khẩu ngũ cốc Johann Buddenbrock, nhưng thực chất là kể về gia đình, tổ tiên của Thomas Mann ở thương cảng nổi tiếng Lũbeck. Bốn thế hệ của dòng họ Buddenbrock - một dòng họ tư sản thương nghiệp giàu có ở Lũbeck - bị suy sụp hoàn toàn trong bối cảnh cạnh tranh của tư bản đế quốc chủ nghĩa (trong tiểu thuyết: bắt đầu từ năm 1835 và kết thúc vào năm 1876): cứ dần dần lụn bại trên thương trường, suy sụp trong đạo lý và văn hóa. Hãng Johann Buddenbrock do Johann Bố, rồi đến Johann Con, kế đến là Thomas làm chủ hãng. Khi Thomas đột ngột chết do không muốn sống nữa thì công ty Johann Buddenbrock suy sụp. Người em máu nghệ sĩ là Christian không lo nối nghiệp thương gia, mà chỉ phung phí tài sản (ăn chơi trác táng) mà mình được thừa hưởng và kết thúc cuộc đời ở trong nhà thương điên. Người chắt đích tôn của dòng họ Buddenbrock là Hanno (con út của Thomas). Cậu chắt này chỉ đam mê âm nhạc như mẹ đẻ Gerda Buddenbrock mà chẳng mơ tưởng gì đến việc nối nghiệp thương gia của dòng họ Buddenbrock. Giống như cha, cậu chết vì không thích sống. Người ta thấy rõ chủ nghĩa bi quan trong tiểu thuyết, nhưng cũng chính tiểu thuyết cho ta thấy cảnh buôn bán tấp nập và cảnh suy tàn của thương nghiệp ở thành phố cảng tự do của Đức bên bờ biển Baltic. Với cách hành văn đầy hài hước và trìu mến, Thomas Mann đã vẽ một bức tranh tâm lý xã hội ở thương cảng quê hương mình - một mô hình của quá trình suy sụp trên thương trường - nhìn theo một góc độ nào đó (việc miêu tả sự suy sụp toàn diện) thì tiểu thuyết có những nét của tự nhiên chủ nghĩa. Thomas Mann nhìn sự vật với cái tâm và cái tình của một con người có đạo nghĩa.


 


 


Phần VII. Chương I


Tiệc nhân ngày lễ rửa tội!... Phố Brêten tổ chức tiệc nhân ngày lễ rửa tội!


Những thứ mà bà Tôny khi có mang đứa con thứ hai hằng mơ ước, lần này có đủ cả. Trong phòng ăn, bọn hầu gái đứng trước bàn cho bơ vào những cốc sôcôla nóng bỏng bày đầy khít trên cái khay tròn to tướng, hai tay cầm hình vỏ ốc mạ vàng. Bọn họ cố hết sức nhẹ tay, không để cốc va chạm vào nhau khỏi ảnh hưởng đến cuộc lễ đang tiến hành trong gian phòng lớn phía trước. Antôn, người đầy tớ trai, cắt bánh gatô to như quả núi, còn bà Iungman thì vừa bày bánh kẹo và hoa quả tươi trên cái khay bạc vừa nghiêng đầu nhìn, hai ngón tay út chìa ra ngoài…


Lát nữa, khi chủ và khách yên vị trong phòng rồi, thì những món điểm tâm ngon lành kia sẽ được bưng lên. Mong làm sao đủ cho khách dùng, bởi vì bà con thân thích có mặt hôm nay quả nhiều lắm. Mấy chữ “bà con thân thích” ở đây hiểu theo nghĩa tương đối rộng tuy chưa thể nói là rộng nhất. Tại sao lại như vậy? Là vì qua gia đình Uêvơdích, thì gia đình Bútđenbrúc cũng có quan hệ với gia đình Kítxtenmacơ, rồi qua gia đình Kítxtenmacơ, lại có ít nhiều quan hệ với gia đình Muêlenđoóc. Cứ thế mà lần không bao giờ hết cả… nhưng gia đình Uêvơdích cũng chỉ cử người đại diện đến mà thôi ấy là cụ tiến sĩ Cátxpa Uêvơdích, năm nay ngoài tám mươi hiện đang giữ chức thị trưởng thành phố.


Cụ thị trưởng Uêvơdích ngồi xe ngựa đến. Cụ một tay chống cái batoong cán uốn cong, tay kia vịn vào người ông Tômát Bútđenbrúc, bước lên cầu thang. Sự có mặt của cụ làm cho bữa tiệc mừng hôm nay càng thêm phần trọng thể… vả lại rõ ràng bữa tiệc mừng hôm nay đáng được tổ chức cho thật trọng thể!


Trong gian phòng lớn bên kia, sau cái bàn nhỏ trải khăn bày hoa tươi, tạm thời dùng làm bàn thờ, một vị mục sư trẻ mặc áo dài đen, cổ cứng to bằng cái thớt cối xay, mới giặt, hồ trắng toát, đang cầu nguyện; phía trước bàn là một người đàn bà phốp pháp đẫy đà, mặc bộ quần áo đỏ chói, đang bế trong cánh tay béo tròn béo trục một chú bé chìm ngập trong đống tã lót gấm hoa viền đăng ten… Đó là người thừa kế gia đình này! Người nối tiếp dòng dõi này! “Một cậu bé Bútđenbrúc!”. Chúng ta có biết điều đó có ý nghĩa gì không?


Khi tin mừng mới truyền từ thành phố Brêten đến thành phố Manh, khi mọi người thì thầm với nhau chuyện đó lần đầu tiên, chúng ta có biết họ vui sướng không kìm chế lại được như thế nào không? Chúng ta có biết bà Tôny đã phát điên phát cuồng lên ôm chầm lấy mẹ và anh trai, không nói nên lời, rồi lại cẩn thận ôm người chị dâu như thế nào không? Bây giờ đây, cùng với mùa xuân, cùng với mùa xuân năm 1861, “chú bé” đã ra đời và đang chịu lễ rửa tôi thiêng liêng. Bao nhiêu hy vọng đã gửi gắm vào người chú từ lâu; và đã từ lâu mọi người bàn tán, chờ đợi và mong mỏi chú. Vì chú mà mọi người đã cầu nguyện Thượng đế, làm phiền đến bác sĩ Gơrabô… nay thì chú đã lớn rồi, mặc dù xem ra chú cũng chẳng có gì đáng làm cho người ta kinh ngạc cả.


Hai bàn tay bé tí teo của chú nắm dải thắt lưng vàng của chị vú em; cái đầu nhỏ xíu của chú đội chiếc mũ mềm thêu hoa viền xa tanh màu xanh nhạt, nằm nghiêng trên gối, gáy quay về phía mục sư, không chú ý gì hết. Hai con mắt nhỏ bé của chú chớp chớp nhìn gian phòng rộng lớn, nhìn bà con thân thuộc, ra vẻ già dặn, hiểu hết nhân tình thế cố. Mắt chú có hàng lông mi dài; trong đôi mắt ấy, màu xanh nhạt ở con ngươi của bố và màu nâu da cam ờ con ngươi của mẹ hợp lại thành một thứ màu nâu vàng óng ánh, nhàn nhạt, không xác định được, vì thay đổi theo ánh sáng. Hai bên sống mũi chú sâu lõm xuống làm cho mắt có quầng thâm, những cái ấy sớm đưa lại cho khuôn mặt chú bé – tuy chưa thể gọi là khuôn mặt - một số nét có phần không hợp với một đứa trẻ ra đời vừa bốn tuần lễ. Nhưng chắc chắn là Chúa sẽ phù hộ, không để cho những đặc điểm đó trở thành bất cứ một điều không may nào! Nét mặt của mẹ chú cũng như vậy đấy, thế mà vận mệnh của bà chả phải khá lắm hay sao? Dù thế nào đi nữa thì cái sinh mệnh nhỏ nhoi kia vẫn tồn tại, và lại là một cậu con trai! Đó là lý do làm cho những người trong gia đình này trước đây bốn tuần lễ đã vui mừng như điên như dại.


Cái sinh mệnh nhỏ nhoi đó đã tồn tại; nhưng lúc đầu có thể đã xảy ra một tình thế khác, mãi không bao giờ ông tham quên được câu bác sĩ Gơrabô tốt bụng nói cách đây bốn tuần lễ khi bước ra khỏi phòng hộ sinh và cầm tay ông: “Hãy cảm ơn Chúa đi! Ông bạn thân mến! Xuýt nữa…”. Ông tham không dám hỏi, xuýt nữa thì làm sao. Cả nhà mong mỏi chờ đợi bao nhiêu năm, nay chú bé ấy đã ra đời rồi! Lúc ra đời, chú không hề khóc tiếng nào! Ấy thế mà không ngờ suýt nữa lại chết yểu, như đứa con thứ hai của bà Tôny. Nghĩ đến đó, ông tham sợ hãi không dám nghĩ thêm nữa… Nhưng ông biết, cách đây bốn tuần lễ, đối với người mẹ và đứa bé, thì giờ phút ấy quả là giờ phút giằng co giữa cái sống và cái chết. Không kìm được, ông cúi người xuống phía bà Ghécđa, lòng thấy hạnh phúc, thanh thản vô cùng. Lúc ấy bà Ghécđa đang tựa vào chiếc đi văng để trước chỗ ông ngồi cạnh bà cụ tham, chân đi giày da bắt chéo lên nhau trên cái nệm nhung.


Mặt bà Ghécđa vẫn còn nhợt nhạt lăm!  Nước da trắng xanh với mái tóc đỏ sẫm, dày khít đôi mắt thần bí - hình như đôi mắt đó đang chăm chú nhìn người rao giảng với vẻ đùa cợt - đẹp vô cùng mà cũng vô cùng kỳ lạ! Người rao giảng là ông Anđrêat Prinhem mục sư ở nhà thờ Xanh Mari  1 từ ngày ông Quêlinh ốm chết, vị này tuy còn trẻ lắm, nhưng cũng được lên ngôi tổng mục sư. Ông ta đưa cao cằm lên, hai tay bắt chéo phía dưới cằm, vẻ rất thành kính. Tóc ông ta xoăn, cắt ngắn, màu vàng ánh: lưỡng quyền cao, râu cạo nhẵn thin mặt lúc thì nghiêm nghị đạo mạo, lúc thì điềm nhiên thanh thản y như là đóng kịch. Ông ta sinh ra và lớn lên ở Phrankhen, người địa phương ấy hầu hết đều là con chiên của đạo Thiên chúa, chỉ có ông ta trong bao nhiêu năm nay vẫn là tín đồ của giáo phái Lutơ. Ông ta nói tiếng địa phương một cách kỳ lạ để cố làm cho giọng nói trong trẻo hấp dẫn: các nguyên âm ông ta không kéo dài ra, nghe buồn buồn, mà thật ngắn gọn: còn âm r thì lúc nào lưỡi ông ta cũng uốn sát hàm ếch.


Ông ta ca ngợi Chúa, giọng có lúc hạ xuống rất thấp, nhưng có lúc đưa cao lên oang oang, vang vọng cả bốn bề. Cả nhà đều lắng tai nghe. Bà Tôny cố là ra vẻ hêt sức trang trọng, nghiêm nghị, để che giấu nỗi vui mừng và niềm kiêu hãnh của mình. Êrica lúc này mười lăm tuổi, đã là một thiếu nữ khỏe mạnh, tóc để bím, mặt y hệt mặt bố, lúc nào cũng hồng hào. Ông Cơritxtian sáng ấy mới ở Hambuốc về, đôi mắt sâu lõm cứ đảo đi đảo lại, nhìn ngược nhìn xuôi… Vợ chồng mục sư Tibuốctiút không quản đường xá xa xôi cũng từ Riga về dự tiệc. Mục sư Divớc Tibuốctiút rẽ đôi mái tóc dài của mình và bỏ xõa xuống hai vai đôi mắt ti hí màu tro luôn luôn giương tròn xoe, càng giương càng to, con ngươi lồ lộ hình như bất cứ lúc nào cũng có thể rơi ra ngoài… Lại còn cô Cơlara buồn rầu, nghiêm túc, lúc nào cũng đưa tay lên xoa bóp trên đầu bởi vì cô mắc bệnh thiên đầu thống. Cặp vợ chồng này mang đến cho gia đình Bútđenbrúc một tặng phẩm vô cùng quý giá: tiêu bản một con gấu nâu, một chân sau đứung chạm đất, miệng há to như cái chậu máu. Một người bà con của mục sư bắn cchết con gấu to tướng ấy ở một nơi nào đó trên lãnh thổ nước Nga. Bây giờ, nó được bày ở cửa ra vào tầng dưới, hai chân trước nâng cái khay đựng danh thiếp.


  Lúc này Giếcghen, con trai ông Giúttút Cơruêgơ, hiện  làm ở Sở dây thép thành phố Rốtxtốc cũng vế thăm nhà. Anh ăn mặc giản dị, ít nói. Còn như Giacốp thì, ngoài mẹ anh ta ra, không một người thứ 2 nào biết đến hành tung anh ta ra sao. Bà ta vốn người họ Uêvơdích, tính nhu nhược, thậm chí để gửi tiền cho ông con đã bị tước quyền thừa kế, bà ta còn lén lút lấy đồ đạc trong nhà bán đi… Mấy cô  gái họ Bútđenbrúc cũng đến. Nhân dịp này các cô cũng rất vui mừng, nhưng vẫn không ngăn được cô Phípphi buột miệng nói rằng: thằng bé trông không được khỏe. Lời bình phẩm ấy của cô được bà mẹ họ Xtuyvinh, cô Phơriđơríchcơ và cô Henriết nhất trí hoàn toàn, mặc dù chuyện đó họ rất lấy làm tiếc. Cô Cơlốthinđơ đáng thương thì vẫn đen sạm, gầy còm, đói khát, mặt mũi khắc khổ như xưa. Những lời rao giảng của mục sư Primhem cũng như niềm hy vọng đối với chiếc bánh gatô và cốc sôcôla khiến cho cô vô cùng cảm động… Không thuộc gia đình này, hoặc không phải là bà con thân thích mà đến chúc mừng, thì có hai người là ông Phơriđơrich Vinhem Máccút và bà Sêdêmi Vaisơbrốt.


 Bây giờ mục sư đang quay sang phía hai người cha đỡ đầu giảng giải về trách nhiệm của họ. Ông Giúttút Cơruêgơ là một trong hai người đó, mặc dù lúc đầu ông tham Bútđenbrúc không muốn mời ông ta.


-          Chúng ta không nên mời ông già ấy làm việc này, hỏng hết! - Ông nói - vì ông con quý tử mà ngày nào bác trai cũng cãi nhau với bác gái, chả ra thể thống gì hết. Xem chừng cái cơ nghiệp nhà bác ấy cũng đã đến ngày tan hoang rồi! Bác ấy khổ não quá nên đến ăn mặc cho sạch sẽ, bác ấy cũng chẳng để tâm! Nhưng cả nhà nghĩ như thế nào? Nếu chúng ta mời bác ấy làm cha đỡ đầu, thế nào bác ấy cũng cho cháu bé một bộ đồ bằng vàng, mà lễ tạ thì  nhất định bác ấy sẽ không nhận cho mà xem!


 Nói thì nói vậy chứ khi ông Giúttút nghe nói mời người nào đó làm cha đỡ đầu – lúc bấy giờ có ý mời bạn ông tham là ông Xtêphen Kítxtenmacơ – thì ông ta nổi loạn ngay, thành ra vẫn phải mời ông ta. Chiếc chén vàng ông ta cho không lấy gì làm dày lắm, ấy vậy mà cũng làm cho ông Tômát Bútđenbrúc yên tâm.


Người cha đỡ đầu thứ hai là ai? Chính là cụ thị trưởng tiến sĩ Uêvơdích, đạo cao đức trọng, đầu tóc bạc phơ. Cụ thắt cổ cồn cao, mặc áo vét da mềm màu đen, túi áo gi lê mặc trong lòi ra một góc cái mùi xoa đỏ. Cụ ngồi vào chiếc ghế tựa thoải mái nhất, người chống trên cái ba toong cán uốn con. Đây là một chuyện đại sự, một thắng lợi lớn! Rất nhiều người không thể ngờ tại sao việc này lại có thể  xảy ra. Trời ơi! Kể thế nào mà gia đình này cũng là bà con thân thích được nhỉ? Chắc chắn là những người trong gia đình Bútđenbrúc phải khẩn khoản lắm mới mời được cụ đến. Không sai tí nào quả là họ đã bày mưu tính kế, quả là ông tham và bà Tôny đã cùng nhau sắp đặt mọi chuyện. Nguyên là lúc được tin bà Ghécđa sinh nở, mẹ tròn con vuông, mọi người đang vui mừng hớn hở thì đó chỉ là câu nói đùa: “Cháu trai, cô Tôny ạ! Phải mời cụ thị trưởnglàm cha đỡ đầu mới được!”. Ông tham buột miệng nói như vậy nhưng bà Tôny lại tưởng anh nói thật, cho là hết sức nghiêm túc. Về sau ông tham suy đi tính lại, cũng đồng ý thử mời cụ ta xem sao. Thế là hai anh em đến nhờ bác Giúttút nói với bác gái đến bàn với bà chị dâu – vợ ông chủ hiệu Uêvơdích ấy mà – bà này thưa lại với ông bố chồng. Sau đó, ông Tômát Bútđenbrúc thân hành đến yết kiến vị đứng đầu thành phố ấy, cuối cùng thì bàn bạc xong…


 Chị vú em  hất cái mũ của chú bé lên một tý, mục sư chấm hai giọt nước trong cái khay mặt mạ vàng đáy bạc để ở phía trước, thận trọng rưới lên mái tóc lưa thưa của chú bé rồi thong thả đọc cái tên do cụ ta đặt cho: Giúttút Giôhan Cá-xpa, sau lại cầu nguyện một lúc nữa, rồi bà con thân thích lần lượt từng người đến đặt chiếc hôn chúc mừng lên trán chú bé đang nằm im lặng, lãnh đạm, tê dại… Bà Thêredơ Vaisơbrốt đi sau cùng. Đến lượt bà, chị vú em phải bế thấp chú bé xuống, còn bà ta thì hình như xúc động lắm, hôn thêm “chút, chút” và nói: “ Cháu ngoan lắm!”.


 Sau ba phút, tất cả mọi người, tốp năm tốp ba vào phòng khách và phòng xa lông. Thức ăn ngọt bắt đầu bê lên. Cả mục sư cũng ngồi đấy húp lớp bơ trong cốc sôcôla nóng. Ông ta mặc cái áo thụng dài tận mắt cá để lộ phía dưới tà áo đôi ủng rộng đánh xi bóng lộn. Lúc ông ta tán chuyện, nét mặt ông ta hiền hậu dịu dàng, khác hẳn khi ông ta rao giảng, do đó, ông ta để lại cho người khác một ấn tượng vô cùng sâu sắc. Mỗi một cử chỉ của ông ta đều tỏ ra rằng: “Xem! Tôi cũng có thể trút bỏ cái lốt mục sư mà làm một người trần tục vui vẻ dịu dàng đấy!”. Đúng như thế ông ta là một người thông minh, lanh lợi, bình dị, dễ gần. Nói chuyện với bà cụ tham giọng ông ta ôn tồn uyển chuyển. Nhưng với ông Tômát và bà Ghécđa thì ông tỏ ra một người xử thế cơ mưu; bất cứ lúc nào ông ta cũng giơ tay làm điệu bộ, còn với bà Tôny thì ông ta lại  lấy giọng thân mật, cợt nhả vui đùa… Có lúc, nghĩ đến địa vị của mình, ông ta liền bắt chéo tay để lên gối, ngả đầu ra phía sau, chau mày lại, mặt dài thuổn. Khi cười thì bao giờ ông ta cũng thít chặt hai hàm răng lại rồi hít vào liên tục.


Bỗng ngoài hành lang nhốn nháo hẳn lên. Có tiếng cười ồ ồ của bọn đầy tớ vọng vào. Một người khách kỳ quái xuất hiện ở cửa. Đấy là Grôblêben. Cái mũi nhọn hoắt của anh ta quanh năm thò lò mũi nước cứ thòi ra thụt vào, nhưng không bao giờ rơi xuống cả. Anh ta là cu ly ở kho lương thực nhà ông tham, nhưng ông tham lại sai anh ta làm nghề phụ khác – đánh giày. Hằng ngày, cứ tờ mờ sáng là anh ta đến phố Brêten lấy những đôi giầy để ở cửa, ngồi ở hành lang đánh hết chiếc này đến chiếc nọ. Gặp những dịp vui mừng, lễ lạt, anh ta thường diện com lê vào, mang hoa đến nhà, ăn nói thật là trơn tru. Nước mũi ở cái mũi nhọn hoắt của  anh ta cứ đu đưa. Chờ anh ta nói xong, bao giờ người ta cũng cho một ít tiền đáp lễ, nhưng không phải vì thế  mà anh ta đến. Bộ quần áo màu đen anh ta mặc, - Trước đây là của ông tham, nay đã sờn rồi; chân đi đôi ủng cao cổ đánh xe bóng lộn; cổ quàng khăn len xanh; hai bàn tay khô đét, đỏ ửng, cầm bó hoa hồng đã bắt đầu héo, cánh hoa cứ rơi lả tả xuống tấm thảm trải dưới đất. Đôi mắt ti hí đỏ ngầu của anh ta cứ chớp chớp đảo nhìn bốn xung quanh, nhưng hình như không trông thấy gì hết. Vừa bước vào khỏi cửa, anh ta đứng lại, giơ bó hoa ra trước mặt, rồi chúc mừng ngay. Anh ta nói xong mỗi tiếng, bà cụ tham gật đầu một cái, tỏ ý khuyến khích, thỉnh thoảng còn xen vào một vài lời khen ngợi. Ông tham thì cứ nhìn anh ta, nhíu đôi lông mày thưa thớt lại. Nhưng cũng có người, chẳng hạn như bà Tôny, thì lấy mùi xoa bưng miệng.


-          Bẩm cụ, bẩm các ông, các bà, con tuy nghèo đói nhưng cũng có tim có óc. Lòng tốt của ông tham đối với con thật không sao kể xiết. Hôm nay nhà ta có chuyện mừng, con cũng vui từ trong bụng vui ra. Con đến đây để chúc mừng cụ, ông tham, bà tham, và họ hàng cao quý nhà ta, cầu mong cho cậu ấm ăn khỏe chóng nhớn, dù là thiên lý  hay nhân tình cũng đều phải như thế cả. Bởi vì tốt bụng như ông chủ đây là  hiếm có lắm; trong vòng trăm dặm cũng chẳng tìm ra được một người ăn ở hiền lành; thế nào Chúa cũng sẽ đền bù!


-          Hay lắm, anh Grôblêben! Anh nói đúng đấy cảm ơn lời nói tốt lành của anh, anh Grôblêben! Anh mang bó hồng kia đến làm gì cơ chứ?


 Nhưng Grôblêben vẫn chưa dứt lời, anh ta cố, cất cao giọng, nói to hơn nữa, át cả tiếng ông tham:


-          … Chúa sẽ đền bù mọi hành vi lương thiện của ông, đúng như thế, sẽ đền bù cho ông và quý quyến. Trong tương lai sẽ có một ngày, chúng ta đều đứng trước ngai vàng của Chúa. Sở dĩ con nói như vậy là vì sớm muộn rồi cũng có ngày chúng ta đều phải chui vào nhà mồ. Người nghèo hay người giàu cũng vậy cả thôi. Đó là ý muốn của Chúa. Chúa sắp đặt như thế. Có người có cỗ quan tài bằng gỗ vàng tâm sơn bóng  loáng, có người chỉ có mấy tấm ván mỏng, dù sao thì rồi cũng sẽ phải chôn xuống dưới đất cả!


-          Thôi, thôi! Được rồi anh Grôblêben! Hôm nay chúng tôi làm lễ rửa tội cho cháu, anh đừng nói những điều như thế!


-          Con có mang đến đây mấy bông hoa! – Anh Grôblêben kết thúc những lời chúc mừng của mình.


-          Cảm ơn anh, anh Grôblêben! Anh đến là hay vẽ chuyện! Hà tất phải bày đặt như vậy cho tốn kém, anh bạn! Lâu lắm rồi tôi không được nghe những lời như anh nói! Này cầm lấy mà đi chơi một ngày cho thỏa thuê! Ông tham lấy tay vỗ vỗ vào vai anh ta, tiện thể đưa cho anh ta một talơ.


-          Đây nữa, cầm lấy con người tốt bụng! – Bà cụ tham nói – Anh nói đi anh có kính Chúa cứu thế hay không đấy?


-          Dạ, bẩm cụ, con rất kính Người, con không dám giả dối tý nào ạ!


 Thế rồi Grôblêben lại lấy một talơ nữa ở tay cụ bà, rồi lại lấy một đồng nữa ở tay bà Tôny. Sau đó anh ta đưa chân phải ra phía sau, cúi chào, rồi lùi ra. Còn bó hoa hồng anh ta cầm đến thì trừ những bông đã rơi xuống tấm thảm trải dưới đất, anh ta cũng hốt hoảng mang đi…


… Lúc đó, cụ thị trưởng đứng dậy cáo từ, ông tham tiễn cụ ra tận xe ngựa. Đối với những người khách khác, đó là dấu hiệu đã đến lúc rút lui ra về, vì bà Ghécđa còn phải tĩnh dưỡng. Nhà yên ắng dần. Chỉ có bà cụ tham, bà Tôny, Êrica và Iungman là còn ở lại.


-          Bà Iđa!- ông tham nói – Tôi đang nghĩ điều này… Mà chắc mẹ tôi cũng bằng lòng thôi… Lúc chúng tôi còn nhỏ, bà đã từng trông nom chúng tôi cẩn thận. Chờ cho bé Giôhan lớn hơn ít nữa… mặc dù hiện nay đã có chị vú em, nhưng sau này thế nào cũng cần người chăm sóc, bấy giờ bà có bằng lòng đến ở đây với chúng tôi hay không?


-          Thưa ông, được…được ạ! Nếu như bà tham cũng muốn như thế…


Bà Ghécđa rất hài lòng  về sự sắp xếp đó nên quyết định ngay.


Lúc về, đã ra đến cửa rồi, bà Tôny còn quay lại, đến trước mặt anh trai, hôn một cái ở má, rồi nói:


-          Hôm nay tuyệt quá, anh Tom a! Em cảm thấy sung sướng vô cùng. Mấy năm nay em không hề cảm thấy như thế này bao giờ! Nhờ ơn Chúa, gia đình ta chưa đến nỗi cùng đường, ai nghĩ như thế là nhầm to. Bây giờ đã có bé Giôhan, ta cứ gọi cháu là Giôhan! Đẹp quá! Em cảm thấy hình như em lại bắt đầu một cuộc sống mới!


 


 


Chương II


Khoảng chín giờ rưỡi tối hôm mở tiệc mừng nhân ngày lễ rửa tội, ông Cơrítxtian Bútđenbrúc chủ Công ty cổ phần H.C.E Buamétxtơ, Hămbuốc, tay cầm chiếc mũ màu ghi mốt mới và cái can màu vàng, phía trên có khắc tượng bán thân một bà sơ, bước vào phòng khách nhà anh trai.


-          Chào anh chị!- ông Cơrítxtian nói- À, anh Tômát, tôi có việc cần lắm, muốn nói chuyện với anh… Xin lỗi chị Ghécđa… cần lắm, anh Tômát ạ!


Hai anh em đi ra phòng ăn tối om. Ông tham thắp cái đèn đất trên tường, nhìn em trai. Ông đoán không phải là việc tốt lành. Ông Cơrítxtian vừa về chỉ mới kịp chào hỏi qua ông tham, chứ chưa có dịp nói chuyện với nhau, nhưng trong bữa tiệc mừng tối hôm nay, ông tham đã để ý theo dõi thấy ông ta có vẻ nghiêm nghị và lúng túng khác thường. Ngoài ra, lúc mục sư Prinhem rao giảng, không hiểu sao ông ta lại ra khỏi phòng ăn mấy phút. Từ ngày tạm chi cho ông Cơrítxtian một vạn mác trích trong gia tài để bù vào chỗ buôn bán thua lỗ ở Hămbuốc đến nay, ông Tômát không hề viết cho ông một dòng chữ nào. Bấy giờ ông tham nói với em: “Nếu chú cứ thế mãi, số tiền của chú sẽ hết ngay. Còn về phần tôi thì tôi mong rằng sau này chú đừng làm gì cản trở đường của tôi. Mấy năm nay, chú đã lạm dụng tình cảm anh em ruột thịt của tôi đối với chú rồi đấy!”. Thế thì bây giờ ông ta đến làm gì nhỉ? Chắc lại xảy ra chuyện gì cần kíp lắm.


-          Cái gì thế? - Ông tham hỏi.


-          Tôi không chống chọi được nữa - ông Cơrítxtian vừa trả lời vừa ghé xuống ngồi vào cái ghế lưng tựa khá cao để gần bàn ăn. Ông ta để mũ và can xuống đầu gối gầy guộc của mình.


-          Chú cho tôi hỏi điều này, chú không chống chọi được chuyện gì? Chú đến đây tìm tôi có ý định gì? - ông tham nói, mãi vẫn chưa ngồi xuống.


-          Tôi không chống chọi được nữa rồi - ông Cơrítxtian lặp lại. Đầu ông ta cứ lắc qua lắc lại, vừa lo lắng bồn chồn, vừa tỏ ra rất nghiêm nghị, đôi mắt ti hí sâu lõm cứ nhìn ngược nhìn xuôi. Năm nay ông ta mới băm ba tuổi, nhưng trông mặt già hơn nhiều! Mái tóc màu hung cũng đã thưa lắm rồi, hầu như sọ dừa đã lộ hẳn ra, lưỡng quyền nhô cao trên đôi má sâu lõm, giữa nổi bật cái mũi diều hâu, không có chút thịt.


-          Nếu chỉ có như thế thì đã may rồi, - ông ta vừa nói vừa đưa tay từ trên xuống dưới nửa mình phía bên trái nhưng lại không chạm vào người - không phài là đau mà là nhức anh ạ. Nhức liên tục, mà không rõ nhức ở chỗ nào cả. Thần kinh nửa phía bên này ngắn quá. Anh thử tưởng tượng xem tất cà dây thần kinh nửa người phía bên này không đủ kích thước. Thật là kỳ quái… có lúc tôi cảm thấy nửa người phía bên này sớm muộn rồi cũng lên kinh giật, hoặc bị tê liệt, thế là bán thân bất toại suốt đời! Anh không thể tưởng tượng nổi đâu, không đêm nào tôi ngủ yên cả. Tôi hoảng hốt nhảy thót lên, vì bỗng cảm thấy tim mình ngừng đập rồi toát mồ hôi hột… trước khi ngủ thiếp đi được thì tình trạng ấy không phải chỉ xảy ra một lần, mà là mười lần. Tôi không biết anh có bị như thế không… Để tôi kể tỉ mỉ anh nghe. Như thế đấy!


-          Thôi !- Ông tham lạnh nhạt nói - Tôi nghĩ rằng không phải chú đến đây để nói chuyện đó với tôi chứ?


-          Không phải, anh Tômát ạ - Nếu chỉ vì chuyện ấy thì đã may rồi, đáng tiếc, không phải chỉ riêng mỗi chuyện ấy! Chuyện buôn bán… Tôi không thể chống chọi được nữa.


-          Thế nào, lại buôn bán thua lỗ rồi à?- ông tham lơ đãng nói, thậm chí ông cũng không lên giọng, mà chỉ bình thản hỏi một câu như vậy, rồi đưa mắt nhìn chú em, thái độ lạnh nhạt, mệt mỏi.


-          Không phải, anh Tômát ạ! Nói thực hiện nay cũng chẳng khác gì trước, xưa nay tôi buôn bán có gặp may bao giờ đâu! Chắc anh biết rõ rồi chứ? Ngay một vạn mác lần trước anh đưa cho cũng chẳng thấm tháp gì… Chẳng qua chỉ cứu vãn được lúc cần kíp, khỏi phải đóng cửa tức khắc mà thôi. Thực ra… sau khi cầm số tiền đó trong tay, tôi phải trả nợ hết, về khoản cà phê… Vì bị phá sản ở Antơvơpen… Thực tình là như vậy. Từ dạo đó, tôi không buôn bán gì nữa; phải khoanh tay ngồi nhìn. Nhưng người ta là ai cũng phải sống cả… nên bây giờ lại nợ… năm nghìn talơ… Chao ôi, anh không biết tôi đã sa lầy sâu đến thế nào? Lại thêm cái bệnh nghiệt ngã này nữa…


-          Ồ, chú chỉ khoanh tay ngồi nhìn à? – Ông tham không kìm được nữa, nói thật nhanh – Chú cho cả cái xe xuống vũng bùn, còn mình thì đứng một bên để hưởng lạc! Chú tưởng tôi không biết chú sống thế nào đấy à? Suốt ngày dẫn bọn con gái đốn mạt kia đến rạp hát, rạp xiếc, câu lạc bộ!...


-          À, anh nói cô Alinơ đấy à? Phải, anh không thể hiểu nổi chuyện ấy đâu! Sở dĩ tôi bất hạnh, có lẽ chính vì tôi quá hiểu những chuyện như thế. Nếu anh nói tôi đã tiêu quá nhiều tiền vào chuyện ấy thì quả là anh đã nói đúng rồi đấy! Với lại sau này, tôi còn phải tiêu nhiều hơn nữa cơ. Tôi muốn nói với anh điều này… đây là hai anh em mình nói chuyện với nhau… Đứa con thứ ba, đứa con gái vừa sinh cách đây nửa năm… là con tôi đấy!


-          Chú là một con lừa!


-          Anh không nên nói thế, anh  Tômát ạ. Dù anh có giận, anh cũng nên đối xử với cô ấy công bằng một tý. Ồ, tại sao đứa bé ấy lại không thể là con tôi được? Còn như cô Alinơ thì không đốn mạt tý nào cả. Anh không nên dùng những lời lẽ như thế mà mắng cô ấy. Cô ấy không phải  hạng đàn bà đi theo bất cứ người đàn ông nào. Vì tôi mà cô ấy cắt đứt với lão tham Hôm. Thực ra thì lão ta nhiều tiền hơn tôi. Cô ấy đối với tôi có tình nghĩa lắm… Không, anh  Tômát, anh không thể nào biết được cô ấy tuyệt diệu như thế nào! Cô ấy khỏe lắm… Khỏe lắm! – Ông Cơrítxtian nhắc lại, và vừa nói vừa giơ bàn tay lên che trước mặt, y hệt trước kia mỗi lần nói đến chuyện





-          Đây là Maria   1 và những chuyện đồi bại ở Luânđôn – Lúc cô ấy cười, anh để ý nhìn hàm răng mà xem! Tôi đi hơn nửa trái đất mà chưa hề thấy hàm răng nào như thế. Ở Vanparaixô không tìm thấy, ở Luânđôn cũng không tìm thấy… Mãi không bao giờ tôi quên được buổi tối gặp cô ấy lần đầu… Ấy là hôm ở phòng ăn sò huyết trong quán Unlích… Lúc bấy giờ cô ấy đang ngồi với lão tham Hôm, tôi nói với cô ấy vài ba câu gì đó, đối đãi với cô ấy khá dịu dàng… Sau đó thì tôi chiếm được cô ấy… Chà, anh  Tômát ơi! Cảm giác của tôi lúc bấy giờ hoàn toàn khác cảm giác của anh khi anh vớ được một món hàng hời!... Anh không thích nghe những chuyện này, tôi đã thấy điều đó qua nét mặt anh. Dù sao chuyện cũng đã kết thúc rồi. Tôi sắp chia tay cô ấy, mặc dù vì đứa bé, tôi còn phải giữ mối quan hệ nào đó với cô ấy… Anh biết đấy, tôi phải trả hết các khoản nợ ở Hămbuốc, rồi thôi không buôn bán gì nữa. Bây giờ tôi không thể chống chọi nổi nữa. Tôi đã thưa chuyện với mẹ, mẹ bằng lòng đưa trước cho tôi năm nghìn talơ nữa, như vậy tôi có thể giải quyết mọi việc xong xuôi. Tôi nghĩ chắc anh cũng bằng lòng để tôi làm như vậy, bởi vì nghe người ta nói gọn một câu: “Cơrítxtian Bútđenbrúc trả xong nợ nần và đã đi ra nước ngoài rồi”, còn dễ nghe hơn là người ta nói những điều khác, còn dễ nghe hơn là bảo tôi bị phá sản. Tôi đoán anh cũng nghĩ như thế. Tôi định trở lại Luânđôn, anh Tômát ạ, đến Luânđôn tìm một chỗ nào đó làm ăn. Càng ngày tôi càng thấy rõ tôi là người không quen làm việc một mình, không quen gánh vác những trách nhiệm lớn… Làm một anh viên chức, buổi tối có thể về nhà thoải mái… Với lại, tôi cũng thích sống ở Luânđôn… Anh có tán thành tôi làm như thế không?


Trong khi ông Cơrítxtian phân trần như vậy, ông tham cứ đứng quay lưng về phía chú em, hai tay đút túi quần, chân vẽ vẽ trên sàn nhà.


- Ừ chú cứ đi Luânđôn đi!


Ông trả lời gọn một câu rồi bỏ mặc chú em đấy, trở về phòng khách, thậm chí không quay đầu lại nhìn.


Nhưng ông Cơrítxtian đã đi theo sau ông Tômát. Ông ta đi đến chỗ bà Ghécđa đang ngồi một mình xem sách, chìa tay ra bắt.


-          Chào chị Ghécđa! À chị Ghécđa này, chả bao lâu nữa, tôi sẽ đi Luânđôn. Người ta thường bị số phận ném qua ném lại như thế, thật là kỳ quặc! Bây giờ lại sắp đến chỗ mông lung, mù mịt; ở một thành phố lớn như thế, chưa đi ba bước đã có thể gặp một chuyện mạo hiểm rồi, ở đấy sẽ gặp bao nhiêu chuyện mới lạ! Thật kỳ quặc! Chị đã từng có cảm giác này chưa nhỉ? Ở chỗ này ngay gần dạ dày… Thật là kỳ quặc…


  


 CHƯƠNG III


Cụ Giamê Muêlenđoóc là  nghị viên thương nhân già nhất, chết rất ly kỳ và cũng rất dễ sợ. Cụ mắc bệnh đái đường, mấy năm cuối đời, cụ hoàn toàn mất hết bản năng giữ gìn thân mình. Cụ nghiện bánh ngọt và bánh gatô, lại không hề biết ăn cho có chừng mực. Bác sĩ Gơrabô cũng chuyên theo dõi sức khỏe cho gia đình Muêlenđoóc, đã tìm mọi cách ngăn cản, người nhà thì lo ngay ngáy, vừa van xin vừa cưỡng bức không cho cụ ăn, nhưng cụ nghị già ấy đã làm những gì nào? Mặc dù thần kinh đã bị tàn phế một nửa, cụ vẫn thuê một căn nhà trong ngõ hẻm phố Gruêpen, nếu không thì ở ngỏ Enghenvíchsơ, để tìm một chỗ thật kín đáo, hàng ngày lẻn đến đó ăn gatô ngốn ngấu… Người ta đã tìm thấy cụ hồn lìa khỏi xác ở đây, miệng còn ngậm nửa cái bánh ngọt nhá dở, ngoài ra, trên quần áo và trên cái bàn con xiêu vẹo, cũng đầy vụn bánh. Bệnh mãn tính kia chưa kịp làm cho cụ kiệt sức thì một cơn gió độc đã cướp mất sinh mạng của cụ.


 Về cái chết ghê tởm của cụ, người trong gia đình này cố tìm mọi cách che giấu không cho người ngoài biết, nhưng rồi tin ấy vẫn lan nhanh trong thành phố, trở thành câu chuyện làm quà khắp đường khắp ngỏ. Ở sở giao dịch, ở câu lạc bộ, ở quán ăn “Hài hòa”, ở phòng giấy các hãng buôn, ở nghị viện thị dân hay trong các buổi khiêu vũ, tiệc tùng, dạ hội do nhà nào đó tổ chức, đâu đâu người ta cũng bàn tán, bởi vì chuyện xảy ra vào tháng hai năm 1862 – đúng vào mùa các hoạt động xã giao nhộn  nhịp nhất. Thậm chí ngay trong buổi “Dạ hội Giêdudalem”, ở nhà Bútđenbrúc, khi bà Lêa Kéchác đọc xong câu kinh cuối cùng thì các bà bạn của cụ tham cũng thầm thì về cái chết đột ngột của cụ nghị Muêlenđoóc. Thậm chí bọn con gái của lớp học ngày chủ nhật, khi khép nép bước vào cổng nhà Bútđenbrúc cũng thì thào bàn tán. Còn bác Xtút ở phố Đúc Chuông và bà vợ thường hay lui tới các gia đình giàu sang, thì lại kể càng tỉ mỉ.


Nhưng hứng thú của người ta không dừng lại ở xác chết mãi được. Tin cụ nghị qua đời vừa truyền đi thì một vấn đề quan trọng liền nảy ra ngay… Sau khi đất đã đắp lên người chết, còn lại chuyện này cứ lẩn quẩn trong đầu óc mọi người, ai sẽ kế thừa chức vị của cụ?


Tâm trạng của người nào người ấy căng thẳng hẳn lên! Các hoạt động trong bóng tối nhiều hẳn lên! Nếu một người nào ở đâu đến đây thăm quan các di tích thời trung thế kỷ hay phong cảnh đẹp ngoại ô thành phố, tất nhiên sẽ không thấy gì hết. Nhưng đằng sau cái bề ngoài đó, ẩn giấu bao nhiêu chuyện chạy chọt kèn cựa, bao nhiêu chuyện sôi nổi lo âu. Đủ các thứ lập luận vững chắc, đủ các thứ ý kiến không thể gì bác được đang xung đột nhau. Lúc đầu là tranh cãi ồn ào, không ai chịu ai, sau đó lại châm chước cho nhau, dần dần dung hòa với nhau. Nhiệt tình của mọi người bị khuấy động. Hư vinh và tham vọng đang chờ thời cơ nẩy nở. Những hy vọng bị chôn vùi bấy lâu nay lại ngo ngoe trỗi dậy nhưng lại bị dập tắt một lần nữa. Vị thương gia già Cuarơ ở ngõ Bánh Mì lần nào bầu cũng chỉ được ba bốn phiếu, trong kỳ bầu cử lần này, cụ lại run run ngồi nhà chờ người ta gọi tên mình. Nhưng rồi vẫn không trúng. Sau đó, cụ vẫn làm ra vẻ đứng đắn, điềm nhiên, tự đắc, ra ngoài đi dạo, chống batoong xuống vỉa hè kê “cạch cạch”. Suốt đời cụ không làm được ông nghị cho đến khi nằm dưới mồ, cụ sẽ phải ôm mối hận nghìn thu…


Khi cả gia đình Bútđenbrúc tụ tập vào ngày thứ năm bàn luận đến cái chết của cụ Giamê Muêlenđoóc, bà Tôny nói vài ba câu tỏ ra thương tiếc, rồi bắt đầu lè lưỡi liếm môi trên, đảo mắt nhìn anh trai, vẻ láu lỉnh. Không may cả hai động tác đó đều lọt vào mắt ba cô gái họ Bútđenbrúc, các cô liền đưa cặp mắt sắc như dao nhìn nhau, rồi như nghe theo một mệnh lệnh, cả ba cô đều nhắm mắt, mím môi trong một giây đồng hồ. Ông tham cũng mỉm cười để đáp lại cái cười láu lỉnh của bà em gái, rồi bắt sang chuyện khác. Ông biết bà Tôny đang vui mừng nghĩ đến chuyện gì rồi, đó là chuyện mà mọi người trong thành phố đang bàn tán.


Có những tên tuổi vừa nêu ra đã bị phủ quyết ngay. Nhưng cũng có những tên tuổi nêu ra thì vinh dự được thẩm xét. Cụ Cuarơ ở ngõ Bánh Mì già quá rồi, dù thế nào thì cũng cần phải bổ sung những lực lượng mới. Ông Hunêút, chủ hãng buôn gỗ, gia tư có hàng trăm vạn, bắc lên cân thì rõ ràng là nặng hơn, nhưng đáng tiếc là theo hiến pháp quy định, ông ta không có quyền ứng cử, vì đã có một người anh là nghị viên rồi! Trong danh sách những người ứng cử, có mấy vị có thể đứng vững được, là ông tham Edua Kitxtenmacơ, chủ hãng rượu, và ông tham Hécman Haghenxtruêm. Ngoài ra còn có một vị, từ đầu đã được người ta nhắc đến, ấy là ông  Tômát Bútđenbrúc. Ngày bầu cử mỗi lúc một gần, người ta thấy rất rõ, ông Tômát Bútđenbrúc và ông Hécman Haghenxtruêm là hai người có nhiều hy vọng trúng cử nhất.


Không còn nghi ngờ gì nữa, ông Hécman Haghenxtruêm có một số người ủng hộ và sùng bái. Ông ta sốt sắng với những công việc có ích. Công ty Xtrung Haghenxtruêm phát triển với tốc độ kinh người; cuộc sống xa hoa của ông ta, tòa nhà sang trọng ông ta ở, cũng như loại bánh dẻo gan ngỗng ông ta ăn sáng đều đã làm tăng thêm thanh thế của ông ta. Vị thương gia này thân hình cao lớn, hơi béo, có bộ râu quai nón màu đỏ hoe cắt ngắn, cái mũi hơi tẹt dính vào môi trên. Ông nội ông ta trước kia là một người vô danh tiểu tốt, ngay cả bản thân ông ta cũng không hiểu rõ bình sinh ông nội mình như thế nào nữa. Bố ông ta lấy một người đàn bà giàu có nhưng thân thế có chỗ khả nghi, nên vẫn không có chỗ đứng trong giới xã giao. Còn ông ta thì lại thông gia với các gia đình Hunêút và Muêlenđoóc, được xếp vào năm sáu danh gia vọng tộc trong thành phố, tên tuổi ông ta nghiễm nhiên ngang hàng với các dòng họ cao quý đó, bản thân ông ta cũng trở thành nhân vật hiển hách được mọi người kính nể, là điều không cần bàn cãi gì nữa. Điều mới lạ trong tính cách ông ta, đồng thời cũng là điều khiến ông ta có thể thu hút được người khác là ông ta có tư tưởng tự do và rất độ lượng. Cũng chính là điều làm cho ông ta hơn hẳn mọi người, và được mọi người muốn đưa ông ta lên địa vị lãnh đạo. Cách làm tiền cũng như cách ăn tiêu rộng rãi của ông ta không giống tính cần kiệm, cẩn thận, quy củ của một số người cùng giới. Ông ta có chủ trương riêng của mình chứ không chịu để cho truyền thống ràng buộc, mà cũng không biết theo những tập tục cũ. Ông ta không ở ngôi nhà kiểu cũ tổ tiên để lại, rộng bao la gần như lãng phí, có một con đường lát những phiến đá lớn xuyên qua dãy hành lang quét sơn trắng. Tòa nhà của ông ta ở phố Đantơ, tức là dãy phố đi từ phố Brêten về hướng Nam, một tòa nhà kiểu mới, hoàn toàn khác với kiểu truyền thống thô lỗ, xấu xí. Mặt chính quét qua một nước sơn trông chất phác, giản dị; mỗi căn phòng to hay nhỏ đều hợp với thực tế, đồ đạc bàn ghế sang trọng mà lại rất thoải mái. Cách đây không bao lâu, nhân một buổi dạ hội lớn tổ chức tại nhà, ông ta có mời một nữ diễn viên ca kịch của Nhà hát thành phố đến. Tiệc xong, ông ta mời cô này hát mấy bài cho khách nghe. Trong số những người khách này có cả em ông ta, một luật gia rất yêu văn nghệ và có ít nhiều tài năng văn nghệ. Hát xong, ông ta khẩn khoản đãi một món tiền rất hậu. Nếu trong hội nghị đại biểu thị dân có vị nào đề nghị bỏ ra một món kinh phí lớn để tu sửa, bảo tồn các di tích lịch sử thời trung cổ để lại, thì ông Hécman sẽ là người không tán thành, thế nhưng mặt khác, ông ta lại là người đầu tiên, người đầu tiên trong cư dân toàn thành phố, trang bị đèn măngsông ở nhà ông ta và bày ở bàn giấy ông ta làm việc, đó là sự thực không thể tranh cãi được. Nếu nói ông Haghenxtruêm cũng tuân theo một thứ truyền thống nào, thì đó chính là tư tưởng tự do tiến bộ, khoan dung rộng rãi và không có thành kiến, kế thừa được của cụ Hinrich Haghenxtruêm, bố đẻ ông ta. Người ta sùng bái ông ta cũng ở khía cạnh ấy.


     Uy tín của ông Tômát Bútđenbrúc thì được xây dựng trên cơ sở khác. Người ta kính trọng ông không phải chỉ vì bản thân ông là người đáng kính trọng mà còn vì những đức tính của bố, của ông nội và ông tổ truyền lại mà người ta chưa quên. Hẵng khoan nói đến những thành tích của bản thân ông về mặt buôn bán và hoạt động xã hội, ông còn đại diện cho truyền thống vẻ vang của một gia đình thương nhân có hàng trăm năm lịch sử. Tất nhiên là cái phong cách tốt đẹp rộng rãi làm cho người ta vui lòng khâm phục khi ông bảo vệ và thể hiện truyền thống ấy, có lẽ là cái quan trọng nhất. Ông hơn  hẳn người khác, kể cả những vị đồng nghiệp có học thức ở chỗ ông đã được theo một nền giáo dục chính quy rất tốt đẹp. Bất cứ ông xuất hiện ở nơi nào, phong cách đó của ông không những làm cho người ta kính trọng, mà còn làm cho người ta cảm thấy ông khác biệt…


Ngày chủ nhật, ở trong gia đình Bútđenbrúc, vì có mặt ông tham, nên mọi người thường chỉ nói qua về chuyện bầu cử sắp tổ chức nay mai, và thái độ cũng rất lãnh đạm. Khi nói chuyện đó, bà cụ tham thường lặng lẽ đảo đôi mắt sáng quắc liếc nhìn hai bên. Chỉ có bà Tôny là không tự kiềm chế được thỉnh thoảng muốn tỏ ra mình là người hiểu biết khá nhiều về hiến pháp. Những điều khoản trong hiến pháp liên quan đến việc bầu cử nghị viên, bà đều nghiên cứu kỹ lưỡng, cũng giống như một năm trước đây, bà từng bỏ công nghiên cứu luật hôn nhân. Bà nói với mọi người về phòng bầu cử, về cử tri và phiếu bầu, suy tính mọi trường hợp có thể xảy ra, thuộc lòng lời thề trang trọng mà mỗi cử tri phải đọc trước khi bỏ phiếu, và giải thích cho mọi người biết thế nào gọi là “công khai bình luận” tức là công khai thảo luận các tên trong bản danh sách ứng cử viên ngay trong phòng bầu cử. Hơn nữa, bà còn tỏ ra rất muốn tham gia “công khai bình luận” về tư cách của ông Hécman Haghenxtruêm. Một giây đồng hồ sau đó, bà lại cúi đầu xuống đếm những hạt mận để trong cái đĩa anh trai dùng đựng mật: “Trúng… không trúng… trúng…không trúng…trúng!”. Nói đến chữ cuối cùng, bà nhanh nhẹn lấy đầu nhọn cái nĩa cắm hạt mận thiếu ở đĩa bên cạnh sang… Sau bữa ăn, không thể nào nhịn nữa, bà cầm cánh tay kéo ông tham đến trước cửa sổ.


-          Chao ôi! Nếu anh trúng cử, anh Tom… Nếu huy hiệu gia đình nhà ta cũng được treo trong nghị viện thành phố… thì em sung sướng biết chừng nào! Em sung sướng có thể ngã nhào xuống đất mà chết ngay, đấy rồi anh xem.


-          Thật ư, hả cô Tôny thân mến! Tôi van cô, cô  hãy tự kiềm chế lại chút nữa, nghiêm túc hơn nữa! Chả phải thường ngày cô đứng đắn lắm cơ mà? Chả nhẽ tôi cũng chạy chọt khắp nơi như ông Cuarơ hay sao? Nhà ta không có thêm chức “nghị viên” cũng đã sang trọng rồi… Dù thế này hay thế kia, tôi thấy cô cứ sống yên ổn bình thường mà hay hơn đấy.


           Những cơn xúc động, những lời bàn luận, những ý kiến xung đột  nhau như đã kể trên ngày càng tăng thêm. Ông tham Pêtơ Duênman, vị công tử buôn thua bán lỗ chỉ còn lại cái tên hiệu trống rỗng, hơn nữa lại ăn hết cả vốn liếng của cô con gái hăm bảy tuổi đầu, cũng tham dự cuộc tranh đua này. Ông ta không những đến dự tiệc ở nhà ông Tômát Bútđenbrúc, mà cũng đến dự cả bữa tiệc ông Hécman Haghenxtruêm mời, và bất cứ dự tiệc nhà nào, ông ta cũng nói oang oang, gọi chủ nhà là “nghị viên” cả. Ông Pigitmen Gôtxơ, như một con sư tử, nổi cơn giận gầm thét ầm ầm, chạy ngược chạy xuôi, bất cứ người nào không muốn bỏ phiếu cho ông tham Bútđenbrúc, thì ông ta không thèm phí một lời nói, cứ muốn bóp cổ cho chết ngay lập tức.


-          Thưa các vị… a hèm… ông tham Bútđenbrúc thật là người vô cùng vĩ đại! Nghĩ lại chuyện xảy ra đầu năm 1848, cụ thân sinh ra ông tham chỉ nói có một câu thôi mà đã dẹp được cơn thịnh nộ của cả đám người nổi loạn. Bấy giờ tôi đứng cạnh ông cụ… Nếu như trên đời này còn có chính nghĩa thì cụ thân sinh ra ông tham cũng như cụ cố đẻ ra thân sinh ông tham lẽ ra phải được làm nghị viên từ lâu rồi…


Nhưng nên suy xét thật kỹ, thì cái làm cho lòng ông Gôtxơ rực cháy chính là bà vợ trẻ của ông tham đúng hơn là bản thân ông tham. Xưa nay vị môi giới chào hàng này chưa hề nói chuyện với bà một câu nào. Ông ta không thuộc hạng thương gia giàu có, chưa hề ngồi vào bàn ăn những nhà đó, cũng chưa hề đi lại thăm hỏi những nhà đó, nhưng như trên chúng tôi đã nói, bà Ghécđa vừa xuất hiện ở địa phương này, thì vị môi giới chào hàng buồn rũ rượi, lúc nào cũng chăm chú tìm tòi những sự vật kỳ lạ kia, đã phát hiện ra bà ngay. Dựa vào bản năng ít khi sai lầm của mình, ông ta thấy ngay được rằng, thế nào bà cũng sẽ đưa lại cho cuộc sống bằng phẳng nhạt nhẽocủa ông ta một số nội dung mới, mặc dù lúc bấy giờ ông ta vẫn chưa biết bà tên họ gì. Ông ta đã dâng hiến toàn bộ linh hồn và thể xác của ông ta cho bà, cam tâm làm nô lệ cho bà. Không ai giới thiệu ông ta với bà cả, nhưng từ hôm đó, tâm thần ông ta lúc nào cũng luẩn quẩn bên cạnh người đàn bà thần kinh nhạy bén và vô cùng khó tính kia, y hệt như con hổ luẩn quẩn bên người dạy thú. Lúc tình cờ gặp bà ngoài phố, ông ta bước tới trước mặt bà Ghécđa, bỏ cái mũ con chiên đội trên đầu xuống chào, làm bà Ghécđa giật mình kinh hãi. Lúc đó ông ta nét mặt buồn rầu, tư thế nham hiểm, nhưng lại khúm núm, cũng hệt như dáng điệu con hổ trước người dạy thú… Cái thế giới tầm thường này không thể đưa đến cho ông ta cơ hội làm những việc hung hãn ghê rợn đối với người đàn bà ấy, nhưng nếu như có cái cơ hội đó thì, một người lưng gù, âm thầm, lạnh lùng trong cái áo khoác ngoài của mình như ông ta, sẽ vui vẻ, hết lòng hết dạ vui vẻ thực hiện ngay! Cái phong tục tập quán ngán ngẩm của cái thế giới này không cho phép ông ta dùng những âm mưu như giết người, phạm tội hay vấy máu để đưa người đàn bà này lên ngôi báu! Không thể làm được việc gì vì bà, có chăng chỉ là bỏ cho ông chồng được mọi người tôn sùng nhiệt liệt của bà một lá phiếu ở trong nghị viện! Hoặc giả sau này có một ngày nào đó ông ta sẽ đưa toàn bộ bản dịch các vở kịch của Lôpơ dơ Vêga cho bà xem mà thôi!


 


 CHƯƠNG IV


  Theo hiến pháp quy định, nếu nghị viện khuyết ghế nào thì trong vòng bốn tuần lễ, sẽ bầu người mới thay. Cụ Giamê Muêlenđoóc tạ thế đã được ba tuần rồi, cuối cùng ngày bầu cử đã đến. Hôm ấy là một ngày cuối tháng hai, tuyết bắt đầu tan.


  Khoảng một giờ chiều, người đứng chật phía trước tòa thị chính ở phố Brêten. Mặt chính tòa nhà này xây ghạch pha lê có xuyên lỗ, trên mái là những cái lầu nóc nhọn, hoặc lớn hoặc bé, chỉ thẳng lên nền trời màu trắng đục. Cầu thang có mái che xây trên những cột đá phía ngoài. Từ cái cửa vòm nhọn phía trước có thể nhìn thấy chợ và vòi nước phun ngược… Những đám tuyết ngoài phố bị chân giày xéo đã tan thành vũng nước bẩn, nhưng người ta vẫn đứng đấy. Trừ những lúc thỉnh thoảng đưa mắt nhìn nhau trong chốc lát, họ cứ vươn cổ chăm chú nhìn phía trước. Vì lúc đó trước mặt họ, trong tòa nghị viện ở phía sau cổng lớn, ban bầu cử do đại biểu nghị viện và đại biểu thị dân cử ra, đang ngồi trên mười bốn chiếc ghế quây thành nửa vòng tròn, chờ danh sách các vị trúng cử ở phòng bầu cử đưa ra. Thời gian kéo dài lâu lắm rồi. Cuộc tranh luận trong phòng bầu cử hầu như không chịu chấm dứt, mà đang gay go lắm. Mãi đến bây giờ vẫn chưa nhất trí đưa ra một cái tên mà mọi người đồng ý chuyển cho ban bầu cử. Bằng không ngài thị trưởng sẽ tuyên bố người nào đó trúng cử thôi!... Thật quái lạ! Không ai biết tin đồn từ đâu đến, và đã được dựng lên như thế nào, nhưng quả thực từ trong cổng lớn truyền ra ngoài phố, hơn nữa truyền đi khắp mọi nơi. Phải chăng là từ miệng ông Cátxpeden, người lớn tuổi  nhất trong hai người làm truyền tin của tòa thị chính, lúc này cũng tự xưng là “đầy tớ của nhân dân”, đang đứng phía trong cổng, nghiến chặt răng, mắt liếc nhìn một bên, truyền những tin nghe được ra ngoài? Mọi người đều nói, ba phòng bầu cử đã chuyền tên người trúng cử sang ban bầu cử rồi, có điều là mỗi phòng đưa ra một vị khác nhau: Haghenxtruêm, Bútđenbrúc, Kítxtenmacơ! Lạy Chúa, mong cho thông qua cách bỏ phiếu kín, có thể có một vị chiếm được đa số tuyệt đối! Những người không mặc áo ấm và không đi ủng, thì không chịu đựng được nữa rồi, cứ dẫm lên dẫm xuống, vì chân họ đã rét cóng!


 Đủ các loại người đứng đấy chờ tin tức. Có người là thuỷ thủ, cổ áo thêu hoa văn, hai tay đút túi quần vừa rộng vừa dài; có người là phu bốc vác ở kho lương thực, mặc áo sơ mi quần đùi vải bao bố nhuộm, mặt trung hậu, thật thà. Anh em xà ích trèo lên, những bao lương thực cao nhất xếp trên xe, tay cầm roi, cũng chờ kết quả bầu cử. Các chị hầu gái quấn khăn, choàng tạp dề, quần áo kẻ sọc, cái mũ trắng bé tí chụp đằng sau gáy, tay trần xách làn. Cũng có những chị hàng rau Hàng Cá đi giày rơm, thậm chí có cả các cô  gái làm cỏ ở công viên, đội mũ mềm kiểu Hà Lan, mặc áo ngắn, cánh tay dài màu trắng, có những nếp gấp phồng phồng thêu hoa… Tất nhiên trong đám ấy, có một số thị dân có địa vị, các ông chủ hiệu buôn ở gần đấy, những người tập sự trẻ tuổi trong các hiệu buôn của bạn bè, cha anh họ, v.v… Các ông chủ thì đầu trần chạy ra, trao đổi ý  kiến với nhau, bọn tập sự trẻ tuổi thì ăn mặc chỉnh tề, diêm dúa… ngoài ra còn có một số học sinh đeo cặp sau lưng, hoặc kẹp ở nách…


   Một người phụ nữ đứng sau hai anh công nhân để bộ râu thủy thủ, miệng ngậm thuốc lá. Bà ta đang cao hứng đưa đầu sang phải lại đưa đầu sang trái, nhìn tòa thị chính qua khe hở của hai cái vai vạm vỡ. Bà ta khoác áo măng tô nâu, cổ da, hai tay túm chặt vạt áo trong khuôn mặt bị cái mạng màu nâu che kín, đôi ủng cao su dưới chân luôn luôn dịch qua dịch lại trong vũng nước tuyết.


-          Ồ! Ông Cuarơ, chủ các anh, lần này vẫn không trúng đâu! – Một anh công nhân nói với người kia.


-          Lại không ư! Đồ ngốc, ông ấy làm sao trúng được cơ chứ! Bây giờ họ chỉ chọn một trong ba người là ông Haghenxtruêm, ông Kitxtenmacơ và ông Bútđenbrúc.


-          Đúng, vấn đề bây giờ là, ba người ấy, người nào có thể đánh đổ được hai người kia.


-          Ừ, thử đoán xem ai đánh đổ được ai nào?


-          Tớ ấy à? Tớ cho rằng thế nào họ cũng bầu ông Haghenxtruêm cho mà xem!


-          Thôi, đừng làm ra vẻ thông minh vặt nữa… Không nên nói bậy. – Anh ta vứt điếu thuốc lá xuống phía trước chân, vì lúc đó người rất đông, không sao vứt xa được. Anh ta đưa hai tay kéo thắt lưng, nói tiếp – Ông Haghenxtruêm ấy à? Ông ta là một cái thùng đựng cơm, béo đến nỗi không thở bằng mũi được…! Không được, nếu ông Cuarơ của chúng ta không hy vọng gì, thì tôi tán thành ông Bútđenbrúc. Ông ấy thông minh…


-          Ừ, cứ cho là anh nói đúng đi, nhưng chẳng phải là ông Haghenxtruêm giàu hơn cơ mà?...


-          Bầu cử có liên quan gì đến chuyện tiền của. Vấn đề không phải chỗ đó. Nhưng ông Bútđenbrúc lúc nào cũng ăn diện trông lác cả mắt, áo sơ mi trắng, cà vạt lụa, râu bôi sáp… Cậu đã trông thấy ông ta đi ngoài đường chưa nhỉ? Cứ nhảy y như là chim ấy…


-          Hừ, đồ ngốc, cái đó thì dính gì đến chuyện bầu cử?


-          Nghe nói ông ấy có bà em gái bỏ hai đời chồng rồi phải không?


 Người phụ nữ mặc áo măng tô buổi tối giật mình đánh thót…


-          Hừ, nghe nói như thế. Nhưng chuyện đầu đuôi thế nào, không rõ. Với lại cũng không thể bắt ông tham phải chịu trách nhiệm về chuyện ấy được.


  “Đúng như thế, sao lại có thể bắt ông tham chịu trách nhiệm được!”. – Người phụ nữ mặt che mạng nói thầm, hai bàn tay nắm chặt vạt áo. – “Đúng như thế thật! Lạy Chúa!”.


-          Với lại – Người ủng hộ ông tham Bútđenbrúc nói thêm – với lại chả phải là ngài thị trưởng Uêvơdích của chúng ta nhận làm bố đỡ đầu cho con ông ấy rồi đấy ư? Điều đó mới quan trọng chứ! Cứ thử nghĩ kỹ mà xem…


-          Đúng như thế!


-          Ừ, cứ cho là anh nói đúng đi, nhưng ông Haghenxtruêm giàu hơn cơ mà?...


  “ Đúng như thế” – người phụ nữ nói thầm – “Lạy Chúa, cái đó cũng có góp phần vào việc này đấy…”


    Bà rùng mình một cái. Lại có một tin từ trong đưa ra, rồi truyền qua đám đông lọt vào tai bà. Chưa biết kết quả ra sao cả. Số phiếu được quá ít nên ông Edua Kitxtenmacơ đã bị gạch đi rồi. Cuộc đấu tranh giữa hai ông Haghenxtruêm và ông Bútđenbrúc vẫn chưa phân thắng bại. Một người nói, giọng đứng đắn, “Nếu phiếu vẫn bằng nhau, thì phải cử ra một “ủy ban năm người” biểu quyết…”.


    Bỗng ở gần cổng có tiếng gào to:


-          Hainơ Dêhátxơ trúng cử rồi!


Hainơ Dêhátxơ, nói đây là một con ma rượu say bí tỉ suốt ngày, hôm nào cũng đẩy cái xe đi khắp các phố bán bánh mì nóng. Ai nấy cười ồ lên, kiểng chân xem người nào nói đùa câu đó. Ngay cả bà che mạng cũng không nín nhịn được cứ cười hì hì, hai vai đưa lên đưa xuống một lúc! Nhưng bà liền xua tay ý muốn nói: “chả nhẽ bây giờ là lúc nói đùa hay sao?”. Chỉ thấy bà sốt ruột trấn tĩnh lại rồi chăm chú nhìn vào tòa thị chính qua khe hở giữa hai người công nhân. Nhưng ngay trong lúc đó, hai tay bà buông thõng, cái áo lễ buổi tối phanh ra, bà đứng đấy, hai vai rũ xuống, ỉu xìu như người mất hồn.


  Haghenxtruêm! Không một ai biết tin ấy truyền đi đến đây bằng cách nào, như từ dưới đất đưa lên, hoặc từ trên trời đưa xuống, trong chốc lát, truyền đi khắp nơi không bàn cãi nữa. Sự việc đã quyết định như vậy rồi. Haghenxtruêm! – Đúng, đúng, rốt cục là ông ta. Không còn hy vọng gì nữa. Lẽ ra người phụ nữ che mạng, phải lường trước được kết quả đó. Chuyện đời bao giờ cũng thế. Bây giờ, chỉ còn về nhà, không có việc gì đáng làm nữa. Bà thấy nước mắt trào ra…


  Tình hình đó xảy ra chưa đầy một tích tắc đồng hồ, bỗng cả đám người xôn xao hẳn lên, người đứng phía trước lùi ra, ngả vào người đứng phía sau. Cùng lúc, cổng trước tòa thị chính có một vật đỏ chói lóe lên… đó là màu áo của hai người truyền tin, của tòa thị chính. Cátxpeden và Ucơphentơ, cả hai mặc lễ phục, mũ ba góc, quần cưỡi ngựa trắng, ủng cao cổ viền vàng, đeo thanh bảo kiếm dùng để trang sức, sóng đôi đi ra, xuyên qua đám đông đang lùi về phía sau nhường chỗ.


   Dáng đi của hai người cũng giống như số phận của họ hóa thân, nghiêm nghị, trầm mặc, không nói một lời, mắt nhìn thẳng, mi trên sập xuống… Kết quả bầu cử đã được thông báo với họ, cái vẻ mặt sắt vô tư, họ đi theo hướng kết quả đó quy định. Nhưng họ không đi đến phố Đantơ mà rẽ sang phải, về phố Brêten!


  Người phụ nữ che mạng không dám tin vào mắt  mình nữa. Nhưng những người xung quanh bà cũng nhìn thấy những điều bà nhìn thấy. Người ta chen chúc nhau theo hai người truyền tin tòa thị chính đi về hướng ấy:


-          Ô, ô, ông Bútđenbrúc, chứ không phải ông Haghenxtruêm!...


Lúc đó, các nhân vật quan trọng, ăn mặc đủ các kiểu, cười cười nói nói, từ cổng chính đi ra. Họ rẽ nhanh về đến phố Brêten, ai cũng muốn mình là người đến chúc mừng đầu tiên.


 Người phụ nữ kia túm chặt áo măng tô, co chân chạy, không còn dáng điệu con nhà khuê các nữa. Cái mạng che mặt của bà rơi xuống, để lộ khuôn mặt đỏ ửng, nhưng bà không nghĩ đến chuyện đó. Mặc dù một chiếc ủng viền da cứ nện xuống tuyết phành phạch, rất vướng chân, bà vượt trước mọi người. Bà là người đầu tiên chạy đến ngôi nhà ở đường Xưởng Bánh Mì rẽ vào, rồi giật chuông y như cháy nhà hay bị cướp – bà nói to với người hầu gái ra mở cổng:


-          Họ đến đấy, Catờrin! Họ đến đấy!


  Bà cứ hai ba bậc một, bước lên thềm, rồi chạy thẳng vào phòng khách. Anh trai bà lúc này đang ngồi trong đó sắc mặt hơi nhợt nhạt. Trông thấy em gái, ông ta để tờ báo sang bên cạnh, rồi khẽ xua tay như có vẻ từ chối… Bà ôm chầm lấy anh trai, nói đi nói lại hai ba lần.


-          Họ đến đấy, anh Tom ạ! Họ đến đấy: Anh trúng cử rồi, ông Hécman Haghenxtruêm bị loại rồi!


Hôm ấy là ngày thứ sáu, ngày hôm sau, ông nghị Bútđenbrúc đã đứng trước chỗ ngồi của cụ Giamê Muêlenđoóc trong phòng họp tòa thị chính làm lễ tuyên thệ trước ngài thị trưởng và các vị ủy viên thành phố.


Thề rằng: “Tôi sẽ trung thành với chức trách của mình, đem hết khả năng ra làm những chuyện ích lợi cho thành phố. Tôi sẽ trung thành với hiến pháp nhà nước, một lòng phục vụ nhân dân. Khi thừa hành các chức vụ và tham gia các cuộc bầu cử, tôi sẽ không bao giờ cân nhắc quyền lợi cá nhân và cũng không vị nể bạn bè. Tôi sẽ tuân theo mọi điều khoản trong luật pháp nhà nước; đối với tất cả mọi người bất cứ giàu hay nghèo, tôi cũng sẽ giữ vững công lý. Với những việc cần giữ bí mật, tôi sẽ giữ bí mật, càng sẽ không tiết lộ những việc mà tôi được lệnh giữ bí mật. Mong Chúa phù hộ!”.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Gia đình Buddenbrock. Tiểu thuyết của Thomas Mann. Nobel Văn học năm 1929. Hồng Dân Hoa dịch. NXB Lao động, 1975.







[1]. Tiểu thuyết kể về dòng họ là loại tiểu thuyết rất thịnh hành ở châu Âu trong thế kỷ XIX. Gia đình Bút-đen-bruc do Hồng Dân Hoa dịch. NXB Lao động, 1975.




1 Nguyên văn bằng tiếng La-tinh: Pastor Marianus.




1 Nguyên văn bằng tiếng Anh: That’s Maria.



Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 17.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 17.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 07.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
Đông Chu liệt quốc - Phùng Mộng Long 13.05.2019
Đường công danh của Nikodema Dyzmy - TADEUSZ DOLEGA - Mostowicz 09.05.2019
Làng tề - Đỗ Quang Tiến 08.05.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 07.05.2019
xem thêm »