tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 27841136
Tiểu thuyết
16.03.2012
Stefan Zweig
Thế giới những ngày qua

Đội quân đáng sợ của nghề mại dâm - cũng như đội quân thực có những vũ khí khác nhau của nó, kỵ binh, pháo binh, bộ binh, pháo binh pháo đài - được phân thành các loại riêng biệt. Thích ứng nhất với pháo thủ canh pháo đài, trong nghề mại dâm là đội ngũ chiếm giữ dứt khoát một số phố xác định của thành phố như là quân khu của họ. Thông thường hơn cả đó là những vùng ở thời trung cổ dựng lên giá treo cổ hoặc một trại hủi, hoặc một nghĩa địa, tại đó những kẻ phạm pháp, những tên đao phủ và tất cả những người bị xã hội phỉ nhổ tìm thấy một chỗ dung thân, nghĩa là những nơi giới tư sản tránh cư ngụ từ nhiều thế kỷ. Ở đó, những nhà chức trách nhượng một số phố để làm chợ bán dâm, giống như ở Yoshiwara tại Nhật, hay là chợ cá ở Caire, hai trăm, năm trăm phụ nữ ngồi liền cửa, người nọ cạnh người kia, và tự phơi bày ở cửa sổ các tầng trệt của họ, món hàng bán giá hời; làm việc hai ca, ca ngày và ca đêm. Tương ứng với kỵ binh và lính pháo thủ là nghề mại dâm lưu động, là vô số con gái bán dâm tìm khách trên đường phố. Ở Vienne người ta thường gọi họ là những "cô gái của vạch đường" vì cảnh sát giới hạn bởi một đường vạch vô hình vỉa hè phân định cho họ chèo kéo khách hàng; ngày và đêm cho tới sáng tinh mơ, kể cả khi tuyết giá hay trời mưa, họ kéo lê trên đường phố sự thanh lịch giả tạo được mua một cách cực nhọc, gượng cho mỗi người đàn ông qua đường một nụ cười quyến rũ trên khuôn mặt đã mệt mỏi và đánh phấn vụng. Và tất cả các thành phố đối với tôi dường như đẹp hơn và có tình người hơn, ngày nay, khi mà các phố không còn đầy rẫy những đám phụ nữ đói khát buồn bã ấy, họ không vui thú bán thú vui và họ, trong cuộc đi dạo không bao giờ dứt từ góc này sang góc khác, rút cuộc tất cả đều không tránh khỏi đi cùng một con đường: con đường dẫn tới nhà thương.


Nhưng bản thân những khối đông đó không đủ cho nhu cầu tiêu thụ thường trực. Nhiều người muốn tiện nghi và kín đáo hơn và xem khinh việc theo đuổi ngoài đường phố những con dơi bay lượn hoặc những con chim thụy hồng buồn bã ấy. Họ muốn một cuộc tình thoải mái hơn với hơi ấm và ánh đèn, âm nhạc và khiêu vũ, và một sự sang trọng vờ. Đôi khi những khách này có những nhà chứa, nhà thổ. Tại đó, những cô gái tập hợp lại trong một "phòng khách" được xếp đặt với vẻ lịch sự giả tạo, những cô này bận đồ mệnh phụ, những cô khác mặc trang phục trong nhà sơ sài, rành rành không có gì hồ nghi. Một người chơi dương cầm nổi nhạc, người ta uống, người ta nhảy, người ta tán gẫu tới khi các đôi rút lui một cách kín đáo vào phòng ngủ của họ; trong nhiều nhà thổ sang, nhất là ở Paris và Milan, phần nào nổi tiếng thế giới, một đầu óc ngờ nghệch có thể có ảo tưởng là được mời vào nhà riêng cùng với các bà tùy tùng hơi sốt sắng. Thoạt nhìn các cô gái trong các nhà này có số phận đáng ao ước hơn là những cô đi dạo ngoài vỉa hè. Các cô không phải lang thang ngoài đường phố bùn lầy trong gió và mưa, họ ở trong những căn phòng khá ấm áp, nhận những bộ áo quần tốt, thức ăn và nhất là đồ uống ê hề. Ngược lại họ thực sự là tù nhân của những bà chủ của họ, các bà này áp đặt những áo quần họ mặc với giá cắt cổ và biến việc ghi nợ tiền trọ thành những kiệt tác về kế toán đến mức cô gái nhanh nhẹn nhất và kiên trì nhất cũng luôn luôn có thể gọi là một con nợ và không bao giờ có thể từ bỏ nhà chứa ra đi theo ý muốn.


Sẽ rất là mê ly nếu viết truyện bí mật của nhiều những nhà này, và cũng sẽ là một tư liệu cần thiết về nền văn minh của thời kỳ ấy, bởi vì nó giấu kín những điều bí ẩn kỳ lạ nhất đương nhiên là được biết rõ bởi các nhà chức trách mà ở nơi khác thì lại tỏ ra rất nghiêm khắc. Tại đó có những cửa bí mật và một cầu thang kín mà những nhân vật của giới thượng lưu cao sang nhất - người ta nói ngay cả triều đình - có thể sử dụng để tới thăm mà không bị bắt gặp bởi những người bình thường. Có những căn phòng phủ gương và những phòng khác cho phép nhìn sang các phòng bên nơi có những cặp đang nô giỡn mà không chút ngờ vực. Ở đó có những bộ giả trang kỳ quặc nhất, từ trang phục nữ tu sĩ cho tới trang phục nữ diễn viên ba lê, cất trong những tủ kính và những rương để dùng cho một số người bái vật giáo. Và cũng chính cái thành phố này, cái xã hội này, nền đạo đức này lấy làm phẫn nộ khi những thiếu nữ đi xe đạp, tuyên bố rằng đó là sự lăng nhục phẩm giá của khoa học, khi Freud, theo cung cách thầm lặng, trong sáng và sâu sắc của ông xác lập những sự thật mà chúng không muốn chấp nhận. Cũng cái xã hội này, nó bảo vệ một cách cảm động đến thế sự trong sạch của người đàn bà, lại chịu đựng việc tự bán mình đáng nguyền rủa, tổ chức việc đó và tệ hại hơn, lợi dụng việc đó.


*


*                       *


Vậy hãy đừng để những tiểu thuyết hoặc truyện ngắn tình cảm thời ấy làm cho lầm lạc; đối với thanh niên đó là một thời kỳ buồn chán, thiếu nữ thì bị cách ly một cách kín mít với cuộc đời và bị đặt dưới sự kiểm soát của gia đình. Những người trẻ tuổi bắt buộc phải làm đủ trò giấu giếm che đậy cho thứ đạo đức mà về cơ bản không ai còn tin, không ai phục tùng. Những mối quan hệ không câu thúc và trung thực, những quan hệ mà thuận theo quy luật của tự nhiên sẽ mang đến cho giới trẻ vui sướng và hạnh phúc chỉ dành riêng cho một thiểu số rất nhỏ. Và một người đàn ông của thế hệ ấy nếu muốn thành tâm nhớ lại những gặp gỡ đầu tiên với những người đàn bà thì anh ta chỉ tìm thấy rất ít tình tiết có thể hồi tưởng với một niềm vui trọn vẹn. Bởi vì ngoài sự gò bó xã hội, thường xuyên khiến anh ta phải thận trọng và bí mật, một yếu tố khác phủ bóng tối của nó lên lương tâm, tiếp sau và ngay trong những khoảnh khắc âu yếm nhất: sự sợ hãi lây nhiễm bệnh. Về điều này cũng vậy, thanh niên thời đó bị thiệt thòi so với thời nay, bởi không nên quên rằng cách đây bốn mươi năm, những bệnh hoa liễu lan rộng trăm lần hơn ngày nay và nhất là có hậu quả trăm lần nguy hiểm và khủng khiếp hơn, bởi vì y học thời đó chưa tìm được phương tiện để khắc phục chúng một cách hữu hiệu. Lại còn chưa có những khả năng khoa học tiêu diệt chúng một cách nhanh chóng và triệt để như ngày nay, tới mức chúng chẳng là cái gì hơn một giai đoạn ngắn ngủi. Trong khi thời nay, trong những phòng điều trị của những đại học nhỏ hoặc cỡ trung bình, thường phải trải qua nhiều tuần lễ, nhờ trị liệu của Paul Ehrlich không giáo sư bình thường nào có thể trình bày cho các sinh viên một ca duy nhất vừa mới lây nhiễm bệnh giang mai, bằng thống kê xác lập rằng thời đó ở binh lính và trong các thành phố lớn, cứ mười người trai trẻ thì có một hoặc hai người bị lây nhiễm. Người ta không ngừng thông báo cho thanh niên về nỗi nguy hiểm đe dọa họ, khi đi trên các phố thành Vienne, người ta có thể nhận thấy cứ sáu bảy nhà thì có một nhà gắn một tấm bảng kim loại mỏng trên đó có thể đọc thấy: "Chuyên gia về những bệnh da liễu và bộ máy sinh dục" và cùng mối nguy của sự truyền nhiễm còn thêm nỗi khủng khiếp gây ra bởi những biện pháp trị liệu kinh tởm và nhục nhã hồi ấy, mà thế giới ngày nay không còn biết gì đến nữa. Trong nhiều tuần lễ, hết tuần này sang tuần khác, toàn thân của người mắc bệnh giang mai được bôi thủy ngân, điều này gây hậu quả rụng răng và những suy giảm nặng khác cho sức khỏe, nạn nhân khốn khổ của một sự ngẫu nhiên đáng buồn không chỉ cảm thấy nhơ nhuốc trong tâm hồn hắn, mà cả trong thể xác, và cả sau đợt chữa trị khủng khiếp đến thế, người nhiễm bệnh không thể tin chắc rằng suốt đời hắn vi khuẩn âm ỉ không tỉnh thức từ ổ kén của nó, vào tới tủy sống và làm bại liệt tứ chi hoặc gây nên bệnh nhũn não. Vì vậy không có gì đáng ngạc nhiên là thời đó nhiều chàng trai đã nắm lấy khẩu súng lục, khi mà bệnh án đã lập xong, bởi họ thấy không chịu đựng nổi cảm giác mình khả nghi đối với bản thân và đối với bà con gần gũi nhất, ở tư cách kẻ mắc bệnh nan y. Thêm vào đó còn những mối lo khác của một đời sống tình dục bao giờ cũng tiến hành trong bí mật. Nếu như tôi điểm qua một cách chân thực những kỷ niệm của mình, tôi không thấy một người bạn nào trong thời trẻ tuổi của chúng tôi không có ngày xuất hiện xanh xao và cặp mắt hoảng hốt, một anh thì bởi mắc bệnh hoặc sợ mắc bệnh, anh thứ hai là nạn nhân của một vụ tống tiền tiếp sau một cuộc phá thai, anh thứ ba vì thiếu tiền để thực hiện một đợt chữa bệnh giấu không cho gia đình biết, anh thứ tư là vì không biết làm thế nào trả tiền ăn cho một đứa con mà bà quản lý nhà bếp gán cho anh, anh thứ năm là vì ví tiền đã bị mất cắp trong một nhà thổ mà anh không đủ can đảm khiếu nại. Tuổi trẻ của cái thời đạo đức giả ấy vậy là bi đát hơn và mặt khác thiếu lành mạnh hơn, căng thẳng hơn và đồng thời đáng buồn hơn so với những gì đã nêu trong các tiểu thuyết và những vở kịch của các thi sĩ cung đình thời ấy. Cũng như ở trường và ở gia đình, trong lĩnh vực tính dục người ta hầu như không bao giờ chấp nhận cho thanh niên tự do và hạnh phúc dành cho lứa tuổi họ.


Tất cả những điều đó nhất thiết phải được nhấn mạnh trong một bức tranh trung thành về thời đó. Bởi thường khi trò chuyện với những bạn trẻ của tôi ở thế hệ sau chiến tranh, gần như tôi phải dùng bạo lực để làm cho họ tin rằng tuổi trẻ của chúng tôi không hề được ưu đãi so với tuổi trẻ của họ. Có lẽ, chúng tôi đã được hưởng nhiều tự do công dân hơn thế hệ hôm nay, thế hệ này phải phục tùng quân dịch, lao dịch, trong nhiều nước phải phục tùng ý thức hệ của đám đông, và thế hệ đó, ở mọi nước trên thực tế, bị phó mặc không tự vệ cho sự độc đoán của nền chính trị thế giới. Chúng tôi có thể hiến dâng cho nghệ thuật mà không bị quấy rầy, cho những khuynh hướng trí tuệ của chúng tôi, hoàn chỉnh cuộc sống nội tâm của chúng tôi, một cách cá nhân hơn, cá thể hơn. Một cuộc sống nay nước này mai nước khác với chúng tôi là khả hữu, toàn thế giới rộng mở trước chúng tôi. Chúng tôi có thể đi du lịch không hộ chiếu và không có ngày nghỉ, ở bất cứ nơi nào chúng tôi ưa thích, không ai tra hỏi quan điểm của chúng tôi, lai lịch, nòi giống hoặc tôn giáo của chúng tôi. Thực tế chúng tôi có - tôi không nói sai - vô vàn nhiều tự do cá nhân hơn, và chúng tôi không phải chỉ gắn bó với điều đó mà chúng tôi tận dụng nó. Nhưng như Frédéric Hebbel một hôm đã nói thực hay: "Lúc chúng ta thiếu rượu vang, lúc lại thiếu cốc". Rất hiếm khi cả cái này lẫn cái kia được dành cho cùng một thế hệ, nếu phong tục để cho con người một ít tự do thì Nhà nước lại bó buộc anh ta. Nếu nhà nước không áp chế con người thì những phong tục lại tìm cách nô lệ hóa họ.


Chúng tôi đã trải qua nhiều hơn và tốt hơn những kinh nghiệm của đời, tuổi trẻ ngày nay có một cuộc sống khẩn trương hơn và họ thử nghiệm một cách có ý thức hơn tuổi thanh niên của chính họ. Ngày nay khi tôi thấy bọn trẻ từ trường trở về, trường tiểu học và trung học, vầng trán cao và váng, khuôn mặt rạng rỡ, khi tôi thấy chúng cùng nhau, con trai con gái trong tình bạn thoải mái và vô tư lự, không bẽn lẽn giả tạo cũng không xấu hổ giả tạo, trong học tập, trong thể thao và trong vui chơi, lướt xki trên những cánh đồng tuyết, tranh nhau một cách tự do, theo kiểu thời cổ đại, trong những bể tắm công cộng, phóng cặp đôi trên ô tô qua đồng quê, hòa hợp một cách thân tình trong mọi biểu hiện của một đời sống lành mạnh, vô tư lự, không có chút gì gò bó họ dù ở bên trong hay từ bên ngoài, lúc nào tôi cũng cứ tưởng như không phải là bốn mươi năm mà hàng ngàn năm đã cách biệt giữa họ và chúng tôi; chúng tôi, những người, để cho, để cảm nhận tình yêu, bao giờ cũng phải tìm bóng tối và nơi ẩn kín. Chính là tự một cái nhìn hoan hỉ một cách thành thực mà tôi quan sát cuộc cách mạng diệu kỳ về phong tục được thực hiện có lợi cho thế hệ trẻ mà tôi đang thấy đây, nó đã giành lại biết bao là tự do trong đời sống và tình yêu và nó đã được lành mạnh hóa biết chừng nào về thể chất và tinh thàn trong sự tự do mới này; tôi cảm thấy phụ nữ đẹp hơn từ khi phong tục cho phép họ được để lộ hình thể của họ, dáng dấp thẳng hơn, cặp mắt trong sáng hơn, cách nói chuyện hồn nhiên hơn của họ. Lớp tuổi trẻ mới này đã đạt được sự tự tin biết nhường nào khi họ tự nhận biết và tự chịu trách nhiệm lấy về hành vi cử chỉ của mình, khi họ được giải phóng khỏi sự kiểm soát của những bà mẹ, những ông bố, những bà cô và những thầy giáo, và đã từ lâu không còn phải ngờ vực chút nào đến những ép buộc hoặc những đe dọa và căng thẳng đã cản trở sự phát triển của chúng tôi. Tuổi trẻ ngày nay không biết một chút gì về những ngoắt ngoéo và những điều thậm thụt nhờ có những điều ấy mà chúng tôi đạt được một cách lén lút như là điều bị cấm đoán những gì mà họ cảm thấy một cách chính đáng như là món nợ họ được đòi. Họ thưởng thức một cách sung sướng lứa tuổi của mình, với sự hăm hở, sự tươi mát, sự nhẹ nhàng và vô tư vốn thuộc về lứa tuổi này. Nhưng ngay trong hạnh phúc ấy, cái hạnh phúc lớn nhất theo tôi là họ không phải nói dối trước người khác, rằng họ có thể chân thực ngay với bản thân mình, chân thực trong tình cảm và trong những ham muốn tự nhiên của mình. Có thể là với sự vô tư mà những người trẻ tuổi ngày nay đưa vào cuộc đời họ, họ thiếu cái gì đó của niềm tôn sùng những vấn đề tinh thần đã nuôi dưỡng tuổi thanh niên của chúng tôi. Có thể là vì sự dễ dàng nhận và cho ấy, nhiều điều trong tình yêu bị mất đi đối với họ, mà những điều đó đối với chúng tôi đặc biệt quý giá và đầy hấp dẫn, nhiều cái hãm bí ẩn của niềm e lệ và nỗi xấu hổ, nhiều sự tế nhị, nhiều tình âu yếm. Cũng có lẽ họ không hề ngờ rằng cái rùng mình do bị cấm đoán và bị chối từ làm tăng thêm một cách thầm kín khoái cảm đến mức nào. Nhưng tất cả những điều ấy đối với tôi không có gì đáng kể so với cuộc tiến hóa giải phóng duy nhất này, nó làm cho tuổi trẻ hôm nay thoát khỏi nỗi sợ và sự áp chế và được hưởng một cách đầy đủ những gì mà chúng tôi đã bị từ chối: cảm giác về lòng tự tin và về sự yên tĩnh nội tâm.


 


UNIVERSITAS VITAE


(Trường Đại học của cuộc sống)


 


Cuối cùng tới thời điểm chờ đợi từ lâu, cửa trường trung học đáng kinh tởm khép lại phía sau chúng tôi cùng với năm cuối cùng của thế kỷ. Sau khi khó nhọc vượt qua những kỳ thi ra trường - bởi rốt cuộc thì chúng tôi biết gì về toán, về vật lý và những môn học khác trong nhà trường? - chúng tôi mặc lễ phục đen và trang trọng, ông giám hiệu chúc mừng chúng tôi bằng một bài diễn văn vừa đẹp vừa bay bướm: Từ nay chúng tôi đã là những người lớn và chúng tôi cần làm vinh dự cho Tổ quốc bằng tài năng và giá trị của mình. Thế là tình bạn trong tám năm trời bị cắt đứt, từ đó tôi rất ít gặp những người bạn thời gian khổ đó. Nhiều người trong số chúng tôi đã ghi tên vào đại học và những ai phải cam chịu làm những việc khác và những nghề khác thì họ nhìn chúng tôi với cặp mắt thèm thuồng.


Bởi đại học trong những thời đã qua đó vẫn còn được trang hoàng ở Áo bằng một vầng hào quang thơ mộng; sinh viên được hưởng vài đặc quyền đặc lợi đặt họ cao hơn những bạn bè cùng lứa tuổi; sự biệt đãi đó được thừa hưởng của những thế kỷ qua, có lẽ ít người biết tới ở bên ngoài các quốc gia Đức và các sự phi lý lỗi thời của nó cần được vài lời giải thích. Phần lớn các trường đại học của chúng tôi được dựng lên từ thời trung cổ, vào một thời mà những công việc khoa học được coi như chuyện phi thường, và để khuyến khích những người trẻ tuổi theo học, người ta ban cho họ vài đặc quyền đặc lợi gắn liền với địa vị của họ. Sinh viên thời trung cổ không phải phục tùng quyền xét xử của tòa án bình thường, họ không bị truy nã trong trường học hoặc bị hành hạ bởi bọn môn lại, họ mặc bộ đồ riêng, họ có quyền đấu gươm mà không bị truy cứu hình sự và được thừa nhận là thành viên của một phường hội khép kín có những tục lệ riêng, tốt hoặc xấu. Qua các thời đại, với sự dân chủ hóa dần dần đời sống công cộng, lúc mà tất cả các hội và các phường khác của thời kỳ trung cổ đều bị giải thể, những đặc quyền của các trường đại học mất đi trên khắp châu Âu; tuy nhiên ở Đức và ở Áo thuộc Đức, nơi mà ý thức giai cấp bao giờ cũng lấn át những tư tưởng dân chủ, các sinh viên khăng khăng bám chặt vào những ưu đãi đó, từ lâu đã mất hết ý nghĩa và còn trình bày thành một luật chỉ áp dụng đối với họ mà thôi. Sinh viên Đức nhận về mình trước hết một thứ "danh dự" của đẳng cấp thêm vào danh dự của tư sản và của người thường. Ai xúc phạm họ thì phải "xin chuộc lỗi" với họ, nghĩa là bắt buộc phải đấu gươm với họ, vì thế mà kẻ xúc phạm là người mà người ta có thể đòi họ chuộc lỗi vũ khí trong tay. Theo sự đánh giá tự phụ đó, "có khả năng chuộc lỗi" không phải là dân thương nghiệp hay ngân hàng, mà chỉ duy nhất người được đào tạo và có học vị đại học, hoặc là một sĩ quan - không một ai trong hàng triệu những người đồng loại của anh ta tham gia vào "danh dự" đọ gươm với một trong số các chàng trai lố bịch chưa mọc ria mép đó. Mặt khác để được coi là sinh viên "thực thụ", cần phải qua việc "chứng tỏ" chất nam nhi của anh ta, nghĩa là càng có nhiều cuộc đụng độ càng tốt, và mang trên mặt những vết sẹo, chứng cớ rõ rệt nhất về những hành vi hiển hách; những chiếc má nhẵn thín và một cái mũi không có vết đứt là không xứng đáng với một sinh viên đại học Đức thực thụ. Như vậy những sinh viên mang huy hiệu nghĩa là những người thuộc về một xã hội phân biệt bởi những huy hiệu, tự thấy mình bị bắt buộc, để không ngừng có những sự cố mới, phải gây gổ liên tục giữa bọn họ với nhau hoặc tấn công những sinh viên hiền lành hoặc những sĩ quan. Trong những "hiệp hội" mỗi sinh viên mới phải "được giáo dục" theo thông lệ trong một phòng vũ khí, nhằm vào hoạt động cơ bản rất xứng đáng với anh ta, và ở nơi khác anh được khai tâm về mọi tục lệ của hội đoàn. Mỗi Fuchs, nghĩa là mỗi anh chàng mới, được giao cho một bạn đồng hội mà anh ta phải vâng lời một cách thụ động và bù lại, anh này dạy cho anh ta khoa học cao cả Vì sao, khoa học bao gồm việc uống cho đến khi nào mửa ra, nốc cạn một hơi cho đến giọt cuối cùng một vại nặng bia, nhằm tỏ ra một cách vinh quang rằng anh ta không phải là một con người yếu đuối, hoặc đồng thanh gào lên những bài hát sinh viên và nhạo báng cảnh sát bằng cách điều hành theo bước chân lạch bạch của con ngỗng và làm ầm ầm trên đường phố ban đêm. Tất cả những cái đó được coi là "đàn ông", là "đại học", là "Đức", và khi các hội đoàn tham gia biểu dương vào ngày thứ bảy với những lá cờ tung bay, mũ catkét muôn màu và những dải ru-băng của họ, bọn trẻ ngốc đó, đầy một niềm kiêu hãnh ngu xuẩn, tự cho mình là những đại biểu thực sự của giới trí thức trẻ. Chúng ném những cái nhìn khinh bỉ lên "bọn tiện dân" là những người không biết đánh giá đúng giá trị của nền văn hóa đại học và của sự hùng cường Đức này.


Đối với một cậu học sinh trung học tỉnh lẻ, một cậu nhãi con giạt đến Vienne, cái đời sinh viên "tươi mát và vui vẻ" đó có thể coi là tổng số và tóm tắt của mọi chủ nghĩa lãng mạn. Và trong thực tế, sau nhiều năm dài rời khỏi khoa của họ, những viên công chứng già và những thầy thuốc làng quê, khi đã thù tạc chuếnh choáng, ngước những cặp mắt xúc động lên những thanh gươm dài bắt chéo và những dải ru-băng sặc sỡ treo trên vách những căn phòng của họ, họ kiêu hãnh trỏ những vết sẹo của họ như là những tín hiệu đặc trưng của địa vị "đại học" của mình. Còn đối với chúng tôi thì hoàn toàn khác hẳn, những phong tục ngớ ngẩn và và tàn bạo đó khiến chúng tôi ghê tởm, và khi chúng tôi gặp một trong số những bầy đeo băng đó, chúng tôi thận trọng ngoặt vào một góc phố; bởi vì dưới mắt chúng tôi, những người coi tự do là hạnh phúc hàng đầu, cái thú vui mà người ta khai thác trong sự gây gổ, đồng thời trong tính nô lệ bầy đàn, chỉ làm lộ rõ quá đáng một cách không che đậy những gì là tệ hại và nguy hiểm nhất trong tinh thần Đức. Hơn nữa chúng tôi biết rằng đằng sau chủ nghĩa lãng mạn khô cứng đó ẩn giấu những mục đích thực tiễn được tính toán kỹ một cách xảo quyệt, bợ vì sự thuộc về một hội đoàn "đấu đá" bảo đảm cho mỗi thành viên sự che chở của những "vị cao niên" của hội có chức vụ cao nhất và tạo điều kiện cho anh ta về nghề nghiệp trong tương lai. Chính từ những "Borusses" của Bonn mở ra con đường duy nhất chắc chắn dẫn tới những chức vụ ngoại giao Đức, nhờ những hội đoàn Thiên Chúa giáo Áo người ta nhận được những bổng lộc hậu mà đảng Thiên Chúa giáo, lúc ấy đang nắm chính quyền, tùy ý sử dụng, và phần lớn các vị "anh hùng" ấy biết rất rõ rằng những dải ru-băng màu về sau thay thế một cách có lợi thời gian đáng ra họ phải cống hiến cho việc học tập vững chắc và rằng hai hoặc ba vết sẹo trên trán sẽ bổ ích cho họ hơn là những gì có dưới cái trán đó khi đặt ra vấn đề tìm việc làm. Chỉ riêng cái cảnh tượng những đám đông thô bạo quân sự hóa đó, những bộ mặt ngạo nghễ và xấn xổ đó đã làm cho tôi chán ngấy những giảng đường của trường đại học; và tất cả những sinh viên thực sự chăm chỉ đều tránh sân trường khi họ đến thư viện, và thích đi lối cổng sau để không ai nhìn thấy, để tránh việc gặp mặt với những vị anh hùng đáng buồn đó.


(còn tiếp)


Nguồn: Thế giới những ngày qua. Tự truyện của Stefan Zweig. Phùng Đệ và Trần Nam Lương dịch. NXB Văn học sắp xuất bản.


www.trieuxuan.info


 


 

Mục lục:
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
8.
9.
10.
11.
12.
13.
14.
15.
16.
17.
18.
19.
20.
21.
22.
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
Đất thức - Trương Thị Thương Huyền 27.06.2019
Ma rừng - Phùng Phương Quý 25.06.2019
Seo Mỉ - Đỗ Quang Tiến 24.06.2019
Cuốn theo chiều gió - Margaret Munnerlyn Mitchell 22.06.2019
Kim Vân Kiều Truyện - Thanh Tâm Tài Nhân 19.06.2019
Ông cố vấn - Hữu Mai 19.06.2019
Thế giới những ngày qua - Stefan Zweig 19.06.2019
Báu vật của đời - Mạc Ngôn 01.06.2019
Cõi mê - Triệu Xuân 21.05.2019
Chiến tranh và Hòa bình - Liep Nicôlaievich Tônxtoi 21.05.2019
xem thêm »