tiểu thuyết
truyện ngắn
thơ
lý luận phê bình văn học
những bài báo
điện ảnh, âm nhạc và hội họa
truyện dân gian VN và TG
Tư liệu sáng tác
tìm kiếm
BẠN ĐỒNG HÀNH

Công ty TNHH TM DV Green Leaf Việt Nam

Green Leaf VN - với hơn 400 xe du lịch từ 4 chỗ đến 50 chỗ, đời mới - là Công ty Dịch vụ vận chuyển hành khách hàng đầu Việt Nam! Luôn phục vụ khách hàng với phong thái và ý chí của người tài xế chuyên nghiệp. Chỉ tuyển dụng đầu vào tài xế có khả năng giao tiếp tiếng Anh đàm thoại. Tác phong, đồng phục chỉnh chu trong suốt thời gian phục vụ khách hàng. Các tài xế phải vượt qua chương trình đào tạo nghiêm ngặt về cách thức phục vụ khách hàng

 *Nhân viên chăm sóc khách hàng người Nhật luôn tạo sự yên tâm và tin tưởng cho khách hàng...

Khách thăm: 30477250
14.03.2012
Hà Minh Đức
Nguyễn Đình Thi - Chim phượng bay từ núi (19)

Phần III. PHỤ LỤC


THƯƠNG VÀ NHỚ BẠN NGUYỄN ĐÌNH THI (1)


Huy Cận


Từ khi anh Nhận đường và giúp anh em cùng thế hệ nhận đường anh đã cống hiến trọn đời mình cho văn học, nghệ thuật. Bản thân anh cũng là một liên hiệp văn học, nghệ thuật: thơ, văn, truyện, tiểu thuyết, lý luận phê bình, kịch, âm nhạc. Đường anh đi là con đường vất vả chung một thời mà là con đường thông suốt dưới ánh sáng soi đời của cách mạng, trong tiền đồ hưng thịnh của văn minh, văn hoá nước nhà.


Bạn Thi ơi, có cùng nhau bao nhiêu kỷ niệm trong hơn nửa thế kỷ qua. Cùng một thế hệ giác ngộ, anh hoạt động trong Văn hoá cứu quốc với các anh Nguyễn Huy Tưởng, Như Phong, Tô Hoài, Học Phi... còn tôi thì hoạt động trong Việt Minh cùng các anh Dương Đức Hiền, Huỳnh Bá Nhung, Hoàng Minh Chính, chị Thanh Thuỷ. Anh học luật, tôi học nông lâm, nhưng cùng nhau hoạt động trong Tổng hội Sinh viên, đấu tranh chống xu hướng theo phát xít Nhật của một số thanh niên hồi bấy giờ. Ở phòng họp lớn của Trường Đại học Đông Dương, anh Xuân Diệu diễn thuyết về “thanh niên với quốc văn”, tiếp đó anh diễn thuyết về “sức đấu tranh của nông dân trong ca dao Việt Nam”. Cuối tháng 7-1945, anh cùng tôi và một số anh chị em đi dự Quốc dân Đại hội tại xã Tân Trào (Tuyên Quang). Tại Đại hội Tân Trào, anh Thi và tôi cùng được bầu vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng Toàn quốc, gồm 15 người đứng đầu là Hồ Chủ tịch. Về Hà Nội, tôi hoạt động trong Chính phủ lâm thời, còn anh Thi thì tiếp tục ở trong Văn hoá cứu quốc và làm tạp chí Tiên phong cùng các anh Xuân Diệu, Nguyễn Huy Tưởng, Nguyên Hồng, Như Phong... Anh Thi hào hứng cho đăng hai bài thơ của tôi mà anh thích: Xuân hành và Giữa dòng thế kỷ. Anh Thi là Uỷ viên trong Ban thường trực Quốc hội khoá I. Trong Ban dự thảo Hiến pháp đầu tiên, chúng tôi lại bàn luận mật thiết với nhau theo tinh thần “dân chủ mới”.


Một kỷ niệm lý thú mà cuộc đời kháng chiến mới có. Cuối năm 1951, một hôm tôi nhận được một bức thư của chị Madelaine Riffaud gửi cho anh Thi, nhờ tôi chuyển. Ngoài phong bì có đề “xin mở xem thư và nhớ thuộc lòng càng tốt, để đọc lại cho anh Thi nghe, nhỡ mà thư có thể trôi mất hoặc ướt khi qua suối, qua đèo”. Tôi mở thư, đọc, bắt đầu bằng hai câu ca dao Việt Nam: “Ông tơ ghét bỏ chi nhau – Chưa vui sum họp đã sầu chia phôi” và “Đôi ta là bạn thong long – Như đôi đũa ngọc nằm trong mâm vàng” tiếp theo là thư bằng tiếng Pháp. Cuối cùng anh Thi mới gặp tôi. Tôi đọc cả bức thư cho anh Thi nghe rồi mới giao thư. Mới đó mà hơn nửa thế kỷ. Tôi rất nhớ anh Thi và chị Trường đã xe duyên tôi với Trần Lệ Thu thành người vợ bây giờ của tôi...


             Hà Nội, ngày 19-4-2003


 


SÂU SẮC KÍNH YÊU VÀ NHỚ BẠN(1)


Nguyễn Xuân Sanh


Nhà văn, nhà thơ, nhà soạn nhạc ưu tú của nền văn học, nghệ thuật cách mạng Nguyễn Đình Thi đã tạm biệt chúng ta và quê hương, đi vào thế giới vĩnh hằng. Chúng ta gửi theo vong hồn cao đẹp của anh tấm lòng thương cảm vô bờ bến của chúng ta và của nền văn học nghệ thuật ngày nay và mai sau của đất nước.


Riêng tôi, một nhà thơ và một người đồng môn từ thời còn trẻ tuổi đến ngày nay, xin được bày tỏ thêm một vài cảm xúc của một người bằng hữu cùng đi trên một đoạn đường vừa gay go vừa rất thuận lợi của văn học nghệ thuật cách mạng.


Cách đây hơn nửa thế kỷ, nghĩa là cũng đã xem như trọn vẹn sáu mươi năm của tuổi đời mình, sau khi đỗ tú tài toàn phần, tôi vào học năm thứ nhất khoa Luật Trường Đại học Đông Dương - đóng tại Hà Nội, thì anh Thi cùng vào học một lớp ấy. Mừng là cả anh Xuân Diệu, anh Tế hanh, anh Thép Mới... cũng có mặt ở khoa Luật này. Huy Cận thì đang học ở Trường Đại học Nông lâm đặt trên phía gần vườn Bách thảo. Chúng tôi đi học và sáng tác thơ, văn và viết báo. Nghĩa là cùng tham gia hoạt động văn hoá trong giới sinh viên đại học. Nói rộng ra thì những người bạn đang còn rất trẻ tuổi này, cũng hăm hở tham gia vào phong trào sinh viên yêu nước Trường Đại học Đông Dương, mà anh Nguyễn Đình Thi cũng là một bạn rất nhiệt tâm. Cho nên anh cũng bị chính quyền phản động của Pháp ở thành phố theo dõi, ngăn trở, và hỏi han gay gắt. Trước Cách mạng và sau Cách mạng tháng Tám cho đến thời gian kháng chiến chống Pháp của đất nước, Tổng hội Sinh viên yêu nước có mấy tờ báo in đều đặn hàng tuần bằng tiếng Việt mà tôi được giao làm chủ biên, tên là Tự trị, rồi Gió mới, rồi Hành động và nhiều người trong lực lượng sinh viên chúng tôi đều góp phần hăng say làm, xem như tiếng nói của tuổi trẻ sinh viên yêu nước, yêu sự nghiệp cách mạng, góp ý kiến chân tình, lâu lâu góp bài viết vào những giai đoạn và những vấn đề cần thiết. Trong đó anh Nguyễn Đình Thi là một người niềm nở, vì anh có mặt trong một lớp với tôi. Cũng vì anh là một người sinh viên có ý chí trong đấu tranh cho văn hoá dân tộc của thời đại nói chung và của quê hương ta nói riêng.


Tôi nhớ Nguyễn Đình Thi đã mở đầu say mê viết một bài tuỳ bút về sáng tác văn nghệ lấy tên là Nhận đường, sau đăng ngay trong những trang đầu của tạp chí Văn nghệ số 1, tháng 3-1948, coi như là tiếng nói thắm thiết với các người bạn đường.


Những dòng bắt đầu của Nguyễn Đình Thi như sau: “... Đêm nay yên tĩnh... Nhưng ngay bên kia sông Cái, các anh bộ đội mặt vàng sốt rét đang lội bùn quần nhau với địch ở những nơi thăm thẳm tên là Thu Cúc, Nghĩa Lộ, Khau Cọ, Đồn Vàng, Trí Lệ... Tiếng súng kháng chiến nổ. Đường chúng ta thật rõ ràng, tất cả cho kháng chiến, tất cả cho dân tộc... Cả dân tộc đứng dậy giữ lấy tự do vừa giành được, chúng ta đem phần sức nhỏ đóng góp vào cuộc chiến đấu chung... chúng ta cùng quây tất cả quanh ngọn cờ dân tộc, những mong mỗi sáng tác là một viên đạn bắn vào đầu kẻ thù...”.


Những năm sau, khi Hội Văn nghệ Việt Nam được thành lập thì anh cũng là một nhân tố năng nổ trong Ban Chấp hành. Anh họp anh chị em, nhất là khuyến khích hăng hái viết sách báo và sáng tác phục vụ. Nhất là lúc đầu anh được phân công lo cho công tác đẩy mạnh xuất bản của Hội và động viên lực lượng đi thâm nhập thực tế đời sống, thực tế kháng chiến để thu hoạch vốn sáng tác thơ, văn, viết kịch, soạn nhạc, vẽ v.v...


Về việc đi về các miền đất có vốn sống và thu vốn về sáng tác, tôi nhớ nhất năm 1951-1952 có Chiến dịch Trung du, tôi và anh Nguyễn Đình Thi được Hội Nhà văn Việt Nam cử đi thực tế Trung du tham gia trực tiếp với các đơn vị quân đội của ta, đi về Tam Đảo và đồng bằng Vĩnh Yên để sống các tuần lễ chuẩn bị và chiến đấu của quân dân ta. Hai anh em tạm biệt cơ quan Hội Văn nghệ lúc bấy giờ đóng ở Động Móc, từ giã các anh em văn nghệ sỹ ở cơ quan, đi mấy ngày đường ghé lại một đêm ở một xóm tại Yên Thế thuộc tỉnh Bắc Giang, anh Thi và trao đổi các chuyện viết với anh Nguyên Hồng, tôi ngủ tại nhà bác Ngô Tất Tố và trao đổi ý kiến với bác cho đến khuya mới đi ngủ. Ngày hôm sau hai anh em lại mang ba lô đi về Thái Nguyên và xuống nơi các đơn vị trung đoàn đóng ở chân Tam Đảo. Về rồi tối hôm sau, trời đêm ẩm ướt trèo hẻm dài của rừng khuya khoắt lên đỉnh Tam Đảo. Ngày hôm sau cuối chiều lại trèo dốc sườn đèo xuống làng, tuy cô quạnh nhưng có bộ đội về chuẩn bị đánh địch, công đồn nên tạm thời có đông đảo người sống và sửa soạn chiến đấu với kẻ thù – giặc Pháp – trong yên lặng của trung du. Hồi hộp trong lòng nhưng đầy niềm tin chiến thắng trong kế hoạch và trong gian khó của chiến trường.


Anh Nguyễn Đình Thi và tôi ghi đầy các sổ tay, ước mơ lúc trở về đến nhà, đến cơ quan ở Động Giả thì tôi làm các bài thơ về chiến đấu ở trung du, anh Nguyễn Đình Thi thì ngồi say sưa viết trong nhiều tuần tập truyện vừa Xung kích... Các sáng tác được ra đời trong hân hoan của người viết và của độc giả ở các phương trời.


Anh Nguyễn Đình Thi của chúng ta là một tài năng vượt bậc, là một người có cung cách sục sôi trữ tình và tràn đầy tin tưởng vào cuộc kháng chiến lúc bấy giờ và vào ngày mai của sự nghiệp văn học nghệ thuật cách mạng.


Anh Nguyễn Đình Thi thương yêu ơi, các sáng tạo và các hoạt động yêu nước của anh là những cống hiến vô cùng cao đẹp cho Đảng và cho đất nước. Mong nó còn làm rực rỡ thêm cho những đóng góp của anh. Vĩnh biệt anh và đậm đà nhớ tiếc.


 


VĨNH BIỆT NHÀ VĂN NGUYỄN ĐÌNH THI


Hữu Thỉnh


Tôi chỉ thực sự được gặp và nghe nhà văn Nguyễn Đình Thi nói chuyện lần đầu tại Hội nghị Những người viết văn trẻ lần thứ II, tháng 7-1971. Hội nghị diễn ra tại Hội trường 51 Trần Hưng Đạo – Hà Nội. Hồi ấy tôi vừa từ chiến dịch Đường 9 – Nam Lào về, trong lòng còn xốn xang bao kỷ niệm chiến trường. Trong buổi khai mạc, anh Nguyễn Đình Thi đọc lời chào mừng ngắn. Anh đặc biệt nhắc nhở lớp trẻ trau dồi vốn sống, vốn văn hoá, đặc biệt là văn hoá dân tộc, để có thể đi được xa trên con đường văn hoá. Lớp chúng tôi hồi ấy cũng đã có nhiều người nổi tiếng như: Đỗ Chu, Phạm Tiến Duật, Xuân Quỳnh, Ma Văn Kháng, Nguyễn Gia Nùng, Lý Phương Liên, Nguyễn Đức Mậu... Nhưng nói chung rất rụt rè khi bước vào các toà soạn báo, nhà xuất bản, Hội nhà văn. Những lời tâm tình của anh Nguyễn Đình Thi xoá tan nhiều mặc cảm, làm cho không khí Hội nghị đầm ấm ngay từ đầu. Tôi để ý đến cách nói, cách ăn mặc của anh Thi. Hôm ấy anh mặc bộ quần áo kaki màu vàng, áo cộc tay bỏ ngoài quần. Phát biểu xong, mọi thứ giấy tờ anh xếp vào một chiếc làn mây, gần giống như một người đi chợ. Nhã nhặn, lịch duyệt và hào hoa nữa, anh Thi rõ ràng là tâm điểm của Hội nghị rồi. Mãi sau này được làm việc gần anh, được anh dìu dắt, tôi thấy ấn tượng ban đầu với những gì tôi được biết về anh là nhất quán. Anh Nguyễn Đình Thi ít chú ý chăm chút đến việc ăn mặc. Đó cũng là tính cách của những trí thức lớn, lo cái bên trong, cái cốt cách, cái thực chất, không bận tâm đến hình thức bên ngoài.


Anh Nguyễn Đình Thi hay nói vui, anh là người trẻ nhất của lớp nhà văn tiền chiến. Đúng thế thật. Trẻ mà thiên tư phát lộ sớm: 17 tuổi viết sách triết học, nghiên cứu văn học dân gian, cùng với bạn học của Trường Bưởi lập tổ nghiên cứu chủ nghĩa Mác, rồi tìm cách bắt liên lạc với Việt Minh. Đến khi Hội Văn hoá cứu quốc thành lập, anh là một trong những người sáng lập và hoạt động rất sôi nổi. Tháng 7-1945, anh được đoàn thể cử đi dự Đại hội Quốc dân ở Tân Trào, là một trong bốn đại biểu được mời đọc tham luận, được cử vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng gồm 15 người do Hồ Chủ tịch đứng đầu. Năm 1946, mới 22 tuổi, anh là đại biểu Quốc hội khoá I thuộc đơn vị bầu cử Hải Phòng. Buổi khai mạc Quốc hội khoá I anh được Bác mời ngồi bên cạnh với tư cách là đại biểu trẻ nhất cùng cụ Tô Tử Hạ là đại biểu cao tuổi nhất. Cũng tại Quốc hội khoá I, anh được cử vào Tiểu ban soạn thảo Hiến pháp đầu tiên, được cử vào Uỷ ban Thường trực của Quốc hội. Những trường hợp trưởng thành sớm như thế không riêng anh Thi, mà của cả một thế hệ Cách mạng tháng Tám, vẻ đẹp của thế hệ anh Thi là vẻ đẹp của lý tưởng, là dũng khí chiến đấu cho lý tưởng đã chọn, là sự thuỷ chung, son sắt với cách mạng. Một thế hệ được rèn luyện sớm, nhiều khát vọng, mà trưởng thành cũng sớm. Sau này, trong công việc lãnh đạo văn nghệ, anh Thi gặp không ít khó khăn. Những lúc ấy, tôi thấy anh Thi vẫn là anh Thi của hàng ngày, bình tĩnh xem xét việc nào ra việc nấy. Rảnh rỗi, anh kể: “Căng thẳng, gay gắt sao bằng những năm 1946. Trong Quốc hội, các đảng phái phản động chiếm 40 ghế, ngồi họp mỗi đảng phái ngồi về một phía, đấu tranh căng thẳng trong hội trường; bên ngoài bọn phản động còn tìm cách ám sát, gây sự, đe doạ, hoạt động mạnh lắm, ngại gì đâu”.


Vốn văn hoá, vốn hoạt động chính trị và vốn sống trực tiếp lăn lộn ở chiến trường đã giúp nhà văn Nguyễn Đình Thi phát triển trí năng nhiều mặt của mình và ở nhiều loại hình nghệ thuật, anh đã để lại những tác phẩm xuất sắc. Anh Nguyễn Đình Thi nghiên cứu triết học sớm và sau này, năng lực tư duy lý luận của anh càng phát triển, anh là người rất nhạy cảm với những vấn đề tư tưởng, chính trị, xu thế của đại cuộc, nhưng trong nhạc, trong thơ, trong văn, trong kịch, người ta vẫn nhận ra mạch trữ tình đằm thắm, những rung động tinh tế, những liên tưởng bất ngờ, mạnh bạo của anh. Chất nghệ sỹ của anh không bị tư duy quản lý lấn át, mặc dù anh tham gia lãnh đạo và trực tiếp quản lý văn nghệ khá lâu. Chất nghệ sỹ ấy cũng không bị những thử thách làm cùn nhụt đi, ngược lại những khúc quanh ở đời anh không ít cam go, và nhiều dịp gần anh, nhiều dịp tôi không thấy anh nhận xét về người khác, ở phía sau.


Anh Nguyễn Đình Thi, cũng giống như những nhà văn thuộc thế hệ anh là sản phẩm của một thời đại đẹp, sáng, oai hùng, một thời đại đáng sống và nếu cần sẵn sàng chết vì nó. Trong đội ngũ nhiều tài năng, nhà văn Nguyễn Đình Thi là một người đa tài, một nghệ sỹ tiêu biểu của cách mạng, một nhà văn hoá lớn, một trí thức lớn.


Tôi hằng khâm phục thế hệ anh và anh, là những người được học, được đào tạo từ trường Tây mà sao ý thức dân tộc, tình yêu dân tộc thức tỉnh lớn và mãnh liệt đến thế. Yêu dân tộc, yêu nước, lẽ tất nhiên là phải tìm đến với cách mạng.


Những khi có dịp, anh Nguyễn Đình Thi hay nhắc lớp trẻ chúng tôi cố học để nắm cho được lịch sử dân tộc, lịch sử ta, văn hoá ta có những cái hay, đáng tự hào lắm. Những năm ấy, thú thực tôi không hiểu biết anh, nghĩ rằng ở tầm cao của anh, anh phải nói cái gì to tát lắm. Dần dần, tuổi nhiều lên, tôi mới hiểu ý nghĩa những điều anh nói. Biết rằng mấy năm gần đây anh Nguyễn Đình Thi không được khoẻ nhưng hay tin anh vào viện, bị bệnh hiểm nghèo tôi sửng sốt không thể tin. Bởi vì, tuổi đã 80, anh vẫn còn cường tráng, suy nghĩ hoàn toàn minh mẫn, sắc sảo và độ nhạy với thời cuộc, với xã hội không giảm sút. Tết Nhâm Ngọ và Tết Quý Mùi vừa qua, tôi đến thăm và đặt bài anh, anh vui vẻ nhận lời và nói rằng chỉ gửi thơ thôi. Bài gửi đến, ít lâu sau anh lại mang bản thảo đến thay, chữa kỹ từng chữ, từng dấu phẩy. Kỳ họp Ban Chấp hành Hội nhà văn vừa qua, sau phần khai mạc tất cả chúng tôi kéo nhau vào thăm anh tại Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội. Lúc này sức anh đã giảm nhiều, nói nhỏ, hơi thở nặng nhọc. Anh giơ tay và cố nhấc chân trái lên cao, nói: “Có tiến bộ. Mình có tiến bộ”. Rồi anh lại thiếp đi trong giấc ngủ nặng nhọc. Hôm vào thành phố Hồ Chí Minh công tác, tôi lại tranh thủ vào thăm anh lần nữa trước khi ra sân bay, lúc này anh đã hoàn toàn hôn mê. Tôi lặng ngắm khuôn mặt và mái tóc của anh. Nhịp thở của anh đã chậm và yếu lắm.


Nay anh đã đi xa, để lại một khoảng trống lớn trong nền văn học nghệ thuật nước nhà. Nhưng tôi tin, nhiều tác phẩm của anh sẽ ở lại với chúng ta, trở thành niềm tri kỷ của những người đang tới và sẽ tới.


 


CHIM PHƯỢNG VỀ TRỜI


Viễn Phương


Từ nhiều năm nay như một thông lệ, năm nào anh Nguyễn Đình Thi cũng vào Thành phố Hồ Chí Minh vài lần. Mỗi lần vào anh lại ở một đôi tuần. Đến thành phố, trước tiên thường đi thăm Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật, vì anh là Chủ tịch Uỷ ban Toàn quốc Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật Việt Nam mà Liên hiệp chúng tôi là một thành viên. Hơn nữa anh Bảo Định Giang, anh Anh Đức và tôi đều là uỷ viên Đoàn Chủ tịch của Uỷ ban Toàn quốc.


Nhưng lý do chủ yếu anh đến thăm Liên hiệp chúng tôi là vì anh muốn được gặp gỡ trò chuyện với anh em đồng chí, là do tấm lòng thương mến đồng nghiệp bạn bè.


Thường sau khi đến thăm chúng tôi, cùng chúng tôi bàn bạc về tình hình thế sự, về công việc hội hè, anh cùng chúng tôi “chén chú, chén anh” trong một bữa cơm đạm bạc thân tình, xong anh lại sắp xếp đi thăm thú bà con, bạn bè và sau đó anh đi gặp gỡ làm việc với các hội thành viên, khi ở miền Đông, khi ở miền Trung, khi ở Minh Hải, Cà Mau vùng đất xa xôi cuối cùng Tổ quốc.


Do chuyện ra vào của anh đã thành lệ, nên lâu lâu không thấy anh vào tôi đâm nhớ và gọi điện mời anh.


Năm 2002 việc vào ra của anh có phần thưa thớt.


Khoảng cuối 2002, tôi có điện thoại mời anh chị vào chơi và nếu được thì ăn Tết trong này, anh vui vẻ trả lời vào sau Tết, nhân dịp Hội nghị Uỷ ban Toàn quốc lần thứ ba.


Khoảng trung tuần tháng 2 năm 2003, gần ngày Hội nghị anh Trần Hoàn, chị Giáng Hương đã vào, các anh chị trong Đoàn Chủ tịch và các đại biểu đã về đông đủ, mong chờ anh thì được tin anh Nguyễn Đình Thi lâm bệnh đột xuất phải vào bệnh viện.


Ở tuổi 80, vào ra bệnh viện cũng là chuyện bình thường. Nhưng sau đó nghe tin báo bệnh mỗi ngày thêm nặng.


Tôi điện thoại đến nhà anh thăm hỏi, nhưng buổi sáng không có ai trả lời, tôi gọi vào buổi trưa, buổi chiều rồi buổi tối cũng chỉ nghe chuông điện thoại reo dài trong trống vắng.


Hỏi anh Trần Hoàn mới biết là cả nhà anh đã vào bệnh viện.


Tôi bắt đầu thấy bệnh tình anh là nghiêm trọng. Rồi những tin không vui dồn dập bay về gây bao nhiêu lo lắng, nghĩ rằng chuyện đau buồn có thể xẩy ra.


Tuy có nghĩ đến ngày chia ly từ biệt, nhưng chiều hôm qua khi được tin anh ra đi tôi vẫn thấy đột ngột bàng hoàng.


Anh Nguyễn Đình Thi! Anh đã ra đi thật rồi sao?


Ôi, anh Nguyễn Đình Thi! Một tài năng như thế mà tôi kính phục, một người anh mà tôi quý mến, tuy mỗi lần tặng sách cho tôi, anh đề là “bạn thơ” nhưng đối với tôi, anh vẫn là một người anh, một người đi trước, một nhà văn mà tôi quý trọng vô cùng.


Anh là một tài năng nhiều mặt, anh viết nhạc, anh làm thơ, anh viết văn, viết kịch, lý luận phê bình và trên lĩnh vực nào, ngòi bút anh cũng long lanh toả sáng. Viết về cuộc đời anh, về tài năng anh, về sự nghiệp anh, đã có và sẽ có nhiều quyển sách.


Riêng tôi, tôi chiêm nghiệm mãi một điều. Tuy tôi tham gia chiến đấu từ ngày đầu kháng chiến, nhưng khi tôi đang làm liên lạc bộ đội, đang gò lưng chèo thuyền rong ruổi trên các sông rạch chằng chịt miền Tây thì anh Nguyễn Đình Thi, chỉ lớn hơn tôi 4 tuổi, đã đi dự Quốc dân Đại hội Tân Trào, được cử vào Uỷ ban Dân tộc giải phóng Việt Nam và sau đó được bầu vào Quốc hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, làm uỷ viên Thường trực Quốc hội, uỷ viên Uỷ ban Dự thảo Hiến pháp.


Năm ấy anh vừa 22 tuổi.


Anh quả thật là một tài năng, một đoá hoa thơm sớm nở, một ngôi sao xanh toả sáng quê hương, xứng đáng cho người đời quý trọng.


Nhưng hôm nay anh đã ra đi rồi. Anh đã đi thật rồi. Ra đi mãi mãi.


Anh đã ra đi nhẹ nhàng như một làn gió thoảng, như một áng mây bay, như một cánh phượng về trời.


Anh ra đi, để lại cho gia đình, cho anh em, cho bạn bè, cho đồng chí, cho giới văn học nghệ thuật chúng tôi biết bao niềm tiếc thương, đau xót.


Riêng tôi, trong nỗi buồn trống vắng, chiều chiều tôi lại nhìn áng mây bay, nhớ thương cánh phượng về trời.


Xin vĩnh biệt anh!


                Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 19-4-2003


Nguồn : Nguyễn Đình Thi – Cuộc đời và sự nghiệp. NXB. Hội Nhà văn, 2004, tr.91.


 


NGUYỄN ĐÌNH THI - NGƯỜI KHÁCH CỦA ĐỜI, NGƯỜI CHỦ CỦA VĂN CHƯƠNG


Phạm Tiến Duật


Ngày 23 tháng Giêng năm 1975, tại địa phận binh trạm 37, cửa ngõ đi vào Nam Bộ, đoàn công tác của Hội nhà văn Việt Nam do nhà văn Nguyễn Đình Thi làm trưởng đoàn, trên đường vào Bộ Tư lệnh B2 đã bị một trận bom ném trúng đội hình. Chiếc xe u oát mới tinh do Hội Nhà văn Liên Xô vừa tặng bị bom tan tành. May mà không ai việc gì. Sáng hôm sau, anh Nguyễn Đình Thi bảo nhà thơ Tế Hanh, nhà nhiếp ảnh Đinh Đăng Định, đồng chí lái xe tên là Trị và tôi rằng, tất cả chúng tôi có chung với nhau ngày sinh lần thứ hai. Tôi còn nhớ đoàn công tác của anh Thi lần ấy được Bộ Tổng tham mưu đặt mã số là A.218P. Thế là bộ đội coi trọng anh Thi lắm, coi anh như cấp tướng mới đặt tên đoàn như vậy. Đó không phải là lần đầu tiên ra trận của anh Nguyễn Đình Thi. Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, anh đã nhiều lần đi chiến dịch. Mấy năm đầu của cuộc chiến tranh phá hoại, anh Thi cũng được biệt phái sang quân đội. Gắn bó với quân đội như vậy nhưng chưa bao giờ anh Nguyễn Đình Thi có quân hàm. Anh chỉ luôn là vị khách sang trọng của quân đội và những người chiến sỹ.


Mà có riêng gì bộ đội đâu, tôi ngẫm nghĩ suốt cả cuộc đời từ lúc trẻ đến lúc nhắm mắt xuôi tay, anh Nguyễn Đình Thi tồn tại như một vị khách sang trọng của cuộc đời này. Nhưng sinh thời, vị khách sang trọng của đời là Nguyễn Đình Thi lại luôn luôn làm chủ trên mọi hoạt động sống và hoạt động văn học nghệ thuật. Hai ca khúc sống mãi với thời gian là Diệt phát xít và Người Hà Nội chỉ ngẫu nhiên ra đời trong hoàn cảnh sáng tác, còn là sự tất nhiên phải bật ra từ tài năng của một tâm hồn làm chủ giang sơn, làm chủ một công cuộc lớn. Sau bài diễn văn anh đăng đàn ở Nhà hát lớn có tên là: Sức sống của dân Việt Nam trong ca dao và cổ tích, giặc Pháp bắt anh và giam ở nhà pha Hỏa Lò. Đấy là một dịp may vì anh được giam cùng với một nhà cách mạng, đồng chí Trần Đăng Ninh (sau này là Chủ nhiệm Tổng cục Hậu cần, Quân đội nhân dân Việt Nam). Chính đồng chí Trần Đăng Ninh đã giác ngộ cách mạng cho anh thanh niên trẻ Nguyễn Đình Thi và là người trực tiếp gợi ý Nguyễn Đình Thi viết Diệt phát xít. Anh Trần Đăng Ninh bảo: "Tớ nghe nói nhà cậu ở Hải Phòng có bán đàn ghi ta. Chắc cậu có biết nhạc. Hãy sáng tác về diệt phát xít dạy cho tù nhân hát, để họ cứ ô ố hát bài hát Nhật nghe khó chịu lắm". Anh Thi đã kể với tôi như vậy. Anh còn kể với tôi về hoàn cảnh ra đời bài ca hoành tráng Người Hà Nội. Năm 1946 ấy, Nguyễn Đình Thi cùng Như Phong, Thép Mới và Văn Cao làm báo Cứu quốc Hà Nội. Cuộc kháng chiến bùng nổ. Cả tòa soạn chuyển về Thanh Oai - Hà Đông trên một cây đàn piano do dân nội thành chở ra (cây đàn bị câm hai phím, anh Thi kể), nhìn Hà Nội đang tự bốc cháy, Nguyễn Đình Thi đã gõ từng dòng đầu tiên: Đây Hồ Gươm, Hồng Hà, Hồ Tây, đây lắng hồn núi sông..." cây đàn ấy để ở ngoài vườn. Người chủ của cây đàn định vứt đàn đi, không ngờ có một tài năng lớn đã đặt ngón tay lên đó.


Phải có tâm hồn và bản lĩnh chủ nhân mạnh mẽ lắm mới có thể viết ra những dòng gan ruột như Nguyễn Đình Thi đã viết. Cho đến bây giờ và mai này, bài thơ Lá đỏ của anh qua âm nhạc Hoàng Hiệp sẽ còn được bao người yêu thích. Sáng tác ấy đã ra đời trong chuyến vượt Trường Sơn 1974 - 1975. Suốt cả ngày hôm ấy anh đã trằn trọc, nghĩ suy khi nhìn hàng nghìn cô gái làm đường vất vả. Anh bảo tôi: "Những người làm đường kia lớn hơn những gì mà ta vẫn nghĩ về họ". Và chiếc lá săng lẻ đầu mùa khô đỏ như máu ngẫu nhiên rơi xuống trước mặt anh và anh nhặt lấy, gập vào sổ tay để hôm đó anh biến thành thơ. Sáng hôm sau, qua đường dây giao liên anh gửi bài thơ Lá đỏ kèm theo chiếc lá săng lẻ kia ra Hà Nội. Tôi biết địa chỉ anh gửi, một người anh tin yêu mà hình như không đáng tin yêu như vậy. Người hiểu lẽ phải lớn thường hay mắc phải sai lầm nhỏ, tôi nghĩ.


Một lẽ phải quan trọng mà Nguyễn Đình Thi khám phá là lẽ phải về văn học, nghệ thuật. Anh là người tìm thấy những điểm dị biệt và những điểm tương đồng của tất cả các thể loại văn học và nghệ thuật. Anh phát hiện ra rằng, cái u buồn luôn có thể chuyển hóa thành cái hùng tráng. Giống như cung mi thứ trong âm nhạc. Giống như dàn kèn đồng. Một bản giao hưởng lúc buồn nhất phải dùng đến bộ đồng mà lúc hùng tráng cũng vậy. Ấy là có lần tâm sự, anh nói thế. Có thể, cái u buồn và cái hùng tráng luôn tồn tại trong nghệ thuật Nguyễn Đình Thi, từ tiểu thuyết Vỡ bờ đến kịch Nguyễn Trãi ở Đông Quan, từ Người Hà Nội đến bài thơ Đất nước. Và phẩm chất khác của Nguyễn Đình Thi là phẩm chất lãng mạn. Tài liệu sáng tạo của anh là giọt sương, là ngôi sao, là ánh nắng. Anh không phải là nhà văn hiện thực mà là nhà văn của hiện - thực - đã - được - chưng - cất. Cho nên anh tả cảnh bộ đội đánh đồn trong Xung kích không hay bằng cô Phương trước gương soi trong Vỡ bờ. Ấy là nói về sáng tác, chứ ở kênh tiếp nhận Nguyễn Đình Thi đón lấy cái hay từ mọi phía, bất cứ từ trường phái nào: cổ hay kim, trong nước hay nước ngoài. Chính bởi vậy mà nhiều nhà văn hàng đầu ở các nước bạn bè từ Ximônôp, Gamzatôp đến Đimitrôva đều coi anh như một người bạn mới. Và khác nhau, Nguyễn Đình Thi đã có những bứt phá trong nghệ thuật mà tôi thầm nghĩ, ngành lịch sử văn học rồi sẽ phải ghi nhận: Nguyễn Đình Thi có công đầu trong việc làm thơ không vần ở Việt Nam. Trước tập Người chiến sỹ, thơ ca Việt Nam chỉ có thơ ổn định và thơ chuyển thể mà thôi.


Băng qua hai thế kỷ, với hơn sáu mươi năm cầm bút, sự nghiệp văn học nghệ thuật mà Nguyễn Đình Thi để lại là một kho tàng đa dạng, từ thơ ca đến âm nhạc, từ tiểu thuyết đến kịch, từ tác phẩm triết học đến lý luận văn nghệ và ở lĩnh vực nào anh cũng để lại dấu ấn, trong đó nhiều tác phẩm đã trở thành tác phẩm tiêu biểu cho văn nghệ cách mạng, văn nghệ kháng chiến. Giải thưởng Hồ Chí Minh - giải thưởng cao nhất của nhà nước trao tặng Nguyễn Đình Thi đã khẳng định những đóng góp to lớn của Nguyễn Đình Thi cho văn học nghệ thuật suốt cả chặng đường dài.


Với kiến thức uyên bác và một trường thẩm mỹ sâu rộng ấy, trên nửa thế kỷ qua, Nguyễn Đình Thi còn là một nhà văn hóa lớn và là nhà hoạt động xã hội xuất sắc. Tham gia Quốc hội ngay từ khóa đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa, Nguyễn Đình Thi là thành viên của ban soạn thảo hiến pháp, nền móng đầu tiên của một trật tự hoàn toàn mới của nhà nước non trẻ. Kể từ đó, Nguyễn Đình Thi đã tham góp vào bao việc lớn về văn hóa và xã hội với tất cả nhiệt tâm của một người cộng sản.


Hoạt động văn hóa sôi nổi thế mà, khi trở về căn phòng riêng sao mà anh thầm lặng và ưu tư thế. Anh là người cả nghĩ, còn là người cả nể. Việc bằng lòng cũng ừ mà việc không bằng lòng cũng ừ. Việc quanh mình không như ý thì chỉ ngồi buồn chứ không nói. Trước một nỗi buồn nhỏ thì có thể gác sang một bên, nhưng trước những nỗi buồn lớn ở đời làm sao không khỏi ưu tư? Chỉ năm sau anh đã tròn tám mươi mà trông anh vẫn trẻ, vẫn đẹp. Chẳng ai ngờ anh lâm bệnh hiểm nghèo đến không thể nào níu kéo anh được. Mong anh yên nghỉ an nhàn nơi cõi ấy, bởi người nghe, người đọc, thế hệ công dân hôm nay và mai sau của nước Việt Nam ngàn lần yêu quý của chúng ta mãi lắng nghe anh, yêu quý anh, trân trọng anh.


Nguyễn Đình Thi - âm hưởng lâu dài.


Bao thế hệ bạn đọc gần nửa thế kỷ từ khi bài thơ Đất nước ra đời (1955) đã thuộc:


Sáng chớm lạnh trong lòng Hà Nội


Những phố dài xao xác hơi may


Người ra đi đầu không ngoảnh lại


Sau lưng thềm nắng lá rơi dầy


Đã có dạo người gàn dở bắt bẻ hai câu thơ sau, bảo rằng không ngoảnh lại sao biết được thềm nắng lá rơi đầy. Bằng cách đọc ấy làm sao thưởng ngoạn được những ánh thơ trong trẻo kỳ lạ của Nguyễn Đình Thi. Người ta có thể nhìn cảnh khi mở mắt, lại có thể nhìn cảnh khi nhắm mắt. Có lần anh Thi nói, khi chúng tôi nghe giao hưởng, rằng theo ý anh, những đoạn nhạc nhanh của Moda rất hay, ngược lại nghe Betthôven phải tìm sự tinh tế ở những đoạn chậm. Thì với chính Nguyễn Đình Thi ta cũng phải tìm sự tinh túy ở những âm vang từ những vùng không gian ngỡ như tĩnh lặng trong thơ anh:


Ngôi sao nhớ ai mà sao lấp lánh


Soi sáng đường chiến sỹ giữa đèo mây


Ngọn lửa nhớ ai mà hồng đêm lạnh


Sưởi ấm lòng chiến sỹ giữa ngàn cây


Một đoạn thơ trên của bài Đất nước, còn có tiếng xao xác của lá, đến đoạn này bài Nhớ ngỡ không có tiếng động nào mà câu thơ vẫn làm náo động lòng ta, ấy là vì ngôi sao như biết cựa quậy, ngọn lửa cũng náo nức hồn người.


Lại đến bài thơ đã trở thành bài hát nổi tiếng qua nhạc Hoàng Hiệp, bài Lá đỏ, ta cũng thấy sự náo động thầm lặng:


Gặp em trên cao lộng gió


Rừng lạ ào ào lá đỏ


Em đứng bên đường


Như quê hương


Vai áo bạc quàng súng trường


Đoàn quân vẫn đi vội vã


Bụi Trường Sơn nhòa trời lửa


Bài thơ này Nguyễn Đình Thi viết tại một trạm giao liên thương binh - Trạm 37, hoàn thành lúc 3 giờ sáng một ngày tháng 12 năm 1974. Hôm ấy, chưa có hai câu cuối: "Chào em cô gái tiền phong/ Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn", mấy tháng sau anh mới thêm vào. Vâng, nếu được phổ nhạc thì tốt, chứ thơ Nguyễn Đình Thi cứ để nguyên thế đã có sẵn âm vang, dẫu là âm vang của sự im lặng!


Nguyễn Đình Thi và giấc mơ một đời.


Đã là nhà thơ, ai chẳng bộc lộ sự khao khát, ước vọng. Nhưng với Nguyễn Đình Thi, khát vọng hướng tới cái đẹp là chủ thể tư duy xuyên suốt chặng đường hơn nửa thế kỷ từ khi còn trẻ đến lúc nhắm mắt xuôi tay.


Em bảo Trán người đẫm mồ hôi


Và còn đẫm bao hy vọng


Chữ "Trán" trong câu thơ trên do chính tác giả viết hoa. Trán đi liền với nghĩ? Ta có thể gặp lại sự suy tư này ở nhiều bài khác. Cũng trong bài Em bảo anh, tôi còn thuộc những câu:


Em bảo anh những đôi người yêu


Như trời và nước soi vào nhau


Để rồi dồn đến hai câu cuối:


Tia lửa nơi ta bay lên cao


Trong mắt người yêu biến thành trời sao.


Anh khao khát thế và ngay từ thuở còn trẻ lắm, Nguyễn Đình Thi đã khao khát tìm được người tình hòa quyện như đất với trời:


Như dòng sông mang theo chân trời


Ôm mặt đất tươi hồng cuộn chảy


Đời anh bao nỗi vui buồn ấy


Đang rì rào gọi em hôm nay.


Cái quyến quyện ở hai dòng đầu làm ta cũng phải nức nở cảm động. Mấy dòng tôi vừa trích, ở bài Như dòng sông, còn đây là những dòng ở bài Đất nước:


Ôi những cánh đồng quê chảy máu


Dây thép gai đâm nát trời chiều


Những đêm dài hành quân nung nấu


Bỗng bồn chồn nhớ mắt người yêu


Những cảnh ấy có phải để tả thực đâu mà là tả mơ. Hình như vì trái tim Nguyễn Đình Thi lớn quá nên cả đời anh là một giấc mơ về những cái đẹp, cái cao thượng, cái kỳ diệu mà anh tin một cách thật thà rằng, thế nào cũng có. Chỉ một cô gái gánh nước bên sông Hồng, với Nguyễn Đình Thi đã thành một cô tiên. Anh vẽ:


Em đi đâu làn sóng reo


Dưới trời chim én dập dìu


Trăm nghìn ước mơ đập cánh


Bay quanh em giữa buổi chiều


Mấy dòng ấy thôi của bài Chim én cũng có thể tạc nên một bức tranh lãng mạn.


Tôi ngạc nhiên nhấth là mấy dòng thơ của bài Lá đỏ được sáng tác cuối năm 1974 tại Trường Sơn. Bài thơ này đã trở thành bài hát nổi tiếng qua âm nhạc của Hoàng Hiệp: "Gặp em trên cao lộng gió, Rừng lạ ào ào lá đỏ". Khi ấy, khói lửa vẫn đang mù mịt. Còn phải dăm tháng nữa Sài Gòn mới được giải phóng. Thế mà anh dám hẹn như đinh đóng cột:


Hẹn gặp nhé giữa Sài Gòn!


Giấc mơ về cái đẹp vĩnh hằng của tình yêu, của sự ấm áp riêng tư thì chưa nói, chứ ước mơ, giấc mơ về hiện thực đất nước thì đã thành sự thật.


 


(còn tiếp)


Nguồn: Nguyễn Đình Thi – Chim phượng bay từ núi. Chuyên luận, trò chuyện và ghi chép của Hà Minh Đức. NXB Văn học, 12-2011.


www.trieuxuan.info


 


 

bản để in
Các tác phẩm đã đăng:Trở lại - Đầu trang
"Đừng xúi trẻ con ăn cứt gà". Từ chuyện đời ở Myanmar, nghĩ về giáo dục lớp trẻ ở Việt Nam - Triệu Xuân 21.11.2019
Đốt lò hương cũ (kỳ cuối): Chới sách/ Hồi ức về Lê Văn Trương/ Tam Lang Vũ Đình Chí/ Nhà thơ Nguyễn Bính - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (12): Vũ Đình Long - Chủ nhà in, NXB Tân Dân/ NHớ về Lan Khai - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (11): Chiêu niệm Vũ Trọng Phụng - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ (10): Hoa gạo ven sông/ Lỗi tình - Ngọc Giao 19.11.2019
Đố lò hương cũ 9: Trong phòng triển lãm/ Những đêm sương/ Một đêm trăng đỏ/ Hà Thành hoa lệ/ Chết - Ngọc Giao 19.11.2019
Đi chợ côn trùng Tây Bắc - Đỗ Quang Tuấn Hoàng 08.11.2019
Ký sự Noumea (New Caledonia) - tháng 7 năm 2019 - Nguyễn Cung Thông 11.10.2019
Nghiêm Đa Văn - Đời người bất chợt - Vũ Từ Trang 30.09.2019
Nhà thờ cổ H’ Bâu trăm năm tuổi bên dãy Chư Đăng Ya - Tư liệu 30.09.2019
xem thêm »